Một đề xuất với chương trình học bổng Fulbright Việt Nam

Trước Tết, khi vào Sài Gòn ra mắt sách “Du học không khó”, mình có gặp chị Nguyễn Thị Hạnh – trợ lý chương trình học bổng Fulbright và mấy chị em có đi cà phê. Nhân dịp lâu lắm mới được gặp chị, mình có trao đổi với chị về một đề xuất với chương trình học bổng Fulbright. Nay xin chia sẻ ở đây để mọi người góp ý và cho ý kiến.

 

Đề xuất đó cụ thể là: Hiện nay học bổng Fulbright khi tuyển sinh, vẫn cho phép thí sinh nộp hồ sơ với điểm IELTS tối thiểu là 6.5 nhưng nếu thí sinh đó khi qua vòng Phỏng vấn trở thành người được nhận học bổng thì Fulbright lại yêu cầu thí sinh đó phải thi lấy điểm TOEFL iBT để IIE lo việc sắp xếp trường.

 

Đây sẽ không là vấn đề gì phải bàn, nếu như trước đây các trường ở Mỹ chỉ chấp nhận TOEFL chứ không nhận IETLS. Nhưng tới tháng 2/2013 đã có tới hơn 3000 cơ sở giáo dục (ĐH, Cao Đẳng….vv) đã chấp nhận điểm IETLS. Chi tiết xem tại http://www.ielts.org/pdf/IELTS_USA_Recognition_Feb_2013.pdf

 

Như vậy, việc yêu cầu những bạn được học bổng Fulbright (finalists) phải thi lại để lấy điểm TOEFL iBT là một việc có lẽ không cần thiết, vừa tốn kém ngân sách của Fulbright (Fulbright trả tiền thi TOEFL iBT cho thí sinh) mà lại gây ra sức ép rất lớn cho các bạn finalist, bởi thời gian ôn thi sau khi phỏng vấn rất ít ( khoảng 1 tháng), trong khi đó lại phải ôn cả GRE hoặc GMAT nữa. Thêm nữa, nếu ai đã từng học cả IELTS và TOEFL iBT thì đều thấy rằng các 2 bài thi tuy đều thi kỹ năng tiếng Anh nhưng mà cách thức làm bài thi hoàn toàn khác nhau. Một người thi điểm IETLS cao, chưa chắc đã đạt điểm cao khi thi TOEFL iBT.

 

Do vậy, xin đề xuất với chương trình học bổng Fulbright như sau:

 

1. Vẫn tiếp tục nhận nhận điểm IELTS khi tuyển sinh

 

2. Không bắt buộc finalist phải thi lại để lấy điểm TOEFL nếu trường nộp xin admission chấp nhận IELTS.

 

3. Nếu trường không chấp nhận điểm IELTS thì yêu cầu thi TOEFL iBT như bình thường.

 

 

 

Người đề xuất

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter 09-11

Public Administration

1001 lý do bạn nên apply học bổng Fulbright ngay

1.    Đây chính là thời điểm. Chương trình Học bổng Fulbright cho sinh viên Việt Nam cho năm học 2018 – 2020 đã chính thức lên sóng và sẵn sàng nhận ứng viên.

2.    Fulbright là học bổng danh giá mà chỉ cần có “mác” Fulbrighter trong CV thôi thì cũng đủ oách trước mặt nhà tuyển dụng sau này rồi (trừ khi bạn có thiên hướng khởi nghiệp hoặc trở thành freelancer).

3.     Trong tình hình mà người người đi du học, nhà nhà đi du học và đều trở về với một tấm bằng Thạc sĩ của nước ngoài, thì đi Mỹ học Thạc sĩ miễn phí chẳng phải là một con đường không quá tồi?

4.     Từ 1992 trở lại đây, đã có hơn 500 sinh viên Việt Nam đi Mỹ học với chương trình này, và trở thành thành viên của mạng lưới cựu Fulbrighter có thể sẽ giúp ích bạn sau này.

5.     Có từ 20 đến 25 học bổng toàn phần được cấp mỗi năm, tức là chuyến đi này sẽ không “đơn độc” lắm đâu. Bi, đừng sợ!

6.     Đây là một chương trình học bổng toàn phần, tức là trong quãng thời gian đi học bạn không phải đi làm thêm, chẳng phải xin tiền gia đình mà vẫn được vào học ở một trường nào đó siêu đắt đỏ ở Mỹ (với học phí 0 đồng – không thể oách hơn). Bạn thậm chí còn không phải băn khoăn cho vé máy bay đến và rời Mỹ. Dĩ nhiên là bảo hiểm sức khỏe cũng đã được bao gồm.

7.     Điều kiện ứng tuyển chỉ có một vài dòng thôi, và mới đọc qua thì có vẻ cũng chẳng ghê gớm lắm. Này nhé: công dân Việt Nam, đã tốt nghiệp Đại học (thậm chí còn không ghi rõ yêu cầuxếp loại tốt nghiệp), đã có kinh nghiệm đi làm trong ít nhất hai năm ở thời điểm nộp đơn, và có TOEFL iBT 79 hoặc IELTS 6.5.

8.     Các ngành học đã được gạch đầu dòng rõ ràng (đa số là các ngành trong lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn), cụ thể:

  • Văn chương Mỹ (American Literature)
  • Giáo dục (Education)
  • Quản lý dự án/chương trình (Project/Program Management)
  • Hoa Kỳ học (American Studies)
  • Môi trường học (Environmental Studies)
  • Tâm lý học (Psychology)
  • Kinh tế nông nghiệp (Agricultural Economics)
  • Quản lý công nghệ thông tin/ Hệ thống thông tin (Management of IT/Information system)
  • Hành chính công (Public Administration)
  • Nhân loại học (Anthropology)
  • Báo chí (Journalism)
  • Chính sách công (Public Policy)
  • Kiến trúc (Arrchitecture)
  • Ngôn ngữ/văn chương (ngoài Mỹ) (Language/Literature (non-U.S)
  • Y tế công (Public Health)
  • Nghệ thuật/Điện ảnh học (Art/Film Studies)
  • Luật (Law)
  • Social Work (Công tác Xã hội)
  • Thương mại (mọi lĩnh vực) (Business (all fields)
  • Library Science (Khoa học về Thư viện)
  • Xã hội học (Sociology)
  • Truyền thông (Communications)
  • Đào tạo Ngôn ngữ (Linguistics/Language Teaching)
  • Đô thị/ Quy hoạch (Urban/Community Planning)
  • Phát triển học (Development Studies)
  • Triết học (Philosophy)
  • Phụ nữ/giới tính học (Women/Gender Studies)
  • Kinh tế học (Economics)
  • Khoa học chính trị (Political Science)

 

Nếu bạn vẫn còn mơ hồ về từng lĩnh vực kể trên thì vẫn có thể đọc kỹ hơn tại Blog này. Và hãy liên hệ với văn phòng Fulbright nếu ngành bạn muốn học vắng mặt trong danh sách ưu tiên.

 

9. Bạn thậm chí còn chẳng tốn tiền phí bưu điện để nộp hồ sơ. Mọi ứng viên đều phải ĐĂNG KÝ TRỰC TUYẾN ở đây. Và một “gói” hồ sơ ứng tuyển đầy đủ sẽ phải có:

  • Đơn đăng ký
  • Hai bài luận (mục đích học tập và bài tự luận cá nhân)
  • Ba lá thư tiến cử
  • Bảng điểm và bằng cấp
  • TOEFL iBT và/hoặc là điểm IELTS
  • CV (sơ yếu lí lịch)

 

10. Bởi vì Fulbright không giới hạn độ tuổi như một số chương trình học bổng khác. Và họ công bố (lý thuyết nhé) rằng các ứng viên sẽ được đánh giá dựa trên trình độ và tay nghề làm việc chứ không qua chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, xuất xứ, “đẳng cấp” Xã hội hay kể cả… định hướng giới tính của bạn. Tóm lại là họ không có chuyện bạn bị loại chỉ vì… quá đẹp trai!

 

11. Fulbright không hề giấu diếm công thức làm nên một ứng viên thành công. Trong thông báo chính thức của chương trình, họ ghi rõ rằng bạn chỉ cần rành mạch về định hướng tương lai, chi tiết về mục tiêu học tập và nhất là thể hiện được sự liên kết giữa hai điều trên. Tiềm năng lãnh đạo, nguyện vọng đóng góp những ảnh hưởng tích cực khi về nước, tỏ ra hào hứng với các hoạt động giáo dục và văn hóa Mỹ – Việt và sẵn sàng làm “đại sứ văn hóa Việt” trong quá trình du học sẽ giúp bạn thu phục được thiện cảm của người chấm tuyển. À, tất nhiên là bảng điểm cũng đừng bôi bác quá và phải thạo tiếng Anh nữa nhé!

 

12. Quan trọng nè – bạn có đến 4 tháng để chuẩn bị hồ sơ.

 

13. Hướng dẫn hồ sơ ứng tuyển đều nằm cả trong Fulbright Booklet. Hoặc nếu có lười biếng không muốn đọc hướng dẫn thì bạn vẫn có một lời chúc may mắn từ Hotcourses! Mạnh dạn ứng tuyển nhé! (Vì đằng nào thì bạn cũng không tốn tiền gửi hồ sơ mà!)

Fulbrighter chia sẻ kinh nghiệm săn học bổng chính phủ Mỹ

Mặc dù đã gần 8 năm kể từ khi được nhận học bổng danh giá Fulbright cho bậc thạc sĩ ngành PR tại trường đại học Ball State – Indiana, Mỹ trong niềm vinh dự và hạnh phúc lớn nhưng những trải nghiệm quý giá ở thế giới có nền giáo dục hàng đầu này đã giúp cô gái xứ Huế Nguyễn Thúy Hạnh trở thành một con người khác với một tinh thần và suy nghĩ hoàn toàn khác.  Đó là một tinh thần dám đương đầu với thử thách, dám tư duy vượt giới hạn (out of the box), là trân trọng sự khác biệt…

Nhân dịp học bổng Fulbright của chính phủ Hoa Kỳ đang tiếp nhận hồ sơ cho bậc thạc sĩ năm học 2017-2018 , sinhvienusa đã có dịp trò chuyện cùng Thúy Hạnh về những kinh nghiệm mà chị đã thành công với Fulbright ngay lần đầu tiên. 

Mặc dù cũng rất lâu kể từ lúc chị nhận được học bổng Fulbright ( 2008) nhưng chị có thể chia sẻ những trải nghiệm khó có được lần hai trong đời này?

Thúy Hạnh: Rất vui khi được có cơ hội chia sẻ những kinh nghiệm về việc tìm kiếm học bổng của mình. Fulbright là học bổng vô cùng uy tín, chú trọng vào việc mang đến một chương trình học chất lượng tốt nhất và nhiều trải nghiệm về văn hóa quý giá cho các Fulbrighter. Những gì các Fulrbighter có được không chỉ là kiến thức chuyên môn về ngành họ theo học mà còn là những trải nghiệm văn hóa, vốn sống, và các kỹ năng mềm vô cùng quý báu. Bản thân mình đã ấp ủ “Giấc mơ Mỹ” từ khi còn ngồi trên giảng đường Đại Học nên sau khi đã “gom” đủ 2 năm kinh nghiệm, mình hào hứng nộp hồ sơ ngay.

Những giai đoạn quan trọng của học bổng Fulbright là Vòng nộp hồ sơ, Vòng phỏng vấn, Vòng thi các chứng chỉ (TOEFL, GRE, GMAT), Vòng chọn trường, và Chuẩn bị lên đường. Ở vòng nộp hồ sơ và phỏng vấn, hãy xem đây là cơ hội để bạn thể hiện bản thân. Hãy tự tin và hãy là chính mình –hãy viết những ước mơ, hoài bão, và những câu chuyện của riêng mình. Đừng viết những gì mà bạn nghĩ người khác sẽ muốn đọc.

Học bổng Fulbright mất hơn 1 năm từ vòng nộp hồ sơ đến giai đoạn lên đường, tuy mất rất nhiều thời gian nhưng phần nào cũng nói lên được sự kỹ lưỡng, chăm chút và chất lượng của học bổng.

 Thời gian ấy, tại sao chị lại quyết định chọn con đường du học Mỹ? 

Lý do mình chọn học bổng ở Mỹ xuất phát từ cả lý do chủ quan và khách quan. Về mặt khách quan, ngành học của mình là Truyền thông (PR) và sau khi tìm hiểu, mình vô cùng hào hứng khi biết ngành PR có nguồn gốc từ Mỹ và được ứng dụng ở Mỹ rất nhiều. Về lý do chủ quan, mình được học về nền văn hóa Mỹ khi còn học đại học, nên cảm thấy khá gần gũi và tự tin sẽ hòa nhập dễ dàng.

Kiến thức hệ thống bài bản về chuyên ngành giúp tôi rất nhiều trong công việc. Tuy nhiên, tôi muốn nói đến một khía cạnh khác. Tôi cám ơn học bổng Fubright rất nhiều ở những kỹ năng mềm, những trải nghiệm về cuộc sống mà nếu không học ở Mỹ, tôi sẽ không bao giờ có được. Hai năm ở Mỹ, tôi học được những thứ vô cùng quý giá, đó là tinh thần đường đầu với thách thức, là suy nghĩ out of the box, là trân trọng sự khác biệt, là sự linh động bởi tôi thấm nhuần được thế giới này phát triển được là nhờ vào một tập hợp những con người khác nhau với những suy nghĩ khác nhau.

Nhiều bạn trẻ cho rằng Fulbright là học bổng rất khó để đạt được, liệu Fulbright chỉ dành những người thực sự giỏi như có thành tích học tập tốt, IELTS/ TOEFL cao, đạt nhiều giải thưởng hay công trình nghiên cứu…?

Thúy Hạnh: Bạn nói đúng ở yếu tố cạnh tranh cao của học bổng Fulbright. Học bổng Fulbright khó bởi sự cạnh tranh công bằng giữa các ứng cử viên. Nếu các học bổng khác dành ưu tiên cho một số khối nhất định (ví dụ khối nhà nước, khối NGO,…), thì học bổng Fulbright mỗi năm dành 20 suất học bổng cho tất cả các khối, các ngành và bất kỳ ứng viên Việt Nam nào. Điều đó có nghĩa, hầu như ngành nào cũng đều có cơ hội tiếp cận học bổng Fulbright, nhưng cũng đồng nghĩa với việc bạn cạnh tranh đồng đều với tất cả những người nộp đơn, ở bất kỳ ngành nào. Ví dụ năm nay trước có đến 4 người theo học ngành Giảng dạy tiếng Anh (TESOL), nhưng năm nay có thể chỉ có một người được nhận học bổng TESOL.

Áp lực và những chờ đợi trong suốt quá trình xin học bổng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, khi tìm hiểu về học bổng Fulbright, tôi quyết tâm theo đuổi đến cùng. Có nhiều bạn nộp học bổng Fulbright đến lần thứ 5 mới nhận được. Tôi may mắn hơn vì được nhận ngay trong lần đầu. Nhưng nếu không, tôi nghĩ mình vẫn sẽ kiên trì đến khi nhận được mới thôi.

Vòng phỏng vấn là vòng quyết định bạn được nhận học bổng hay không. Chị có thể chia sẻ về những áp lực chị đã trải qua trong giai đoạn này? 

