Hỏi đáp về Master of Laws in USA

Tôi hiện nay đang học năm 4 Học Viện Quan Hệ Quốc Tế, ngành Luật Quốc Tế. Tôi biết 3 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nhật. Điểm học tập ở trường thì chỉ là bằng khá thôi. Nhưng tôi rất tự tin vào kiến thức mà mình có được. Tôi muốn hỏi bạn một số câu hỏi sau:
1. Bằng khá có phải là trở ngại để xin học bổng tại Mỹ không?
2.Tôi muốn kiếm một học bổng để học Master Luật quốc tế ở Mỹ, có phải là quá khó không? Tôi muốn ra trường là đi học ngay có được không? Tôi phải làm gì từ bây giờ?

Rất mong nhận được hồi âm của các bạn!

Hi em,
Chị là Ngọc, khoa luật K30, em chắc học K31 phải ko. Chị hiện đang học LLM (Master of Law) ở Mỹ. Chị trả lời các câu hỏi của em dưới đây nhé

1. Bằng khá có phải là trở ngại để xin học bổng tại Mỹ không?

Không hề có trở ngại gì! Điều quan trọng là điểm luật của em tốt và mình chuẩn bị cẩn thận cho việc apply là okie em ah.

2. Tôi muốn kiếm một học bổng để học Master Luật quốc tế ở Mỹ, có phải là quá khó không?

Học bổng học luật nói chung hiếm hơn các ngành khác nhưng không có nghĩa là không có. Về các nguồn học bổng chị biết và tổng hợp qua bạn bè, chị đã post lên website này. Em vào tham khảo nhé

http://usadmission.org/usadmission/index.php/Apply_to_Law

Tôi muốn ra trường là đi học ngay có được không?

– chị chưa hỏi lại với trường chị xem sinh viên trường mình ra trường muốn đi học luôn có okie ko nên chị ko trả lời được chính xác câu này cho em.

– Em nói em muốn học luật quốc tế là luật thế nào em? LÀ Int’l public law hay int’l private law hay học dưới dạng comparative tức là mình sẽ học hoàn toàn luật Mỹ để thấy luật Mỹ khác so với luật VN thế nào. Em cần xác định sau này sẽ hành nghề luật trong sector nào, public (government, int’l organizations) or private (Law firms or business corporations). Câu trả lời của chị dưới đây chủ yếu dựa trên assumption là em muốn focus vào mảng private nhé vì chị thấy xu hướng này ngày càng prevail trong sinh viên khoa mình.

– Chị thấy có 2 khó khăn rất lớn nếu em tốt nghiệp xong ko đi làm mà đi học ngay:

(i) KHách quan: Sinh viên trường mình tính đến K34 là đếu chưa có bằng luật mà chỉ là major in Int’l Law. Trong khi đó yêu cầu đầu tiên của các trường ở Mỹ để được nhận học cao học luật là có bằng ở nước ngoài tương đương với bằng JD của Mỹ tức là degree của mình phải đủ qualified để mình thi vào đoàn luật sư (take bar exam) và có được chứng chỉ hành nghề luật sư. Bằng của trường mình ko làm được điều đó theo luật luật sư của VN em ạ. Như thế là ko đủ tiêu chuẩn rồi. Tuy nhiên các trường có thể cho phép ngoại lệ là mình có substantial experience in legal field. Cái ngoại lệ này không được post officially trên website các trường nên em nên liên hệ trước với trường để hỏi rồi hãy chuẩn bị và nộp hồ sơ. Việc em đi làm trước khi đi học sẽ giúp em được nhận nhờ ngoại lệ này. Nhưng vì không phải trường nào cũng chấp nhận ngoại lệ đó nên mình cần liên hệ trước để hỏi cho đỡ mất công nộp hồ sơ em ạ.

(ii) Chủ quan: Đây là khó khăn lớn nhất vì sẽ quyết định xem em sẽ thu lượm được bao nhiêu sau 1 năm học LLM ở Mỹ. Do việc đào tạo luật ở trường mình CỰC KỲ SƠ SÀI nên các kiến thức em có được (mà em nói là rất tự tin) rất khó có thể cung cấp cho em môt background đủ để theo học các lớp ở đây. Nếu em tiếp tục theo đuổi public law thì có thể okie (và có một số trường về int’l public law và int’l affairs chị tin là sẵn sàng nhận em học int’l public law ngay cả khi em chưa có kinh nghiệm làm việc) nhưng nếu em định sẽ làm trong private sector (tức là các law firms hoặc các business corporations) thì khi sang đây chị assume là em sẽ chọn các classes về business law. Vấn đề là các classes này được tailored cho sinh viên JD Mỹ năm 2 và năm 3 tức là những sviên đã qua một năm học ở trường luật và có background cơ bản về law nói chung và luật Mỹ nói riêng (chưa kể đến việc sinh viên học JD của Mỹ đều đã có một bằng bachelor rồi và đầu vào của tụi nó cực tốt, Như trong khoa chị thì chúng nó khủng lắm rất nhiều bọn đi ra từ các trường top 5 của Mỹ kiểu Havard, NYU, Berkerly,etc. với những ngành cực lợi thế như là political science hay economics). Việc đi làm sẽ giúp em lấp lỗ hổng kiến thức, thực sự được challenge mình trong lĩnh vực pháp lý và giúp em hiểu em còn thiếu gì để phải học thêm cho công việc của mình sau này. Theo kinh nghiệm của chị thì việc đi làm đã giúp chị rất nhiều trong việc chọn môn học, hiểu và tiếp thu bài trên lớp.

Nếu em hỏi, chị strongly recommend em nên đi làm một thời gian trước khi đi học. Ko nhất thiết làm 2 năm đâu (chị chỉ làm từ khi ra trường năm ngoái đến hết tháng 4 năm nay thôi), hơn nữa học LLM cực kỳ intensive có 10 tháng thôi em nên kể cả thời gian em đi làm lẫn đi học thì cũng chỉ như các bạn học các ngành khác mà ko đi làm thôi em a:>

Tôi phải làm gì từ bây giờ?

EM nên chuẩn bị từ bây giờ vì sẽ mất khá nhiều công sức và thời gian đó. Kinh nghiệm của chị là từ khi bắt đầu thi lấy chứng chỉ tiếng Anh đến khi nộp xong hồ sơ cũng cả năm em ạ. Em có thể tham khảo các bước cần thiết trong link chị gửi.

Hi vọng là chị giúp giải đáp được phần nào các câu hỏi của em. Nếu có thêm thắc mắc gì thì cứ thoải mái viết email cho chị: bichngoc.nguyen86@gmail.com

Cố gắng lên em nhé:-bd, mình xây dựng một cộng đồng sinh viên VN học luật ở Mỹ để cạnh tranh với các ngành khác nữa vì nói chung hiện nay số lượng này còn it ỏi lắm em ạ. Năm nay chị tìm mỏi mắt mới có 3 người thôi thì trong đó có 2 là trường mình rồi:p. Nếu có bạn nào ở khoa có thắc mắc gì về việc đi học thì cứ bảo bạn ý email cho chị nhé.

Chúc em thành công nhé
Ngọc

Tìm hiểu về ngành Economics – Learn more about Ecocomics study

ECONOMICS

I/ Giới thiệu ngành Kinh Tế học 

Nghiên cứu kinh tế ở bậc nghiên cứu sinh (PhD hay doctorate) là sự giao thoa giữa các phương pháp nghiên cứu các chuyên ngành tự nhiên, kỹ thuật và xã hội. Bạn có thể tìm thấy trên các top journal về kinh tế các bài báo có phong cách giống như các bài nghiên cứu về math, CS/EE hoặc law và sociology. Để theo học PhD kinh tế, bạn không cần có background về kinh tế. Dù học đại học ở bất kỳ chuyên ngành nào, bạn đều có thể nộp hồ sơ xin học PhD về kinh tế học. Tuy nhiên, bạn cần có khả năng học toán ở mức độ tối thiểu nào đó (tuỳ theo yêu cầu của từng trường), để có thể sống sót qua các kỳ thi prelim và QE, trước khi muốn theo đuổi hướng nghiên cứu ưa thích của mình.

