Tổng quan học bổng du học Pháp

Chào các bạn, #CampusFrance từ lâu nhận được rất nhiều các câu hỏi về học bổng để đi du học Pháp. Bài viết này trích từ “Tài liệu hướng dẫn du học Pháp” do UEVF – Hội sinh viên Việt Nam tại Pháp biên soạn, kèm theo chỉnh sửa hoặc bổ sung thêm các thông tin học bổng mới từ Campus France. Các bạn nào biết thêm nguồn học bổng nào, hãy ghi thông tin phía dưới cho các bạn cùng biết nhé.

1. Học bổng trong khuôn khổ hợp tác quốc tế

Gần 80% học bổng của chính phủ Pháp được cung cấp trong khuôn khổ hợp tác. Các loại học bổng này dành cho sinh viên đang theo học hoặc đã tốt nghiệp đại học thuộc các chuyên ngành khác nhau muốn tiếp tục theo học nâng cao trình độ ở Pháp.
Một số loại học bổng chủ yếu ở hình thức này là : Học bổng Evariste Galois ; học bổng hợp tác vùng (Vùng Ile–de-France, vùng Poitou-Charentes) ; Học bổng của các cơ quan, tổ chức chuyên ngành : Petro Vietnam, Vietnam Airlines…Tại Việt Nam, mọi thông tin liên quan có thể tra cứu trên mạng hoặc được nhận từ bộ phận hợp tác và hoạt động văn hóa trực thuộc Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội hoặc Tổng lãnh sự quán Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh.
◦Link: http://www.ambafrance-vn.org/

2. Học bổng dành cho sinh viên nước ngoài có thành tích xuất sắc
* Học bổng Eiffel: Học bổng này của chính phủ Pháp cho phép chi trả một khóa học trình độ thạc sỹ hoặc một kì du học 10 tháng trong khuôn khổ một cơ chế đồng hướng dẫn luận án. Học bổng này dành cho các bạn sinh viên có thành tích học tập, hoạt động xuất sắc và nhằm khuyến khích, đào tạo trong các nhà trường đại học của Pháp các nhà lãnh đạo tương lai. Ba lĩnh vực ưu tiên của chương trình học bổng là: khoa học, kinh tế – quản lý, luật và khoa học chính trị. Chính các trường của Pháp sẽ giới thiệu hồ sơ của bạn lên hội đồng xét duyệt học bổng. Thông báo học bổng thường mở vào cuối tháng 10, hạn nộp hồ sơ vào tháng 1 và kết quả học bổng vào tháng 3 hàng năm.
◦Link: www.campusfrance.org/eiffel

3. Học bổng của Cơ quan đại học Pháp ngữ (AUF – Agence Universitaire de la francophonie)
Cơ quan đại học Pháp ngữ tại Việt Nam cấp học bổng thực tập và đào tạo sau đại học cho sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường đại học.
◦Link: http://www.auf.org/

4. Chương trình học bổng Việt Nam (Đề án 911)
Đây là chương trình đào tạo cán bộ trình độ Tiến sĩ, Thạc sĩ, Đại học tại nước ngoài hoặc phối hợp với nước ngoài. Những người đang làm nghiên cứu sinh trong nước và thuộc đối tượng nêu trên, nếu đáp ứng các tiêu chuẩn, được cơ sở đào tạo và người hướng dẫn đồng ý, có thể dự tuyển đi thực tập khoa học hoặc đăng ký làm nghiên cứu sinh trong các đề án đào tạo Tiến sĩ phối hợp do cơ sở đào tạo xây dựng.
◦Link: http://www.moet.gov.vn/

5. Học bổng của Bộ ngoại giao, Bộ giáo dục, Bộ đại học và nghiên cứu Pháp
5.1 Học bổng Chất lượng cao của Đại sứ quán Pháp
Hàng năm, ĐSQ Pháp tại Việt Nam cung cấp các suất học bổng cho những thí sinh đăng kí học năm thứ hai thạc sỹ (Master 2) và tiến sỹ (Doctorat) trong các lĩnh vực: khoa học cơ bản, khoa học kĩ sư, kinh tế, quản trị, luật, khoa học chính trị. Các sinh viên học thạc sỹ sẽ nhận được học bổng trong vòng 10 tháng và các sinh viên học tiến sỹ là 36 tháng, kèm vé máy bay quốc tế. Mỗi suất học bổng có giá trị 767e/ tháng, ngoài ra sinh viên còn được miễn phí đăng kí vào các trường đại học.Thông báo tuyển sinh cho học bổng thường diễn ra vào tháng 10 và kết quả công bố vào tháng 4 năm sau.
◦Link: www.ambafrance-vn.org

5.2. Học bổng của Bộ giáo dục Pháp
Dựa trên tiêu chí quốc tịch và tư cách của mình, sinh viên nước ngoài có thể nhận được hỗ trợ tài chính của Bộ giáo dục Pháp. Một số loại học bổng được biết tới là học bổng trợ cấp nghiên cứu, học bổng dựa trên các tiêu chí xã hội (BCU).
◦Link: http://www.education.gouv.fr/

5.3. Học bổng dành cho sinh viên quốc tế của trường đại học Paris Saclay
Paris Saclay tập hợp các trường đại học, các trường lớn và các trung tâm nghiên cứu khoa học nổi tiếng. Có thể kể tên như trường ĐH Paris Sud (Paris 11), trường AgroParisTech, trường thương mại Paris (HEC), trường ĐH Bách Khoa Paris (École Polytechnique), CNRS, INRA…
Năm học 2015-2016 và 2016-2017, Paris Saclay đã dành 170 suất học bổng thạc sỹ (năm 1 và năm 2) với giá trị là 10.000 e/năm dành cho sinh viên quốc tế. Hồ sơ ứng tuyển học bổng online trên hệ thống của trường. Thời gian mở hồ sơ: tháng 1. Thời gian đóng hồ sơ: chi tiết xem tại trang web trường (theo từng đợt)
◦Link: https://www.universite-paris-saclay.fr/…

5.4. Học bổng dành cho sinh viên quốc tế của trường đại học Limoges
Học bổng dành cho sinh viên quốc tế có thành tích xuất sắc của trường đại học Limoges, dành cho các bạn sinh viên mong muốn theo học thạc sỹ (danh sách các ngành đủ điều kiện ứng tuyển học bổng được đăng tải trên trang web trường). Học bổng có giá trị 2500e-5000e/năm. Sinh viên cần hoàn thành hồ sơ điện tử Campus France và điền hồ sơ ứng tuyển online của trường. Thời gian đóng hồ sơ: tháng 3 hàng năm. Thông báo kết quả: trong tháng 5.
◦Link: http://www.unilim.fr/international/…

5.5. Học bổng dành cho sinh viên quốc tế của trường đại học Paris Sorbonne Cité (USPC)
Paris Sorbonne Cité tập hợp 8 trường đại học và 5 trung tâm nghiên cứu khoa học lớn, cung cấp 200 học bổng bậc thạc sỹ dành cho sinh viên quốc tế có thành tích xuất sắc. Danh sách các ngành học nằm trong chương trình học bổng được đăng tải trên trang web: http://www.sorbonne-paris-cite.fr/f…

5.6. Học bổng CIFRE (Convention Industrielle de Formation par la Recherche)

Các sinh viên trẻ đã có bằng Thạc sĩ (Master) hoặc bằng Kỹ sư (Diplôme d’école d’ingénieur) có thể thực hiện luận án Tiến sĩ tại một doanh nghiệp cụ thể trên cơ sở phối hợp với một cơ sở giáo dục – đào tạo ngoài doanh nghiệp. Đề tại tiến sĩ phải liên quan tới một chương trình nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp.
◦Link: http://www.anrt.asso.fr/

6. Học bổng trong khuôn khổ các chương trình hợp tác giữa các cơ sở đào tạo tại các quốc gia Châu Âu – Học bổng ERASMUS MUNDUS
Sinh viên đã tốt nghiệp đại học sẽ theo học các chương trình đào tạo Thạc sĩ chất lượng cao tại ít nhất hai trong số tối thiểu ba trường đại học có kí thỏa thuận hợp tác với nhau ở châu Âu. Đây là một học bổng khá cao và tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với chương trình học cùng các nền văn hóa đa dạng.
◦Link: http://ec.europa.eu/education/progr…
* Học bổng SOCRATES/ERASMUS et LEONARDO
Dành cho sinh viên đang theo học tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học ở Pháp thực hiện một khóa thực tập hoặc khóa học ngắn ngày tại các nước thuộc cộng đồng Châu Âu.
◦Link: http://ec.europa.eu/education/progr…

7. Học bổng của một số tổ chức quốc tế phi chính phủ, các hiệp hội
Một số tổ chức phi chính phủ dành những hình thức học bổng riêng cấp cho sinh viên du học nước ngoài.* ”Hướng dẫn của Andès” (“Le guide de l’Andès”) do Hiệp hội Tiến sĩ Pháp biên soạn, hướng dẫn cách xin học bổng tài trợ đề tài nghiên cứu Tiến sĩ, sau Tiến sĩ
◦Link: http://financements.andes.asso.fr/
Các hiệp hội cấp nhiều hình thức học bổng khác nhau. Có thể kể tới ở đây học bổng ngành Y 1 năm cấp cho các bác sỹ sinh sống tại nước ngoài được Trường trung cấp y Paris (CMHP) tuyển chọn.
◦Link: http://www.cmhp.asso.fr/

Du học Đức, tại sao?

