Tìm hiểu về ngành Economics – Learn more about Ecocomics study

ECONOMICS

I/ Giới thiệu ngành Kinh Tế học 

Nghiên cứu kinh tế ở bậc nghiên cứu sinh (PhD hay doctorate) là sự giao thoa giữa các phương pháp nghiên cứu các chuyên ngành tự nhiên, kỹ thuật và xã hội. Bạn có thể tìm thấy trên các top journal về kinh tế các bài báo có phong cách giống như các bài nghiên cứu về math, CS/EE hoặc law và sociology. Để theo học PhD kinh tế, bạn không cần có background về kinh tế. Dù học đại học ở bất kỳ chuyên ngành nào, bạn đều có thể nộp hồ sơ xin học PhD về kinh tế học. Tuy nhiên, bạn cần có khả năng học toán ở mức độ tối thiểu nào đó (tuỳ theo yêu cầu của từng trường), để có thể sống sót qua các kỳ thi prelim và QE, trước khi muốn theo đuổi hướng nghiên cứu ưa thích của mình.

Các chuyên ngành :

Economic History & Thought
Econometrics
Microeconomic Theory
Labor & Consumer Economics
IO / Business Economics
Public Economics
Macroeconomics
Trade & Development
Financial Economics
Resource & Agricultural Econ

1. Phân biệt kinh tế học với các ngành khoa học khác 

Kinh tế và Quản lý ở Việt nam thường bị hiểu lẫn lộn, trong khi người Mỹ phân biệt rõ ràng hai nhóm ngành này. Khoa Kinh tế ( bao gồm các ngành Macro Economics, Micro Economics, International Economics, Development, Game Theory, Econometrics.v.v…) thường nằm trong School of Art & Science. Trong khi đó các ngành quản lý, kinh doanh (finance, accounting, marketing, insurance… và các ngành management) thường nằm trong School of Business, hay còn gọi là B-school.
Nghiên cứu Economics đỉnh cao thường chú trọng vào theoretical. Cụ thể là các trường hàng đầu có nhiều công trình nghiên cứu về theoretical hơn là empirical. Đa số các công trình nghiên cứu được giải Nobel cũng là về theoretical economics. Trong khi đấy, nghiên cứu ở B-school thường chú trọng vào empirical nhiều hơn. Tiêu chí tuyển chọn của các khoa Economics và B-school cũng khác nhau. Nộp hồ sơ vào Economics cần thi GRE, còn B-school cần thi GMAT.
Thậm chí, người Mỹ còn phân biệt Economics và Agricultural & Resource Economics là hai khoa khác nhau, với các tiêu chí tuyển chọn khác nhau.
Một lẫn lộn khác thường thấy là giữa các nghiên cứu về economics policies của khoa Economics và của khoa Public policies/management. Các bài báo ở trên các tạp chí kinh tế của Việt nam, các báo cáo của World bank, IMF, báo cáo Lựa chọn thành công của nhóm Harvard Fulbright Việt nam đều không phải là các paper chuẩn mực về kinh tế. Đấy chỉ là các bản tóm tắt các kết quả nghiên cứu kinh tế, các đề xuất chính sách dựa trên kinh nghiệm và dự báo, đã lược bỏ rất nhiều các công cụ/kỹ thuật định lượng, bởi không cần thiết đối với các độc giả không chuyên.
2. Vai trò của định lượng trong nghiên cứu kinh tế. 