Các chuyên ngành :

Economic History & Thought
Econometrics
Microeconomic Theory
Labor & Consumer Economics
IO / Business Economics
Public Economics
Macroeconomics
Trade & Development
Financial Economics
Resource & Agricultural Econ

1. Phân biệt kinh tế học với các ngành khoa học khác 

Kinh tế và Quản lý ở Việt nam thường bị hiểu lẫn lộn, trong khi người Mỹ phân biệt rõ ràng hai nhóm ngành này. Khoa Kinh tế ( bao gồm các ngành Macro Economics, Micro Economics, International Economics, Development, Game Theory, Econometrics.v.v…) thường nằm trong School of Art & Science. Trong khi đó các ngành quản lý, kinh doanh (finance, accounting, marketing, insurance… và các ngành management) thường nằm trong School of Business, hay còn gọi là B-school.
Nghiên cứu Economics đỉnh cao thường chú trọng vào theoretical. Cụ thể là các trường hàng đầu có nhiều công trình nghiên cứu về theoretical hơn là empirical. Đa số các công trình nghiên cứu được giải Nobel cũng là về theoretical economics. Trong khi đấy, nghiên cứu ở B-school thường chú trọng vào empirical nhiều hơn. Tiêu chí tuyển chọn của các khoa Economics và B-school cũng khác nhau. Nộp hồ sơ vào Economics cần thi GRE, còn B-school cần thi GMAT.
Thậm chí, người Mỹ còn phân biệt Economics và Agricultural & Resource Economics là hai khoa khác nhau, với các tiêu chí tuyển chọn khác nhau.
Một lẫn lộn khác thường thấy là giữa các nghiên cứu về economics policies của khoa Economics và của khoa Public policies/management. Các bài báo ở trên các tạp chí kinh tế của Việt nam, các báo cáo của World bank, IMF, báo cáo Lựa chọn thành công của nhóm Harvard Fulbright Việt nam đều không phải là các paper chuẩn mực về kinh tế. Đấy chỉ là các bản tóm tắt các kết quả nghiên cứu kinh tế, các đề xuất chính sách dựa trên kinh nghiệm và dự báo, đã lược bỏ rất nhiều các công cụ/kỹ thuật định lượng, bởi không cần thiết đối với các độc giả không chuyên.
2. Vai trò của định lượng trong nghiên cứu kinh tế. 

Kinh tế thường được xếp vào nhóm ngành social sciences, do đặc thù nghiên cứu về xã hội. Tuy nhiên, các tiêu chí tuyển chọn ở bậc sau đại học, phương pháp học và nghiên cứu kinh tế, có lẽ thiên về nhóm Engineering nhiều hơn.
Kinh tế không phải là ngành chú trọng ngôn ngữ mà thiên về toán và định lượng. Điểm ngôn ngữ admission vào các khoa kinh tế thường khá thấp, tối thiểu chỉ cần TOEFL 550PBT/213CBT, hoặc GRE verbal 300 trở lên (mặc dù để được nhận financial aid, bạn cần TOEFL 600/250 trở lên giống như mọi ngành khác). Trong 3 năm đầu tiên học coursework, phần định lượng, bao gồm các kỹ thuật toán và định lượng, mô hình hóa, lập và giải các hệ phương trình, chứng minh các định lý, bổ đề, chiếm khoảng 90% thời gian. Phần phân tích, bình luận định tính chỉ chiếm khoảng 10% thôi.
Số lượng paper bắt buộc phải đọc ở mỗi courses cũng khá ít, chỉ khoảng 8-10 paper cho mỗi học kỳ, (mặc dù danh sách paper đọc thêm cũng khá nhiều). Tuy nhiên, khối lượng các công cụ và kỹ thuật định lượng cần học để hiểu hết các paper rất lớn, cho nên các khoa kinh tế thường không đủ thời gian để chú trọng vào phần đọc và viết bình luận như nhiều ngành xã hội khác. Các nghiên cứu sinh thường phải tự hoàn thiện các kỹ năng này khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
Cũng chính vì tuyển chọn Phder thiên về khả năng định lượng, không cần kinh nghiệm làm việc, cho nên sinh viên trẻ, đầu 2x, chiếm đại đa số ở bậc Phd. Các khoa kinh tế cũng rất khuyến khích các sinh viên có background về math, physics và engineering chuyển sang học Phd, bởi họ cho rằng những người này có background vững về định lượng. Thông thường, số sinh viên này chiếm khoảng 50-70% ở bậc Phd về kinh tế ở mỗi khoa.
Có thể nói không ngoa rằng, độ khó và độ nặng về mặt định lượng của khoa kinh tế không hề thua kém bất kỳ ngành Engineering nào.
Đến đây một số người sẽ thắc mắc, tại sao nhiều người có background ở các ngành ít định lượng, (ví dụ như văn học, ngôn ngữ, lịch sử, hay âm nhạc, hội họa…) cũng có thể chuyển sang học Phd về kinh tế? Điều này có một số nguyên nhân:
+ Một số người có chỉ số IQ cao, có thể học tốt ở nhiều ngành hoàn toàn khác nhau. Vì lý do nào đó, họ chọn các ngành ít thiên về định lượng ở bậc đại học. Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ vào bậc Phd, hồ sơ của nhóm người này sẽ bị săm soi rất kỹ về năng lực toán học. Nếu thiếu nhiều các credit về toán hoặc các điểm đó không cao thì sẽ chắc chắn không thể có admission. Thông thường, những người có background ít các môn toán đều phải lấy thêm 1 số các credit về toán ở bậc đại học và/hoặc sau đại học, và phải chứng minh được năng lực toán của mình trên bảng điểm khi nộp hồ sơ Phd.
Một ví dụ thành công điển hình trong nhóm này là Robert Lucas. Ông này học đại học về lịch sử. Sau đó lấy thêm 1 số credit bậc under và grad về math ở Berkeley rồi vào học Phd Chicago. Cuối cùng, ông đoạt giải Nobel kinh tế năm 1995.
+ Tuy nhiên, admission mới chỉ là một nửa câu chuyện. Bậc Phd kinh tế thậm chí rất khác so với hình dung của những người có background đại học về kinh tế. Chính vì vậy, các khoa kinh tế còn có thêm 1 kỳ thi gọi là thi Prelim ở cuối năm thứ 1 để loại ra những người không phù hợp, bên cạnh kỳ thi Qualifying Exam (cuối năm 2, 3 hoặc 4 tùy theo quy định của từng trường). Kỳ thi prelim này thậm chí còn quan trọng hơn kỳ thi Q.E nhiều, do tính chất khốc liệt của nó (có thể loại từ 30-60% sinh viên Phd của khoa, tùy theo từng năm và từng trường). Năm đầu tiên, Phder về kinh tế thường học 7 courses. Các course này đều chú trọng bổ túc kiến thức về math và định lượng. Những người không có năng khiếu hoặc chưa chuẩn bị tốt các course về math sẽ khó có thể vượt qua được kỳ thi này.
+ Sau khi vượt qua năm thứ nhất, hai năm học coursework tiếp theo, sinh viên vẫn tiếp tục được bổ xung các phương pháp/kỹ thuật định lượng. Mặc dù tên các môn học là macro, micro, financial economics…nhưng nội dung chủ yếu được giảng dạy vẫn là các kỹ thuật định lượng và mô hình hóa. Sinh viên chỉ được giải thích về các khái niệm/thuật ngữ cơ bản để sử dụng trong quá trình mô hình hóa. (Nhiều khi, giáo sư cũng chẳng giải thích mà chỉ viết hệ phương trình lên bảng rồi giải ào ào. Sinh viên phải có nghĩa vụ tự tìm hiểu các khái niệm ấy). Các kiến thức thực tế về kinh tế vỹ mô, vi mô, tài chính, phát triển…hầu như không được giảng, hoặc chỉ được giảng rất ít, trong quá trình học. Sinh viên Phd phải tự đọc khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
+ Cuối cùng là khác với các ngành Engineering, có thể bắt tay vào research ngay từ năm thứ 1, sinh viên Phd Economics hầu như chỉ bắt đầu research từ năm thứ 3, sau khi đã học gần xong các công cụ/kỹ thuật định lượng. Ngoài ra, số courses bắt buộc đối với 1 Phd về kinh tế thường cũng nhiều hơn các ngành Engineering. Đấy là lý do vì sao các sinh viên có background yếu về định lượng vẫn có thể theo học Phd về kinh tế.
Các bạn có thể xem các G.S Athey và G.S Mankiw nói về lý do cần chú trọng math trong kinh tế:http://kuznets.harvard.edu/~athey/imagineart.html hoặc http://gregmankiw.blogspot.com/2006/…need-math.html
Các môn toán ở bậc đại học mà sinh viên VN cần nắm vững trước khi nộp hồ sơ Phd kinh tế là: đại số tuyến tính, quy hoạch tuyến tích, phương trình vi phân/phương trình đạo hàm riêng, giải tích số & hàm, hình giải tích, xác xuất & thống kê, giải tích lồi, và ở bậc sau đại học là giải tích thực, giới thiệu nhập môn về topo và lý thuyết trò chơi (nếu có thể).
Ngoài ra, hai cuốn sách có thể tham khảo là Fundamental Methods of Mathematical Economics, của Alpha Chang và Mathematics for Economists của Carl P. Simon and Lawrence Blume.
Yêu cầu tối thiểu về năng lực toán của mỗi trường mỗi khác, (Yêu cầu của Harvard hẳn là khác với trường rank 50 và càng khác với trường rank 100). Tuy nhiên, khối lượng chương trình học Phd khá nặng, nếu các bạn có thể chuẩn bị trước được các courses này trước khi vào học Phd thì sẽ tốt hơn nhiều. Ngay cả các giáo sư hàng đầu của Mỹ thời đi học cũng thường chuẩn bị như vậy.
Năng lực toán chỉ là điều kiện cần, không đủ để đảm bảo thành công trong nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhấn mạnh việc chuẩn bị tốt các kiến thức toán bởi tôi từng biết nhiều sinh viên VN đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học Phd Econ.
Ngoài ra, không phải vô lý mà đa số các giải Nobel kinh tế được trao cho những người đã từng có background về toán (BA/MA/PHD). Ở bài trước tôi đã từng viết, những paper nghèo về mặt định lượng cũng có thể xuất hiện trên các top journal về kinh tế. Tuy nhiên, đó phải là các paper mang tính đột phá, đặt nền móng cho một nhánh nghiên cứu hoàn toàn mới hoặc cho một ngành kinh tế mới. Có nghĩa là yêu cầu cao hơn đối với các paper thiên về định lượng.
II/ Xếp hạng các chương trình Kinh Tế học 