Thúy Hạnh: Bạn đừng nên tự tạo nhiều áp lực cho bản thân ở vòng phỏng vấn – mà hãy xem nó là cơ hội để trò chuyện, chia sẻ về những câu chuyện cá nhân, về ước mơ của mình và tại sao mình là người xứng đáng được nhận học bổng. Hầu như các câu hỏi sẽ xoanh quanh những thông tin bạn đã viết từ 2 bài luận hay CV của bạn. Bạn hãy chuẩn bị thật nhiều ví dụ cụ thể bởi Hội đồng xét tuyển sẽ muốn nghe những câu chuyện có thật, những ví dụ cụ thể chứ không phải là những lời lời nhận định chung chung, không thuyết phục. Nếu bạn nói bạn là một con người muốn xây dựng một cộng đồng tốt đẹp, hãy kể về những dự án bạn đã tham gia, hay những vùng đất bạn muốn đến để giúp đỡ những người dân ở đó, và vì sao?

Với những câu hỏi bạn cần thời gian, bạn cứ thẳng thắn nói rằng bạn cần thời gian suy nghĩ. Hội đồng xét tuyển sẽ chỉ đánh giá trên những câu trả lời của bạn chứ không trừ điểm bạn chỉ vì bạn cần thêm thời gian. Nếu bạn bí ở một vài câu hỏi, bạn có thể nói bạn chưa biết, chưa có thông tin, và vì sao. Hãy xem cuộc phỏng vấn chỉ là buổi trò chuyện thân mật với những người muốn biết thêm về bạn.

39182_429926504560_4815903_n

Nguyễn Thúy Hạnh ( Thứ 2 từ trái qua) cùng bạn trong ngày tốt nghiệp tại đại học Ball State – Indiana

Nếu trường hợp không được chọn cho đợt đầu tiên, liệu những lần sau các bạn có cơ hội để đạt được học bổng danh giá này?

Thúy Hạnh: Tôi biết nhiều người theo đuổi học bổng này trong nhiều năm mới đạt được. Thậm chí có người đến lần thứ 5 mới nhận được học bổng. Nếu năm nay bạn chưa may mắn, khi nộp đơn cho sang năm, bạn phải là 1 con người khác. Hãy cập nhật lại CV, hồ sơ, bài luận của mình với các thông tin mới, thành tựu mới, v.v. Nếu bạn đem hồ sơ năm trước của minh nộp lại, chắc chắn bạn sẽ không qua được vòng hồ sơ. Bạn thử nghĩ xem, nếu năm trước bạn không được chấp nhận, và năm nay bạn vẫn là con người đó, liệu hồ sơ của bạn có đủ sức thuyết phục? Một điều quan trọng nữa, hãy mạnh dạn hỏi lý do vì sao bạn không được nhận học bổng và cố gắng để hoàn thiện những điều mình chưa tốt.

Theo chị, trước khi quyết định nộp đơn vào học bổng Fulbright, các bạn cần chuẩn bị những gì? Yếu tố nào giúp ứng viên được chọn hay không?

Thúy Hạnh: Fulbright có nhiều chương trình học bổng và mỗi chương trình có mỗi tiêu chí khác nhau. Tôi xin đề cập đến loại học bổng sau đại học (Thạc sỹ). Có 3 điều bạn cần chuẩn bị khi nộp học bổng Fulbright: Trình độ ngoại ngữ, kinh nghiệm làm việc và tinh thần học hỏi. Về trình độ ngoại ngữ, nếu Tiếng Anh bạn tốt, bạn có lợi thế ở vòng nộp hồ sơ và đặc biệt khi xin vào các trường, bạn sẽ được nhận vào học ở các trường tốt.

Kinh nghiệm làm việc khá quan trọng đối với học bổng thạc sỹ. Các ngành học ở Mỹ thường rất sâu, không học chung chung. Mỗi ngành lại có mỗi chuyên sâu riêng nên nếu bạn có kinh nghiệm làm việc, bạn sẽ biết rõ mình muốn theo đuổi ngành học nào. Ngoài ra, ở các lớp sau đại học, bạn sẽ được thảo luận, trao đổi kinh nghiệm, nhiều hơn việc học lý thuyết. Cho nên việc có kinh nghiệm làm việc sẽ là một lợi thế lớn, giúp bạn học hiệu quả hơn.

Một trong những sứ mệnh quan trọng của học bổng Fulbright là trao đổi văn hóa giữa hai nước. Bạn phải chứng tỏ được mình là một đại sứ giúp hai nước Mỹ và Việt Nam xích gần nhau hơn. Khoan hãy nghĩ nhiều về tính vĩ mô của từ “đại sứ”, đơn giản là sẵn sàng học hỏi những điều tốt đẹp của văn hóa Mỹ, đồng thời giúp những người bạn ở Mỹ hiểu hơn và yêu hơn về một đất nước Việt Nam hòa bình tươi đẹp. Nếu bạn luôn mang trong mình tinh thần học hỏi, hòa nhập cao, bạn sẽ thấy được thời gian học ở Mỹ không chỉ là những ngày bạn đến thư viện, hay lên giảng đường mà đó còn là những chuyến đi khám phá những vùng đất tươi đẹp ở Mỹ, hay tham dự những dịp đặc biệt như lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng sinh cùng những người bạn Mỹ, để hiểu hơn về văn hóa Mỹ, hoặc những buổi trao đổi, giao lưu về văn hóa với người bản xứ về đất nước Việt Nam của mình.

Cảm ơn chị về những chia sẻ thật tâm của mình!

Hạnh Nguyễn Thực Hiện

SOP

Hi cả nhà,

Mình đã từng là một mentee, và hiện tại cũng đang giúp một số bạn sửa Resume, SOP, LOR. Mình muốn chia sẻ một chút những trải nghiệm và kinh nghiệm của mình để có được hiệu quả cao khi làm việc với mentor.

1. Nên tìm mentor có background tương đương với mình. Vì một người có background tương đương có thể hiểu và giúp bạn sửa Resume/SOP/LOR tốt hơn về cả mặt nội dung lẫn hành văn. Ngoài ra, họ còn có thể chia sẻ với bạn những insights trong ngành giúp bạn có định hướng tốt cho quá trình apply.
2. Nên chuẩn bị sớm và respect thời gian của mentor. Rất nhiều bạn khi tìm đến mình thì deadline nộp hồ sơ chỉ còn khoảng 1 tuần hoặc thậm chí vài ngày. 1 tuần có thể coi là nhiều, vì review một bài essay thường mất từ 45′-2h. Tuy nhiên, (1) 1 tuần trước deadline, nghĩa là mentor chỉ có 1-3 ngày để review và gửi lại để các bạn còn sửa (2) Giờ Mỹ và VN lệch nhau, nên 1 tuần với các bạn nghĩa là 6 ngày với mentor –> mentor chỉ có 0-2 ngày để review (3) Nhiều người (trong đó có mình) luôn có kế hoạch cho 1 tuần phía trước nên nếu có bạn cần mình giúp gấp thì có nghĩa là mình phải thay đổi lại kế hoạch mình. 1-2 lần không sao, nhưng nhiều lần như thế thì không ổn chút nào. Ngày xưa khi mình bắt đầu apply thì gửi luôn cho mentor một bản kế hoạch chi tiết bao gồm những việc mình cần sự giúp đỡ của mentor, deadline cụ thể, mình cần bao nhiêu thời gian để viết/sửa & đề xuất thời gian review của mentor (thường mình để 1 tuần cho mentor review mỗi lần). Từ đó, 2 người có thể thống nhất kế hoạch với nhau.
3. Nên trao đổi từ dàn ý. Khi bạn viết thì nên suy nghĩ trước mình định viết gì, lập dàn ý và trao đổi với mentor (nhất là khi viết essay, cần nghiên cứu kỹ đề bài). Việc này giúp tiết kiệm thời gian của bạn rất nhiều. Thử tưởng tượng nếu bạn dành rất nhiều thời gian để viết và edit trước khi gửi cho mentor, rồi mentor lại chỉ ra rằng bạn đang sai đề thì sẽ thế nào? Nhất là khi deadline cận kề?
4. Quick response. Cái này mình học được trong quá trình tham gia USGuide và đi học. Thường nếu bạn nhận được email của người khác mà chưa đọc/trả lời ngay được thì cũng nên reply lại để confirm là đã nhận được mail & sẽ trả lời trong vòng n ngày. Mình tới giờ vẫn chưa áp dụng triệt để được, nhưng đấy là thói quen tốt trong công việc.

Chúc mọi người apply thành công & có được nhiều lợi ích từ Mentoring Program.

 

—-

Tìm hiểu về Master of Public Affairs

Khi mọi người hỏi tôi học ngành gì, tôi trả lời là tôi học “Public Affairs”. Có rất nhiều người không hiểu học Public Affairs là học cái gì và sau này làm gì? Bài viết này nhằm giải đáp câu hỏi trên. Mục đích của bài viết để tránh mọi người hiểu lầm là học “Public Affairs” là về làm nhà nước, làm công tác tiếp dân. Đồng thời, bài viết cũng cung cấp thông tin cho các bạn dự định đăng ký học Master in Public Affairs có một cái hiểu đầy đủ về ngành học để có thể lựa chọn phân ngành dựa vào năng lực, kinh nghiệm và sở thích của mình.
Master in Public Affairs được chia thành 3 phân ngành chính:

  • Public Administration/Management
  • Public Policy
  • Nonprofit Management

Ở một số trường đại học của Mỹ, ba phân ngành này được phân tách khá rõ. Một số trường thì chuyên đào tạo về 1 trong 3 phân ngành. Một số trường khác thì đạo tạo cả ba phân ngành, sinh viên sẽ được lựa chọn phân ngành mà họ muốn. Như vậy, khi đăng ký vào một trường nào đó, điều quan trọng là bạn phải nghiên cứu chương trình giảng dạy của trường để xem các môn học có thực sự là những cái bạn muốn học không. Vì cùng ngành học Public Policy, có trường dạy môn này, có trường dạy môn khác. Do đó, đừng có nhìn vào cái tên mà lựa chọn vội vàng, tránh tình trạng “treo đầu dê, bán thịt chó”.

Vậy đâu là sự khác biệt của 3 phân ngành trên:

  • Public Administration/Management: được dịch ra là “Quản trị công hay Quản lý công”. Ngành học này sẽ đào tạo ra những người làm công tác quản lý tại các cơ quan của nhà nước. Làm quản lý là làm cái gì? Tức là làm quản lý về nhân sự, về tài chính, về kế hoạch của một cơ quan nhà nước. Làm quản lý xét ở khía cạnh nào đó thì là làm sếp, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn sẽ là lãnh đạo, vì để trở thành lãnh đạo, bạn cần phải có một số yếu tố khác nữa. Chính vì lẽ đó mà ở một số trường dạy Public Administration có dạy một môn gọi là Leadership. Các môn học bắt buộc với ngành Public Administration là quản trị nhân sự, quản lý tài chính, quản lý dự án. Như vậy, thì nếu MBA đào tạo nhà quản lý ở các doanh nghiệp, thì MPA đào tạo nhà quản lý ở các cơ quan của chính phủ.

 

  • Public Policy: được dịch ra là “Chính sách công”. Ngành này đào tạo ra những cán bộ làm chính sách. Bao gồm thiết kế chính sách, phân tích chính sách và đánh giá chính sách. Công việc thiết kế chính sách là công việc của lập pháp, giống như hoạt động của Quốc hội. Họ sử dụng các công cụ nghiên cứu để thiết kế một chính sách cụ thể nào đó. Còn công việc phân tích chính sách là công việc sử dụng các công cụ nghiên cứu để phân tích xem chính sách đó sẽ có tác động đến xã hội như thế nào? Cần bao nhiêu kinh phí? Bao nhiêu năm để thực hiện? Còn đánh giá chính sách, là một công việc sử dụng công cụ phân tích như thống kê, xác suất để đánh giá hiệu quả của một dự án, tác động của nó đối với xã hội về mặt kinh tế, văn hóa, chính trị….vv Như bạn có thể thấy, ngành Public Policy sử dụng rất nhiều các công cụ phân tích, do đó các môn học bắt buộc của phân ngành này là kinh tế vi mô, vĩ mô, xác suất, thống kê, các công cụ đánh giá khác.

 

  • Nonprofit Management: được dịch ra là “Quản lý Phi chính phủ”. Ngành học này sẽ đào tạo ra những người làm công tác quản lý tại các tổ chức phi chính phủ. Để hiểu tổ chức phi chính phủ là tổ chức như thế nào? hoạt động ở những lĩnh vực gì? nguồn vốn ở đâu? vv…xin các bạn đọc bài viết của mình ở địa chỉ http://tranngocthinh.wordpress.com/2009/07/17/pcp-ngo-august-30-2007/.<span> </span>

Ở các nước phát triển, thì tổ chức phi chính phủ rất phổ biến, còn ở Việt Nam thì tổ chức phi chính phủ còn bị hạn chế do xã hội dân sự ở Việt Nam mới bắt đầu manh nha. Các tổ chức phi chính phủ là một loại hình tổ chức có những đặc điểm riêng biệt, do đó khâu quản lý cũng có những đặc thù riêng. Tuy là ngành mới có, nhưng đang phát triển mạnh mẽ với nhiều lợi thế cạnh tranh. Xem thêm ở bài viết trên.

Hiện nay, ba trụ cột chính trong xã hội hiện đại là Chính Phủ – Doanh Nghiệp – Xã Hội Dân Sự, do đó ngành học Public Affairs có tính áp dụng rất cao ở cả ba trụ cột này. Thêm vào đó, ba trụ cột này có mối quan hệ, gắn chặt với nhau nên tính tương tác rất lớn. Vì vậy học Public Affairs, bạn có thể làm việc được ở Nhà nước, doanh nghiệp hay ở Phi chính phủ. Điều này hoàn toàn vào năng lực và sự thích nghi môi trường của bạn. Điều đó để thấy rằng ngành Public Affairs có sự linh hoạt rất cao, hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân bạn. Public Affairs là một ngành học rất rộng, do đó không thể nào tham vọng học hết được, và chương trình thạc sỹ 2 năm cũng không thể nào dạy hết. Do đó khi lựa chọn ngành học cụ thể, phải căn cứ vào năng lực, trình độ và niềm đam mê sau này. Hiện tại tại Việt Nam, ngành Public Affairs đang rất thiếu người vì Việt Nam mới bắt đầu đào tạo ngành này một cách bài bản một vài năm trở lại đây. Là một nước đang phát triển, chập chững xây dựng nên ngành Public Affairs đòi hỏi một lượng lớn nguồn nhân lực.

Đối với mỗi người học, câu hỏi thường trực là học xong sẽ làm cái gì. Xin minh chứng một số cá nhân học Public Affairs đã thành danh. Xin lưu ý, ví dụ không có nghĩa là ai học Public Affairs cũng sẽ thành công như những cá nhân trong ví dụ này.

Đây là danh sách những cá nhân kiệt xuất đã từng học Public Affairs http://www.naspaa.org/alumni/distinguished.asp. Trong danh sách này bạn có thể dễ dàng nhận ra Ban Ki Moon – Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Felipe Calderon – Tổng thống Mexico, Robert Zoellick – Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, các vị bộ trưởng, thủ tướng, quan chức hàng đầu chính phủ khác.

Còn ở Việt Nam, người học MPA mà nổi tiếng nhất phải nói tới Nguyễn Thiện Nhân. Ông Nhân học Public Affairs tại University of Oregon theo học bổng Fulbright. Ông Nhân hiện tại là Phó thủ tướng Chính phủ Việt Nam.

Thay cho lời kết, hy vọng bài viết này sẽ giúp ai chưa hiểu về Public Affairs sẽ có cái nhìn rõ hơn về ngành này. Đối với những ai dự định theo học Public Affairs, sẽ định hướng rõ hơn về sự nghiệp của mình. Chúc các bạn thành công với sự nghiệp sau khi tốt nghiệp ngành Public Affairs.