Kinh tế thường được xếp vào nhóm ngành social sciences, do đặc thù nghiên cứu về xã hội. Tuy nhiên, các tiêu chí tuyển chọn ở bậc sau đại học, phương pháp học và nghiên cứu kinh tế, có lẽ thiên về nhóm Engineering nhiều hơn.
Kinh tế không phải là ngành chú trọng ngôn ngữ mà thiên về toán và định lượng. Điểm ngôn ngữ admission vào các khoa kinh tế thường khá thấp, tối thiểu chỉ cần TOEFL 550PBT/213CBT, hoặc GRE verbal 300 trở lên (mặc dù để được nhận financial aid, bạn cần TOEFL 600/250 trở lên giống như mọi ngành khác). Trong 3 năm đầu tiên học coursework, phần định lượng, bao gồm các kỹ thuật toán và định lượng, mô hình hóa, lập và giải các hệ phương trình, chứng minh các định lý, bổ đề, chiếm khoảng 90% thời gian. Phần phân tích, bình luận định tính chỉ chiếm khoảng 10% thôi.
Số lượng paper bắt buộc phải đọc ở mỗi courses cũng khá ít, chỉ khoảng 8-10 paper cho mỗi học kỳ, (mặc dù danh sách paper đọc thêm cũng khá nhiều). Tuy nhiên, khối lượng các công cụ và kỹ thuật định lượng cần học để hiểu hết các paper rất lớn, cho nên các khoa kinh tế thường không đủ thời gian để chú trọng vào phần đọc và viết bình luận như nhiều ngành xã hội khác. Các nghiên cứu sinh thường phải tự hoàn thiện các kỹ năng này khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
Cũng chính vì tuyển chọn Phder thiên về khả năng định lượng, không cần kinh nghiệm làm việc, cho nên sinh viên trẻ, đầu 2x, chiếm đại đa số ở bậc Phd. Các khoa kinh tế cũng rất khuyến khích các sinh viên có background về math, physics và engineering chuyển sang học Phd, bởi họ cho rằng những người này có background vững về định lượng. Thông thường, số sinh viên này chiếm khoảng 50-70% ở bậc Phd về kinh tế ở mỗi khoa.
Có thể nói không ngoa rằng, độ khó và độ nặng về mặt định lượng của khoa kinh tế không hề thua kém bất kỳ ngành Engineering nào.
Đến đây một số người sẽ thắc mắc, tại sao nhiều người có background ở các ngành ít định lượng, (ví dụ như văn học, ngôn ngữ, lịch sử, hay âm nhạc, hội họa…) cũng có thể chuyển sang học Phd về kinh tế? Điều này có một số nguyên nhân:
+ Một số người có chỉ số IQ cao, có thể học tốt ở nhiều ngành hoàn toàn khác nhau. Vì lý do nào đó, họ chọn các ngành ít thiên về định lượng ở bậc đại học. Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ vào bậc Phd, hồ sơ của nhóm người này sẽ bị săm soi rất kỹ về năng lực toán học. Nếu thiếu nhiều các credit về toán hoặc các điểm đó không cao thì sẽ chắc chắn không thể có admission. Thông thường, những người có background ít các môn toán đều phải lấy thêm 1 số các credit về toán ở bậc đại học và/hoặc sau đại học, và phải chứng minh được năng lực toán của mình trên bảng điểm khi nộp hồ sơ Phd.
Một ví dụ thành công điển hình trong nhóm này là Robert Lucas. Ông này học đại học về lịch sử. Sau đó lấy thêm 1 số credit bậc under và grad về math ở Berkeley rồi vào học Phd Chicago. Cuối cùng, ông đoạt giải Nobel kinh tế năm 1995.
+ Tuy nhiên, admission mới chỉ là một nửa câu chuyện. Bậc Phd kinh tế thậm chí rất khác so với hình dung của những người có background đại học về kinh tế. Chính vì vậy, các khoa kinh tế còn có thêm 1 kỳ thi gọi là thi Prelim ở cuối năm thứ 1 để loại ra những người không phù hợp, bên cạnh kỳ thi Qualifying Exam (cuối năm 2, 3 hoặc 4 tùy theo quy định của từng trường). Kỳ thi prelim này thậm chí còn quan trọng hơn kỳ thi Q.E nhiều, do tính chất khốc liệt của nó (có thể loại từ 30-60% sinh viên Phd của khoa, tùy theo từng năm và từng trường). Năm đầu tiên, Phder về kinh tế thường học 7 courses. Các course này đều chú trọng bổ túc kiến thức về math và định lượng. Những người không có năng khiếu hoặc chưa chuẩn bị tốt các course về math sẽ khó có thể vượt qua được kỳ thi này.