Gia đình không quá dư dả để bạn có thể du học tự túc ?

Thành tích không quá nổi trội để bạn có thể giành một suất học  bổng ?

Bạn thấy chán nản và từ bỏ ước mơ của mình ?

ĐỪNG TỪ BỎ  , bạn vẫn có những con đường  dành riêng cho mình.

Với điều kiện kinh tế không quá dư dả , học lực chỉ ở mức khá thì một suất học bổng tưởng chừng là điều không bao giờ có thể với tới được .

Tuy nhiên , tất cả long quyết tâm thực hiện mơ ước lập tức quay về ngay khi mình tìm được những thông tin về du học Đức .

Hệ thống giáo dục Đức với những trường top thế giới , bằng cấp được công nhận toàn cầu vẫn đang chào đón tất cả sinh viến quốc tế với một ưu đãi không thể hấp dẫn hơn , các bạn sẽ được miễn hoàn toàn học phí khi đến học tại Vương quốc Bia này .

Trước đây , tuy thông tin du học Đức được nhiều người biết nhưng đa phần e ngại vì phải học tiếng Đức – một ngôn ngữ không mấy phổ biến tại Việt Nam . Tuy nhiên , hoà cùng với xu hướng hôi nhập thì Đức hiện nay đã có thêm chương trình dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh cho cả hệ Bachelor và Master -> Qúa hấp dẫn phải không nào . Hệ Bachelor bằng tiếng Anh có rất ít trường dạy , không có nhiều sự lựa chọn như Master . Tuy nhiên , nếu sự lựa chọn của các bạn thiên về khối ngành kinh tế thì hoàn toàn có thể tìm được trường phù hợp với ngành học của mình .

Các bước cơ bản để chuẩn bị cho du học Đức bằng tiếng Anh, mình tạm thời khái quát như sau :

-Học tiếng Anh và lấy chứng chỉ Ielts ( tốt nhất là các bạn nên thi Ielts vì đa số các trường ở Đức đòi hỏi và chấp nhận chứng chỉ này , hệ Bachelor thì có trường chấp nhận 6.0 nhưng nếu là master thì thường là 6.5 đến 7.0 )

Tìm hiểu thông tin về các trường có chương trình bạn muốn học .Đây là bước đặc biệt quan trọng vì yêu cầu của mỗi trường là khác nhau. Tốt nhất , các bạn nên có 1 cuốn sổ tay , kẻ bảng và note về các yêu cầu cũng như khả năng đáp ứng của mình tại thời điểm đó , còn thiếu những gì . Hai trang web cơ bản để các bạn tìm khoá học :

http://www.daadvn.org/vi/17150/index.html

https://www.study-in.de/de/

– Đối với các sinh viên Việt Nam thì các bạn cần có 1 chứng chỉ APS để có thể học tại Đức

+ Đối với các sv đã tốt nghiệp đại học ở VN , bạn cần trải qua 1 cuộc phỏng vấn APS diễn ra định kỳ hang năm trong khoảng tháng 5, tháng 11 .

+ Đối với sv chưa tốt nghiệp tại VN , bạn chỉ cần thẩm định hồ sơ APS ( trong khoảng thời gian nào cũng được ) và tham gia thi Test As . Việc các bạn đã học mấy học kỳ ở VN để có thể vào học được hệ Bachelor của họ thì có thể lien lạc với văn phòng hỗ trợ sinh viên của từng trường để hỏi.

-Thông tin và nội dung của APS và tesAs , các bạn có thể tham khảo thêm tại đây :

http://www.daadvn.org/vi/21713/

http://www.daadvn.org/vi/21723/index.html

– Các bạn cũng có thể gọi lên văn phòng DAAD , họ hỗ trợ thong tin du học hoàn toàn miễn phí để hỏi rõ hơn về APS như thời gian , đại điểm , phí …

– Sau khi có chứng chỉ APS  , các bạn gửi hồ sơ theo yêu cầu riêng của từng trường ( phần này các bạn có thể tìm trong admission hay application của trang web trường )

– Nhận thư nhập học

– Mở tài khoản phong toả để chứng minh tài chính ( có 2 dịch vụ của Duestbank và Viettin bank ) , số tiền yêu cầu hiện nay là 8040 eu / 1 năm

–  Chuẩn bị hồ sơ xin visa và lên đường .

Các hội sinh viên tại Đức cũng rất tận tình giúp đỡ ( phần này google sẽ tìm thấy dễ dàng ) nên từng bước các bạn cứ hỏi những ng đi trước và làm . Hồ sơ du học Đức không qua phức tạp để tốn chi phí cho bất cứ dịch vụ nào . Nếu có ý định du học thì các bạn nên chuẩn bị trước từ 1 năm vì tốn thời gian vào việc lấy chứng chỉ APS và chuẩn bị giấy tờ cho đủ theo yêu cầu của trường . Vì thiếu thông tin mà đến tận năm thứ 3 của ĐH tại VN mình mới có thể hoàn thành hồ sơ. Chúc các bạn đi tới được ước mơ của mình . Hết rồi ah , hihi !!!

Ps : Mình vừa nhớ và viết lại nên nếu các bạn thấy có gì thiếu sót thì bổ sung giùm mình nhé , giúp cho các bạn đọc bài có đầy đủ thong tin luôn hen. Chúc cả nhà đầu tuần vui vẻ !!!

Tác giả: Hanna Nguyen

Giới thiệu học bổng Eramus Mundus

Nguồn: Đỗ Thanh Hải

Là một du học sinh tự mày mò xin học bổng, tôi tự cảm nhận sự cần thiết phải chia sẻ thông tin cũng như kinh nghiệm sao cho các bạn bè cùng trang lứa như tôi hay những bạn trẻ hơn có thể tiếp cận được những cơ hội giáo dục chất lượng cao, có cơ hội đi đây đó để nâng cao kiến thức và rèn luyện kỹ năng, mở rộng tầm mắt, cọ sát và thiết lập các nhịp cầu bè bạn và tri thức quốc tế, trước mắt giúp ích cho bản thân lập nghiệp rồi sau đó đóng góp cho những lợi ích lớn hơn, rộng hơn. Tự xin học bổng từ nhiều nguồn khác nhau ngoài học bổng ngân sách nhà nước, cũng là một cách làm bớt đi gánh nặng tài chính cho quốc gia trong bối cảnh đất nước thiếu thốn mà vẫn đảm bảo được những mục tiêu trên.

Thực ra, tất cả các thông tin về các học bổng này đều có trên Internet, bằng tiếng Anh, tiếng Việt hay các thứ tiếng khác, hay được phổ biến ở các hội chợ giáo dục Châu Âu hay Hoa Kỳ tổ chức ở Việt Nam. Vì vậy, trong bài viết của mình, tôi sẽ không cố gắng dịch hay nhắc lại tất cả mọi vấn đề, mà chỉ nêu ra những điểm đáng chú ý, những nội dung quan trọng và cần thiết nhất. Nếu các bạn đã có quyết tâm đi du học, bài viết ngắn gọn này sẽ giúp các bạn lên kế hoạch và chuẩn bị những yếu tố cần thiết, trong đó quan trọng nhất là hoàn thành những bộ hồ sơ ở chất lượng tốt nhất. Nếu các bạn muốn có thêm thông tin, hãy vào trang web chính thức của các chương trình này để tìm hiểu. Tôi hi vọng các bạn khác, không phải bỡ ngỡ, không bối rối, không rón rén và không mất nhiều thời gian như tôi trước kia, hai hay ba năm về trước, khi nói đến học bổng du học như một thứ rất xa tầm tay hay câu chuyện của những con người khác.