Trần Ngọc Thịnh
September 05, 2010
Columbia, MO

Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm apply học bổng Fulbright

FULBRIGHT EXPERIENCE Q&A WORKSHOP

(HỘI THẢO CHIA SẺ KINH NGHIỆM APPLY HỌC BỔNG FULBRIGHT)

USGuide and COF are pleased to announce the Fulbright Experiences Q&A workshop,
held on 19 April , 2009 at Van Viet Bar in Hanoi.
This program is to give you experiences and tips in the process of Fulbright Scholarship Application and to help you become a successful Fulbrighter 2010

[IMG]

Time: 9:00 a.m -11:00 a.m Sunday, 19 April, 2009
Location: Van Viet bar, 27A Tran Binh Trong

Guest speakers:
1. Ms. Le Huong – Fulbrighter, American study
2. Mr. Nguyen Ngoc Thinh- Fulbrighter, Public administration
3. Mr. Hoang Ha – Fulbrighter, Computer Science
4. Ms. Nguyen Thuy Linh- Fulbrighter, MBA
5. Mr. Ly Lam Duy- Fulbrighter, MBA

and valued guest from Fulbright Scholarship, USGuide and COF

Targeted audiences: 30-40 USGuide/COF members and others

WORKSHOP AGENDA

9:00- 9:05: Program Introduction
9:05- 9:20: Brief overview about USGuide, COF, Fulbright programs and advice for workshop participants
9:20-10:45:
– Self introduction by guest speakers, highlighting background and strengths as Fulbright applicants
– Q&A session
10:45-11:00: Break into smaller groups to facilitate discussion between speakers and interested students

Please send your registration form to: hapt@us-guide.org (cc: minhphuong.doan@us-guide.org)
Deadline: 18 April 2009

Priority for whom sending registration form soon, with following information:
1. Personal profile: full name/major/ occupation/ working place (school)& contact details
2. US study plan: US-study period/ Fulbright application period (2010 or?)
3. TOEFL/GMAT scores (if have)
4. Questions for speakers and guests/ programmes (if have)

Welcome your registration and participation in this workshop

 

Nội dung tóm tắt do 1 bạn tham gia ghi lại

 

MỞ ĐẦU

Thịnh trình bày lý do của buổi họp mặt:

· Chia sẻ thông tin nhằm tạo nên một sự cạnh tranh lành mạnh giữa các semi-finalists

· Tạo network giữa các Fulbrighters hiện tại và trong tương lai

Thịnh giới thiệu các bạn finalists năm ngoái và semi-finalists năm nay

Thịnh nói về mức độ cạnh tranh của học bổng Fulbright (có khoảng 600 hồ sơ, chọn ra khoảng 60 người vào vòng phỏng vấn, và cuối cùng sẽ có 20-25 người đươc chọn làm Fulbrighters)

NỘI DUNG CHÍNH (Q&A)

1.Có rất nhiều người apply vào các ngành khác nhau, Fulbright phân chia ngành như thế nào?
Phân chia ngành không cố định, thay đổi theo từng năm. Lưu ý có một số ngành không có trong danh sách của Fulbright, tuy nhiên nếu bạn chứng minh được khả năng của mình cũng như ngành học của bạn phù hợp với tiêu chí của chương trình thì bạn hoàn toàn có thể qua được vòng interview. (Giang-Journalism)

Fulbright tập trung vào các ngành khoa học xã hội, vì vậy những ngành liên quan đến khoa học xã hội thì bạn đều có thể apply được. Trong hồ sơ, bạn cần thể hiện rõ mức độ quan tâm của mình đến ngành nghề mình sẽ theo đuổi để thuyết phục ban giáo khảo. Ban giám khảo chấm điểm hồ sơ sẽ bao gồm 2 người Việt và 2 người nước ngoài, các bạn hãy bình tĩnh và cố gắng thể hiện tốt nhất năng lực của mình. (Duy-MBA)

So sánh Fulbright với một số học bổng khác, ví dụ học bổng ADS và Chevening (giành 50% chỉ tiêu cho khối nhà nước). Riêng Fulbright thì rất công bằng, tất cả các đối tượng đều được quyền apply, năm nay có cả những người là giáo viên cấp II cũng là Fulbrighters. Fulbright lựa chọn dựa trên năng lực cá nhân, nếu hồ sơ bạn thật sự mạnh, bạn hoàn toàn có khả năng thành công dù ngành của bạn không có chỉ tiêu. (Thịnh-MPA)

2.Một hồ sơ mạnh là hồ sơ như thế nào?

Fulbright đánh giá một ứng cử viên dựa trên rất nhiều yếu tố. Fulbright muốn tìm kiếm một change agent (một người có thể tạo ra sự thay đổi). Điều bạn cần chứng minh đó là bạn sẽ là một change agent. Trong qúa trình hoàn thiện hồ sơ, bài luận cũng là một yếu tố rất quan trọng. Ngoài ra, khi các bạn có những thành tích hay hoạt động xã hội, các bạn cũng nên thêm vào. Các bạn cũng cần trình bày được tại sao các bạn lựa chọn Fulbright, và nếu như bạn được học bổng Fulbright thì các bạn sẽ làm gì với học bổng đó (Thịnh-MPA)

Về hồ sơ, đối với Fulbright không có gì là không quan trọng, và không có gì là quá quan trọng. Không nên xem nhẹ bất cứ cái gi, không có một yếu tố nào hoàn toàn quyết định, tuy nhiên có mấy điểm bạn cần lưu ý khi làm hồ sơ. Thứ nhất, các kinh nghiệm của bạn phải phù hợp và quá trình học tập của bạn có liên quan đến ngành bạn xin học. Thứ hai, future plan của bạn cũng hết sức quan trọng, qua đó họ sẽ đánh giá khả năng của bạn có phù hợp với future plan không và future plan đó có phục vụ cho lợi ích của VN hay không. Bạn phải cân nhắc giữa điều gì VN đang cần, điều gì bạn có thể làm được, điều gì phù hợp với kết quả học tập cũng như quá trình làm việc của bạn. Thứ ba, Fulbright không tìm kiếm người giỏi nhất mà tìm kiếm người phù hợp nhất với tiêu chí mà học bổng đưa ra. Tôi biết rất nhiều người đã trở thành semi-finalists, đó là những cực kỳ giỏi nhưng sau khi nghe tin họ trượt tôi cũng hơi sốc. Khi tôi hỏi những người phỏng vấn lý do tại sao bạn đó không thành công, họ trả lời rằng bạn này chưa sẵn sàng hoặc bạn này có mục tiêu không rõ ràng. (Nam-Law)

3.Quyết định cuối cùng chọn finalists được đưa ra dựa trên hồ sơ hay là kết quả cuộc phỏng vấn? Tỉ lệ tầm quan trọng của 2 yếu tố này thế nào?

Sẽ không thể nói yếu tố nào quan trọng hơn. Trước khi phỏng vấn bạn, người ta đọc hồ sơ của bạn rất kỹ nên khi phỏng vấn bạn,họ sẽ dựa trên cả hai. Ví dụ bài luận của bạn rất hay nhưng là do bạn nhờ người khác viết. Khi vào phỏng vấn bạn không thể hiện được đúng những gì bạn đã viết trên SoP thì người phỏng vấn sẽ nhận ra ngay. (Thịnh-MPA)

Theo những thông tin từ chị Hạnh (trợ lý chương trình) và thầy Thảo (giám đốc chương trình), mình có cảm nhận rằng những người hỏi mình họ đã đọc rất kỹ hồ sơ của mình, và họ sẽ đặt ra những phản biện ví dụ như họ băn khoăn điểm gì, họ muốn làm rõ cái gì, họ muốn hỏi cái gì về mình. Đến khi phỏng vấn, tất cả những câu hỏi đó họ sẽ dồn về phía mình để mình làm rõ hơn bộ hồ sơ. Họ hỏi rất kỹ về kế hoạch tương lai của mình. Họ cũng hỏi nhiều câu hơi khó khăn cho mình. Tuy nhiên, có những người có hồ sơ rất mạnh, thể hiện cả một quá trình phấn đấu học tập và làm việc rất tốt nhưng chỉ vì trả lời phỏng vấn không được thông minh và sắc sảo, không thể hiện được hết bản thân mình (có thể thời điểm đó phong độ của họ không tốt) như thế cũng rất là tiếc bởi vì nhiều khả năng là sẽ bị đánh trượt. (Duy-MBA)

4.Thái độ khi phỏng vấn, mình nên rất là tự tin hay là tự tin vừa vừa thôi?

Phỏng vấn chỉ có một lần duy nhất, nên mình phải chuẩn bị làm sao ở thời điểm đó phong độ của mình là tốt nhất. Một bí quyết nữa đó là nên thành thật với bản thân mình, nghĩ gì thì trả lời như thế. Không nên nghĩ đến những chủ đề quá xa xôi với bản thân. Mình hiểu ở mức độ nào thì mình trả lời ở mức độ đấy, không nên tham vọng quá. Tuyệt đối đừng phóng đại. Tự nhiên, hết sứcthành thật. Trả lời thông minh và ngắn gọn. (Duy-MBA)

Thái độ khi phỏng vấn là điều rất cần cân nhắc. Mình chuẩn bị cho buổi phỏng vấn rất kỹ, mình đặt ra tất cả các câu hỏi, làm mock interview khoảng 30 lần với rất nhiều người. Gần như mình phủ kín các câu hỏi nhưng trước khi phỏng vấn thì mình hơi băn khoăn đó là có nên tỏ ra tự tin hay không. Mình nghĩ đây là một con dao hai lưỡi, phong cách tự tin của bạn sẽ tạo ấn tượng với người phỏng vấn, tuy nhiên họ cũng sẽ expect nhiều hơn ở bạn. Có thể họ sẽ hỏi những câu hỏi khó hơn. Một câu trả lời đầu tiên mà bạn làm cho họ không hài lòng, hình ảnh của bạn sẽ bị giảm hẳn xuống. Nếu bạn hơi nervous, họ sẽ nghĩ rằng có thể bạn này chuẩn bị rất tốt nhưng hôm nay hơi bồi hồi một chút thôi. Hôm đó mình chọn phong cách tự tin. Việc đầu tiên là mình bắt tay họ và đưa cho họ card visit. Mình ngồi xuống ghế cũng rất thoải mái, tuy nhiên mình cũng hơi sợ. Phương án đó nên thận trọng khi sử dụng. (Nam-Law)

Về thái độ, quan trọng nhất là các bạn phải thể hiện sự tự tin. Các bạn nhớ là khi các bạn trở thành semi-finalists là các bạn đã rất xuất sắc rồi, các bạn đã đi được nửa chặng đường tới đích. Mình nghĩ các bạn hãy thể hiện thái độ tự tin, nhưng làm sao đừng quá tự tin. Khi bạn được hỏi, hãy bình tĩnh, suy nghĩ kỹ và trả lời. Đừng lộng ngôn, đừng nói gì mình không biết. Cuộc phỏn g vấn thường kéo dài từ 30-60 phút, rất stressful. Các bạn sẽ giống như là bị tấn công, và các câu hỏi rất nhiều. Các bạn nên chuẩn bị tinh thần. Các bạn nên lưu ý điều chỉnh EQ của mình ở mức độ vừa phải thôi. (Thịnh-MPA)

Hai lỗi mà thầy Thảo nói với mình. Một số bạn khi đến ngồi phỏng vấn thì quá tự tin, chân gác lên đùi, sau đó thì tiếng chuông điện thoại reo lên. Một số bạn khác thì cứ ngồi ở mép ghế, thể hiện là bạn ý rất e dè, thiếu tự tin. Các bạn cứ ngồi thoải mái, tươi cười trò chuyện với họ. Đó là 2 lỗi cơ bản thầy Thảo có nhắc. Một điểm nữa để chứng tỏ mình tự tin đó là người VN mình rất ngại đặt câu hỏi, đặc biệt là khi phỏng vấn có thể các bạn cũng không rõ câu hỏi của người ta là gì nhưng các bạn cũng chẳng dám hỏi lại. Khi các bạn không hiểu cái gì, các bạn cứ tự tin hỏi lại. (Hương-TESOL)

Theo mình thì không nhất thiết bạn phải tỏ thái độ như thế nào. Mình cứ bình thường thôi, nếu mình tự tin thì mình cứ tỏ ra như vậy. Nếu mình là người khiêm tốn thì mình cứ như vậy. Trong quá trình phỏng vấn, mình nên quan tâm tới người đối diện với mình. Các bạn có thể hỏi “Ông (bà) có nghe tôi nói rõ không?” vì khi phỏng vấn khoảng cách giữa người phỏng vấn và mình không quá gần. Nếu mình nói quá bé hay quá to nó đều có tác động khác đến người nghe. Tốt nhất làm thế nào để người ta nghe vừa giọng mình thôi. Thứ hai, nếu bạn nào đã đọc nhiều về văn hóa Mỹ sẽ thấy không bao giờ người ta tì khuỷu tay lên trên mặt bàn, không bao giờ bắt chéo chân trong những cuộc phỏng vấn quan trọng . Eye contact cũng rất quan trọng. Có hai người phỏng vấn, hai người đó sẽ liên tục đặt câu hỏi với mình. Nên mình làm thế nào để chuyển mắt từ người này sang người kia rất firm, chứ không phải mình đảo mắt lia lịa hoặc là tập trung vào người đang hỏi mình thôi mà quên mất người kia đang ngồi nghe và chăm chú chép. (Giang-Journalism)

Khi vào vòng phỏng vấn, các bạn nên chuẩn bị một câu hỏi để hỏi ban giám khảo. Thực tế là có rất nhiều câu hỏi hay và mình chuẩn bị trước, khi mình hỏi người ta sẽ cảm thấy thú vị. Một điều nữa là trong quá trình phỏng vấn người ta ghi chép rất nhiều thế cho nên các bạn hết sức chú ý câu trả lời của mình. Nên vạch ra nhiều ideas để trả lời, để cho người ta thấy mình có những ý tưởng thế nào, dựa trên đó họ chấm điểm. Họ sẽ so sánh ý tường của mình với những người khác, nếu mình không có nhiều ý tưởng thì mức độ cạnh tranh của mình sẽ kém. (Duy-MBA)

Điều cuối cùng mình muốn lưu ý các bạn đó là speaking skill, sẽ không giống như toefl đâu. Các bạn nên rèn luyện để trả lời đối thoại bằng tiếng Anh để làm sao cái việc các bạn thể hiện bằng lời nói cũng như hành động thể hiện được sự tự tin. Ví dụ bạn đã hiểu câu hỏi, bạn nghĩ ra rất nhiều ý tường hay những các bạn không thể diễn đạt được điều đó, hoặc là các bạn diễn đạt một cách ấp úng thì người ta không thể thấy bạn thực sự thể hiện khả năng của mình. Mình khuyên các bạn nên rèn luyện speaking, đặc biệt là những bạn nào không học chuyên về ngoại ngữ và lo lắng về tiếng Anh của mình thì các bạn nên tập trung vào đấy một chút. (Thịnh-MPA)

5.Nếu như ban giám khảo hỏi mà mình không biết thì mình nói thế nào?