+ Sau khi vượt qua năm thứ nhất, hai năm học coursework tiếp theo, sinh viên vẫn tiếp tục được bổ xung các phương pháp/kỹ thuật định lượng. Mặc dù tên các môn học là macro, micro, financial economics…nhưng nội dung chủ yếu được giảng dạy vẫn là các kỹ thuật định lượng và mô hình hóa. Sinh viên chỉ được giải thích về các khái niệm/thuật ngữ cơ bản để sử dụng trong quá trình mô hình hóa. (Nhiều khi, giáo sư cũng chẳng giải thích mà chỉ viết hệ phương trình lên bảng rồi giải ào ào. Sinh viên phải có nghĩa vụ tự tìm hiểu các khái niệm ấy). Các kiến thức thực tế về kinh tế vỹ mô, vi mô, tài chính, phát triển…hầu như không được giảng, hoặc chỉ được giảng rất ít, trong quá trình học. Sinh viên Phd phải tự đọc khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
+ Cuối cùng là khác với các ngành Engineering, có thể bắt tay vào research ngay từ năm thứ 1, sinh viên Phd Economics hầu như chỉ bắt đầu research từ năm thứ 3, sau khi đã học gần xong các công cụ/kỹ thuật định lượng. Ngoài ra, số courses bắt buộc đối với 1 Phd về kinh tế thường cũng nhiều hơn các ngành Engineering. Đấy là lý do vì sao các sinh viên có background yếu về định lượng vẫn có thể theo học Phd về kinh tế.
Các bạn có thể xem các G.S Athey và G.S Mankiw nói về lý do cần chú trọng math trong kinh tế:http://kuznets.harvard.edu/~athey/imagineart.html hoặc http://gregmankiw.blogspot.com/2006/…need-math.html
Các môn toán ở bậc đại học mà sinh viên VN cần nắm vững trước khi nộp hồ sơ Phd kinh tế là: đại số tuyến tính, quy hoạch tuyến tích, phương trình vi phân/phương trình đạo hàm riêng, giải tích số & hàm, hình giải tích, xác xuất & thống kê, giải tích lồi, và ở bậc sau đại học là giải tích thực, giới thiệu nhập môn về topo và lý thuyết trò chơi (nếu có thể).
Ngoài ra, hai cuốn sách có thể tham khảo là Fundamental Methods of Mathematical Economics, của Alpha Chang và Mathematics for Economists của Carl P. Simon and Lawrence Blume.
Yêu cầu tối thiểu về năng lực toán của mỗi trường mỗi khác, (Yêu cầu của Harvard hẳn là khác với trường rank 50 và càng khác với trường rank 100). Tuy nhiên, khối lượng chương trình học Phd khá nặng, nếu các bạn có thể chuẩn bị trước được các courses này trước khi vào học Phd thì sẽ tốt hơn nhiều. Ngay cả các giáo sư hàng đầu của Mỹ thời đi học cũng thường chuẩn bị như vậy.
Năng lực toán chỉ là điều kiện cần, không đủ để đảm bảo thành công trong nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhấn mạnh việc chuẩn bị tốt các kiến thức toán bởi tôi từng biết nhiều sinh viên VN đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học Phd Econ.
Ngoài ra, không phải vô lý mà đa số các giải Nobel kinh tế được trao cho những người đã từng có background về toán (BA/MA/PHD). Ở bài trước tôi đã từng viết, những paper nghèo về mặt định lượng cũng có thể xuất hiện trên các top journal về kinh tế. Tuy nhiên, đó phải là các paper mang tính đột phá, đặt nền móng cho một nhánh nghiên cứu hoàn toàn mới hoặc cho một ngành kinh tế mới. Có nghĩa là yêu cầu cao hơn đối với các paper thiên về định lượng.
II/ Xếp hạng các chương trình Kinh Tế học 