Có rất nhiều bảng xếp hạng khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tựu chung thường có hai cách đánh giá. Cách thứ nhất là xếp hạng dựa vào các bài báo mà mỗi khoa/viện kinh tế đăng báo (ranking based on publication capacity). Cách thứ hai là dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào được những khoa/viện kinh tế hàng đầu (ranking based on PhD placements).
Cả hai phương pháp này đều có những thiếu sót.
Đối với phương pháp dựa vào số bài báo đăng, có những khoa kinh tế không có nhiều giáo sư thật sự xuất sắc nhưng nhờ có số lượng giáo sư nhiều nên dẫn đến số lượng bài báo đăng nhiều, xếp hạng cao hơn một số khoa khác mặc dù có ít giáo sư hơn nhưng chất lượng giáo sư cao hơn hẳn. Một ví dụ khác đó là khi mà các trường nằm cạnh nhau và các khoa kinh tế của các trường cùng hợp tác để hướng dẫn chương trình nghiên cứu sinh thì xếp hạng này càng khập khiễng vì nó chỉ xếp hạng từng trường riêng rẽ. Ví dụ như Stockholm Doctoral Program in Economics do hai trường Stockholm University và Stockholm School of Economics hợp tác hoặc Berlin Doctoral Program in Economics and Management Science do một nhóm trường đại học ở Berlin hợp tác.
Tương tự, đối với phương pháp xếp hạng dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào những khoa/viện kinh tế hàng đầu, có những khoa kinh tế thật sự xuất sắc ở một lĩnh vực nhỏ và do đó có một vị trí tốt trên bảng xếp hạng. Ví dụ trong bài báo “Ranking Economics Departments Worldwide based on the basis of PhD Placement” của Rabah Amir và Malgorzata Knauff năm 2005, Pennsylvania State University có một ví trí khá cao, hơn hẳn Columbia University và New York University, nhưng lĩnh vực kinh tế vĩ mô của khoa kinh tế Pennsylvania State University rất yếu (vào thời điểm năm 2009) so với Columbia University và New York University.
Ngoài ra, môi trường học thuật của một trường đại học rất quan trọng. Những trường có những khoa kinh tế nhỏ nhưng chất lượng có giá trị hơn là những trường có số lượng giáo sư đồ sộ nhưng không ai thật sự xuất sắc.
Những bảng xếp hạng đáng tin cậy và nên tham khảo đó là:
– Economics của US News & World Reports.
– Rankings at IDEAS.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với một nghiên cứu sinh đó là người hướng dẫn. Do đó, sau khi xem xét sơ các bảng xếp hạng, bạn hãy chọn một danh sách các trường nhắm vào, sau đó vào từng trang web của trường để xem CV của từng giáo sư, nếu có thời gian xem luôn vị trí mà các sinh viên sau khi tốt nghiệp từ trường nhận được là gì (placement). Khả năng đăng được các bài báo ở các tạp chí hàng đầu nói lên trình độ của giáo sư. Vị trí mà các giáo sư đã từng nắm giữ cũng rất quan trọng; một giáo sư từng giữ vị trí cố vấn chính phủ hay các định chế quốc tế như IMF hay World Bank thường có kinh nghiệm dồi dào, và quen biết rộng (rất có ích khi bạn ra trường và cần một thư giới thiệu).
Khi nộp đơn bạn nên chọn ra một danh sách các trường gồm 3 loại:
– Trường trong tầm tay.
– Trường xa tầm tay một chút.
– Trường chắc chắn vào được.
III/ Một số vấn đề cần lưu ý khi nộp hồ sơ

Ngoài quy trình nộp hồ sơ hệ sau đại học dành chung đối với sinh viên Việt Nam nộp hồ sơ tới các trường đại học Mỹ theo chương trình Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ, một số vấn đề khác trong quá trình nộp hồ sơ ngành kinh tế học cũng cần lưu ý.
1. Các môn học cần chú trọng ở hệ đại học 

Các trường quan tâm nhiều hơn đến việc bạn đã học và vượt trội trong các môn học khó như thế nào hơn là điểm GPA nói chung. Bạn nên đề cập tới trong SOP của mình vì các trường sẽ không thể biết được các lớp toán như thế nào, và lớp nào là lớp nâng cao vv. Môn phân tích cũng là một điểm quan trọng mà bạn nên đề cập trong hồ sơ, vì nó đòi hỏi bạn cần có những chứng minh logic và có tính quy chuẩn. Thông thường các ứng viên nặng kí là những người có điểm mạnh gì đó, ví dụ như giỏi toán hoặc có luận văn xuất sắc, có bài nghiên cứu nổi bật. Một số điểm thấp trong năm đầu sẽ không làm hồ sơ của bạn kém đi nếu như bạn học tốt trong các lớp nâng cao trong các năm sau đó.
2. Thư giới thiệu 

Một lá thư giới thiệu tốt nhất là từ các nhà kinh tế học có liên hệ với trường mà bạn đang nộp hồ sơ. Tuy nhiên, một lá thư giới thiệu từ người mà bạn đã làm việc cùng sau khi tốt nghiệp đại học cũng rất hữu ích để đề cập đến sự trưởng thành và thái độ làm việc của bạn vv. Nếu bạn không có mối quan hệ nào với các giáo sư kinh tế (ví dụ bạn là sinh viên ngành toán) hoặc nếu bạn học ở một trường đại học mà không có người nào trong khoa của bạn có mối liên hệ với các chương trình PhD hàng đầu, bạn vẫn có cơ hội được nhận (admission) nếu như các phần khác trong hồ sơ của bạn thực sự nổi trội. Điểm GRE, điểm học các môn nặng về toán, và essay được chú trọng nhiều hơn và nên cố gắng để hội đồng tuyển sinh đánh giá đúng các yếu tố đó của bạn. Một lá thư giới thiệu tốt nên có sự so sánh giữa bạn với các sinh viên khác trong các chương trình cao học hàng đầu, ví dụ để xin học được ở Harvard hay MIT, lá thư giới thiệu cần phải chỉ rõ bạn khác biệt như thế nào so với các sinh viên đã học và thành công trong các chương trình này. Đối với sinh viên quốc tế, việc đánh giá bảng điểm trở nên khó khăn hơn, vì vậy các so sánh này càng phải chú trọng. Các câu nhận xét cần đề cập một cách cụ thể như là so sánh khả năng phân tích, học các môn học, chất lượng luận văn …
3. Bài luận

Trong hồ sơ xin học, việc đề cập đến lĩnh vực kinh tế mà bạn quan tâm, và các bài báo mà bạn đã đọc rất quan trọng. Cố gắng càng chi tiết càng tốt. Bạn cũng có thể đề cập đến luận văn hoặc là kinh nghiệm nghiên cứu của mình. Không cần thiết phải có một đề xuất nghiên cứu cụ thể nào đó, đặc biệt khi bạn cũng không thực sự có ý tưởng gì cụ thể nhưng lại thể hiện trong hồ sơ một cách ngây ngô. Phần lớn các trường chỉ đọc những phần này để xem bạn quan tâm đến lĩnh vực nào và có ý niệm liệu bạn thực sự muốn đi sâu vào lĩnh vực nào. Vì vậy bạn cần đề cập một cách thông minh về đề tài mình quan tâm để tỏ ra là bạn hiểu biết một chút gì đó về lĩnh vực nghiên cứu sắp tới.