Bài viết này sẽ giới thiệu với các bạn học bổng do Liên minh Châu Âu tài trợ: ERASMUS MUNDUS.

A. GIỚI THIỆU CHUNG
Chương trình Giáo dục của châu Âu, Erasmus Mundus (sau đây viết tắt là EM), tương đối trẻ. Pha 1 bắt đầu từ năm 2004 và kết thúc vào năm 2008. Theo một số thông tin tôi được biết Pha 2 sẽ được tiếp tục từ năm 2009 đến 2013. Hiện nay, Uỷ ban EM và các Consortium đang tổng kết các kết quả của giai đoạn đầu để đưa ra dự án cho giai đoạn hai, với quy mô rộng mở hơn, không chỉ cho ngành học Thạc Sĩ, mà cả Đại học và Tiến Sĩ.

Thực ra, EM là phái sinh của chương trình Eramus, chương trình liên kết đào tạo và trao đổi (co-operation and mobility program) dành cho các trường đại học, các sinh viên thuộc các nước trong EC/EU ra đời cách đây 20 năm[1]. Mục tiêu tổng quát của chương trình, được diễn đạt bằng những từ ngữ bóng bẩy, là nâng cao chất lượng giáo dục cao học và thúc đẩy sự hiểu biết liên các nền văn hoá (intercultural) thông qua hợp tác với các nước ngoài châu Âu – các nước thứ ba (third countries)[2]. Từ đó, một mục tiêu con là nhằm phát triển các khoá học Thạc sĩ chất lượng cao, trong đó tạo điền kiện cho sinh viên và học giả ngoài châu Âu (non-European or third countries) tham gia vào các chương trình đào tạo sau đại học tại các cơ sở giáo dục của châu Âu, cũng như khuyến khích các sinh viên và học giả châu Âu đi ra các nước ngoài châu ÂU để học tập và trao đổi[3].

Chương trình EM ra đời trong bối cảnh các châu Âu nói chung có phần lép vế so với Anh, và Mỹ, trong lĩnh vực khoa học và giáo dục. Mặc dù mức học phí ở Anh và Mỹ rất cao, nhưng hai nền giáo dục vẫn có sức hấp dẫn lớn bởi chất lượng đào tạo và tính linh động trong chương trình, do đó thu hút một số lượng lớn sinh viên (giỏi và giàu) từ trên thế giới đến học. Về mặt tài chính, số lượng sinh viên quốc tế này đem lại nguồn lợi nhuận kếch xù, biến các trường đại học Anh, Mỹ thành các cơ sở đào tạo giàu có nhất thế giới. Về mặt học thuật, nó tạo ra các môi trường cạnh tranh tri thức và đa văn hoá, tận dụng được một nguồn tài sản trí tuệ khổng lồ và thúc đẩy sự sáng tạo. Có lẽ vì lẽ đó, trong số 20 trường đại học hang đầu do tạp chí Times đánh giá năm 2006, có đến 10 trường của Mỹ, 4 trường của Anh, 1 của Trung Quốc, 1 của Nhật, 1 của Úc, 1 của Singapore và chỉ có một trường của Pháp[4].

Chương trình EM là một chương trình lớn, có 4 actions chính: Xây dựng các khoá học sau đại học chất lượng cao (EM Masters Courses), Cấp học bổng (EM Scholarships), Đối tác (Partnership) và Nâng cao tính hấp dẫn (Actractiveness Enhancement). Trong giai đoạn 2004 – 2008, ngân sách dành cho chương trình lớn là 230 triệu euro và 90% dành cho cấp học bổng. Chương trình lớn EM theo được tổ chức thành nhiều các Khoá học MA (Action 1) gồm 3-4 trường đại học ở Châu Âu và có thể liên kết với các trường đại học ngoài châu Âu (Action 3). Các chương trình này được cung cấp một lượng ngân sách hàng năm để phát triển chương trình, nâng cao chất lượng và tính hấp dẫn (Action 4) và cung cấp học bổng cho sinh viên và học giả các nước trong thế giới thứ ba (Action 2). Do mục đích và giới hạn của bài viết, tôi chỉ tập trung vào Action 2 về HỌC BỔNG và những điều các học sinh quan tâm nhất như điều kiện dự tuyển, mức học bổng, cách thức dự tuyển,

B. ĐIỀU KIỆN / TIÊU CHUẨN DỰ TUYỂN
– Sinh viên thuộc các nước thứ ba – third countries – theo định nghĩa kể trên. Vào chú thích [2].

– Có ít nhất một bằng Đại học (Cử nhân hoặc Kỹ sư) với kết qủa học tập xuất sắc.

– Không cư trú hoặc không làm việc, học tập … hơn 12 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây tại bất kỳ 27 nước thành viên nào của EU, các nước EEA/EFTA và các ứng cử viên sắp gia nhập EU)

– Các điều kiện cụ thể do từng Consortium quy định (về bằng cấp và ngành học liên quan, về trình độ ngoại ngữ, về hồ sơ …)

Nhận xét:
– Không như các học bổng khác, Fulbright, Chevening, … Học bổng này chỉ đòi hỏi sự xuất sắc trong học tập, không yêu cầu kinh nghiệm. Do đó, đây là một cơ hội lớn cho các bạn mới ra trường, thậm chí cả các bạn sinh viên năm cuối.

– Học bổng không giới hạn các đối tượng cũng như không có đối tượng ưu tiên. Do đó, các bạn làm ở ngoài khu vực công và các cơ sở giáo dục hay nghiên cứu cũng có cơ hội. Tuy nhiên, do tính học thuật của các chương trình, theo kinh nghiệm của tôi, ứng cử viên thuộc các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu có nhiều lợi thế hơn.

– Các bạn có thể đăng ký 2-3 chương trình trong cùng một lúc để tăng cơ hội được tuyển chọn. Lưu ý, là ngành học MA có cần không trùng khít, mà chỉ cần có mối liên hệ gần gũi với ngành học BA của các bạn. Vấn đề là bạn giải thích như thế nào về sự lựa chọn của mình trong tương quan với định hướng nghề nghiệp cũng như ngành học cũ của bạn.

C. CÁCH THỨC THAM GIA DỰ TUYỂN

Trước hết, các bạn hãy vào link [5] để chọn cho mình một Khoá học (EM Masters Courses) phù hợp, với ngành mình đã học cũng như định hướng nghề nghiệp tương lai. Mỗi khoá học do một consortium gồm 3-4 trường và quan trọng là hồ sơ của bạn gửi thẳng đến Consortium đó, không phải là Commission to the Education Audiovisual and Culture Executive Agency (CEACEA)[6]. Và Consortium này sẽ cử ra một Committee để xét tuyển, và quyết định danh sách những thí sinh đủ tiêu chuẩn được nhận học bổng EM. Danh sách đó được gửi đến European Commission và Europe Parliament để thông qua về mặt nhân sự và tài chính. Lúc đó, những người trong danh sách được thông qua chính thức được nhận học bổng EM. Thường thì, các Consortium và Committee của các trường đóng vai trò chủ yếu trong việc lựa chọn những người được cấp học bổng dựa trên hồ sơ dự tuyển.

Hiện nay EM đã có khoảng 80 khoá học EM khác nhau (MC), ở nhiều ngành học khác nhau, không chỉ các ngành KHXH mà cả KHTN. Các ngành nói chung:
– Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Vùng
– Nghệ thuật và Thiết kế
– Kinh Doanh và Khoa học Quản lý
– Luật, Ngôn ngữ và Khoa học Xã hội
– Toán và Tin học, và các ngành KHTN khác
– Môi trường, Y và Dược,

Thông tin cụ thể về các khoá học MA có thể tìm ở đây:
http://ec.europa.eu/education/programmes/mundus/projects/index_en.html

Mỗi khoá học có khoảng trên dưới 20 suất học bổng mỗi năm và bất ký sinh viên nào đăng ký vào khoa học nghĩa là đăng ký cạnh tranh cho 20 suất học bổng đó. Đáng chú ý là, bạn được nộp đơn tối đa cho 3 khoá học (MC) khác nhau trong cùng một lúc. Nếu bạn được chấp nhận hơn 1 Khoá học, bạn sẽ phải lựa chọn chỉ MỘT mà thôi.