Có rất nhiều bảng xếp hạng khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tựu chung thường có hai cách đánh giá. Cách thứ nhất là xếp hạng dựa vào các bài báo mà mỗi khoa/viện kinh tế đăng báo (ranking based on publication capacity). Cách thứ hai là dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào được những khoa/viện kinh tế hàng đầu (ranking based on PhD placements).
Cả hai phương pháp này đều có những thiếu sót.
Đối với phương pháp dựa vào số bài báo đăng, có những khoa kinh tế không có nhiều giáo sư thật sự xuất sắc nhưng nhờ có số lượng giáo sư nhiều nên dẫn đến số lượng bài báo đăng nhiều, xếp hạng cao hơn một số khoa khác mặc dù có ít giáo sư hơn nhưng chất lượng giáo sư cao hơn hẳn. Một ví dụ khác đó là khi mà các trường nằm cạnh nhau và các khoa kinh tế của các trường cùng hợp tác để hướng dẫn chương trình nghiên cứu sinh thì xếp hạng này càng khập khiễng vì nó chỉ xếp hạng từng trường riêng rẽ. Ví dụ như Stockholm Doctoral Program in Economics do hai trường Stockholm University và Stockholm School of Economics hợp tác hoặc Berlin Doctoral Program in Economics and Management Science do một nhóm trường đại học ở Berlin hợp tác.
Tương tự, đối với phương pháp xếp hạng dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào những khoa/viện kinh tế hàng đầu, có những khoa kinh tế thật sự xuất sắc ở một lĩnh vực nhỏ và do đó có một vị trí tốt trên bảng xếp hạng. Ví dụ trong bài báo “Ranking Economics Departments Worldwide based on the basis of PhD Placement” của Rabah Amir và Malgorzata Knauff năm 2005, Pennsylvania State University có một ví trí khá cao, hơn hẳn Columbia University và New York University, nhưng lĩnh vực kinh tế vĩ mô của khoa kinh tế Pennsylvania State University rất yếu (vào thời điểm năm 2009) so với Columbia University và New York University.
Ngoài ra, môi trường học thuật của một trường đại học rất quan trọng. Những trường có những khoa kinh tế nhỏ nhưng chất lượng có giá trị hơn là những trường có số lượng giáo sư đồ sộ nhưng không ai thật sự xuất sắc.
Những bảng xếp hạng đáng tin cậy và nên tham khảo đó là:
– Economics của US News & World Reports.
– Rankings at IDEAS.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với một nghiên cứu sinh đó là người hướng dẫn. Do đó, sau khi xem xét sơ các bảng xếp hạng, bạn hãy chọn một danh sách các trường nhắm vào, sau đó vào từng trang web của trường để xem CV của từng giáo sư, nếu có thời gian xem luôn vị trí mà các sinh viên sau khi tốt nghiệp từ trường nhận được là gì (placement). Khả năng đăng được các bài báo ở các tạp chí hàng đầu nói lên trình độ của giáo sư. Vị trí mà các giáo sư đã từng nắm giữ cũng rất quan trọng; một giáo sư từng giữ vị trí cố vấn chính phủ hay các định chế quốc tế như IMF hay World Bank thường có kinh nghiệm dồi dào, và quen biết rộng (rất có ích khi bạn ra trường và cần một thư giới thiệu).
Khi nộp đơn bạn nên chọn ra một danh sách các trường gồm 3 loại:
– Trường trong tầm tay.
– Trường xa tầm tay một chút.
– Trường chắc chắn vào được.
III/ Một số vấn đề cần lưu ý khi nộp hồ sơ