Mình nghĩ rằng nên nói là tôi không biết và đề nghị ông bà giải thích cho tôi. Nên chân thật nói rằng mình không biết. Họ rất nice, họ có thể giành thời gian giải thích cho mình.(Thịnh-MPA)

Câu này cũng có người gặp. Năm nay cũng có một người được hỏi là “Giữa $100,000 và học bổng Fulbright thì bạn chọn cái nào?” Bạn đó không trả lời được, bạn ấy nói “$100,000 là một số tiền rất lớn đối với tôi, trong khi Fulbright cũng là một chương trình rất thú vị. Tại thời điểm này tôi ngồi đây tôi chưa quyết định được cái gì quý giá hơn. Tôi xin nợ câu trả lời này.” Cô bé đấy vẫn đỗ. Bạn ấy gặp lại đúng người hỏi trong buổi giao lưu với các thầy cô giáo, chính người đã phỏng vấn bạn ý có nói rằng “May mà em nói rằng em không biết, chứ nếu mà em trả lời là $100,000 hay là Fulbright mà em không thuyết phục được tôi thì em cũng bị trượt.” (Duy-MBA)

6.Cấu trúc của một cuộc phỏng vấn?

Một cuộc phỏng vấn sẽ có 2 phần: phần đầu là phần họ hỏi các bạn rất nhiều, phần hai là phần các bạn hỏi lại. Nếu như phần đầu các bạn cảm thấy bị đuối, thì phần hai là phần để gỡ điểm cho các bạn. Do vậy các bạn nên hỏi những câu hỏi thực sự smart, tránh hỏi lan man thì các bạn có thể gỡ điểm rất nhiều. Và kinh nghiệm của chính bản thân mình, phần đầu của mình trôi qua rất nhanh nhưng phần kéo lại chính là phần mình hỏi ban giám khảo. Và hai người phỏng vấn mình (giống như mình hỏi đúng cái mà họ muốn) họ nói say sưa, kể hết chuyện nọ đến chuyện kia, mình ngồi nghe rất là thích thú (giống như kiểu good listener). Vì vậy các bạn lưu ý phần bạn hỏi lại là phần các bạn thể hiện bản thân rất nhiều đấy. (Thịnh-MPA)

Có một điểm nữa các bạn đã và đang đi làm rồi nên lưu ý, họ sẽ hỏi rất sâu vào công việc của mình. Ví dụ như làm về ngân hàng hay chứng khoán, người ta có thể hỏi là “bây giờ gửi vào ngân hàng nào lãi suất cao nhất” hay “đầu tư chứng khoán đầu tư cổ phiếu nào là sinh lời nhất”. Nhiều khi người ta muốn đóng vai trò là khách hàng và mình là người tư vấn. Hôm mình phỏng vấn bị một cô yêu cầu kể về một ngày làm việc điển hình. Mình nên làm chủ công việc của mình để khi người ta hỏi mình có thể trả lời thật tốt. Đặc biệt nên cập nhật những thông tin trên phương tiện báo đài mà gần đây nó hot, phải rất cẩn thận vì người ta có thể hỏi những câu hỏi như thế. (Duy-MBA)

7.Đối với từng ngành, mình nên nhấn mạnh điều gì trong hồ sơ và phần phỏng vấn của mình?

Các ngành nghề khác nhau thì có những đặc thù khác nhau. Ví dụ như ngành xã hội thì rất khó được điểm cao, vì vậy các ngành có những tiêu chí rất khó so sánh. Vì vậy để vào được đến vòng trong, các hồ sơ phải đáp ứng được tiêu chí là hết sức hấp dẫn, logic, có tình thuyết phục, và người ta đánh giá được triển vọng của mình. Làm thế nào để người ta đánh giá là mình có triển vọng và sau này khi mình trở về VN thì mình có thể gây tầm ảnh hưởng đến những người khác. Về MBA, với kinh nghiệm là việc của mình bạn có thể biết được những bất cập trong ngành của mình, có rất nhiều thứ người ta có thể hỏi bạn. (Duy-MBA)

Như mình nói Fulbright họ mong muốn tìm người thể hiện cái trăn trở, khao khát của bạn và bạn nói rằng Fulbright sẽ giúp tôi giải quyết những vấn đề đó. Khi mình apply MPA, mình cũng nói những quan tâm của mình trong bộ hồ sơ ví dụ như về chính sách ở VN, các chương trình của chính phủ, xóa đói giảm nghèo… Mình nói rằng mình muốn học ngành này để khi trở về có thể áp dụng vào thực tế. Nếu bạn muốn focus vào điều gì đấy, thì trong hồ sơ bạn cũng nên nói luôn định hướng nghiên cứu của mình vào lĩnh vực gì, ở góc độ thế nào. Nếu bạn càng specific, càng clear thì họ sẽ thấy rằng con đường bạn lựa chọn là con đường đã được định hướng rõ ràng rồi, có nhiều supporting points trong lựa chọn đó chứ không phải là một lựa chọn hú họa, thích thì chọn. (Thịnh-MPA)

Nói về làm bài luận, có mấy điểm cần lưu ý với các bạn. Khác với các bạn xin học bổng trực tiếp ở trường, đó là những học bổng tìm kiếm những người xuất sắc nhất, còn với Fulbright, họ tìm kiếm những người phù hợp nhất. Cách tiếp cận truyền thống nhất đối với học bổng Fulbright đó là bạn chọn một vấn đề gì trong ngành của bạn, bạn cho là cái đó bất cập, bạn nói rằng tôi cần phải đi học về để tôi góp phần vào sửa cái bất cập đó. Ví dụ mình chọn cách tiếp cận là hệ thống văn bản pháp luật ở VN được ban hành rất nhiều, nhưng có nhiều lộn xộn. Tôi đã đóng góp nhiều cho vấn đề góp ý các văn bản pháp luật nhưng tôi nghĩ là nếu tôi có được kiến thức sâu rộng hơn từ Mỹ về tôi sẽ góp ý tốt hơn. Bạn hãy gắn bạn với sự phát triển của đất nước. Một cách tiếp cận khác, có một bạn viết về việc bạn ấy thích ban nhạc F4, đi một hồi đến khổ cuối bạn ấy khóa lại là tôi muốn học về bảo vệ bản quyền. Tất cả những điều trên tường chừng như không có vẻ liên quan thì một khổ cuối khóa lại tất cả những điều đó lại. Nhưng phải rất cẩn thận khi tiếp cận theo cách này vì nó đòi hỏi nhiều thời gian đầu tư và cả sự sáng tạo. Bình thường thì mình khuyên các bạn nên đi theo cách tiếp cận truyền thống kia. (Nam-Law)

8.Làm thế nào để khống chế sự căng thẳng?

Không nên nghĩ ngợi qua nhiều, bởi vì mình càng nghĩ nhiều về chủ đề phỏng vấn thì mình càng thấy run. Mình sợ người ta hỏi những câu hỏi khó mà nó vượt quá tầm hiểu biết của mình, nếu cứ theo cái hướng đấy thì cảm thấy rất là mất tự tin. Và tốt nhất cứ để cho đầu óc nhẹ nhàng, thư thái, mình biết đến đâu thì mình trả lời đến đấy. Bạn cứ yên tâm trong buổi phỏng vấn họ sẽ tạo cho mình một không khí hết sức thân thiện. Fulbright khác các học bổng khác ở chỗ là họ tạo cho mình một không khi mà mình có thể là mình, mình sẽ cảm thấy rất thoải mái, không bị gò bó, ép buộc gì hết. Mình cứ nghĩ theo hướng là người ta chỉ hỏi những câu hỏi để làm rõ hồ sơ của mình, không có gì phải căng thẳng cả. Có một câu hỏi quan trọng nữa là “Bạn có về VN hay không?” Đương nhiên sẽ phải về nhưng người ta vẫn cứ hỏi câu đấy. (Duy-MBA)

Một bí quyết khác đó là chuẩn bị thật kỹ. Trước khi bạn đi phỏng vấn, hãy chuẩn bị tất cả những câu hỏi họ có thể hỏi, đồng thời sau khi trả lời những câu hỏi đó lại nghĩ ra những câu hỏi có thể liên quan đến câu trả lời của bạn. Mình cũng soạn ra đến hàng trăm câu hỏi, nhưng vẫn bị lọt 2-3 câu. Nhưng mình cũng học thuộc quá nên sợ là đi phỏng vấn không được tự nhiên. Bạn cũng nên nhờ những người khác làm mock interview cho bạn, nó sẽ tạo cho bạn thói quen đó là phản ứng nhanh khi nhận được câu hỏi. Cuối buổi mock interview hãy hỏi xem cảm giác của người đối diện về bạn như thế nào, có cảm thấy bạn tự tin không, tiềm năng không, có cảm nhận bạn sẽ là người đóng góp cho VN không. Nếu họ trả lời có, chắc bạn sẽ đỗ đấy! (Nam-Law)

Trước ngày phỏng vấn mình đánh game Đế Chế. Tất nhiên nhưng ngày trước các bạn nên chuẩn bị. Nhưng đến ngày cuối cùng trước ngày phỏng vấn bạn nên relax một chút cho tâm lý thoải mái. (Thịnh-MPA)

9.Tầm quan trọng của future plan thế nào?

Như các bạn biết, học bổng Fulbright yêu cầu các bạn học xong quay về VN 2 năm. Trong một cuộc nói chuyện, thầy Tháo có nói rằng “Liệu việc đóng góp cho đất nước có nhất thiết cứ phải là về VN hay không?” Các bạn có thể ở lại làm giàu, có thể đóng góp về chính sách, tác động về chính sách một cách hiệu quả. Future plan các bạn thể hiện rất quan trọng, bởi vì Fulbright đầu tư cho các bạn về giáo dục thì họ cũng mong muốn hiệu quả đầu tư đó được thể hiện ra như thế nào. (Thịnh-MPA)

10.Nếu bạn muốn mang đến sự thay đổi, nhưng cơ chế không cho phép bạn thay đổi thì bạn làm thế nào?

Khi apply Fulbright, future plan của mình rất quan trọng , thường thì phải ambitious một chút theo nghĩa là không chỉ cho cá nhân mình mà nó cần có tầm ảnh hưởng tương đối vĩ mô. Khi điều các bạn muốn làm có tầm vĩ mô như thế, các bạn có thể gặp khó khăn về mặt cơ chế chính sách, luật định, hay môi trường văn hóa không cho phép bạn làm đó cũng là những điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, nếu bạn phỏng vấn tôi, tôi sẽ nói như sau “Đúng là câu hỏi đó nếu các bạn đặt ra cách đây khoảng 20 năm, hay nói rõ hơn là trước năm 1986 khi vẫn còn nền kinh tế kế hoạch hóa thì câu trả lời là rất khó để có tầm ảnh hưởng vĩ mô. Nhưng theo tôi, ở điều kiện kinh tế xã hội như hiện tại nếu bạn muốn mở một công ty riêng, hay một cơ sở giáo dục đào tạo, một tổ chức nào đấy và bạn áp dụng kiến thức của mình vào, nếu bạn thực sự quyết tâm, tôi nghĩ bạn sẽ thành công. Có thể không thật sự lớn, nhưng dù sao bạn cũng làm được một phần cái bạn muốn. Và hơn nữa bạn sẽ lôi kéo được những người cùng tâm huyết với mình để làm điều đó. Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện tại, bạn hoàn toàn có thể làm được những gì bạn muốn.” Ví dụ trước đây để đóng góp cho giáo dục là rất khó khi 100% các trường đại học đều là state-owned hay public cả thì rõ ràng bạn không thể apply new ideas vào đó. Nhưng bây giờ có khoảng 30 trường dân lập và ở đó họ sẵn sang tiếp nhận những tư tưởng quản lý mới, những cách thức tiếp cận giải quyết vấn đề mới thì bạn hoàn toàn có cơ hội giải quyết vấn đề của mình. Trong giáo dục đã như vậy rồi thì theo tôi nghĩ trong lĩnh vực kinh tế hay khoa học kỹ thuật khác bạn hòan toàn có cơ hội. (Duy-Education Management)

Đây là câu hỏi tôi đã gặp trong buổi interview của tôi. Tôi nhớ đến một lần thầy Thảo có nói với tôi cũng như các Fulbrighters ở đây là “Thầy cũng như mọi người ở đây đều muốn đi đến một cái đích cuối cùng, mỗi người ở đây như là một điểm sang, mà từ điểm sáng này có thể đi đến điểm sáng kia nhanh hơn. Chứ không giống như đi một quãng đường xa với những phương tiện thô sơ mà mình có. Nhưng người đi học về sẽ là những điểm sáng nhỏ và giúp cho mình đi nhanh hơn về đích. Theo tôi hiểu, bạn sẽ tạo ra thay đổi nho nhỏ và cùng với người khác bạn sẽ làm cho nó lớn hơn. Ví dụ một bài báo này người ta chắc chắn là không cho đăng vì đây là báo nhà nước, nhưng tôi sẽ thương lượng với sếp của tôi. Có thể tuần này không được đăng, nhưng ngày hôm sau tôi lại thương lượng lại cho đến khi nào đến gần hơn với mục đích của tôi. Tôi tạo ra thay đổi nào đó thay vì việc là tôi không làm gì cả. (Giang-Journalism)

Về mặt tác động, contribution, hay là thay đổi theo mình nghĩ đúng là một cá nhân khó có thể nào thay đổi mọi thứ nhưng nếu chúng ta kết hợp lại với nhau, nó sẽ mang đến một sức mạnh chung. Chính vì thế tâm huyết của mình là xây dựng một cộng đồng Fulbrighters. Tất cả các Fulbrighters đều có chung một tâm huyết thì các bạn nên liên kết lại với nhau, sức mạnh tổng hợp đó sẽ có tác động rất lớn. Ở góc độ cá nhân, mình nghĩ rằng không thể một sớm một chiều mang lại sự thay đổi. Nhưng về cá nhân nếu mình raise cái voice của mình lên, hoặc mình thay đổi bản thân mình trước tiên, mình thấy được những tác động tốt đối với bản thân mình, người khác họ sẽ đi theo cái thay đổi đó. Dần dần sự thay đổi đó sẽ lan tỏa. (Thịnh-MPA)

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

Minh Bùi tên đầy đủ là Bùi Quang Minh tên thường gọi là Minh Beta, sinh năm 1983 là một người bạn của Thịnh. Minh Bui apply học bổng Fulbright nhưng sau đó lại xin học bổng của trường Harvard chứ không lấy Fulbright nữa. Dưới đây là bài viết tóm tắt quá trình apply MBA và chia sẻ kinh nghiệm của Minh Bui. Minh nghĩ sao viết vậy, hy vọng giúp ích được ít nhiều cho các bạn sẽ apply những năm tới.

 

 

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

 

… Gọi là giấc mơ Harvard vì cái tên này là ước mơ của mình từ khi còn học high school ở Ams. Lúc đó nó chính xác là một giấc mơ, rất rất xa vời. Đến giờ, khi nghĩ đến việc mình sắp được sang Harvard để học MBA, mình vẫn còn lâng lâng :D.

 

Disclaimer: Cái note này ghi chép lại những kinh nghiệm cá nhân của mình trong quá trình apply để đi học MBA. Những đánh giá và nhận định ở đây có thể mang tính chủ quan. Mình viết bài này để dành riêng cho mình, và cũng mong muốn chia sẻ một chút gì đó với các bạn đi sau. I tend to rant, so bear with me. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng nhé 😀

 

Quick facts (cho các bạn chưa biết về MBA):

  1. MBA là gì: MBA = Master of Business Administration, tức là Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh. Khác với các bằng thạc sĩ khác, MBA đa số đều yêu cầu bạn có kinh nghiệm làm việc một vài năm. Bạn không cần phải có background về business/economics để học MBA, hầu như ngành nào cũng có thể theo học MBA.
  2. GMAT là gì: GMAT là một bài test mà hầu hết các trường danh tiếng đều yêu cầu khi bạn apply học MBA
  3. Học MBA làm gì: Để nâng cao kiến thức về lĩnh vực quản trị & kinh doanh (duh), để chuyển từ công việc chuyên môn lên các vị trí quản lý, để được tăng lương (nếu bạn xác định muốn đi làm cho các công ty/tập đoàn sau khi tốt nghiệp) hoặc để nâng cao kỹ năng về business start-up nếu bạn muốn làm riêng.
  4. Bằng MBA khá có giá trị, nhất là các trường top. Ví dụ như các sinh viên của Harvard và Stanford khi tốt nghiệp có rất nhiều cơ hội việc làm, với mức lương khởi điểm trung bình lên tới $140,000 một năm chưa kể bonus cuối năm.  Vì nó có giá trị nên rất nhiều người muốn theo học, như Stanford có đến hơn 7000 hồ sơ xin học cho lớp học hơn 300 sinh viên, mà toàn là các nhân vật hoành tráng apply cả.