Nên nhớ, số lượng hồ sơ vào một khoá học hàng năm rất đông. Trong chương trình của tôi, thông tin không chính thức khoảng trên dưới 2000 cho niên học 2007-2008. Không có phỏng vấn trừ trường hợp đặc biệt. Vì vậy, cần phải chứng tỏ trong bạn là một ứng cử viên nặng ký và ưu việt hơn những thí sinh khác trong hồ sơ của mình.

D. MỨC HỌC BỔNG
Theo quy định trong Action 2, mức học bổng cho sinh viên của nước thứ ba đến học ở châu Âu theo thời gian một hoặc 2 năm tuỳ theo chương trình: mức học bổng dành cho mỗi sinh viên là 21000 euro một năm học (10 tháng). Nếu chương trình là hai năm thì tổng số học bổng là 42000 euro. Mỗi tháng, một sinh viên sẽ nhận được 1600 euro (scholarship) và 5000 euro (grant) thêm cho cả năm dành cho các loại phí, đi lại, di chuyển, các khoá học ngôn ngữ …

Tuy nhiên, trên thực tế, tiền học phí, tuỳ theo quy định của từng khoá học, thường lớn hơn 5.000 euro một năm và các sinh viên thường phải trích từ số tiền 1.600 mà mình nhận được hàng tháng để đóng góp. Ví dụ, ở khoá học SEFOTECH, số tiền học phí là 10.000 một năm, nên số tiền “net” mà sinh viên chương trình này nhận được hàng tháng là 1.100. Ở chương trình khác, số tiền học phí là 7.000 cho một năm và số tiền sinh viên nhận được là 1.400 một tháng. Và các sinh viên phải tự trả tiền đi lại (đến và đi khỏi châu Âu) cũng như là chi phí đi lại từ trường nọ sang trường kia trong chương trình. Ở một số khoá học, một số nước, nếu các bạn muốn tham gia các khoá học ngoại ngữ cũng phải tự đóng tiền. Tuy nhiên, quy định rất khác ở mỗi khoá học khác nhau.
Với số tiền trên 1000 euro một tháng, vẫn có thể đảm bảo cho một bạn sinh viên sống tương đối đầy đủ ở một thành phố mức sống trung bình ở Tây Âu (trừ London và các thành phố thuộc Thuỵ Sĩ và các nước Bắc Âu).

Lưu ý rằng, khi nhận được học bổng EM, bạn nghiễm nhiên được được bảo hiểm bởi chương trình bảo hiểm của EM (Erasmus Mundus Insurance Scheme) [7]. Bạn không phải đóng thêm một khoản phí nào, nhưng được bảo hiểm trong thời gian trước khi bạn rời khỏi VN ba tháng và sau khi kết thúc khoá học 3 tháng. Với sinh viên EM, các thủ tục về thị thực cũng được ưu tiên.

E. TỔ CHỨC VÀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO Chương trình đào tạo được hình thành theo tính chất integrative (liên kết) và hợp tác (cooperation).

– Liên kết: Chương trình chung phát triển linh hoạt theo tập hợp các module mà mỗi trường phụ trách các module khác nhau. Các trường sẽ có vai trò ngang nhau và tự chủ trong việc phát triển module của mình. Theo mô hình này, tính thống nhất và tính đa dạng được cân bằng.

– Tiêu chuẩn chung: Thiết kế tiêu chuẩn chung cho xét tuyển và đánh giá thành tích học tập. Đơn vị học trình tính theo đơn vị tiêu chuẩn của châu Âu là ECTS (European Credit Transfer System). Số đơn vị học trình quy định cho 1 năm là 60 ECTS.

– Tính lưu động (Mobility): Các sinh viên sẽ phải học ít nhất là 2 trường trong chương trình của mình, tuỳ theo từng khoá học. Tôi học 2 năm ở hai trường, hai nước khác nhau. Có bạn trong18 tháng, học ở các 4 trường trong chương trình tuỳ theo từng giai đoạn, môđun và môn học cụ thể.

Các tổ chức này giúp cho sinh viên tiếp cận nhiều nguồn kiến thức, cũng như nhiều cách tư duy, nhiều nền văn hoá, nhiều ngôn ngữ trong qua trình học tập của mình, J.

– Cấp bằng chung: Joint Degree hay Double Degree. Và bằng cấp của chương trình được công nhận tên toàn châu Âu và có giá trị để học tiếp lên PhD hoặc cao hơn.

F. THỜI GIAN LƯU Ý 
Thường vào tháng 11, 12, Cũng trong thời gian này, các khoá học bắt đầu open cho application. Hạn cuối cùng cho việc nộp hồ sơ tuỳ theo chương trình nhưng vào khoảng cuối tháng 2 hoặc cuối tháng 3 hàng năm. Các bạn nên vào trang web chính thức của từng khoá học để biết lịch cụ thể.

Tháng 12/2007, Uỷ ban Châu Âu ở Việt Nam có chương trình hội chợ để quảng bá cho Erasmus Mundus tại Hà Nội và tại Thành phố Hồ Chí
Minh.

Theo kinh nghiệm của tôi, khi bạn đã có mục tiêu, thì nên chuẩn bị càng sớm càng tốt. Quy định về hồ sơ và các bài viết không thay đổi lớn hàng năm nên bạn có thể tham khảo và chuẩn bị ít nhất trước từ 6 tháng đến 1 năm để đảm bảo khả năng thành công cao.

Lưu ý cuối cùng: EM không phải là chương trình viện trợ phát triển. Mà nó là chương trình phát triển giáo dục đầy tính cạnh tranh. Vì vậy, đối thủ của các bạn là những sinh viên xuất sắc từ khắp nơi trên thế giới. Việc lựa chọn chủ yếu dựa trên kết quả học tập đại học, các đóng góp học thuật và chất lượng hồ sơ xin học bổng. Chỉ có khoảng 10%, theo tôi đánh giá, dành cho cơ cấu vùng và quốc gia. Ưu đãi dành cho các sinh viên châu Á là chương trình ASIA WINDOW cung cấp một số lượng học bổng nhất định cho các ứng cử viên từ châu lục này. Cạnh tranh là hết sức gay gắt. Hãy chứng tỏ năng lực của mình, nhưng cũng đừng quên sự chuẩn bị chu đáo, cách làm việc khoa học và trách nhiệm với bản thân là một phần của thành công.

Wroclaw, ngày 12 tháng Năm năm 2008

Đỗ Thanh Hải
Chương trình Erasmus Mundus Nghiên cứu Toàn cầu
Đại học Tổng hợp Viên – Đại học Tổng hợp Wroclaw
Email: dothanhhai80@gmail.com

[1] Erasmus được đặt theo tên của một học giả về nhân văn học và thần học người Hà Lan, Desiderious Erasmus Rotterdamus, người đã từng theo học ở hầu hết các trường dòng nổi tiếng ở châu Âu. “Mundus” trong tiếng La Tinh nghĩa là “Thế giới” để chỉ quy mô toàn cầu của chương trình.

[2] Third Countries được định nghĩa là tất cả các nước trên thế giới trừ 27 nước thành viên của Liên minh châu Âu và Iceland, Na Uy, Liechtenstein, Croa-tia (EEA/EFTA), ba nước ứng cử viên gia nhập EU là Croatia, Thổ Nhĩ Kỳ and Macedonia. Hàm nghĩa “third country” không đồng nghĩa với “third world” – thế giới thứ ba – như là

[3] Tham khảo thêm:
http://ec.europa.eu/education/programmes/mundus/index_en.html

[4] The Times Higher Education Supplement, World University
Rankings, October 2006.

[5] Các khoá học MA có thể tìm ở đây:
http://ec.europa.eu/education/programmes/mundus/projects/index_en.html

[6] Các cơ sở giáo dục sau đại học (active higher educational institutions) muốn tham gia vào EM sẽ nộp đơn với CEACEA. Còn các thí sinh muốn đăng ký dự tuyển học bổng thì phải nộp đơn đến các Consortium tương ứng.