4. GRE 

Điểm phần qualitative của GRE khá quan trọng vì vậy bạn cần chú trọng khi ôn thi hơn, đặc biệt đối với những bạn không phải chuyên ngành kinh tế ở hệ đại học.
5. Liên hệ giáo sư 

Bạn không nên liên hệ giáo sư tại trường mà bạn nộp hồ sơ tới trước khi có chấp nhận học (admission). Việc tìm hiểu về advisor cũng rất quan trọng vì đây là người ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình nghiên cứu học tập và tương lai công việc của bạn sau này.

IV/ Học bổng và các nguồn hỗ trợ tài chính 

Chương trình học bổng Fulbright: vietnam.usembassy.gov/fulbright.html
Học bổng assistantship cho chương trình Master’s:

  1. University of Cincinnati.
  2. University of New Hampshire
  3. Northeastern University.
  4. Northern Illinois Univ
  5. Portland State University
  6. Wright State University

V/ Một số điều cần lưu ý trong quá trình học tập 

1. Tìm chủ đề nghiên cứu 

Thông thường, một sinh viên PhD Econ cần có 3 working papers, trước khi có thể bắt tay vào viết dissertation. Dưới đây là hướng dẫn của G.S Don Davis về tìm chủ đề cho paper và dissertation (cho cả theoretical và empirical research).
www.columbia.edu/~drd28/Thesis%20Research.pdf
2. Phương pháp học và chuẩn bị cho các kì thi 

Chương trình Phd kinh tế của các trường ở Mỹ khá khắc nghiệt, không chỉ do khối lượng chương trình học mà còn do các kỳ thi Prelim (năm thứ 1) và Q.E năm (thứ 2 hoặc 3 tùy theo quy định của từng trường). Tất cả các sinh viên trong khoa đều phải tham dự kỳ thi prelim cùng một lúc và với nội dung giống nhau, bất kể mỗi người trong số họ dự định theo đuổi hướng nghiên cứu nào sau đó.
Matthew Pearson nêu một số kinh nghiệm để tồn tại ở bậc PhD và hướng dẫn chuẩn bị cho các kỳ thi lớn. Ngoài ra G.S Hal Varian và Jonathan Shewchuk nêu các kinh nghiệm xây dựng các mô hình kinh tế và chuẩn bị academic talks.
www.econphd.net/downloads/mp_surv.pdf
people.ischool.berkeley.edu/~hal/Papers/how.pdf
3. Viết paper 

G.S Cochrane hướng dẫn rất tỉ mỉ cách viết paper trong khi G.S Kremer bổ xung một danh sách những điều cần lưu ý trong quá trình viết.
http://faculty.chicagobooth.edu/john…er_writing.pdf
http://www.economics.harvard.edu/fac…/checklist.pdf
4. Đăng bài trên các tạp chí chuyên ngành 

Paper đăng trên Top Journal có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xin việc làm và xét duyệt tenure. Thời hạn trung bình để được đăng một bài báo thuộc ngành kinh tế trên Top Journal cũng khá dài so với nhiều ngành khác. (Trung bình từ khi nộp đến khi bài được đăng là 3 năm. Trong khi mỗi assistant prof phải đăng tối thiểu 1-4 bài, tùy theo quy định của từng trường. Và thời gian cho phép họ đăng đủ số bài để được nhận tenure là khoảng 6 năm). Bởi vậy sức ép lên các assistant prof khá nặng nề. Các sinh viên PhD còn đang ngồi trên ghế nhà trường cũng phải chuẩn bị đăng bài từ rất sớm, nếu như họ muốn theo đuổi nghiệp nghiên cứu sau khi tốt nghiệp.
Prof Kwan Choi hướng dẫn đăng bài trên Top Journal.
http://www.roie.org/howi.htm

VI/ Chuẩn bị tốt nghiệp và tìm việc làm 

G.S Cawley và Laibson hướng dẫn về quảng cáo thông tin tìm việc, phỏng vấn tìm việc làm ở Mỹ cho các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp PhD:
http://www.economics.harvard.edu/files/LaibsonNotes.pdf
http://www.aeaweb.org/joe/articles/2003/cawley_2003.pdf
Các bạn cũng có thể tìm thấy trên trang của NBER, hồ sơ của rất nhiều các PhD candidate đang là đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường việc làm.
http://www.nber.org/candidates/
VII/ Một số lời khuyên dành cho các bạn khi xin học ngành Kinh tế học tại Mỹ 

FAQ?
General Advice From Current Economics PhD Students To Eager Undergrads
How do you set yourself apart from the pack when applying to grad schools.
Some answers to the “set yourself apart” question from current PhD students
How many grad schools should you apply to and how do you choose which schools.
Some answers to the “How Many” question from current PhD students.http://dinhvutrangngan.com/advice.htmlhttp://dinhvutrangngan.com/teaching… for Applying to Grad School in Economics.pdf Website:
http://www.urch.com/forums/phd-economics/
[1]www.econphd.net/
The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 1969-2006
nobelprize.org/nobel_prizes/economics/articles/lindbeck/index.html
Prof Dan Hamermesh cũng cho một số lời khuyên chung về các vấn đề đã nêu ở các mục trên.
http://www.eco.utexas.edu/faculty/Ha…conomists.html

Tìm hiểu về học Luật tại Mỹ – Master of Law in the USA

LAW – NGÀNH LUẬT

I/ Giới thiệu ngành luật tại Mỹ 

Khác với ở Việt Nam, học luật tại Mỹ là ngành học sau đại học tức là bạn cần có một bằng đại học thuộc bất kỳ ngành học nào trước khi được nhận vào học luật tại các trường ở Mỹ.
Cấp học cơ bản nhất của ngành luật tại Mỹ là Juris Doctor hay JD kéo dài trong 3 năm học. JD là chương trình học dành cho những người muốn hành nghề luật tại Mỹ nên nội dung chương trình học về luật Mỹ. Sau khi tốt nghiệp JD, để hành nghề luật tại Mỹ bạn sẽ thi vào một đoàn luật sư nào đó và có được chứng chỉ hành nghề. (Chỉ có các sinh viên tốt nghiệp JD từ các trường luật được Hiệp Hội Đoàn Luật Sư Mỹ (American Bar Association: http://www.abanet.org/legaled/approvedlawschools/alpha.html) công nhận mới được thi vào đoàn luật sư). Như vậy thời gian học luật ở Mỹ từ sau tốt nghiệp cấp 3 đến khi có thể được phép hành nghề tối thiểu là 7 năm.
Sau khi hoàn thành JD, nếu muốn học chuyên sâu về một lĩnh vực luật nhất định, bạn có thể xin học khóa Master of Law hay LL.M trong 1 năm tương đương với bằng thạc sĩ luật ở Việt Nam. Vì bằng JD đã đủ để hành nghề luật tại Mỹ nên thường sinh viên luật của Mỹ rất ít người theo học tiếp LL.M. Các khóa LL.M của các trường thường được xây dựng cho các sinh viên quốc tế mà sau khi tốt nghiệp sẽ về nước hành nghề nhưng muốn có những kiến thức chuyên sâu nhất định về luật Mỹ và luật quốc tế. Bằng luật ở Việt Nam hay Bachelor of Law được các trường luật tại Mỹ chấp nhận để học chương trình LL.M. Ngoài ra trường hợp bạn không có bằng cử nhân luật nhưng học chuyên ngành luật trong trường đại học và có kinh nghiệm làm việc về lĩnh vực này tại Việt Nam thì nhiều trường ở Mỹ cũng đồng ý cho bạn học LL.M.
Đối với những người muốn học sâu hơn để làm công tác nghiên cứu và giảng dạy thì có các khóa Doctor of Juridical Science hay S.J.D(hoặc J.S.D.). Để được nhận vào học S.J.D bạn cần hoàn thành xong JD và LL.M.
II/ Xếp hạng các trường đại học luật ở Mỹ năm 2008 

Đây là xếp hạng các trường luật tại Mỹ do trang web xếp hạng uy tín Usnews thực hiện
http://www.top-law-schools.com/rankings.html
III/ Hồ sơ xin học và một số gợi ý làm hồ sơ 