 

I.               MY STATS:

 

–       Mình qua Úc học bằng học bổng AusAID của chính phủ Úc, tốt nghiệp Sydney University năm 2007 với bằng 1st class honors, có một vài awards và học bổng của trường.

–       GMAT 750 (Q50, V41) or 98 percentile.

–       TOEFL được waiver nhưng lúc thi để nộp Fulbright là 113/120 TOEFL iBT.

–       Work: 2 năm làm research/trading commodities ở Louis Dreyfus Commodities (công ty MNC về commodities, gốc Pháp, văn phòng ở Singapore), sau đó về VN mở business riêng (DOCO Donuts & Coffee), rồi vừa run biz vừa rejoin LDC, văn phòng ở Việt Nam (senior position).

–       Extra: Vice President của hội sinh viên VN ở NSW, Úc (VDS), tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, một vài giải thi hát, 1 bài hát đã released, tham gia 1 vài dự án phim ảnh linh tinh…

 

II.              KẾT QUẢ APPLY:

 

(Khi viết tên các trường mình sẽ mở ngoặc kèm theo Rank xếp hạng chương trình, theo US News 2013 để các bạn dễ hình dung, ví dụ Harvard (#1) và Stanford (#1) vì 2 trường này đồng hạng cao nhất trên US News)

 

–       Tháng 4/2011, mình apply học bổng Fulbright (học bổng toàn phần của chính phủ Mỹ). Tháng 9 thì nhận được học bổng này. Bước tiếp theo là apply vào các trường.

–       Fulbright đứng ra apply cho mình vào 4 trường: Stanford (#1), UC Berkeley (#7), UCLA (#15), và Emory (#19).

–       Cả 4 trường này mình đều phải làm hồ sơ như 1 applicant bình thường. Ngoài ra mình còn tự apply thêm nhiều trường nữa – tổng cộng là hơn 10 trường, tất cả đều cùng một Round với deadline trong tháng 1/2012. Lý do: Sợ là không vào được trường nào, apply nhiều cho chắc. Lúc đó mình đang có học bổng Fulbright nên sống chết cũng phải vào được 1 trường nào đó.

–       Kết quả: mình được nhận vào tất cả các trường mình applied (Harvard, Stanford, Wharton, Berkeley Hass, Cambridge, Chicago). Đa số các trường đều cho $$$. Có một vài trường mời đi phỏng vấn thì mình từ chối vì lúc đó đã có Admit của các trường mình thích hơn rồi. Đa số các trường đều cho học bổng. 3 trường xếp hạng cao nhất là Stanford (#1), Harvard (#1),  và Wharton của U.Penn (#3) release kết quả vào 3 ngày liên tiếp là 28, 29, 30 tháng 3 (!)… và mình được Admitted vào cả 3 trường. Rất rất hài lòng với kết quả này, vì thật sự thì đây là một điều khá ít khi xảy ra, kể cả với các bạn Mỹ. I’m really proud of this achievement.

 

III.            VÀI KINH NGHIỆM CHUNG

 

1.     Start early:

–       Nếu mình có lời khuyên nào cho các bạn, thì lời khuyên quan trọng nhất là hãy chuẩn bị càng sớm càng tốt. Nếu bạn xác định được là mình muốn theo học MBA thì bạn sẽ chú ý để luyện tiếng Anh nhiều hơn, có thêm thời gian học GMAT, đạt kết quả học tập ở bậc đại học tốt hơn, và chăm chỉ tham gia các hoạt động ngoại khóa hơn…

–       Đến giai đoạn nước rút thì thời gian càng quan trọng. Mình chỉ có 2 tháng để thi lại GMAT và viết essays, and I kick myself often for delaying all this until the last minute.

 

2.     Aim high:

–      Năm 2011, khi đã xin được học bổng Fulbright, mình còn không có ý định apply lại vào Harvard vì tự nhiên lúc đó thấy lười biếng và nghĩ thôi học trường nào cũng được. Đó là lý do mình không ôn lại GMAT sớm hơn và không apply trường nào ở Round 1. Đến khi bắt đầu apply ở Round 2 thì càng ngày càng máu và lúc đó mới quyết tâm apply vào Harvard và Stanford. Lúc này thời gian không còn nhiều nữa, mình vừa phải đi làm, vừa phải ôn GMAT và vừa phải viết essays trong khoảng thời gian rất ngắn.

–       Nếu tâm lý mình không thay đổi kịp, thì mình đã không apply vào Harvard và Stanford, và mình cũng không lo thi lại GMAT hay chắm chúi đầu tư vào essays. Không apply thì đương nhiên không được nhận.

–       Do đó, mình khuyên các bạn chuẩn bị sớm và aim high để đạt kết quả tối ưu.

 

3.     Know your story and be focused:

–       Mình khá là may mắn vì các công việc và ngành học của mình lại rất liên quan đến nhau. Nói là may mắn vì mình không plan trước những việc này, mà toàn là hứng lên thì theo, may thế nào lại vẫn liên quan 😀

–       Nếu các bạn xác định được từ sớm, thì bạn hãy nhìn sự nghiệp của mình như một cái cây đang lớn thẳng. Hãy biết bạn đang ở đâu, bạn đang mọc như thế nào và bạn muốn vươn đến đâu. Các công việc của bạn nên nằm trên đường thẳng đó, hoặc là đừng có chệch quá và đừng nhảy lung tung. Nếu bạn thay đổi liên tục, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi giải thích những quyết định này – Admissions people sẽ nghĩ quyết định học MBA của bạn cũng là 1 cái random choice.

–       Sẽ tuyệt vời hơn nữa nếu bạn kết nối được cái cây đó đi xa hơn nữa, đến những điểm bắt đầu là tuổi thơ, là quá khứ, là cội nguồn, là những mong ước thơ bé của bạn. Nếu đường thẳng đó chạm được đến những cái gốc rễ sâu kín nhất thì nó sẽ vững chắc hơn nhiều, và như một cái cây có gốc, nó sẽ dễ đơm hoa kết trái hơn!

–       Ví dụ như câu chuyện của mình: Mình học đại học với 3 majors, gồm có Economics, Finance và Agribusiness. Công việc của mình ở Louis Dreyfus là về commodities (research và buôn bán đường, coffee, oilseeds… cả futures contracts lẫn physical products). Mình đã start-up DOCO Donuts & Coffee – về lĩnh vực thực phẩm ăn uống. Khi viết essays, mình đã nhắc đến quá khứ nghèo khó của gia đình, khi mà thực phẩm là nỗi ám ảnh và là mong ước hạnh phúc. Mình đã nhắc đến những người họ hàng gần còn nghèo khó, phải chạy bữa hàng ngày. Và mình nói về kế hoạch trong tương lai: làm về food processing, để bring customers food and happiness, để tạo việc làm cho nhiều người và để benefit Vietnam’s agriculture.

 

4.     However, be fun

–       Sự nghiệp của bạn nên là 1 cái cây lớn thẳng, nhưng bạn nhớ tô màu cho nó. Đừng quá tập trung vào việc học tập và công việc mà quên đi các lĩnh vực khác.

–       Hãy là một leader trong mọi lĩnh vực, kể cả trong hobby của bạn. Đối với mình, mình thích âm nhạc và hát hò, nên cái hobby này đã đi suốt với mình từ khi mình còn học đại học. Hãy dùng mọi resouces của bạn để vừa enjoy cái hobby đó, vừa làm được điều gì có ích và phát triển kỹ năng leadership của mình.

–       Trong bài essays và khi phỏng vấn, Ad-com tỏ ra rất quan tâm khi mình viết về dự án âm nhạc của mình (Việt Nam ơi). Thậm chí họ còn mở bài hát trên youtube ra xem :D.

–       Mình nghĩ ad-com đánh giá cao các ứng viên năng động, dám sống hết khả năng với các lĩnh vực mình quan tâm.

 

5.     Be humble, personal and sincrere

–       Khi làm hồ sơ xin học, nhất là cho các trường top, nhiều bạn có tâm lý là phải gồng mình lên để thể hiện. Don’t. Hãy để các con số và các thông tin khác trong Data Sheet tự nói lên các thành quả của bạn, đừng kể lể quá nhiều về chúng.

–       Các trường rất kị các ứng viên arrogant. Họ muốn tìm các ứng viên khiêm tốn và thành thật. Họ muốn thấy bạn đã có những thành công nhất định nhưng lại rất open to learn, và willing to change.

–       Khi viết essays, mình viết nguyên 1 bài essay khá personal, lead bằng cái tên Minh Beta. Mình giải thích tại sao mình chọn cái tên này, và nó liên quan gì đến cách suy nghĩ và nhìn nhận của mình. Đây là 1 đoạn trích trong bài essay cho Harvard:

 

Answer a question you wish we’d asked? (400 words)

 

I wish you’d asked: “Why do you often go by the name Minh Beta?”

 

I have used this pseudonym for years to distinguish myself from others named Minh Bui, a popular Vietnamese name. I appreciate that Beta refers to an “unfinished” product, which resonates with my life’s philosophy; I consider myself a “work in progress” and a change agent, constantly seeking self-improvement and subsequently creating positive societal change.”

 

6.     Apply for as many as you can!

–       Nhiều người sẽ khuyên bạn là nên tập trung vào 1 vài trường thôi. Mình thì nghĩ khác. Chiến lược của mình là tập trung apply vào 3-4 trường chính, nhưng rải hồ sơ khắp nơi. Kinh nghiệm của mình là các trường thường hỏi nhưng câu essays khá giống nhau, nếu không giống thì cũng biến tấu từ essay này sang essay kia được, và không mất quá nhiều thời gian. Tất nhiên là cái này tùy vào goal của từng bạn, và đương nhiên là đừng mất công apply vào trường nào bạn không định đi học nếu được nhận. Apply vào nhiều trường thì khả năng được nhận vào trường tốt của bạn sẽ cao hơn.

–       Mình apply cả chục trường, và dùng bài luận của Berkeley và Harvard làm gốc để phát triển ra essays của các trường khác. Trong tháng 1/2011, trung bình 2 ngày mình apply 1 trường. A lot of copy and paste! Nhưng đương nhiên là mình phải nhào nặn cho khớp câu hỏi của từng trường. This strategy worked for me.

 

IV.            CÁC YẾU TỐ RIÊNG

 

1.     GMAT

 –       Mình không có bí quyết ôn thi gì đặc biệt, nhưng mình khá là thích GMAT vì nó rất “smart”. Vì thích nên mình cảm thấy học cũng dễ vào hơn.

–       Mình recommend các bộ sách: Official, Manhattan và Sentence Correction Bibble. Trang web của Manhattan với các bài tests cũng rất hay và sát với bài thi thật.

–       Kỹ năng quan trọng bậc nhất của GMAT là quản lý thời gian. Cái này tuy đơn giản nhưng bạn phải thật sự kỷ luật. Mình thi GMAT mấy lần mà khi thi lần cuối vẫn không thật sự gò mình theo biểu đồ thời gian hợp lý được, vẫn bị tâm lý la cà và “làm cố” để đúng.

 

2.     Resume

 –       Ngắn gọn hết sức. Resume của mình nộp cho các trường chỉ 1 trang. Năm nay Harvard thay đổi essays ngắn hơn năm ngoái rất nhiều, nên Resume có lẽ phải dài hơn. Nhưng dù gì thì cũng mình nghĩ không nên để Resume quá dài.

–       Dùng “Action verbs”, các từ mạnh, mang tính tích cực. Tham khảo: http://www.ocs.fas.harvard.edu/students/resources/resume_actionwords.htm

–       Cố gắng miêu tả thành quả và kinh nghiệm bằng các con số và chỉ số cụ thể mang tính định lượng. Đừng miêu tả chung chung.

–       Nếu có thể thì hãy viết resume để nêu bật được định hướng và khả năng về leadership của bạn.

 

3.     Essay

 –       Liệt kê tất cả những gì bạn muốn chuyển tải ra và tìm cách “nhét” chúng vào các câu trả lời Essays. Một hướng tốt là liệt kê các câu chuyện theo nhiều chiều, nhiều phương diện. Các câu chuyện của bạn nên phản ánh nhiều chiều về cuộc sống của bạn, về thời gian (cũ vs gần đây), lĩnh vực (công việc v.s sở thích), cá nhân v.s cộng đồng…

–       Hãy nhớ là Data sheet đã chuyển tải được khá nhiều thông tin về bạn, nên đừng phí nhiều word count ở Essay để lặp lại thông tin.

–       Do not brag! Tell things the way they are. People will be impressed if your stories are impressive.

–       Cố gắng viết súc tích và truyển tải càng nhiều thông tin càng tốt. Mình đã bỏ rất nhiều thời gian để dò từng

chữ một, cân nhắc chữ nào cần chữ nào không. Vì bạn chỉ có ngần đó chữ, make them count!

–       Khi viết essay và chuẩn bị hồ sơ, hãy tiên lượng những mối băn khoăn người đọc sẽ hỏi về bạn. Tại sao bạn lại chọn công việc này? Tại sao bạn bỏ việc kia? Tại sao bạn thích hát mà không đi làm ca sĩ chuyên nghiệp… Bạn chỉ có một cơ hội để giải thích những điều này trong hồ sơ. Nếu Adcom (Admissions Committee) có băn khoăn điều gì thì họ cũng sẽ không có cơ hội hỏi bạn – until U get an interview. Mà với các trường top thì họ có quá nhiều good applicants – they simply wont take the risk.

 

4.     Interview

 –       Tùy trường, nhưng theo mình thì Interview chỉ để họ hiểu thêm về bạn. Tất nhiên cũng tùy từng trường hợp, nếu application của bạn thật sự tốt thì Interview chỉ để confirm điều này. Cũng có thể là họ thích hồ sơ của bạn nhưng có một vài thắc mắc… hoặc là họ đã định cho bạn Out nhưng muốn cho bạn thêm một cơ hội cuối cùng. Nhìn chung thì Interview không mang quá nhiều sức nặng – trừ khi bạn perform exeptionally well/badly, đó là cảm nhận của mình.

–       Lời khuyên này bạn sẽ nghe nhiều & thấy nhàm, nhưng vẫn đúng: Just be yourself. Các trường chỉ muốn thấy bạn là người tự tin, có common senses, nhanh nhạy và có thể survive in the business world.

–       Nhưng đồng thời, preparation is the key. Khi chuẩn bị phỏng vấn cho Harvard, mình đã list ra tất cả các điều trên trời dưới bể họ có thể hỏi và ứng phó thử, để nếu không may họ hỏi một vài câu hỏi cắc cớ thì mình không bị động. Cuối cùng thì buổi phỏng vấn diễn ra rất tự nhiên, như là coffee chat vậy (thank god!).