[7] Xem chi tiết tại đây:
http://ec.europa.eu/education/programmes/mundus/insurance/indemnities.pdf

Quy trình tuyển sinh và xét học bổng của chương trình Erasmus Mundus

Học bổng Erasmus Mundus (EM) là một chương trình khá đặc biệt. Tưởng tượng Ủy ban Châu Âu (EC) có một cái quỹ tiền to đùng, kêu gọi các trường khắp châu Âu: Đây tôi có tiền đây. Các ông kết hợp với nhau lập chương trình đào tạo liên kết theo tiêu chuẩn thế này thế này, rồi đưa lên cho tôi duyệt. Tôi thấy hợp lý thì tôi cho tiền để chạy, rồi trao cả học bổng cho học viên luôn.

Và thế là các chương trình đào tạo liên kết nộp đơn xin ầm ầm vào EM. EM hiện tại có 100 chương trình (theo danh sách chính thức cho năm học 2017-2018)

Mục tiêu của EM là gì?

  • Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo bậc đại học và sau đại học ở Châu Âu.
  • Quảng bá EU như một trung tâm của thế giới về chất lượng giáo dục.
  • Tăng cường sự hiểu biết văn hóa thông qua việc hợp tác với các nước Thế giới thứ 3, hỗ trợ và đẩy mạnh sự phát triển giáo dục của các nước này.

Tuyển sinh

Với mục tiêu như vậy, việc tuyển sinh được giao hoàn toàn vào tay các chương trình đào tạo. Các chương trình thường có các tiêu chí tuyển sinh sau:

  • Trình độ học tập và nghiên cứu => Thể hiện qua điểm GPA, xếp hạng, và các bài nghiên cứu khoa học đã được công bố.
  • Điều kiện cần: Khả năng ngôn ngữ => thể hiện IELTS 6.5 trở lên, có DELF, Goethe càng tốt.
  • Động lực học tập => thể hiện thư xin học bổng (Letter of Motivation)
  • Sự đa dạng văn hóa, quốc tịch => không có quy chuẩn cụ thể, phụ thuộc rất nhiều vào đánh giá cảm tính của ban xét duyệt.
  • Các tố chất riêng biệt của từng chương trình (kĩ năng tư duy mở, kĩ năng toán lượng, nhiệt huyết đóng góp cho cộng đồng, v.v) => thể hiện qua tất cả các thông tin trên cùng với thư giới thiệu.

Các chương trình sẽ lọc khoảng 25 – 30, thậm chí 80 ứng viên (tùy vào khả năng đào tạo của chương trình) từ hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ. Các ứng viên này sẽ được trao thư mời nhập học (admission offer).

Danh sách học bổng chính

Sau khi chọn được ứng viên theo học, người ta mới xét xem ai đáng được học bổng Erasmus Mundus. Trong các ứng viên đã có thư mời nhập học, sẽ có 10 – 14 ứng viên được vào danh sách chính (Main List) để trao học bổng EM. Các ứng viên còn lại sẽ nằm trong Danh sách dự bị (Reserved List).

Để lựa chọn danh sách chính, người ta chia ứng viên thành 2 nhóm:

Category A: Sinh viên ngoài EU là sinh viên không có quốc tịch EU đồng thời trong vòng 5 năm trở lại không làm việc tại EU nhiều hơn 12 tháng. Thường thì số ứng viên Cat. A trong danh sách chính là 4-5 người.

Category B: sinh viên có quốc tịch EU; hoặc không có quốc tịch EU nhưng trong vòng 5 năm trở lại (tính đến thời điểm nộp hồ sơ) đã làm việc, sinh sống tại EU trong nhiều hơn 12 tháng. Số ứng viên Cat. B trong danh sách chính là 9 – 10 người.

Các ứng viên trong danh sách chính đều sẽ nhận được học bổng học phí và phí tham gia chương trình. Tuy nhiên, ứng viên Cat. A sẽ được nhận trợ cấp hàng tháng cao hơn nhiều (và đủ để chi trả sinh hoạt phí) so với ứng viên Cat. B.

Cơ hội học bổng theo vùng

Sau khi 12 ứng viên kia đã yên vị trong Main List, người ta mới tiến hành lựa chọn thêm từ các ứng viên dự bị (Reserved List – đủ trình độ để học nhưng không phù hợp với chương trình bằng 12 người trong Main List) một số ứng viên nhất định để đề xuất trao học bổng EM, nhưng được gọi là Geographical Windows. Lúc này, các tiêu chí nhân văn, đa dạng hay ưu tiên vùng miền các kiểu mới được tham gia vào.

Để tiện cho việc lựa chọn này, EM chia các nước ngoài EU ra thành 14 khu vực địa lý. Mỗi chương trình chỉ được phép chọn 1 ứng viên từ mỗi khu vực. Ví dụ, Reserved List của 4CITIES năm nào đó có 23 ứng viên đến từ 8 khu vực, thì 4CITIES chỉ được chọn ra 8 ứng viên.

Các ứng viên trong Geographical Windows, nếu sau đó được EC lựa chọn để trao học bổng, thì cũng được nhận học bổng với giá trị giống Main List – Cat. A

*Các ứng viên đã nhận admission offer nhưng không được học bổng của EM vẫn có thể theo học bằng cách tự chi trả (self-fund) hoặc tìm các cơ hội học bổng khác để trang trải chi phí.

Quyết định chính thức

Sau khi đã chọn ra ứng viên từ danh sách dự bị, các chương trình mới đệ trình Main List lẫn Geographical Windows lên Ủy ban Châu Âu (EC) để xin học bổng cho họ. Thường thì ứng viên trong Main List sẽ chắc chắn được học bổng Erasmus Mundus. Còn ứng viên trong Geographical Windows sẽ được chọn dựa trên:

  • Ngân sách hàng năm của EC cho EM. Năm 2017, trung bình mỗi chương trình nhận được 5 học bổng cho Geographical Windows.
  • Số lượng sinh viên cho mỗi khu vực.
  • Ưu tiên cho những quốc tịch chiếm tỉ lệ nhỏ (less represented nationalities)
  • Trình độ tương đối giữa các ứng viên trong Geographical Windows.

Kết luận

Có thể thấy quy trình tuyển sinh và xét học bổng của EM ưu tiên những người thật sự có đam mê và khả năng nghiên cứu tốt, thể hiện qua các bằng chứng cụ thể như GPA, xếp hạng, bài báo nghiên cứu khoa học. Những người học giỏi sẽ có nhiều cơ hội được học bổng EM.

Tuy nhiên, EM cũng không loại bỏ cơ hội của những ứng viên chưa thật sự xuất sắc nhưng có hoàn cảnh đặc biệt: quốc tịch chiếm tỉ lệ ít, đến từ vùng được ưu tiên. Có nghĩa là không phải cứ được học bổng EM là giỏi hơn người khác đâu nhé 😉

Kinh nghiệm săn học bổng VLIR-OUS của Chính phủ Bỉ

Tính đến thời điểm hiện tại thì mình chính thức là thành viên của forum VLIR-UOS gần đúng 1 năm rưỡi, đã đọc khá nhiều bài viết chia sẽ kinh nghiệm của các anh chị và các bạn từ cách luyện thi IELTS đến cách chuẩn bị hồ sơ, chọn nước, chọn học bổng… Đến giờ này mình mới có thể thực sự nói lên những lời cảm ơn chân thành tới tất cả mọi người.
Và mình nghĩ rằng là một thành viên của diễn đàn mình phải có trách nhiệm giúp đỡ lại các bạn đi sau như các anh chị đã từng làm nên hôm nay mình tranh thủ viết lên 1 bài chia sẻ những kinh nghiệm, thành công và thất bại của mình trong quá trình “săn” học bổng.
Tất tần tật kinh nghiệm săn học bổng - Cứ đi rồi sẽ đến!Tất tần tật kinh nghiệm săn học bổng – Cứ đi rồi sẽ đến!