1. Tài liệu cơ bản:

Để xin học luật tại các trường đại học của Mỹ ở bất kỳ bậc học nào bạn đều cần các tài liệu sau:

  • Chứng chỉ tiếng Anh: Đa số các trường đại học của Mỹ chỉ chấp nhận chứng chỉ TOEFL nhưng có một số trường chấp nhận chứng chỉ IELTS. Bạn có thể viết thư hoặc liên hệ trước với trường để hỏi về việc chấp nhận chứng chỉ IELTS. Điểm TOEFL tối thiểu cần có để học luật là 600 paper-based hoặc 100 Internet – based. Điểm IELTS tối thiểu cần đạt được là 7.0.
  • Application form: Bạn vào website của trường và download trực tiếp từ các website đó.
  • Resume: Một bản lý lịch bản thân ngắn gọn nêu quá trình học tập và làm việc của bạn.
  • Personal statement/Statement of purpose: Một bài viết dưới dạng tự luận trong đó bạn cần nêu được các thông tin chưa có trong Resume nhưng bạn muốn trường biết để hiểu thêm về bạn. Bạn nên tìm hiểu các yêu cầu và văn hóa của từng trường cũng như các yêu cầu cần có của một sinh viên luật và một luật sư để bài viết của mình thể hiện được rằng bạn đáp ứng được các yêu cầu đó và có thể đóng góp cho trường trong quá trình học tập. Ngoài ra, bạn cũng cần tập trung vào cấu trúc, ngôn ngữ và cách thể hiện của bài viết vì với một sinh viên luật, kỹ năng viết và lập luận là hết sức quan trọng. Bạn có thể tham khảo các hướng dẫn về cách viết Personal Statements tại đây:http://www.top-law-schools.com/statement.htm. Tuy nhiên cũng có một số trường yêu cầu bạn viết tự thuật về bản thân theo một form với các nội dung nhất định do trường đưa ra.
  • Letters of Recommendation: Thư giới thiệu của các giáo sư đã từng dạy bạn tại các trường đại học hoặc những người làm việc gần gũi với bạn tại cơ quan. Bạn sẽ cần tối thiểu 2 thư giới thiệu và các trường đều khuyến khích các thư giới thiệu của các giáo sư đã từng giảng dạy bạn. Trường hợp bạn đã ra trường nhiều năm thì có thể có thư giới thiệu của cơ quan. Khi yêu cầu người viết thư giới thiệu cho mình, bạn cần quan tâm đến hai vấn đề: 1 – Uy tín của người giới thiệu (thày cô giáo hiệu trưởng, hiệu phó, trưởng khoa của bạn hoặc những thày cô đã từng có kinh nghiệm học tập, làm việc hoặc am hiểu về các truờng tại Mỹ, hoặc những người senior trong cơ quan) và 2 – Khả năng những người đó hiểu được bạn, đánh giá đúng bạn và tạo điều kiện cho bạn. Bạn có thể tham khảo các hướng dẫn về letters of recommendation tại đây: http://www.top-law-schools.com/letters-of-recommendation.html.
  • Các tài liệu bổ trợ như: Bảng điểm (transcript) đã được dịch ra tiếng Anh, được công chứng hoặc có dấu của trường đại học của bạn…
  • Financial guarantee: Nếu sau khi được nhận vào học tại trường và không có học bổng toàn phần (bao gồm cả học phí và chi phí ăn ở) để có được giấy nhận học chính thức bạn sẽ cần nộp thêm một bản chứng minh tài chính trong đó thể hiện bạn có đủ khả năng tài chính cho suốt quá trình học của mình.

2. Đối với học JD.

Để xin học JD, bạn cần trải qua kỳ thi LSAT, là kỳ thi bắt buộc đối với các sinh viên muốn học JD tại các trường đại học luật của Mỹ do Law School Admission Council (LSAC: http://www.lsac.org/index.asp) của Mỹ tổ chức. LSAT được xây dựng để đánh giá khả năng đọc hiểu và lập luận của bạn. Các thông tin chi tiết về LSAT và bài thi mẫu các bạn tham khảo tại website chính thức của LSAC:http://www.lsac.org/LSAT/about-the-lsat.asp.
3. Đối với học LLM.

Để xin học LLM, bạn không cần phải thi LSAT nhưng ngoài các tài liệu cơ bản nêu ở phần 3.1, một số trường còn yêu cầu bạn viết các bài luận với các chủ đề nhất định để gửi kèm hồ sơ. Một số trường có thể yêu cầu bạn chuẩn bị một nghiên cứu nhỏ (Research proposal) thể hiện dưới dạng tóm tắt về một vấn đề luật nhất định do bạn tự lựa chọn.
4. Đối với học SJD

Để xin học SJD, bạn cần có bằng JD của Mỹ (hoặc bằng Luật tương đương ở nước ngoài) và bằng LLM (với kết quả học tập tốt nhất có thể) từ các trường Luật đã được công nhận tại Mỹ. Một số trường như Harvard, Yale, Stanford, Cornell … về căn bản chỉ xét duyệt hồ sơ của các ứng viên tốt nghiệp LLM từ chính trường của họ. Một số trường khác (University of Pennsylvania) chấp nhận xét duyệt hồ sơ của các ứng cử viên tốt nghiệp LLM từ các trường khác, với điều kiện các trường ấy phải là những trường luật hàng đầu tại Mỹ. Nên chú ý rằng chương trình SJD chỉ có ở một số trường luật hàng đầu và không phải trường luật hàng đầu nào cũng tuyển sinh viên SJD (Georgetown, Northwestern, Virginia, Texas Austin, Boston… đều là những trường luật có tiếng nhưng không có chương trình SJD). Trong số ít những trường có SJD, một số chỉ tuyển ứng viên cho vài lĩnh vực nghiên cứu cụ thể.
Một trong những nội dung quan trọng nhất của hồ sơ dự tuyển là bản đề cương luận án (Dissertation Proposal) dài khoảng từ 5,000 đến 10,000 từ tùy theo quy định của từng trường. Về cơ bản, đề cương này phải giới thiệu được vấn đề bạn sẽ nghiên cứu trong quá trình học SJD, các luận điểm chính trong nghiên cứu của bạn, phương pháp nghiên cứu, dự đoán các khó khăn sẽ gặp phải trong quá trình nghiên cứu, tổng kết và đánh giá toàn bộ các công trình nghiên cứu và xuất bản khác từng viết về đề tài liên quan và nêu bật nghiên cứu của bạn sẽ khác với các công trình ấy như thế nào; quan trọng nhất là bạn chỉ ra được kết quả của luận án của bạn sẽ là những đóng góp độc đáo (original contribution) đối với lĩnh vực cụ thể mà bạn đang nghiên cứu. Một số trường đòi hỏi bạn phải nộp cả một bản thảo của một chương nhất định trong nghiên cứu của bạn. Các chương trình SJD thông thường chỉ nhận từ 1-2 ứng cứ viên mỗi năm, vì vậy hãy chứng tỏ tính độc đáo trong nghiên cứu của bạn và chỉ rõ những đóng góp của bạn qua công trình nghiên cứu của mình.
Một số trường yêu cầu bạn nộp một bài viết mẫu (writing sample) mà bạn thấy ưng ý. Đa số các trường đều yêu cầu bạn phải tự liên hệ với giáo sư của trường và nhận được sự chấp thuận của giáo sư sẽ hướng dẫn bạn trong thời gian bạn theo học chương trình SJD trước khi nộp đơn để trường xem xét.
IV/ Cách thức nộp hồ sơ 

1. Đối với học JD.