Ngoài quy trình nộp hồ sơ hệ sau đại học dành chung đối với sinh viên Việt Nam nộp hồ sơ tới các trường đại học Mỹ theo chương trình Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ, một số vấn đề khác trong quá trình nộp hồ sơ ngành kinh tế học cũng cần lưu ý.
1. Các môn học cần chú trọng ở hệ đại học 

Các trường quan tâm nhiều hơn đến việc bạn đã học và vượt trội trong các môn học khó như thế nào hơn là điểm GPA nói chung. Bạn nên đề cập tới trong SOP của mình vì các trường sẽ không thể biết được các lớp toán như thế nào, và lớp nào là lớp nâng cao vv. Môn phân tích cũng là một điểm quan trọng mà bạn nên đề cập trong hồ sơ, vì nó đòi hỏi bạn cần có những chứng minh logic và có tính quy chuẩn. Thông thường các ứng viên nặng kí là những người có điểm mạnh gì đó, ví dụ như giỏi toán hoặc có luận văn xuất sắc, có bài nghiên cứu nổi bật. Một số điểm thấp trong năm đầu sẽ không làm hồ sơ của bạn kém đi nếu như bạn học tốt trong các lớp nâng cao trong các năm sau đó.
2. Thư giới thiệu 

Một lá thư giới thiệu tốt nhất là từ các nhà kinh tế học có liên hệ với trường mà bạn đang nộp hồ sơ. Tuy nhiên, một lá thư giới thiệu từ người mà bạn đã làm việc cùng sau khi tốt nghiệp đại học cũng rất hữu ích để đề cập đến sự trưởng thành và thái độ làm việc của bạn vv. Nếu bạn không có mối quan hệ nào với các giáo sư kinh tế (ví dụ bạn là sinh viên ngành toán) hoặc nếu bạn học ở một trường đại học mà không có người nào trong khoa của bạn có mối liên hệ với các chương trình PhD hàng đầu, bạn vẫn có cơ hội được nhận (admission) nếu như các phần khác trong hồ sơ của bạn thực sự nổi trội. Điểm GRE, điểm học các môn nặng về toán, và essay được chú trọng nhiều hơn và nên cố gắng để hội đồng tuyển sinh đánh giá đúng các yếu tố đó của bạn. Một lá thư giới thiệu tốt nên có sự so sánh giữa bạn với các sinh viên khác trong các chương trình cao học hàng đầu, ví dụ để xin học được ở Harvard hay MIT, lá thư giới thiệu cần phải chỉ rõ bạn khác biệt như thế nào so với các sinh viên đã học và thành công trong các chương trình này. Đối với sinh viên quốc tế, việc đánh giá bảng điểm trở nên khó khăn hơn, vì vậy các so sánh này càng phải chú trọng. Các câu nhận xét cần đề cập một cách cụ thể như là so sánh khả năng phân tích, học các môn học, chất lượng luận văn …
3. Bài luận

Trong hồ sơ xin học, việc đề cập đến lĩnh vực kinh tế mà bạn quan tâm, và các bài báo mà bạn đã đọc rất quan trọng. Cố gắng càng chi tiết càng tốt. Bạn cũng có thể đề cập đến luận văn hoặc là kinh nghiệm nghiên cứu của mình. Không cần thiết phải có một đề xuất nghiên cứu cụ thể nào đó, đặc biệt khi bạn cũng không thực sự có ý tưởng gì cụ thể nhưng lại thể hiện trong hồ sơ một cách ngây ngô. Phần lớn các trường chỉ đọc những phần này để xem bạn quan tâm đến lĩnh vực nào và có ý niệm liệu bạn thực sự muốn đi sâu vào lĩnh vực nào. Vì vậy bạn cần đề cập một cách thông minh về đề tài mình quan tâm để tỏ ra là bạn hiểu biết một chút gì đó về lĩnh vực nghiên cứu sắp tới.

4. GRE 

Điểm phần qualitative của GRE khá quan trọng vì vậy bạn cần chú trọng khi ôn thi hơn, đặc biệt đối với những bạn không phải chuyên ngành kinh tế ở hệ đại học.
5. Liên hệ giáo sư 

Bạn không nên liên hệ giáo sư tại trường mà bạn nộp hồ sơ tới trước khi có chấp nhận học (admission). Việc tìm hiểu về advisor cũng rất quan trọng vì đây là người ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình nghiên cứu học tập và tương lai công việc của bạn sau này.

IV/ Học bổng và các nguồn hỗ trợ tài chính 

Chương trình học bổng Fulbright: vietnam.usembassy.gov/fulbright.html
Học bổng assistantship cho chương trình Master’s:

  1. University of Cincinnati.
  2. University of New Hampshire
  3. Northeastern University.
  4. Northern Illinois Univ
  5. Portland State University
  6. Wright State University

V/ Một số điều cần lưu ý trong quá trình học tập 

1. Tìm chủ đề nghiên cứu 

Thông thường, một sinh viên PhD Econ cần có 3 working papers, trước khi có thể bắt tay vào viết dissertation. Dưới đây là hướng dẫn của G.S Don Davis về tìm chủ đề cho paper và dissertation (cho cả theoretical và empirical research).
www.columbia.edu/~drd28/Thesis%20Research.pdf
2. Phương pháp học và chuẩn bị cho các kì thi 