Trước đây, đi du học đối với mình chỉ là một khái niệm xa vời, chẳng thể nào với tay nỗi. Mình hay đọc báo và thấy các anh chị được học bổng này học bổng nọ làm mình cảm thấy vô cùng khâm phục. Lúc đó đối với mình ra trường với tấm bằng kỹ sư và một chỗ làm việc tốt là đủ. Nhưng đến một ngày vào năm thứ 2 đại học, mình tình cờ tham dự hội thảo du học do Nuffic tổ chứ, đó là hội thảo đầu tiên mà mình tham dự, xem những đoạn phim giới thiệu về đất nước Hà Lan và châu Âu đã làm mình say mê đến nỗi mình quên cả tiết học (đành trốn tiết). Có lẽ nhờ vậy mà mọi suy nghĩ cũng như kế hoạch của mình bắt đầu thay đổi. Mình cố gắng trong 2 năm tiếp theo phải cải thiện GPA, chăm học anh văn hơn, tham gia một số extra-curricular activities. May mắn cũng đến với mình khi năm cuối mình được khoa chọn tham gia international project tuy ngắn hạn (8 tháng, nhưng cũng có cái mình viết trong CV). Sau 2 năm mình đã hoàn thành đúng mục tiêu đề ra, mình tốt nghiệp với vị trí thủ khoa của khoa và điều khá quan trọng khác là mình đã “ngắm” được những thầy, cô có thể cho mình những LoR tốt. Lúc này mình đã có thể chú ý đến những học bổng phù hợp với khả năng của mình và quan trong nhất là không khắt khe chuyện kinh nghiệm như HSP, Erasmus Mundus, Vlir-uos, học bổng trường Ghent, ALA và Endeavour. Việc chuẩn bị giấy tờ apply học bổng cũng là một quá trình gian nan, mình đã làm quen rất nhiều anh chị để học hỏi kinh nghiệm, tránh bỡ ngỡ khi chuẩn bị hồ sơ.

CV

Nếu các bạn có ý định apply sang EU thì mình recommend các bạn sử dụng mẫu Europass vì theo mình thì nó khá thoáng, gọn, dễ nhìn, đẹp mắt và chuyên nghiệp.

LoM

Theo mình các bạn nên state các ý sau:
– Đầu thư nên nói ngắn gọn bạn sẽ apply học bổng này, ngành này ở trường này, blah blah.
– Chỉ ra lúc còn ở đại học bạn đã học được những gì, nó đã giúp ích gì cho bạn trong công việc chẳng hạn. Nguyên nhân vì sao bạn dự định học chương trình master nào đó trong thời gian sắp tới.
– Nói rõ hơn về chương trình bạn dự định học sẽ thể hiện bạn là người có tìm hiểu và có hoạch định rõ ràng. Có thể chỉ rõ hơn là trong chường trình học có những môn nào có thể giúp ích cho công việc của bạn, cung cấp kiến thức để bạn có thể nghiên cứu sâu hơn về mảng đề tài nào đó… Nếu có thể các bạn cũng nên tìm hiểu trong lab của trường bạn đang apply có giáo sư đang làm về đề tài mà các bạn quan tâm và dự định sẽ theo làm khi được học tại trường. Mình recommend các bạn mail trực tiếp cho ông/ bà giáo sư đó, thể hiện mình có quan tâm đến đề tài của họ, có thể họ sẽ cung cấp 1 số thông tin về đề tài để các bạn có thể viết trong LoM. Đây là một kinh nghiệm hay mình học được từ anh Triết (HSPer 2008 và 2010).
– Chỉ rõ kế hoạch trong tương lai của bạn sau khi hoàn thành khóa học và tiêu chí của các học bổng là bạn sẽ đóng góp gì cho đất nước, con người ở quê hương bạn khi bạn trở về và ở quê hương của họ khi bạn sang học tại đất nước của họ (cái này bên ADS và Endeavour có hỏi, và mình nghĩ bạn cũng có thể áp dụng cho các loại học bổng khác). Đừng nên nói những kế hoạch quá cao siêu mà các bạn không bao giờ có thể với tới mà hãy nói những kế hoạch gần gũi hơn, thực tế hơn mà họ nghĩ bạn có thể làm được.
– Cuối cùng, để kết lại các bạn nên khẳng định I strongly believe that I have adequate competence… để họ có thể thấy rõ quyết tâm cao độ của bạn khi tham gia học bổng này.
– Khi viết LoM là các bạn nên tìm hiểu tiêu chí của từng loại học bổng để có thể modify cho thật sự phù hợp.
– Điều quan trọng là khi viết xong bạn nên nhờ một vài anh chị có kinh nghiệm trong việc apply học bổng để sửa bài cho bạn.
– Phía trên là những gì được gọi là kinh nghiệm của bản thân mình trong quá trình viết LoM, các bạn có thể thêm bớt để có một LoM hoàn chỉnh của chính các bạn.

LoR

Tùy theo từng loại học bổng sẽ yêu cầu các bạn làm theo form có sẵn hay thuộc dạng viết tự do nhưng có điểm chung là đều đòi hỏi những lời nhận xét thực tế về năng lực, thái độ học tập, làm việc… của các bạn. Việc chọn ai viết cho các bạn và viết như thế nào cũng là những vấn đề cần phải bàn đến ^^
– Chọn người viết?
Khi chọn người viết sẽ dựa vào các tiêu chí như người đó biết rõ bạn mức độ nào, chức vị của người đó ra sao, những người đó có mối quan hệ gì với bên trường bạn apply hay không (cái này đúng và chính xác với học bổng Vlir)… Với mình, mình đã chọn cán bộ hướng dẫn (tiến sĩ, người mà trước đây từng học trường và học bổng mình đang apply…), thầy trưởng khoa (phó giáo sư, từng là cố vấn của mình trong 2 năm, có quan hệ khá là tốt với các giáo sư bên đó), một cô dạy mình một số môn học (đang làm PhD tại trường), một cô giám đốc dự án người Na Uy mà mình đã từng tham gia như đề cập ở trên.
– Viết như thế nào?
Đa số các bạn đều biết LoM là do sinh viên VN mình tự viết rồi nhờ thầy cô ký sau, nhưng chỉ có cô người nước ngoài là tự viết rồi scan gửi qua mail đồng thời gửi luôn bản hard qua post cho mình luôn (người nước ngoài có khác nhỉ, enthusiastic và thoughtful). Trong lúc tham gia dự án này mình có nói rõ với cô ấy là mình muốn apply học bổng và nhờ cô ấy viết LoR cho mình, cô ấy nhiệt tình thế đấy.
Cán bộ hướng dẫn: đa số là những nhận xét khá chi tiết về khả năng nghiên cứu, thái độ làm việc, khả năng sáng tạo, giải quyết các tình huống khó khăn như thế nào,… nên nêu ví dụ rõ ràng để người đọc có thể hình dung về con người của bạn chứ không phải bằng những lời phù phiếm. Ngoài ra, trong lúc giảng dạy ở lớp bạn là người thế nào, năng động, có những suy nghĩ sáng tạo,… Vì cô của mình là alumni của học bổng này nên có thể khẳng định được em này có đủ khả năng theo học…blah blah
Trưởng khoa: Thầy từng là cố vấn học tập cũng như trưởng khoa, đồng thời có nhiều mối quan hệ quốc tế nên đây là lý do mình lựa chọn thầy. Qua đó, thầy có thể đánh giá khả năng làm việc trong lớp của mình (vì mình làm lớp trưởng), thái độ học tập, khen thưởng học tập, việc mình được chọn tham gia dự án và mức độ tích cực tham gia hoạt động xã hội như thế nào.
Cán bộ giảng dạy: Cô là người dạy mình 3 môn ở đại học nên có thể đánh giá khả năng trong lớp của mình, đồng thời cô đang làm PhD tại trường mình đang apply nên có thể nhận xét thêm về khóa học và môi trường học tập, làm việc thích hợp với mình như thế nào.
Mình có tổng cộng 4 cái LoR, mỗi cái có thế mạnh riêng, không cái nào giống cái nào cả, dàn rộng các thế mạnh ra, tuy nhiên cũng nên có một vài điểm giao nhau nào đó. Ví dụ, cô cán bộ nói chi tiết về khả năng nghiên cứu của mình khi làm luận văn thì thầy trưởng khoa có thể nói thêm rằng em này có thái độ học tập tốt, điển hình là luận văn đạt kết quả tốt hay điểm cao gì đó…
LoR nên cho vào phong bì và xin dấu niêm phong của trường để tạo lòng tin cho người đọc. Các bạn tự tạo cho mình một headed letter, cũng có thể tạo printed watermark (dạng in chìm cho cả trang A4) bằng cái logo của trường cho đẹp và trang trọng hơn.
Ngày tháng trong thư các bạn nhớ thay đổi, nếu không các lá thư có cùng 1 ngày thì kỳ lắm
LoR tạm thời là vậy, nhớ đến đâu thì mình viết ra để chia sẻ với các bạn đến đấy thôi, nếu thiếu sót gì các bạn bổ sung giùm mình nhé.