Khi bạn nộp hồ sơ xin học JD hầu hết các trường đều yêu cầu bạn nộp hồ sơ qua Law School Data Assembly Service (LSDAS:http://www.lsac.org/Applying/lsdas-general-information.asp) của LSAC. LSDAS sẽ nhận toàn bộ hồ sơ của bạn, tập hợp, xử lý thông tin và gửi các thông tin cần thiết về trường mà bạn xin học.
2. Đối với học LL.M và S.J.D

Các sinh viên xin học hai khóa học này sẽ nộp trực tiếp hồ sơ cho trường theo hình thức gửi qua bưu điện hoặc gửi bằng hệ thống online tùy từng trường.
V/ Nội dung chương trình học 

1. Chương trình JD

Chương trình học JD kéo dài trong 3 năm full-time hoặc 4 năm part-time. Trong năm đầu tiên, sinh viên sẽ học các lớp về các kỹ năng nghiên cứu, viết và lập luận cũng như các môn luật bắt buộc về các ngành luật cơ bản nhất của hệ thống luật Mỹ như dân sự, hình sự, hiến pháp, hợp đồng, tài sản và quyền sở hữu và bồi thường trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trong các năm thứ 2 và thứ 3 sinh viên có thể lựa chọn những môn học về các ngành luật khác nhau mà mình quan tâm.
Trong các năm thứ 2 và thứ 3, sinh viên sẽ có cơ hội để tham gia thực hành các kiến thức của mình thông qua các hoạt động như diễn án, soạn thảo luật, tham gia vào các phiên tòa v.v…
Sự khác biệt lớn trong việc dạy và học luật ở Mỹ và ở Việt Nam thể hiện ở hai điểm:

  • Phương pháp học Case-method: Thay vì học các văn bản luật thành văn như ở Việt Nam, các sinh viên trong các trường của Mỹ sẽ tìm hiểu các quy tắc của luật thông qua rất nhiều các vụ việc và phán quyết đã có của tòa án với mục đích giúp cho sinh viên hiểu được sâu sắc cách thức áp dụng các quy tắc này trong các vụ việc khác nhau và từ đó có thể biết được cách xử lý với các trường hợp khác sẽ gặp trong thực tế. Cách học này đòi hỏi ở sinh viên nỗ lực tự học và tự nghiên cứu và các giờ học thường là các buổi thảo luận rất thú vị trong đó các giáo sư thường chỉ đóng vai trò là người điều khiển và khuyến khích sự tranh luận của sinh viên.
  • Yêu cầu rất cao về khả năng tư duy: Khả năng tư duy logic được đặt lên hàng đầu trong việc đánh giá sinh viên tại các trường luật của Mỹ. Mục đích cuối cùng của việc dạy và học luật không phải là nhớ và thuộc các điều luật mà nhằm dạy cách “tư duy như một luật sư” (thinking like a lawyer) với yêu cầu cao về khả năng phân tích và lập luận của sinh viên.

2. Chương trình LLM

Chương trình LL.M kéo dài trong một năm với hai kỳ. Tùy trường, nội dung chương trình có thể có những môn bắt buộc như lớp dạy kỹ năng luật sư (legal writing & legal research), lớp giới thiệu hệ thống luật pháp của Mỹ, v.v. Ngoài ra có những chương trình thạc sỹ chuyên sâu về một ngành thường yêu cầu học một số lớp trong lĩnh vực chuyên môn hay những lĩnh vực liên quan. Mỗi trường có yêu cầu khác nhau về số tín chỉ (credit hours) cần thiết để tốt nghiệp, thường 20-30 tín chỉ (mỗi môn tương đương từ 3-5 tín chỉ).
Một số trường cũng yêu cầu sinh viên viết luận văn tốt nghiệp.
3. Chương trình SJD

Chương trình SJD thường không quy định quá chặt chẽ về thời gian tốt nghiệp, điều này phụ thuộc vào tiến độ học tập và nghiên cứu của bạn, mặc dù đa số các trường đều yêu cầu bạn hoàn thành luận án trước năm năm. Một số ít trường xem ba năm là con số chuẩn và khuyến khích (nhưng không bắt buộc). Thông thường, năm đầu tiên sẽ là thời gian dành cho việc lên lớp (coursework). Năm thứ hai là thời gian bạn bắt đầu nghiên cứu và tham gia vào các hội thảo để bắt đầu giới thiệu nghiên cứu của mình. Năm thứ ba thường là thời gian hoàn thành bản thảo luận án, và nếu được thông qua, bảo vệ luận án trước Hội đồng luận án SJD. Một số trường yêu cầu bạn phải trải qua một kỳ thi sau khi kết thúc năm đầu tiên để chính thức xem xét chấp thuận bạn là một nghiên cứu sinh và cho phép bạn tiến hành nghiên cứu luận án. Một số khác không có quy định này, nhưng yêu cầu bạn phải nộp các bài viết nghiên cứu và báo cáo cụ thể ở mỗi giai đoạn để trường xét duyệt và thông qua.
VI/ Học phí và các nguồn hỗ trợ tài chính 

Học phí của một năm học từ 35.000$ – 50.000$.
Việc xin được học bổng toàn phần để học luật ở Mỹ là tương đối khó so với các ngành khác đặc biệt là bậc học J.D. Để trang trải cho việc học tập và sinh hoạt trong quá trình học bạn có thể có các nguồn tài chính sau:

  • Tự túc: bố mẹ, gia đình, bản thân, vay ngân hàng…
  • Trường luật: Các trường luật ở Mỹ thường có các quỹ hỗ trợ tài chính cho sinh viên hoặc trao các học bổng (một phần hoặc đôi khi toàn phần) cho sinh viên dựa trên thành tích học tập và nhu cầu tài chính của từng sinh viên. Các trường cũng có chương trình Teaching Assistantship hoặc Research Assistantship cho sinh viên theo đó sinh viên quốc tế được nhận vào các chương trình này sẽ được đóng học phí như sinh viên Mỹ (tức là tiền học phí sẽ giảm đi một nửa) và nhận một khoản tiền làm việc theo giờ nhất định). Ngoài ra, các trường đều có chính sách cho sinh viên vay tiền để học. Bạn nên nghiên cứu các thông tin về hỗ trợ tài chính trên các website của trường.
  • Một số học bổng LLM của các trường:
  • Freeman Foundation (UHawaii):

http://www.hawaii.edu/law/fileadmin/page_file_mounts/llm_international/Freeman_Foundation-flyer.pdf

  • American University’s Washington College of Law (WCL):

http://www.wcl.american.edu/ilsp/llm_scholarships.cfm

VII/ Một số lời khuyên cho bạn khi xin học luật tại Mỹ 

  • Bạn nên tìm cách liên hệ trước với các giáo sư trong các trường đại học luật để có được sự hỗ trợ từ các giáo sư trong quá trình nộp hồ sơ xin học vì hầu hết các giáo sư luật này đều là những người trong các ban tuyển sinh của trường. Để có được các contacts với các giáo sư bạn có thể thông qua các cách thức sau: Tham gia các hội thảo của khoa hay của trường có các giáo sư nước ngoài tham dự, tham gia các công việc hoặc hoạt động trong lĩnh vực luật có các giáo sư hoặc luật sư nước ngoài có thể giới thiệu các contacts cho bạn, tham khảo từ thày cô, bạn bè đã từng học luật ở Mỹ hoặc thậm chí có thể viết thư trực tiếp đến các địa chỉ email của các giáo sư để trên website của trường.
  • Bạn nên có các liên hệ với những người có uy tín đã từng học trong các trường luật của Mỹ hoặc tốt hơn là những người từng học tại trường mà bạn đang xin học (alumni của trường) vì như vậy bạn có thể có cơ hội xin được thư giới thiệu uy tín cũng như các hỗ trợ về mặt kinh nghiệm xin học cũng như học tập tại trường.

Học làm báo ở bên Mỹ – Kinh nghiệm của 1 Fulbrighter ngành báo chí

Giống như bao sinh viên sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, tôi đã phải chật vật để bắt đầu một môi trường mới…

 

Tôi đi học và làm báo Mỹ

Tác giả (hàng sau, ngoài cùng bên phải) tại tòa soạn Báo New York Times

Tôi tới Mỹ vào mùa hè năm 2015. Giống như bao sinh viên sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, tôi đã phải chật vật để bắt đầu một môi trường mới và phải đáp ứng với nhiệm vụ mới: nghiên cứu về xu hướng báo chí hiện đại và viết báo bằng tiếng Anh.

Tôi nhớ như in, sau gần 1 tháng học tập, ngày 25/7/2015, tôi được đăng bài báo đầu tiên trên tờ The Post Standard của bang New York. Tôi hưởng nhuận bút là 35 đô la. Về cơ bản, khoản nhuận bút ở báo Mỹ tính ra cũng chỉ bằng mức sàn như Việt Nam.

Học tập trong môi trường báo chí ở Mỹ rất căng thẳng, bởi các giảng viên luôn cố tái hiện ngành công nghiệp báo chí ngay tại ngôi trường. Trên thực tế, báo chí Mỹ đang bị tác động bởi công nghệ một cách mạnh mẽ, điều đó kéo theo báo chí luôn thay đổi, luôn vận động từng phút, từng giây.

Chính vì xác định báo chí hiện đại phải gắn liền với công nghệ, cho nên những môn học trong trường khá hiện đại và thậm chí lạ lẫm. Những kĩ năng cơ bản bắt buộc mọi sinh viên đều phải có đó là thực hiện và dựng video clip, chụp hình và chỉnh sửa hình ảnh, làm infographic (hình hoạ truyền tải thông tin), có kiến thức chuyên sâu về mạng xã hội để đẩy lượt người xem trên các báo điện tử.