Chương trình Phd kinh tế của các trường ở Mỹ khá khắc nghiệt, không chỉ do khối lượng chương trình học mà còn do các kỳ thi Prelim (năm thứ 1) và Q.E năm (thứ 2 hoặc 3 tùy theo quy định của từng trường). Tất cả các sinh viên trong khoa đều phải tham dự kỳ thi prelim cùng một lúc và với nội dung giống nhau, bất kể mỗi người trong số họ dự định theo đuổi hướng nghiên cứu nào sau đó.
Matthew Pearson nêu một số kinh nghiệm để tồn tại ở bậc PhD và hướng dẫn chuẩn bị cho các kỳ thi lớn. Ngoài ra G.S Hal Varian và Jonathan Shewchuk nêu các kinh nghiệm xây dựng các mô hình kinh tế và chuẩn bị academic talks.
www.econphd.net/downloads/mp_surv.pdf
people.ischool.berkeley.edu/~hal/Papers/how.pdf
3. Viết paper 

G.S Cochrane hướng dẫn rất tỉ mỉ cách viết paper trong khi G.S Kremer bổ xung một danh sách những điều cần lưu ý trong quá trình viết.
http://faculty.chicagobooth.edu/john…er_writing.pdf
http://www.economics.harvard.edu/fac…/checklist.pdf
4. Đăng bài trên các tạp chí chuyên ngành 

Paper đăng trên Top Journal có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xin việc làm và xét duyệt tenure. Thời hạn trung bình để được đăng một bài báo thuộc ngành kinh tế trên Top Journal cũng khá dài so với nhiều ngành khác. (Trung bình từ khi nộp đến khi bài được đăng là 3 năm. Trong khi mỗi assistant prof phải đăng tối thiểu 1-4 bài, tùy theo quy định của từng trường. Và thời gian cho phép họ đăng đủ số bài để được nhận tenure là khoảng 6 năm). Bởi vậy sức ép lên các assistant prof khá nặng nề. Các sinh viên PhD còn đang ngồi trên ghế nhà trường cũng phải chuẩn bị đăng bài từ rất sớm, nếu như họ muốn theo đuổi nghiệp nghiên cứu sau khi tốt nghiệp.
Prof Kwan Choi hướng dẫn đăng bài trên Top Journal.
http://www.roie.org/howi.htm

VI/ Chuẩn bị tốt nghiệp và tìm việc làm 

G.S Cawley và Laibson hướng dẫn về quảng cáo thông tin tìm việc, phỏng vấn tìm việc làm ở Mỹ cho các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp PhD:
http://www.economics.harvard.edu/files/LaibsonNotes.pdf
http://www.aeaweb.org/joe/articles/2003/cawley_2003.pdf
Các bạn cũng có thể tìm thấy trên trang của NBER, hồ sơ của rất nhiều các PhD candidate đang là đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường việc làm.
http://www.nber.org/candidates/
VII/ Một số lời khuyên dành cho các bạn khi xin học ngành Kinh tế học tại Mỹ 

FAQ?
General Advice From Current Economics PhD Students To Eager Undergrads
How do you set yourself apart from the pack when applying to grad schools.
Some answers to the “set yourself apart” question from current PhD students
How many grad schools should you apply to and how do you choose which schools.
Some answers to the “How Many” question from current PhD students.http://dinhvutrangngan.com/advice.htmlhttp://dinhvutrangngan.com/teaching… for Applying to Grad School in Economics.pdf Website:
http://www.urch.com/forums/phd-economics/
[1]www.econphd.net/
The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 1969-2006
nobelprize.org/nobel_prizes/economics/articles/lindbeck/index.html
Prof Dan Hamermesh cũng cho một số lời khuyên chung về các vấn đề đã nêu ở các mục trên.
http://www.eco.utexas.edu/faculty/Ha…conomists.html

Comments

comments

Trả lời

error: Content is protected !!