IELTS/ TOEFL

Các bạn chuẩn bị càng sớm càng tốt vì càng để gần kề deadline thì thiệt thòi sẽ thuộc về các bạn. Vì lo ôn thi IELTS trễ nên mình đã bỏ lỡ một số học bổng của trường và không có thời gian viết bài báo khoa học như cô mình yêu cầu. Mình nghĩ các bạn nên có kết quả IELTS từ tháng 9 hay 10 là tốt nhất.
Vậy là quá trình chuẩn bị cũng xem như xong xuôi, giờ chỉ còn ngắm nghía qua một số chương trình học bổng phù hợp mà thôi. Vì là sinh viên vừa ra trường nên mục tiêu của mình là những học bổng không quá khắt khe về vấn đề kinh nghiệm làm việc.

HSP

Tin buồn là học bổng này đã kết thúc vào năm nay nên các bạn năm sau không còn cơ hội apply cho học bổng này nữa. Đây là học bổng mình thích nhất, nhiều thời gian chuẩn bị nhất, hi vọng nhiều nhất, rớt đau nhất. Tiêu chí của học bổng là dành cho excellent students và mình nghĩ rằng với GPA cao, thủ khoa là mình có cơ hội lớn với học bổng này. Dù vậy, mình chưa bao giờ ỷ y vào điều đó cả vì mình biết rằng ỷ y nhiều sẽ trả giá cao. LoM, CV và LoR cho học bổng HSP mình viết kỹ nhất so với các học bổng còn lại, tính luôn bản thân mình thì có cả thảy 6 người tham gia sửa bài bao gồm những kỳ cựu của học bổng này như chị Thanh Vân, Mai Anh (HSPer 2008), anh Triết (HSPer 2008, 2010), anh Tiên (Belgium), cô giáo dạy anh văn (đang làm PhD tại Bỉ)… mọi người đều sửa rất kỹ, góp ý chân thành… thế nhưng mình đã thực sự fail học bổng này, mình không buồn vì mình fail mà chỉ buồn vì đã phụ lòng của các anh chị và thầy cô đã nhiệt tình giúp đỡ. Qua đó mình thấy rằng GPA cao của những developing country như chúng ta chưa thực sự là một tiêu chí hàng đầu để đánh giá năng lực của sinh viên, trong khi đó học bổng HSP là một học bổng cạnh tranh khốc liệt trên toàn thế giới. Theo bản thân mình rút ra thì bài báo khoa học hay kinh nghiệm tham gia nhiều dự án quốc tế thực sự competitive hơn GPA (đối với developing như chúng ta), là thước đo đánh giá bạn có thực sự có năng lực hay không, có là excellent hay không. Một kinh nghiệm khác của mình là khi còn là sinh viên, các bạn hãy cố gắng tham gia các nghiên cứu khoa học, cố gắng viết 1 hoặc 2 bài báo để bổ sung cho GPA của các bạn (cái này mình thực sự thiếu, trong lúc cắm đầu chạy nước rút để thi IELTS thì mình đã bỏ lỡ 1 bài báo để tham dự một conference có uy tín và mình thực sự hối hận vì điều này).

Erasmus Mundus

Mình tham gia khóa EMBC và mình đã bị loại ngay từ vòng gửi xe chỉ vì khóa này và khóa bên Vlir mình đăng ký cùng 1 trường và trường cho rằng mình vi phạm quy chế nên bảo mình cancel 1 trong 2 chương trình nếu muốn tham gia chương trình còn lại. Và mình đã quyết định cancel khóa EMBC vì nghĩ mình có cơ hội hơn với Vlir (mình đã quyết định đúng nên giờ có thể ngồi đây viết những dòng tâm sự này). Các bạn những năm sau nên chú ý điểm này để tránh uổng phí công sức, tiền bạc và tránh ngậm bồ hòn nữa, hehe.

Học bổng trường Ghent

Như đã nói ở trên, deadline cho học bổng này là 23/12 và mình đã bỏ lỡ chỉ vì thi IELTS muộn.

VLIR-UOS

Theo tiền lệ thì học bổng này yêu cầu 2 năm kinh nghiệm. Tuy nhiên, cách đây 2 năm thì yêu cầu này không còn nữa mà được xem là competitive factor, ít người biết được thông tin này, ngay cả thầy cô trường mình. Ở đây có 1 tip khá hay khi tham gia học bổng này là các bạn nên tìm kiếm ở khoa bạn những thầy, cô là alumni của Vlir và nhờ họ support như cán bộ hướng dẫn mình, và người có mối quan hệ tốt bên đó như thầy trưởng khoa của mình. Đối với những bạn apply năm đầu chưa được học bổng thì mình recommend các bạn tiếp tục chiến đấu vào năm sau, khi ấy state trong LoM là tôi từng rớt học bổng này nhưng vẫn tiếp tục vì tôi thực sự thích nó, cơ hội năm sau vì thế cũng sẽ cao hơn, chính giáo sư bên VUB cũng nói vậy… chẳng hạn như một chị được IPMB của trường mình.

Học bổng trường Wageningen (ABF)

Thực ra đây là học bổng cùa Alumni, deadline là 16/4. Học bổng này dành 5 suất full coverage cho sinh viên mới vào. Năm nay có 3 người VN được lọt vào 29 người cuối cùng. Được Vlir nên mình đã cancel, không tham gia nữa. Hai bạn còn lại cũng đã lọt vào 12 người cuối. Hiện nay chỉ còn 1 bạn đợi kết quả vào tháng 6 vì có 1 bạn vừa cancel do được học bổng Erasia action 2 tại Đức.

ALA, Endeavour

Hai học bổng này mình cũng có ý định tham gia, cũng có tìm hiểu nhưng vì vừa được Vlir nên mình đành kết thúc cuộc phiêu lưu săn học bổng tại đây.

Để kết lại bài viết mình mong rằng các bạn hãy luôn tự tin và giữ vững bản lĩnh của mình trong quá trình apply học bổng. Bạn chưa được học bổng có thể bạn không phù hợp với học bổng này nhưng lại phù hợp với học bổng khác. Con đường đi tìm học bổng rất dài và gian nan, mong rằng các bạn sinh viên Việt Nam luôn giữ vững niềm tin để biến ước mơ du học của mình trở thành hiện thực.

 

Thông tin thêm về hppdphong77: Tốt nghiệp trường ĐH Cần Thơ, apply thành công VLIR-OUS.

Các bạn có thể xem profile chi tiết của Phong ở post Profile EUVN 2011.

Các bước xin học bổng chính phủ

Bài viết này không bao gồm thông tin về các thủ tục. Bạn sẽ phải tự tìm hiểu về thủ tục cần thiết liên quan một bộ hồ sơ học bổng.

Mình không đảm bảo những ai tuân theo quy trình này sẽ được học bổng, nhưng chắc chắn những người đó sẽ tận dụng được tối đa 4 yếu tố (ngoại trừ sự may mắn). Hiển nhiên, bạn tận dụng được càng nhiều thì khả năng hồ sơ tốt và được chọn càng cao.

Từ khi có ý tưởng du học đến khi chính thức nhận học bổng, một quy trình xin học bổng bài bản và hoàn chỉnh cần có 3 bước: (1) chuẩn bị trước khi làm hồ sơ, (2) làm hồ sơ, và (3) chuẩn bị phỏng vấn.

Thời gian cần thiết cho các bước này lần lượt là: tối thiểu 3 năm cho bước chuẩn bị, khoảng 2 tháng cho bước làm hồ sơ và 1 tuần cho bước chuẩn bị phỏng vấn.

Bí quyết săn học bổng toàn phần du học Mỹ

Để được nhận những suất học bổng giá trị tại Mỹ, bạn cần thường xuyên trau dồi kiến thức và có kế hoạch phát triển bản thân toàn diện, lâu dài.