Ngoài ra, trường còn có những môn nghiêng hẳn về chính trị, kinh tế, văn hoá, giải trí…, từ đó, nếu sinh viên đã có định hướng theo mảng gì trong tương lai, sẽ đăng kí học những khoá học đó. Thậm chí, trường còn dạy về Virtual Reality (cảm nhận không gian 3 chiều trên máy tính), từ đó chúng tôi có thể làm những bài báo với đồ hoạ 3 chiều. Điển hình là làm dự báo thời tiết, chúng tôi có thể tạo cho độc giả cảm giác rõ mức độ nắng, mưa, hay bão tuyết.

Hầu hết các chương trình thạc sĩ báo chí ở Mỹ đều gói gọn trong một năm. Điều này khiến các môn chúng tôi học trong một tháng, sẽ bằng các trường khác học trong một học kì 4 tháng. Có những thời điểm, chúng tôi đi học từ 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều mới được nghỉ. Sau giờ học, chúng tôi phải tự đi săn tin, phỏng vấn và tác nghiệp ở những thành phố xa xôi.

Ngoài ra, những bài tập mang tính khái quát về nền công nghiệp báo chí, hay viết những bài phản biện về những cuốn sách, phản biện những chương trình talkshow được các giáo sư giao khá dày đặc và phải mất rất nhiều thời gian để hoàn thành.

Thời kì đầu đến Mỹ, mỗi ngày tôi chỉ có khoảng 4 tiếng để ngủ, thậm chí có những đêm thức trắng để hoàn thành các bài viết. Sau này, khi đã quen với cường độ này, tôi thấy mọi thứ dễ dàng hơn. Nhiều khi tôi nghĩ, cái học được lớn nhất khi tới đây đó là khả năng chịu áp lực.

Khi kết thúc học kì xuân vào cuối tháng 4 năm nay, tôi đã lên kế hoạch tìm chỗ làm. Thực ra tôi còn một số môn chưa học, và tôi muốn đổi lấy những tín chỉ này sang đi làm và nhà trường sẽ xem đó là kì thực tập. Với sự trợ giúp của các giảng viên, tôi đã xin vào làm theo dạng cộng tác viên của tờ nhật báo The Post and Courier ở bang Nam Carolia. Tờ báo này khá có tiếng bởi mới năm ngoái, nó đã nhận giải Pulitzer ở hạng mục “Phục vụ cộng đồng”.

Nắm bắt cơ hội này, tôi bắt đầu cuộc hành trình làm báo ở Mỹ…

Tôi được bàn giao về ban văn hoá, cũng là lĩnh vực tôi có thế mạnh nhất. Một tuần làm việc bắt đầu bằng các buổi họp giao ban vào sáng thứ 7, khi mà tất cả các phóng viên đều phải báo cáo đề tài và nhận phản biện từ các biên tập viên.

Mỗi bài báo viết ra đều phải gửi cho biên tập viên trước 4 ngày, trừ những tin bài thời sự, họ chỉ giao cho những phóng viên gạo cội nhiều kinh nghiệm. Trong 4 ngày đó, ban kiểm tra thông tin (fact checker) sẽ lần theo thông tin và số điện thoại của tất cả những người được phỏng vấn trong bài để kiểm tra các chi tiết.

Khâu này ở các toà soạn báo Mỹ được xem cực kì quan trọng, bởi luật báo chí khá chặt chẽ, và mỗi khi các báo đưa thông tin sai hay trích dẫn sai, thì con đường dẫn đến các phiên kiện tụng sẽ rất gần. Báo chí Mỹ khá thống nhất về văn phong, họ chuộng câu đơn và ngắn. Họ chọn thể chủ động thay cho bị động, vì tác nhân gây ra phải rõ ràng. Họ không dùng tính từ, vì tính từ là cảm xúc cảm tính của phóng viên chứ không phải bản chất sự kiện.

Ở The Post and Courier, ngoài viết bài ra, tôi thường được giao quay và dựng video clip trên các thiết bị di động. Mỗi clip chỉ gói gọn trong một phút và được cập nhật thường xuyên trên trang điện tử.

The Post and Courier có một ban phụ trách về mạng xã hội riêng. Ban này phải làm việc với phóng viên để tìm ra phương án phù hợp khi đưa link lên mạng xã hội. Những kênh được các báo sử dụng bao gồm Facebook, Twitter, Pinterest và Instagram. Chiến lược đăng tải bài trên mạng xã hội được lập thành bảng dựa trên những thông số được thu thập từ các nhà khảo sát về thói quen, thời gian, giới tính, độ tuổi của người đọc.

Ví dụ, nếu đăng tin bài thời sự thì khung giờ phải là từ 7 đến 9 giờ sáng khi mọi người đi làm trên xe bus, tàu điện ngầm và họ sẽ sử dụng các thiết bị điện tử lướt tin bài thật nhanh. Nếu các dạng bài tư vấn thì khung giờ thường là 7 đến 9 giờ tối, khi người đọc sử dụng thời gian nghỉ ngơi để đọc những thông tin sâu cần suy ngẫm.

Nếu bài thiên về hình ảnh thì phải chọn Instagram, một kênh thiên về hình ảnh, để đăng chứ không phải là Facebook, hay tường thuật thời sự trực tiếp phải là Twitter, nơi người đọc tìm thông tin ngắn và tương tác với bạn bè người thân nhanh hơn Facebook.

Báo chí Mỹ hiện nay đều lấy mảng báo điện tử làm hướng phát triển chính. Theo xu thế chung, một tờ báo điện tử đều phải làm tốt về 2 khía cạnh: nội dung, và tận dụng giao diện, môi trường số.

Về mặt nội dung, ở tờ báo tôi làm, họ ít khi chấp nhận sử dụng nguyên những bài trên báo giấy để đăng lên báo điện tử. Mỗi phóng viên khi viết bài đều phải hoàn thành 2 phiên bản, một cho báo giấy và một cho báo điện tử. Bản viết cho báo giấy có thể dài, nhưng bản cho báo điện tử bắt buộc phải ngắn, thông thường chỉ dưới 500 chữ.

Về mặt tận dụng môi trường số, các báo Mỹ, trong đó có The Post and Courier, đang có cuộc chạy đua về cải cách hình thức bài báo. Đi đầu phong trào này là BuzzFeed khi tờ này “lăng xê” cách viết dạng “list” theo kiểu gạch đầu dòng. Để làm được dạng bài này, phóng viên phải tập khái quát ý, sử dụng ngôn ngữ chặt chẽ và ngắn.

Ví dụ, khi viết về buổi bầu cử sơ bộ ở bang New York, thay vì tường thuật thành một bài báo, rất nhiều tờ theo đuổi cách viết khái quát dạng như “10 điều bất ngờ ở buổi bầu cử sơ bộ New York”, hay “7 khoảnh khắc của Donald Trump ở buổi bầu cử”. Cách viết này khiến người đọc có thể đọc nhanh, tiết kiệm thời gian nhưng vẫn nắm bắt được đầy đủ thông tin của sự kiện.

Ở báo điện tử, bên cạnh 2 dạng bài khá truyền thống là video clip và hình ảnh, thì sử dụng hình hoạ (infographic) để khái quát thông tin cũng đang khá thịnh hành. Hầu hết các phóng viên đều phải thông thạo các thao tác trên máy tính để thực hiện dạng bài này.

Ngoài ra, các phóng viên đều phải cập nhật các thuật toán của Google và Facebook về tìm kiếm, từ đó họ có phương án chèn hoặc sử dụng các từ khoá vào bài viết một cách hiệu quả hơn. Việc này giúp bài báo hiện thị khi có ai đó tìm kiếm qua Google hay Facebook.

Trong tương lai gần, các báo Mỹ bắt đầu tuyển những phóng viên có thể sản xuất được nội dung có không gian 3 chiều. Đi đầu về dạng này là New York Times khi năm 2015, họ tường thuật một diễn biến của một cơn bão tuyết bằng đồ họa 3 chiều, khiến người đọc có thể cảm nhận được độ khốc liệt và nguy hiểm của cơn bão.

Nhìn chung, công nghệ chi phối nền công nghiệp báo chí nơi đây. Chính điều này đã dẫn đến 2 thay đổi: báo in, tạp chí đang dần bị khai tử và các phóng viên chỉ biết mỗi viết bài đã gần như không còn tồn tại ở Mỹ.