 

Mình cũng chỉ biết đưa ra các lời khuyên chung chung như vậy để các bạn tham khảo. Nếu bạn nào có câu hỏi cụ thể thì có thể tham gia vào buổi Coffee Chat tại Hà Nội vào ngày 26/6 tới.

 

Nguồn: Minh Bui (Minh Beta)

 

IIE bị cáo buộc vi phạm quy định về chi tiêu khi quản lý chương trình Fulbright

Institute Accused of Falsely Reporting How It Spent State Dept. Funds Settles Lawsuit for $1-Million

APRIL 16, 2012

The Institute of International Education has paid $1-million to the U.S. government to settle a lawsuit that accused the nonprofit organization of falsely reporting how it spent State Department funds over eight years. The investigation involved a whistle-blower within the institute, who said she first raised concerns about financial procedures to her superiors and had received unfair treatment as a result.

The lawsuit was filed by Preet Bharara, U.S. attorney for the southern district of New York, and was settled in June 2011. The settlement went largely unnoticed at the time but began circulating among international educators last week. While alleging violations of the False Claims Act, the suit does not accuse institute staff members of pocketing federal dollars for personal gain but instead paints a portrait of improper accounting practices that allowed the institute to squeeze every dollar from the grants it received.

The complaint says the organization inaccurately reported labor costs while managing various international scholarships under the State Department’s Fulbright Program. Instead of keeping records on how much time employees actually spent working on Fulbright grants, the complaint says the institute told its employees to fraudulently charge their time based on predetermined percentages. It also says the organization shifted funds between grant programs so it could use up all available money. (The government required that leftover funds be returned.)

“Over an eight-year period, the program’s administrator did not comply with grant requirements and repeatedly made false claims for payment,” Mr. Bharara said in a statement shortly after the settlement was reached. According to his office, the institute did not change its practices until it discovered it was under investigation in 2008.

The institute is a major player in international education, organizing educational training programs for universities, overseeing scholarship programs, and providing emergency funds to help scholars in dangerous parts of the world. According to its 2011 annual report, it had 600 staff members in 17 offices worldwide and a budget of $326-million, 66 percent of which came from the federal government.

The institute released a brief statement Friday in response to an interview request by The Chronicle.

“We worked closely with the Justice Department to understand and address the time-recording practices in question—and we have implemented effective remedial measures to prevent recurrence,” the statement said. The institute also said independent accountants had reported that the value of the actual work it performed exceeded what the government paid, and that the government has confirmed that the nonprofit remains fully qualified to continue receiving federal grants.

The State Department declined to comment.

The investigation was prompted by a complaint first filed in 2007 by Rachel Goldberg, an employee of the nonprofit international-education institute at the time. Ms. Goldberg, who was part of the foreign-students division, says she complained to her supervisor and others in 2003 that the institute was improperly including so-called supplemental benefits, which include books and computers, in accounting for funds meant to pay for Fulbright students’ tuition and fees. In addition, the complaint says the institute used funds meant for seminars and enrichment grants for supplementary benefits instead.

Saying her protests were rebuffed, Ms. Goldberg sent an e-mail message to the State Department about the problems. As a result, the agency stopped providing funds for supplemental benefits.

Mary E. Kirk, who at the time was the institute’s vice president for student exchanges, told Ms. Goldberg “that she should not have sent the e-mail and should have left the matter to her superiors at IIE,” according to the complaint. What’s more, Ms. Goldberg said she had “been ostracized, her staff had been reduced, and she has incurred unwarranted negative performance evaluations.”

As part of the settlement and as a reward for her exposing the accounting practices, the government gave Ms. Goldberg $170,000, which was taken out of the $1-million paid to the government by the institute.

According to her lawyer, Timothy J. McInnis, she no longer works for the institute. Ms. Kirk is now senior counselor for academic exchanges in the office of the president. Aside from the statement about the settlement, the institute declined to comment further on the complaints against it.

Source: https://www.chronicle.com/article/Institute-Accused-of-Falsely/131563

Từ kẻ ngỗ ngược thành học giả Fulbright

“Câu chuyện của tôi bắt đầu từ khi là cậu học sinh lười biếng, ngỗ ngược. Tôi đã nuôi dưỡng giấc mơ du học đến khi cánh cửa đại học Mỹ mở ra với mình”, Nguyễn Bá Trường Giang viết.

Tôi sinh ra ở làng quê ngoại thành Hà Nội. Hồi nhỏ, tôi lười học, đến lớp không bao giờ nghe giảng, chỉ mang vở ra vẽ. Có lần, tôi trèo lên nóc nhà giám hiệu, phi máy bay giấy bay lượn. Tôi cứ thầm ước sau này cũng bay cao, bay xa, dù khi ấy học dốt.

Tuổi thơ ngỗ ngược

“Thôi con ạ, con học dốt thế này, suốt ngày lêu lổng, học võ, đánh nhau, tụ tập thì chẳng hy vọng gì đâu”, mẹ đã nói như vậy cách đây đúng 24 năm, khi tôi học lớp 9.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 1
Nguyễn Bá Trường Giang tại lễ tốt nghiệp đại học.

May mắn đỗ vào cấp 3, tôi vẫn tiếp tục… đánh nhau, đốt pháo, nhiều lần bị đuổi học. Năm lớp 11, người bạn thân rủ tôi đi học tiếng Anh để bố cậu ta xin cho vào làm khách sạn. Cuộc đời cậu bé ngỗ ngược bắt đầu thay đổi từ đó.

Tôi và bạn đạp xe đến trung tâm tiếng Anh học giáo trình Streamline A. Hôm đầu vào lớp, nghe thầy nói tiếng Anh, tôi choáng lắm.

Bố mẹ rất vui vì 16 năm qua mới thấy con tôi học. Bố ra trường Sư phạm Ngoại ngữ mua cho băng cát-xét giáo trình Streamline A, B, C. Tôi nghe 1 tháng hết cả ba giáo trình. Chị tôi học trong Nam ra, mang cho cuốn từ điển bé xíu, tôi tra nát cả từ điển, đánh dấu nguệch ngoạc.

Học hết cấp 3, tôi thi đỗ hai trường đại học với điểm khá cao khiến người thân và bè bạn đều ngỡ ngàng. Ai cũng biết đến năm lớp 11, tiếng Anh của tôi chỉ 3,9, đến lớp 12 đã là 8,9.

Nuôi ước mơ du học

Tôi kể câu chuyện về hành trình vươn lên từ một cậu bé lười nhác, ngỗ ngược để nhắn nhủ các bạn trẻ hãy nuôi dưỡng ước mơ, để bước tới cánh cửa du học. Các bạn trẻ hãy quyết tâm, thành công rồi sẽ đến.

Tốt nghiệp đại học, tôi làm giảng viên tiếng Anh và đi dịch kiếm tiền. Đây chính là thời gian tôi rèn luyện, tu dưỡng bản lĩnh để chuẩn bị cho chuyến xuất ngoại đầu tiên của mình.

Tôi học say mê, nghỉ hè cũng lao vào học. Khi tốt nghiệp, tôi đã có hơn 10 cuốn sổ đầy ắp từ mới. Chiếc cát-xét bố mua tặng đã bị gãy nút “tua” vì nghe quá nhiều.

Từ bé, tôi đã mơ thấy cánh cửa đại học Mỹ mở ra. Đến một ngày, có người chị gái thân thiết làm ở Đại sứ quán Mỹ, khuyên tôi xin học bổng Fulbright. Tôi cũng chẳng nghĩ mình đạt được, vì học bổng này rất giá trị. Tôi vẫn đăng ký và được gọi đi thi tiếng Anh. Với sở trường ngoại ngữ, tôi vượt qua các vòng thi tuyển thuận lợi.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 2
Nguyễn Bá Trường Giang và nhóm Fulbrighter 2007 tại nhà Đại Sứ Michael W.Marine.

Bài luận của tôi nói về Việt Nam, về những khó khăn của thế hệ chúng tôi, tình hình chung của đất nước. Tôi thể hiện một niềm tin chắc chắn về tương lai của Việt Nam và kế hoạch tương lai của mình. Tôi hứa đi học về sẽ đóng góp hết lòng để phát triển đất nước. Quy định của Fulbright chỉ cho 800 chữ, nhưng tôi viết gần 2.000 chữ rồi kẹp vào hồ sơ.

Sau này, nhiều người nhờ tôi sửa giúp bài luận khi du học. Trong số đó, có người vào Đại học Harvard, Đại Học Luật Fordham, Michigan (Mỹ). Một em đỗ Đại học Oxford (Anh).

Trở thành học giả Fulbright

Đến vòng phỏng vấn xin học bổng, hai người phỏng vấn tôi, một người Mỹ và một người Việt, mặt mũi nghiêm trọng lắm. Có nhiều ứng viên gặp họ đã run, không biết bắt đầu thế nào. Tôi vào phòng, nhìn hai vị, cười tươi và chào họ. Không đợi họ hỏi, tôi bắt đầu câu chuyện ngay bằng câu hỏi xã giao: “Ông sang Việt Nam lâu chưa? Thời tiết oi bức quá, ông có quen không?”.

Chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Vị giáo sư đó hỏi: “Trong bài, tôi thấy em viết câu này, em có quan điểm thế nào mà viết thế?”. Tôi trả lời: “Tôi xin đính chính là không viết như thế…”. Người đó mỉm cười.

Sau này tôi mới biết đó là thủ thuật để xem người đối diện có phải tác giả thực sự của bài viết không. Chúng tôi ngồi nói chuyện về kinh tế Việt Nam, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực…

Tôi giành học bổng Fulbright trong sự vui mừng của gia đình và bạn bè. Sau một năm chuẩn bị, tôi được nhận vào trường Cornell, một trong 8 đại học thuộc nhóm Ivy-League (Havard, Yale, Princeton, Cornell, Dartmouth, Brown, Colombia, Pennsylvania). Các trường này có chất lượng giáo dục rất tốt.

Nguyễn Bá Trường Giang là học giả Fulbright, tốt nghiệp khoa Kinh tế, Đại Học Cornell, New York và khoa Luật, Đại học Luật Boston, Mỹ.

Trường Giang từng giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ – Văn hóa Anh – Mỹ, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; làm cố vấn pháp luật cao cấp tại Hãng luật Baker & McKenzie; giám đốc pháp luật tại Tập đoàn Thiên Minh và hiện là chuyên gia cao cấp tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).

Nguồn: https://news.zing.vn/tu-ke-ngo-nguoc-thanh-hoc-gia-fulbright-post616540.html

25 năm Fulbright Vietnam qua những con số

Năm 2017 đánh dấu lễ kỷ niệm 25 năm chương trình Fulbright tại Vietnam. Đại sứ quán Mỹ đã tổ chức một buổi lễ kỷ niệm hoành tráng tại Khách sạn Melia Hanoi vào ngày 19/12/2017 để nhìn lại những thành quả của 25 năm hoạt động của chương trình Fulbright đồng thời tôn vinh những đóng góp của các Fulbrighter người Việt trong suốt thời gian qua. Bài viết này, tôi viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm Fulbright Program in Vietnam, dựa trên phân tích dữ liệu của chương trình Vietnamese Student Program từ năm 1992 đến năm 2015.

Như các bạn biết, thì Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995, nhưng Fulbright đã bắt đầu trước đó 3 năm. Lứa Fulbrighter đầu tiên sang Mỹ là vào năm 1992. Trong suốt 23 năm từ 1992 đến 2015 đã có tổng cộng 527 người Việt được trao học bổng thạc sỹ tại các trường đại học của Mỹ. Trung bình mỗi năm có khoảng 22 người được trao học bổng tới các trường đại học của Mỹ. Số lượng người được trao học bổng mỗi năm thay đổi tùy theo chất lượng hồ sơ và ngân sách. Bảng dưới đây cho biết số lượng Fulbrighter mỗi năm.

Năm đông nhất là năm 1994 với tổng cộng 31 người được trao học bổng. Năm thấp nhất là năm 2013 với chỉ vỏn vẹn có 15 người. Năm tôi được học bổng là năm 2009 năm đó có 28 bạn được học bổng bao gồm cả 3 bạn ở waiting list. Dưới đây là bảng số liệu học bổng giai đoạn 2005-2011.

Một điều vô cùng thú vị là mặc dù là trường danh tiếng với tỷ lệ chọi rất cao, nhưng Harvard lại là trường Đại học tiếp nhận nhiều Fulbrighter Vietnam nhất trong các trường ở Mỹ trong 23 năm qua của Fulbright Vietnam. Đại học Harvard đã tiếp nhận tổng cộng 24 Fulbrighter từ Việt Nam theo học các ngành khác nhau như Economics, MBA, Public Policy. Đứng thứ hai trong danh sách là đại học Syracuse University với 23 sinh viên. Đứng thứ ba là trường Brandeis University và University of Arizona với 16 người.

Fulbright Vietnam và Ivy League

Trong những trường Ivy League, Harvard là trường “thân thiện” nhất với Fulbrighter từ Việt Nam. Harvard tiếp nhận tổng cộng 24 người. Columbia tiếp nhận 14 người, UPenn tiếp nhận 10 người. Các trường Ivy League không rộng cửa với Fulbrighter từ Vietnam bao gồm Brown (không có 1 người nào), hai Đại học Dartmouth và Yale trong 23 năm qua chỉ tiếp nhận duy nhất một người. Như vậy, thông qua thống kê này, các bạn nào đang xin học bổng Fulbright mà nhắm tới các trường thuộc nhóm Ivy League sẽ thấy mình khả năng được chấp nhận nhập học ở những trường nào cao hơn. Dễ dàng thấy rằng trong nhóm Ivy League thì việc giành được học bổng Fulbright sẽ biến giấc mơ được học Harvard của bạn dễ dàng trở thành hiện thực hơn cả.

Harvard University 24
Columbia University 14
University of Pennsylvania 10
Cornell University 8
Princeton University 5
Dartmouth College 1
Yale University 1
Brown University 0

Những trường danh tiếng khác của Mỹ như Princeton tiếp nhận 5 người, Stanford nhận 3 người, MIT nhận 4 người. Trong 23 năm từ 1992 tới 2015, danh sách các trường Đại học tiếp nhận Fulbrighter từ Việt Nam có tới 65 trường chỉ nhận duy nhất 1 người, 27 trường chỉ nhận 2 người, 11 trường chỉ nhận 3 người, 8 trường chỉ nhận 4 người. Những trường nhận 5 người trở lên các bạn có thể tham khảo ở bảng bên dưới

Học bổng Fulbright mặc dù cho rất nhiều ngành học KHXHNV khác nhau như business, báo chí, ngoại giao…vv và Fulbright cũng công bố là không có quota cho từng nhóm ngành mỗi năm nhưng theo con số thống kê trong 23 năm qua thì ngành Business Administration chiếm một tỷ lệ áp đảo những người được học bổng so với những ngành khác.

Như bảng trên đây thì trong số 527 người được học bổng từ 1992-2015 thì có tới tận 112 người theo học Business Administration ở nhiều chuyên ngành nhỏ khác nhau như Finance, Accounting hay Marketing. 112 người theo học MBA này được sắp xếp học ở những trường khác nhau. Chúng ta hãy cùng xem những trường nào tiếp nhận nhiều MBA Fulbrighter từ Việt Nam nhất nhé.