Chuẩn bịMột hồ sơ tốt đều cần có bước chuẩn bị được đầu tư tối thiểu 3 năm – thời gian nỗ lực làm việc và chất xám. Để hiểu được lý do, hãy điểm qua những tiêu chí cơ bản mà các ban xét duyệt hồ sơ thường sử dụng để đánh giá ứng viên:

Thành tích học tập và nghiên cứu (nếu có) được thể hiện qua bảng điểm (hoặc GPA) và giấy chứng nhận (đối với một số học bổng như Erasmus Mundus hay Endeavour, thành tích học tập chưa tốt có thể được hỗ trợ bởi một quá trình làm việc giàu thành tích ở ngành liên quan).

Bài luận cá nhân (personal statement, letter of motivation, statement of purpose, study objectives).

Thư giới thiệu (letter of recommendation, reference, reference letter).

Tiêu chí đặc thù của học bổng hoặc của khóa học (có thể là phẩm chất cá nhân, thành tích hoạt động xã hội, khả năng sử dụng ngôn ngữ…).

Những tiêu chí trên được mình tổng hợp dựa trên các thông báo chính thức và kinh nghiệm ứng tuyển 5 học bổng: Erasmus Mundus (EM), Học bổng Song phương Việt – Bỉ (BBS), Học bổng Chevening, Học bổng Australia Awards (AAS), và Học bổng Fulbright.

Cac buoc xin hoc bong chinh phu hinh anh 1
Sinh viên trong giờ học trên giảng đường tại Đại họcLatrobe, Australia. Ảnh:Đoàn Toàn.

Đối với học bổng tài năng (merit-based), sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về mức độ quan trọng):

1. Thành tích học tập (hoặc làm việc).

2. Thư giới thiệu.

3. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

4. Bài luận cá nhân.

Thực tế, thành tích học tập luôn là “ngôi sao” của những hồ sơ học bổng tài năng. Trong nhiều chương trình thuộc EM, ban xét duyệt công khai với ứng viên là thành tích học tập chiếm tới 40% “weighting”. Điều tương tự xảy ra đối với Endeavour 2016:

Ngược lại so với thành tích học tập, bài luận cá nhân thường ít có sức nặng (đôi khi gần như không có chút giá trị nào) ở các học bổng tài năng.

Thực tế, thư xin học bổng mà các ứng viên Việt Nam viết để gửi cho học bổng EM thường có chất lượng không cao nếu không muốn nói là horse crap! Có thể nhiều bạn được EM đọc đến dòng này sẽ tự ái, nhưng nếu các bạn được đọc những bài luận của những người từng được những học bổng có tính cạnh tranh cao về tư duy và phẩm chất cá nhân như Fulbright hay Chevening, hoặc các học bổng trường thuộc Ivy League thì tôi tin các bạn sẽ… “tắt đài”.

Một ví dụ khác chứng minh sự chênh lệch về mức độ quan trọng của thành tích học tập và bài luận: Một bạn được học bổng Endeavour có thành tích học tập vô cùng xuất sắc nhưng bài luận được viết qua loa đến mức còn chả buồn kiểm tra ngữ pháp.

Nói đến như vậy, chắc mọi người cũng hiểu tối thiểu 3 năm để chuẩn bị cho học bổng tài năng sẽ được dùng cho việc gì rồi phải không? Rõ ràng, các bạn nên dành thời gian cho việc học tập và nghiên cứu để có một bảng điểm thật xuất sắc, cùng những bài báo cáo khoa học được công bố trên các báo hay tạp chí càng uy tín cao càng tốt.

Bên cạnh đó, nếu học bổng yêu cầu những hoạt động xã hội hay trình độ ngoại ngữ tốt, các bạn cũng nên dành nhiều thời gian cho những việc đó.

Vậy những bạn đã không để ý đến thời gian học đại học và không còn cơ hội thay đổi bảng điểm thì sao?

Các bạn có thể chuẩn bị cho học bổng tiềm năng hoặc học bổng tài năng – tiềm năng. Đối với học bổng tiềm năng, sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về sức nặng):

1. Bài luận cá nhân.

2. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

3. Thành tích học tập

4. Thư giới thiệu

Đối với học bổng tiềm năng, thành tích học tập của bạn thường chỉ cần đạt một điều kiện cần và không cần cao. Ví dụ, học bổng Chevening yêu cầu ứng viên phải có bằng tốt nghiệp đại học tương đương Second Class Honour ở Vương quốc Anh (tức là GPA trên 7.0), bạn đạt và được xét duyệt công bằng với một người có GPA cao hơn.

Giữa 2 người, một người có GPA cao và bài luận khá, một người có GPA thấp và bài luận xuất sắc, Chevening sẽ đánh giá cao người thứ hai hơn.

Ví dụ, người viết có điểm GPA 7.6/10 – có lẽ là thấp đến mức bất cứ ứng viên nào thuộc ngành kinh tế hoặc xã hội cũng có điểm cao hơn. Nhưng mà mình vẫn được Chevening chọn.

Lý do chỉ có thể là mình có bài luận tốt vì học bổng Chevening không yêu cầu nộp CV và cũng chẳng có chỗ nào cho các bạn thể hiện thành tích (ngoại trừ bảng điểm) đâu.

Đối với học bổng tài năng – tiềm năng, yếu tố sức nặng (weighting) phụ thuộc từng quy trình xét duyệt của học bổng cụ thể. Ví dụ, học bổng Fulbright và AAS đều là dạng tài năng-tiềm năng. Tuy nhiên, nếu vòng hồ sơ đầu tiên của Fulbright xét tính cạnh tranh của toàn bộ hồ sơ bao gồm cả bài luận, phẩm chất đặc thù, thành tích học tập và khả năng ngôn ngữ, thư giới thiệu, thì vòng screening (vòng duyệt hồ sơ đầu tiên do người Việt Nam thực hiện) của AAS coi thành tích học tập, cụ thể là điểm GPA là yếu tố tiên quyết.

Có nghĩa là, rất có thể một bộ hồ sơ có SOP viết tốt nhưng GPA dưới 8.0 sẽ bị loại, trong khi một bộ hồ sơ SOP kém hơn nhiều nhưng tốt nghiệp giỏi với GPA 8.4 sẽ được chọn.

Vậy thì 3 năm chuẩn bị cho học bổng tiềm năng được dùng để làm gì?

Các bạn hãy dùng 3 năm đó để vừa nỗ lực làm việc, vừa suy nghĩ về ngành mà bạn đang làm. Hãy dành ít nhất 1 năm cuối ở trường đại học để nghiền ngẫm và hệ thống lại những lý thuyết mà bạn đã có để xác định con đường lâu dài mà bạn định phát triển.

Hai năm tiếp theo là thời gian để tích lũy kinh nghiệm, phát hiện những hiện tượng, những vấn đề cần được giải quyết trong ngành và thử sử dụng những lý thuyết học được để giải quyết nó.

Khi những lý thuyết và kinh nghiệm làm việc của bạn không thể nào giải quyết những vấn đề bạn phát hiện, đó là lúc cần đi học thêm. Nếu đi học thêm mãi ở Việt Nam mà chưa có được cái bạn cần, đó là lúc cần xin học bổng để du học.

Nói nghe có vẻ ngắn gọn và đơn giản, nhưng để có thể tìm ra vấn đề và nhận ra khoảng cách không thể bù đắp giữa kiến thức và vấn đề còn tồn tại trong ngành, bạn sẽ phải luôn quan sát, động não và trăn trở về những gì đang xảy ra quanh mình.

Quá trình này cũng sẽ giúp bạn khẳng định niềm đam mê đối với một công việc mà bạn đã chọn. Và, chắc chắn các bạn xét duyệt học bổng tiềm năng muốn tìm kiếm những con người có động cơ và đam mê như vậy để trao học bổng.

Một điều cuối cùng rất quan trọng trước khi làm hồ sơ xin học bổng: Các bạn cần giỏi tiếng Anh. Thực ra, không cần xin học bổng các bạn cũng nhất thiết phải giỏi tiếng Anh. Giỏi cả nghe, nói, đọc, viết chứ không phải chỉ có nói và nghe.

Dài hạn, bạn nên luôn tích lũy kiến thức tiếng Anh ngay từ khi còn học đại học để khi tốt nghiệp đã có một vốn liếng khá để thi được IELTS 6.5 mà không cần ngồi luyện thi. Đừng để đến khi làm hồ sơ mới cuống lên “cày cuốc” để thi IELTS.

error: Content is protected !!