Nói cách khác, từ phóng viên ở Mỹ đã được định nghĩa lại, khi họ đã dần biến thành những chuyên gia công nghệ thông tin biết viết lách.

Vĩnh Khang là phóng viên thuộc Báo Nông nghiệp Việt Nam. Năm 2015, anh nhận học bổng toàn phần từ quỹ học bổng Fulbright của Chính phủ Mỹ. Hiện anh theo học Thạc sĩ Báo chí tại Newhouse School thuộc Đại học Syracuse, bang New York.

Vĩnh Khang có nhiều bài báo về văn hóa đại chúng được đăng tải trên các báo Mỹ như: The Post and Courier, Syracuse New Time, The Post and Standard…

VĨNH KHANG

Short introduction to Study Subjects in Vietnam Fulbright Student Program

Graduate programs in the United States vary from school to school. Additionally,
some MA degrees require pre-requisite coursework and/or experience. We
recommend that applicants use the Internet to familiarize themselves with the
various types of programs offered by different schools, as well as to determine the
field of study best suited for their career goals and interests.

The Fulbright Program in Vietnam supports Master’s degrees in the Social Sciences
and Humanities. This list may not include the field you wish to study. If that is the
case, please contact the Fulbright in Vietnam to discuss your specific interest.
American Literature—focuses on literature and literary development, both formal
and folkloric, of the United States from the Colonial Era to the present. Includes
instruction in period and genre studies, author studies, literary criticism, and regional
and oral traditions.

American Studies—focuses on the history, society, politics, culture, and economics
of the United States, including the flow of immigrants from other societies.
Programs tend to be interdisciplinary and may also include sociology and
anthropology courses.

Business
Concentration areas include:

Banking—prepares individuals to perform a wide variety of customer services in
banks, insurance agencies, savings and loan companies, and related enterprises.
Includes instruction in communications and public relations skills, business
equipment operation, and technical skills applicable to the methods and operations of
specific financial or insurance services.

Finance—prepares individuals to plan, manage, and analyze the financial and
monetary aspects and performance of business enterprises, banking institutions, or
other organizations. Includes instruction in accounting; financial instruments; capital
planning; funds acquisition; asset and debt management; budgeting; financial
analysis; and investments and portfolio management.

Management—prepares individuals to plan, organize, direct, and control the
functions and processes of a firm or organization. Includes instruction in
management theory, human resources management and behavior, accounting and
other quantitative methods, purchasing and logistics, organization and production,
marketing, and business decision-making.

Marketing—prepares individuals to manage the process of developing consumer
audiences and moving products from producers to consumers. Includes instruction in
buyer behavior and dynamics, marketing research, cost-volume and profit
relationships, pricing theory, advertising methods, sales operations and
management, consumer relations, and retailing.

Communications

Communications (general)—an interdisciplinary program that focuses on the study
of the creation, transmission and evaluation of messages. Includes instruction in
communications regulation, law, and policy; media history; media aesthetics,
interpretation, and criticism; the social and cultural effects of mass media; cultural
studies; the economics of media industries; visual and media literacy; and the
psychology and behavioral aspects of media messages, interpretation, and
utilization.

Public Relations—a program that focuses on the theories and methods for
managing the media image of a business, organization, or individual and the
communication process with stakeholders, constituencies, audiences, and the
general public. Includes instruction in public relations theory; related principles of
advertising, marketing, and journalism; message/image design; image
management; special event management; media relations; community relations;
public affairs; and internal communications.

Journalism— a program that focuses on the theory and practice of gathering,
processing, and delivering news and that prepares individuals to be professional print
journalists, news editors, and news managers. Includes instruction in news writing
and editing; reporting; photojournalism; layout and graphic design; web-based
media; journalism law and policy; professional standards and ethics; research
methods; and journalism history and criticism.

Community & Urban Planning—a program that prepares individuals to apply
principles of planning, analysis, and architecture to the development and
improvement of urban areas and surrounding regions, and to function as professional
planners. Includes instruction in principles of architecture; master plan development;
service, communications, and transportation systems design; community and
commercial development; zoning; land use planning; applied economics; policy
analysis; applicable laws and regulations; and professional responsibilities and
managerial duties.

Economics—the study of the production, conservation and allocation of resources,
together with the organizational frameworks related to these processes. Includes
instruction in economic theory, micro- and macroeconomics, comparative economic
systems, money and banking systems, international economics, quantitative
analytical methods, and applications to specific industries and public policy issues.
Economic Development—the systematic study of the economic development
process and its application to the problems of specific countries and regions. Includes
instruction in economic development theory, industrialization, land reform,
infrastructural development, investment policy, the role of governments and
business in development, international development organizations, and the study of
social, health, and environmental influences on economic development.

Environmental Health—prepares specialists to monitor environmental health
hazards and to manage environmental health programs. Includes instruction in
environmental and genetic toxicology, biohazard research, and testing and
evaluation procedures.

Environmental Studies—the study of environment-related issues using scientific,
social scientific, or humanistic approaches or a combination. Includes instruction in
the basic principles of ecology and environmental science and related subjects such
as policy, politics, law, economics, social aspects, planning, pollution control, natural
resources, and the interactions of human beings and nature.

Educational Administration—the study of the principles and techniques of
administering a wide variety of schools and other educational organizations and
facilities, supervising educational personnel at the school or staff level. Includes
instruction in finance, faculty relations, student services and institutional research.

Fine & Performing Arts—prepares creative artists in the creation and
interpretation of art works and performances. May include instruction in the
traditional fine arts (drawing, painting, sculpture, printmaking) and/or modern media
(ceramics, textiles, intermedia, photography); theory of art; color theory;
composition and perspective; and anatomy.

IT/Information Systems Management—prepares individuals to apply principles
of information technology, computer systems management, and business operations
to the planning, management, and evaluation of information services in
organizations. Includes instruction in systems planning and integration, information
policy, information security, contracting and purchasing, budgeting, information
technology, operations management, human resources, communications skills, and
applicable law and regulations.

International Relations—the study of international politics and institutions, and
the conduct of diplomacy and foreign policy. Includes instruction in international
relations theory, foreign policy analysis, national security and strategic studies,
international law and organization, the comparative study of specific countries and
regions, and the theory and practice of diplomacy.

Journalism – (see Communications)

Law (L.L.M or Master of Laws)—a one-year degree program for candidates who
have completed their first degree in Law. The curriculum includes the study of a
variety of legal topics in the American legal system. A key element is the instruction
of the common/case law system used in the U.S. The majority of LL.M participants
are international students seeking an understanding of the theory, history and
application of laws in the U.S. Areas of specialization include: International Trade,
Tax, Environmental, Intellectual Property and Human Rights law.

Library Science—includes instruction in the knowledge and skills required to
develop, organize, store, retrieve, administer, and facilitate the use of libraries and
related information and record systems, collections and facilities for research and
general use.

Public Administration—prepares individuals to serve as managers in the executive
arm of local, state, and federal government; and that focuses on the systematic
study of executive organization and management. Includes instruction in the roles,
development, and principles of public administration; the management of public
policy; executive-legislative relations; public budgetary processes and financial
management; administrative law; public personnel management; professional
ethics; and research methods.

Public Policy—prepares individuals to analyze, manage and deliver public programs
and services. Includes instruction in the role of economic and political factors in
public decision-making and policy formulation; microeconomic analysis of policy
issues; resource allocation and decision modeling; cost/benefit analysis and
statistical methods.

Public Health—prepares individuals to plan, manage, and evaluate public health
care services and to function as public health officers. Includes instruction in
epidemiology, biostatistics, public health principles, preventive medicine, health
policy and regulations, health care services and related administrative functions,
public health law enforcement, health education, health economics and budgeting,
public communications, and professional standards and ethics.

Social Work—prepares individuals for social welfare administration and counseling,
and the study of organized means of providing basic support services for vulnerable
individuals and groups. Includes instruction in social welfare policy; case work
planning; social counseling and intervention strategies; administrative procedures
and regulations; and specific applications in areas such as child welfare and family
services, probation, employment services, and disability counseling.

Teaching English to Speakers of Other Languages (TESOL) –-focuses on the
principles and practice of teaching English to students who are not proficient in
English or who do not speak, read or write English, and prepares individuals to
function as teachers and administrators in such programs.

Women’s Studies/Gender & Development –-focuses on the history, sociology,
politics, culture, and economics of women, and the development of modern feminism
in relation to the roles played by women in different periods and locations in North
America and the world. Programs are often part of another disciplinary program,
including public policy, sociology, or literature.

error: Content is protected !!