Như vậy có thể thấy Trường Vanderbilt University ở bang Tennesse là nơi tiếp nhận nhiều nhất số lượng MBA Fulbrighter Vietnam qua học. Tính đển 2015 có tổng cộng 8 người đã lấy bằng MBA ở đây. Những trường TOP đầu ngành MBA cũng tiếp nhận một số ít Fulbrighter từ Vietnam. Cụ thể như MIT nhận 3 người, Harvard nhận 5 người, UPenn nhận 7 người. Standford nhận duy nhất 1 bạn học MBA là Nguyễn Hải Vinh năm 2010. Như vậy nếu bạn apply MBA mà nhắm tới top đầu thì UPenn là lựa chọn có khả năng thành công cao hơn.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Một điều thú vị là ngành Public Administration khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng. Đây cũng là ngành mà tôi theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Vềphân bổ theo địa lý của người được học bổng, bảng số liệu giai đoạn 2005-2011 cho thấy Hà Nội chiếm hơn 50% số lượng Fulbrighter. Đứng thứ hai là Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi lẽ hai thành phố lớn tập trung nhiều nhất những người ở khắp mọi nơi về học tập và sinh sống. Và theo như mình hiểu thì Fulbright tính địa lý căn cứ theo nơi làm việc, chứ không phải nơi sinh (quê quán) của ứng viên. Ví dụ như mình, khi nộp Fulbright thì đang sống và làm việc tại Hà Nội, nhưng quê quán thì ở Hưng Yên.

 

Về phân bổ theo đơn vị công tác, thì biểu đồ ở trên cho thấy sự phân bổ khá đồng đều xấp xỉ 25% giữa 4 khối: Nhà nước, Tổ chức quốc tế, Đại học/ Trường và Khối phi nhà nước (bao gồm kh ối tư nhân và phi chính phủ). Như vậy có thể thấy là qua số liệu thống kê thì Fulbright không hề có sự ưu tiên cho khối Nhà nước như các học bổng chính phủ khác. Do vậy các bạn ở khối tư nhân hay phi chính phủ hoàn toàn có thể tự tin để nộp học bổng.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Master of Public Affairs

Fulbright 2009-2011

Cơ hội đi Mỹ MIỄN PHÍ 2 năm kèm trợ cấp ngàn USD/ tháng

Bạn muốn đi Mỹ MIỄN PHÍ cho bản thân bạn và cả gia đình??

Bạn muốn nhận được bằng Master của những trường đại học hàng đầu bên Mỹ

Không những thế còn được nhận trợ cấp từ 1500-2000 USD/ tháng để trang trải sinh hoạt phí

và cơ hội giáo dục miễn phí cho con bạn từ lớp 1 đến lớp 12, bạn còn chần chừ gì nữa mà không tìm hiểu học bổng Fulbright – học bổng danh giá của Chính phủ Hoa Kỳ cho người Việt Nam.

Điều kiện để nộp hồ sơ khá đơn giản có 4 yêu cầu chính 

1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship) –> không có 2 quốc tịch

2. Have at least one undergraduate degree – đã có bằng đại học ở Việt Nam

3.  Có tối thiểu 2 năm kinh nghiệm tính từ ngày ghi trên bằng đại học tới ngày hết hạn nộp hồ sơ.

4. Có điểm tiếng Anh tối thiểu là TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Những đối tượng sau đây sẽ không được nộp hồ sơ 

  1. Người đã được nhận học bổng Fulbright

  2. Người đang sống và học tại Hoa Kỳ

  3. Người có bằng cử  nhân hay Thạc sỹ ở Đại học của Mỹ trong vòng 3 năm trở lại đây

  4. Nhân viên của phái đoàn ngoại giao Mỹ tại Việt Nam và những người thân thuộc bao gồm những người đang làm việc hoặc 1  năm sau khi kết thúc làm việc

  5. Người đã nhận học bổng cao học trong vòng 5 năm trở lại đây hoặc sắp nhận học bổng cao học khác.

Danh sách những ngành học được cho học bổng

Các bạn có thể tìm hiểu về các ngành học được cấp học bổng tại link này

Short introduction to Study Subjects in Vietnam Fulbright Student Program

Ngành nào có nhiều cơ hội dành học bổng hơn, các bạn đọc bài viết này 

Nộp ngành gì dễ được học bổng Fulbright???

Hồ sơ xin học bổng bao gồm 

  1. Hai bài essays (study objectives and personal statement)
  2. Ba thư giới thiệu
  3. Bằng đại học và bảng điểm (cho mỗi Đại học mà bạn theo học)
  4. Điểm TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Sơ yếu lý lịch

Nộp hồ sơ online tại địa chỉ https://iie.embark.com/apply. Hướng dẫn cách nộp hồ sơ tại địa chỉ https://vn.usembassy.gov/wp-content/uploads/sites/40/fvst2019-application-guidelines.pdf

Tiêu chí lựa chọn

Không phân biệt giới tính, màu da, ngành nghề, xuất thân, tổ chức mà hoàn toàn dựa vào năng lực và thành tích. Ưu tiên cho những ai chưa có kinh nghiệm trước đó với nước Mỹ. Một ứng viên thành công sẽ cần phải hội đủ các yêu cầu sau:

  • Mô tả rõ ràng và chi tiết mục tiêu học tập, thể hiện một sự kết nối rõ ràng giữa mục tiêu học tập với mục tiêu tương lai thông qua các bài luận
  • Có kinh nghiệm làm việc sâu rộng trong lĩnh vực dự định nộp hồ sơ và hiểu biết đầy đủ về ngành học
  • Thể hiện tiềm năng lãnh đạo dựa trên hoạt động ở trường, hoạt động ngoại khóa, cộng đồng và các hoạt động  nghề nghiệp khác
  • Thể hiện sự cống hiến cho Việt Nam và tiềm năng mang lại sự thay đổi tích cực khi quay về
  • Đóng góp thúc đẩy hiểu biết giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Mỹ thông qua các hoạt động trao đổi giáo dục và văn hóa
  • Sẵn lòng trở thành đại sứ văn hóa của Việt Nam
  • Thể hiện thành tích học tập xuất sắc và khả năng Anh ngữ tốt.

Khung thời gian 

  • Tháng 1/2018: Thông báo học bổng
  • Ngày 15/5/2018: Hết hạn nộp hồ sơ
  • Tháng 6 &7/ 2018: Xét duyệt hồ sơ và lựa chọn người vào vòng phỏng vấn
  • Tháng 9/ 2018: Phỏng vấn và lựa chọn người trao học bổng
  • Tháng 10 &11/2018: Người được học bổng thi lại GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • Tháng 11/2018 – Tháng 3/ 2019: Nộp hồ sơ cho các trường bên Mỹ
  • Tháng 4 & 5/2019: Xác nhận việc sắp xếp trường
  • Tháng 5/2019: Hội thảo định hướng trước khi lên đường
  • Tháng 6 & 7/2019: Kiểm tra sức khỏe và xin Visa
  • Tháng 7&8/2019: Lên đường sang Mỹ nhập học.

Cơ hội mà học bổng Fulbright đem lại 

  • Được vào học những trường danh tiếng của Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được nhận trợ cấp từ 1200 -2000 USD/ tháng để trang trải chi phí ăn học
  • Được hỗ trợ xin visa rất dễ dàng
  • Được tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa bên Mỹ rất thú vị
  • Được được vợ/ chồng và con cái theo, visa diện J2 có thể đi làm
  • Được cơ hội cho con cái từ lớp 1 đến lớp 12 học tại Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được cho vé máy bay và bảo hiểm y tế trong suốt quá trình học
  • Được gia nhập mạng lưới Fulbrigther khắp toàn cầu một network rất giá trị
  • Và được rất nhiều thứ khác nữa vô giá

 

Vậy còn chần chừ gì nữa mà không nộp hồ sơ nào các bạn ơi. Đừng lo lắng, đừng sợ sệt. Hãy mạnh dạn thử sức mình, nếu được ta ăn mừng, nếu chưa được năm sau ta thử sức tiếp.

Nếu trong quá trình nộp hồ sơ, bạn có thắc mắc gì, các bạn có thể liên hệ với mình. Trong quá trình chuẩn bị làm hồ sơ, viết luận, xin thư giới thiệu, các bạn muốn mình tư vấn thì chủ động liên hệ với mình. Contact của mình ở dưới đây

Email: tranngocthinh@gmail.com

Facebook:  www.facebook.com/tranngocthinh

Fanpage: www.facebook.com/tranngocthinh287

 

Chúc các bạn may mắn có được suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng ngàn USD/ tháng nhé.

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter Public Administration

AY 2009-2011

Ngành nào từ trước đến nay được nhiều học bổng Fulbright nhất??

Mặc dù trong FAQ (Tài liệu hỏi đáp), Fulbright Vietnam trả lời rằng không có quota cho từng ngành học được tài trợ.

“Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits”

Thực tế là Fulbright không phân bổ quota cho từng ngành học. Nhưng nhìn qua số liệu thống kê của học bổng Fulbright Vietnamese Student Program từ năm 1992  đến 2015 thì có thể thấy một sự phân bổ không đồng đều số lượng người nhận học bổng theo ngành học như sau

Đứng đầu là ngành Business, đây chính là nhóm nộp ngành MBA gồm nhiều phân ngành nhỏ như Marketing, Finance, Accounting, MIS…vv. Nhóm này đứng đầu với 112 người được học bổng/ 527 người được học bổng Fulbright từ 1992 đến 2015. Chia bình quân cho 23 năm, thì mỗi năm có gần 5 người nộp MBA được học bổng trong sốtrung bình 20 người được học bổng Fulbright hàng năm.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng trong 23 năm. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Hầu hết những bạn được học bổng ngành TESOL mà tôi biết đều là giảng viên dạy tiếng Anh ở những trường đại học công lập lớn của Việt Nam.

Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Ngành kinh tế cũng có nhiều người được vào những trường top như Williams College – số 1 nước Mỹ về Development Economics hay Harvard, Columbia..vv

Một điều thú vị là ngành Public Administration (quản trị công) khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng.  Những người theo học ngành này thì có người làm trong khối nhà nước, có người làm ở các tổ chức phi chính phủ. Tôi còn biết có bạn làm phóng viên của 1 đài truyền hình cũng được học bổng ngành này.

Đây cũng là ngành mà tôi đăng ký theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

 

Ngành tiếp theo, có nhiều người được học bổng là ngành Truyền thông (Communications)/ Báo chí (Journalism) với 36 người được học bổng, đa phần đều là nhà báo, phóng viên.

Ngành Luật có 33 người được học bổng. Đối với  những ngành khác, bạn có thể nộp hồ sơ xin học bổng trái ngành so với ngành học ở bậc đại học. Ví dụ bạn tốt nghiệp đại học Ngoại giao, nhưng xin học bổng về Public Admin hay Public Policy thì được. Riêng ngành Luật thì nếu bạn không có bẳng cử nhân Luật, bạn sẽ không thể apply xin học bổng ngành Luật. Những người được học bổng ngành luật đa phần là Luật sư. Nổi tiếng nhất chắc là anh Lê Công Định, Trương Trọng Nghĩa.

Ngành chính sách công (Public Policy) và Y tếcông cộng (Public Health) đang là một ngành rất hot ở Việt Nam và rất mạnh của Mỹ. Trước đến giờ Việt Nam chưa có đào tạo chính sách công bài bản, bởi lẽ chính sách chủ yếu làm ra trong phòng lạnh nên Mỹ muốn giúp mình phát triển nhân lực trong mảng chính sách công.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

Như vậy qua một số con số thống kê trong vòng 23 năm qua, chúng ta đã có một bức tranh khá rõ về những ngành học nào có nhiều khả năng được học bổng Fulbright. Điều này không có nghĩa là những ngành khác không có cơ hội. Học bổng Fulbright khuyến khích tất cả các bạn theo đuổi đam mê của mình chứ không có một ưu tiên cho ngành nào cả. Chỉ cần bạn thật xuất sắc thì bạn vẫn có thể được học bổng, mặc dù số liệu cho thấy xác suất thành công của những ngành ưu tiên như MBA và TESOL vẫn cao hơn rất nhiều những ngành khác.

Xin chia sẻ một số thông tin để các bạn tham khảo khi lựa chọn nộp hồ sơ cho học bổng Fulbright.

 

Source of Data: Dữ liệu sử dụng trong bài viết này là từ thông tin được công bố công khai của chương trình Fulbright Vietnam.

Disclaimer: Tất cả những nội dung tôi viết trên đây là quan điểm của cá nhân tôi, không đại diện cho chương trình Fulbright tại Việt Nam.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter 2009-2011 – Public Administration

www.tranngocthinh.com

Tỷ lệ chọi của học bổng Fulbright

Khi tôi post trên Facebook của tôi dòng status là hiện đang có khoảng 20 suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng tháng từ 1500-2000usd/ tháng, chỉ yêu cầu 2 năm kinh nghiệm và tiếng Anh, đã có rất nhiều bạn comment và inbox để hỏi tôi về cơ hội này. Khi nhận được câu trả lời đó là học bổng Fulbright nhiều bạn đã vội vàng mất hứng vì cho rằng Fulbright để điều kiện đầu vào rất mở nên nhiều người có đủ điều kiện để nộp hồ sơ, do vậy nên tỷ lệ chọi của Fulbright rất cao. Có lẽ chính sự cạnh tranh cao và tính chọn lọc rất khốc liệt mà Fulbright mới trở thành một học bổng danh giá đáng được nhiều người khao khát bởi mỗi năm chỉ có khoảng 20 người xuất sắc nhất ở Việt Nam được trao học bổng thôi.

Theo số liệu thống kê của Chương trình Fulbright Vietnam thì dưới đây là số lượng người được trao học bổng trong mấy năm gần đây.

 

 

Năm tôi đi học 2009 là năm kỷ lục với số lượng 28 trong đó có 3 bạn ở waiting list cũng được cho sang Mỹ học. Mỗi năm thì tùy theo ưu tiên vào số lượng và ngân sách mà Fulbright sẽ có số lượng học bổng khác nhau. Trung bình khoảng 20-22 suất học bổng/ năm.

 

Các bạn hình dung, có 1 cục ngân sách mỗi năm cho Fulbright nó như 1 miếng bánh vì thế nếu nhiều người được học bổng thì miếng bánh phải chia cho nhiều người, đồng nghĩa với việc ngân sách học bổng cho mỗi người sẽ ít đi, nếu không được trường cho thêm thì khả năng vào được trường top (chi phí lớn) rất khó. Ngược lại, nếu năm đó ít người được học bổng, thì miếng bánh cho mỗi người sẽ cao, khả năng vào trường top Ivy League sẽ cao hơn.

Nói về tỷ lệ chọi, thì mình thực sự là không biết một năm có bao nhiêu hồ sơ nộp. Mình nhớ mang máng khi có dịp cafe với chị Hạnh thì đâu đó vài ngàn hồ sơ. Vài là bao nhiêu, mình nghĩ chỉ tầm maximum 5000 là căng. Chủ yếu tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, còn các tỉnh cũng có nhưng không nhiều.

Giả sử có 5000 người nộp hồ sơ, thì để vào vòng 2 là vòng phỏng vấn thì Fulbright sẽ chọn 50 bạn để vào semi-finalist. Như vậy tỷ lệ chọi sẽ là 50/5000 tức là 1 chọi 100. Khi đến vòng phỏng vấn, thì chỉ lấy khoảng 25 người, như vậy ở vòng phỏng vấn tỷ lệ chọi sẽ là 1 chọi 2.

Thực sự thì để qua vòng hồ sơ là khó bởi như đã nói ở trên do điều kiện đầu vào khá mở nên nhiều người nộp dẫn tới tỷ lệ chọi của Fulbright khá cao. Trong mấy ngàn hồ sơ nộp như vậy, phải làm sao để hồ sơ của mình phải thật sự nổi bật thì bạn mới có cơ hội vào vòng phỏng vấn. Đến vòng phỏng vấn rồi, thì bạn sẽ phải chuẩn bị rất kỹ càng để có thể trả lời phỏng vấn tự tin chứ không thì hồ sơ cho dù long lanh, profile xuất sắc mà trả lời phỏng vấn không toát lên được sự “xuất sắc” ấy thì bạn vẫn có thể trượt. Xác suất thất bại là 50% do đó phỏng vấn rất là quan trọng.

Mình nghĩ rằng cái gì khó khi giành được mới cảm thấy sướng, mới thấy cái danh giá của nó. Do vậy, rất mong các bạn hãy tự tin mà nộp hồ sơ, nếu cần giúp đỡ hãy chủ động liên hệ mình. Mình sẽ giúp các bạn.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Contact of Vietnam Fulbright Program

Trong quá trình nộp hồ sơ học bổng Fulbright, chắc hẳn là các bạn sẽ có nhiều câu hỏi hay thắc mắc. Các bạn vui  lòng liên hệ qua email hoặc điện thoại với chị Nguyễn Thị Hạnh – trợ lý chương trình nhé. Chị Hạnh sinh năm 1982 rất là nice, nhiệt tình sẽ trả lời các câu hỏi của các bạn liên quan tới học bổng Fulbright nhé. 

Ms. Nguyen Thi Hanh

Program Assitant

Fulbright Vietnamese Student Program
Public Affairs Section, U.S. Embassy
7 Lang Ha, Ha Noi
Tel: (04)-3850-5100 (ext. 5089)
Email: 
nguyenHT4@state.gov.

Fulbright Sharing – Fulbright Connection

Few months ago, I and other Fulbrighters were invited to an offline meeting to share our experiences to be a Fulbrighters. After joining this meeting, I decided to write a blog with the topic about Fulbright Scholarship for Vietnamese. I started by collecting articles from different sources. I spent sometimes to write my own articles to share my own experiences. Since I go for Master in Public Administration, so I also contact other Fulbrighters with other field of study like: American Study, MBA, Journalism, Social Work to invite them to write for this weblog to share their own experiences. They are all agreed, but they are now too busy with their jobs and preperation for their trip. I hope that they will keep their promise.


Recently, I have been informed that semi-finalists of Fulbright AY 2010-2012 was announced, so many semi-finalists contacted me and said my sharing is useful. I am happy to hear that, because what I have done, now being recognized by people use it. At the moment, I start working with this weblog on my own. This is part of my personal weblog, because I do not have time to manage different blogs at a time. There is nothing I gain from this weblog, except the power of sharing. I think of what I had experienced when I prepared for my Fulbright interview, almost nothing available on the internet, because the previous generation of Fulbrighters are not much active on the internet with blog. So I want to change it, to make it much more easier to next generation of Fulbrighters. However, I try to make it fair, that no one has a priviledge to know, that others do not. This weblog is for everyone who will, who is, who was a Fulbrighters. The fair information they get, the fair competition they face.

 

With the spirit of “pay it forward”, I do hope that other Fulbrighters will contribute to share their experiences to help the next generation of Fulbrighters, to make Fulbright Scholarship – a dream of many people comes true. I also do hope that any people who will be next Fulbrighters who is benefited from the information on this weblog will continue to share their own story of success to next generation. I look forward to seeing our Vietnamese Fulbright Community growing day by day. I believe with the contribution of many people, this weblog will be the way to connect and to share among Vietnamese Fulbrighters.

I am happy to see you share the same ideas, same inspirations. Thank you for your support!

 

Regards,

 

Tran Ngoc Thinh

 

Thư gửi các bạn Semi-finalist của Fulbright Việt Nam AY 2010-2012

Columbia, Missouri, 24/9/2009

 

Thân gửi các bạn Semi-finalist !

Trước hết, chúc mừng các bạn đã trải qua một cuộc phỏng vấn thú vị và cũng rất căng thẳng. Có thể có một số điểm làm bạn chưa hài lòng, nhưng hãy vui lên và giữ cho mình một tâm thế phấn khởi để đón đợi tin vui. Chắc các bạn đang rất hồi hộp chờ đợi kết quả.Mình rất hiểu cảm giác này vì mình đã từng trải nghiệm nó. Mình muốn chia sẻ một đôi điều với các bạn:

 

1. Về kết quả phỏng vấn:

Thường sẽ có sau khi phỏng vấn 1 đến 2 ngày (năm của mình là 1 ngày). Kết quả sẽ gửi bằng email tới email các bạn đăng ký với Fulbright. Cho dù bạn trúng tuyển hay không cũng đều nhận được email hết. Không có chuyện trúng tuyển mới có email, còn trượt thì không có. Cứ yên tâm và hồi hộp chờ đợi nhé. Sau đó, thư thông báo trúng tuyển có chữ ký của thầy Thảo sẽ được gửi tới địa chỉ bưu điện mà bạn đăng ký với Fulbright.

50 ứng viên tham gia phỏng vấn đều rất xuất sắc, do vậy việc lựa chọn 25 người trúng tuyển là một công việc rất vất vả, khó khăn và tốn thời gian, mong các bạn kiên nhẫn và lạc quan chờ đợi tin vui. Cho dù kết quả có thể nào, các bạn cũng phải tự hào vì nỗ lực của mình.

2. Sau khi biết kết quả:

 

    • Tự thưởng cho mình một cái gì đó: đi chơi, du lịch, ăn uống, karaoke
    • Viết bài chia sẻ kinh nghiệm phỏng vấn Fulbright cho Fulbright Weblog, hãy nhớ viết ngay sau khi trúng tuyển, bởi để lâu mấy chi tiết nho nhỏ, thú vị sẽ không còn fresh. Các bạn gửi bài vào hòm thư của mình tranngocthinh@gmail.com, mình sẽ post bài lên Fulbright weblog.
    • Bắt tay vào việc ôn thi cho mấy kỳ thi TOEFL, GRE hoặc GMAT. Thường thì lịch thi sẽ do Fulbright đặt chỗ với ETS nên các bạn sẽ không chủ động được thời gian ôn thi, do đó nên bắt tay vào ôn thi ngay khi biết kết quả trúng tuyển. Việc ôn thi sẽ rất stressful, đặc biệt nếu bạn đang đi làm. Hãy cân bằng thời gian, và ưu tiên cho kỳ thi, bởi vì ưu tiên số một lúc này là kỳ thi, vì một thời gian nữa, bạn sẽ không còn làm ở cơ quan nữa.
    • Suy nghĩ thật kỹ để trả lời Fulbright 4 trường mà bạn sẽ dự định nộp hồ sơ. Lưu ý, không chắc chắn là bạn sẽ vào 1 trong 4 trường đó. Quyết định là của Fulbright, do đó đừng có quá hy vọng mà trở nên thất vọng.
    • Hãy dành thời gian mà tận hưởng Việt Nam trước khi sang Mỹ, không sang đây rồi lại nhớ. Nếu bạn chưa đi thăm chỗ nào ở Việt Nam: Hạ Long, Nha Trang, Sài Gòn thì hãy đi đi. Nếu bạn chưa ăn thịt chó, bún đậu mắm tôm thì hãy ăn đi. Nếu bạn chưa phi xe máy lượn lờ đường phố Hà Nội thì hãy làm đi. Nếu bạn chưa ngắm hoàng hôn ở Hồ Tây, thì đi thử đi. Nếu bạn chưa đi chợ đêm Hàng Đào, hãy đi ngay. Bởi nếu không sang Mỹ bạn không có sẵn cơ hội như Việt Nam mà thử đâu. Và một điều nữa, hãy tập thể dục bằng việc đi bộ, nếu không sang học, đi bộ trong trường cũng thấy mỏi cả chân 

Viết cho các bạn mấy dòng. Lâu lắm mới có cảm hứng viết blog từ khi sang Mỹ. Chúc các bạn có được tin vui, và mong chờ những dòng chia sẻ cảm xúc phỏng vấn Fulbright của các bạn.

 

Thân mến từ Hoa Kỳ,

Trần Ngọc Thịnh

Fulbright Vietnamese Student Program FAQ

About the Program

What does the Fulbright scholarship provide?
The scholarship provides grantees with the opportunity to pursue a master’s degree at a
university in the United States. The grant provides full tuition and fees, a living allowance,
round-trip travel and health insurance.

How long is the program?
Most M.A. programs take 2 academic years to complete, although in some cases, the M.A.
course is only 10-12 months. Law students will take one academic year to complete their
degrees. All grantees must remain in good academic standing to continue their program.

How many awards are there?
The number of scholarships depends on the amount of funding allocated by the US Department
of State. Approximately 20 new grantees go to the U.S. each year.

Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits.

Eligibility requirements

What are the minimum eligibility requirements for a Fulbright scholarship?
Vietnamese citizens from all regions in Vietnam are welcome to apply. Applicants must have at
least a BA degree and have two years of work experience by the time of their application. All
applicants must be proficient in English, as measured by a minimum 79 on TOEFL iBT or 6.5 on
IELTS. Finally, the field of study that an applicant intends to pursue must be supported by the
Fulbright Program.

The Program requires two years of work experience since graduation. I graduated recently
but I had worked full-time for more than two years before graduation. Can that experience
satisfy the requirement?

Unfortunately, the Fulbright Program counts the work experience based on the date of issuance
of your first bachelor’s degree. For example, to be eligible for the academic year 2019-2020 of
which the application deadline is May 15, 2018 your first bachelor’s degree must be issued
before May 15, 2016. The experience you gained before graduation only add bonus to your
competitiveness but does not necessarily meet this requirement.

Does the Fulbright Program require applicants to submit contracts of employment and
certificates of extra-curricular activities?

No. Contracts of employment and certificates of all kinds are not required. You just need to list
your work history and extra-curricular activities in your CV.

Do I need an offer of admission from a university in the US prior to applying for a
Fulbright award?

No. All grantees will be placed at universities by the Institute of International Education after
attaining finalist status.

Which fields of study are supported by the Fulbright program?
In general, most fields in the Humanities and Social Sciences are supported by the Fulbright
Program. Please contact the program office if your desired field of study is not listed.

Is there a minimum GPA for applicants?
No. Applicants will evaluated based on the merits of their entire application, including their
GPA, work experience, references, essays, and TOEFL/IELTS score.

Is there an age limit for applicants?
No, although most successful candidates are at an early or mid-point in their careers.

Do I need a Bachelor’s degree in the same subject that I want to study for a Master’s
degree?
No. Master’s degree programs in the U.S. do not require that applicants have a Bachelor’s degree
in the same subject. However, it is recommended that applicants have substantial work
experience related to their intended field of study. One exception is Law: candidates for a
Master’s in Law must have a B.A. in Law. A master’s in Economics may also require an
academic background in economics or finance.

My TOEFL iBT/IETLS test score is expired. Can I use GMAT/GRE instead?
Yes. At the application round, the Fulbright Program may accept GMAT/GRE in place of your
expired TOEFL iBT/IELTS. Your GMAT/GRE must be valid by the application deadline, and
your percentile ranking must be 50% for each component of each exam.

Applying

When should I apply for a Fulbright award?
Applicants who wish to obtain the scholarship to for the fall of 2019 should submit an
application by May 15, 2018.

What are the components of an application?
All applicants are required to apply online. A complete online application consists of an
application form, three confidential letters of reference, diplomas and transcripts from
undergraduate and graduate degrees, and TOEFL iBT/IELTS score reports.

I applied last year and was not successful. Can I resubmit that application for the new
cycle?

Unfortunately, once the application is submitted, you can no longer have access to it. You need
to create a new log-in account using a new email address and password.

When I register online, the Embark system asks me to contact the Fulbright Office prior to
commencing my application. What should I do?

This is NOT a requirement of the Fulbright Program in Vietnam, so there is no need to call or
email the Fulbright officer. Please select “yes” in answer to question 3 and start your application.

I do not have much work experience in my chosen field. Will my application be at a
disadvantage?

Work experience in the field you wish to pursue is an indication of your commitment to that field
and is considered additional preparation for graduate work. Work experience can often make up
for any academic experience you may lack. While it is not a mandatory requirement, a lack of
relevant work experience may diminish your chances to earn the scholarship.

Is there another way to submit the reference letters if my referees cannot submit them
online?
Online references are preferred; however, if by no means your referees can submit online letters,
you can go to “Supplemental Form” on our online application system, download the Fulbright
Reference form and forward it to your referees for completion. Your referees should complete
both parts of the Fulbright Reference Form (rating chart & recommendation). The reference form
must be sent to the Fulbright Office in a closed envelope with the referees’ signature on the seal.
Interviews

What happens to my application after submission?
Your formal application will be reviewed by a committee, which will decide whether to
recommend your application for an interview.

How many interview slots are there?
It depends on the number of qualified applicants. In general, we usually interview approximately
50 applicants per year.

When are interviews held?
Interviews are held in the fall in Hanoi and Ho Chi Minh City.

Who is on the selection panel?
The selection committee is composed of Vietnamese and American experts in a variety of fields
of study.

Receiving the scholarship

What happens after I am chosen as a finalist?

You will be required to sit for the official TOEFL (Internet-based) and GRE exams. MBA
students will take the GMAT exam instead of the GRE, and Law students will only take the
TOEFL exam. The Fulbright Program will provide you with test vouchers for these exams, as
well as transportation to and from the test site if necessary.

Your application will then be sent to the Institute of International Education (IIE) in the United
States. The IIE Placement office will review your application and send your dossier to a variety
of universities. The Fulbright Program and IIE will make the final decision regarding your placement at a university,
based on whether the program fits your academic needs and whether your qualifications meet the
requirements of the university.

Will my score on the TOEFL/GRE/GMAT affect my placement at a university?
Yes. Each university in the U.S. has different admissions criteria, and therefore a low TOEFL
score may make your application less competitive. Therefore, the Fulbright Program encourages
finalists to prepare carefully for these exams. In general, the Program is able to successfully
place Vietnamese grantees at appropriate university programs.

The application instructs applicants to name three-four universities of their choice. Will
IIE honor my choice?
IIE will try to honor your choices. However, if there is no match between you and your choice,
IIE will find other universities where you have a better chance of gaining admission.

Can I defer or delay the scholarship to the following year?
No. You should plan to apply for the year that you will be able to participate fully in the
program.

Does the Fulbright Program provide any orientation for grantees before leaving for the
U.S.?
Yes. The Program will organize a pre-departure orientation in Vietnam for all grantees in May
2019.

Are there any requirements attached to the Fulbright grant?
As part of a U.S. government-funded study program, all Fulbright grantees are subject to a 2-
year home country residency requirement. This means that grantees may not apply for a work or
immigrant visa to the U.S. until after two years of residence in Vietnam upon the completion of
the Fulbright grant.

Fulbright Vietnamese Student Program AY 2019-2020

The U.S. Mission in Vietnam is pleased to announce the Fulbright Vietnamese Student Scholarship Program for academic year 2019-2020. Established in 1946 and funded by the U.S. government, the Fulbright Program aims at achieving mutual understanding through academic and cultural exchange. The Fulbright Vietnamese Student Program is a competitive, merit-based scholarship program which recruits and nominates young Vietnamese professionals for Master’s degree programs at U.S. universities. Approximately 20 fully-funded scholarships are granted on an annual basis. Since 1992, more than 600 Vietnamese students have been selected to participate in the Program.

WHAT does the Scholarship provide? Successful candidates will pursue a Master’s degree that begins in the academic year 2019-2020. Fulbright Vietnam will arrange placement at universities in the United States. Successful candidates will receive a full scholarship which covers tuition and fees, monthly stipend, round-trip airfare to the United States, and health insurance.
WHO can apply? Competition is open to people who meet the following criteria:

  1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship)
  2. Have at least one undergraduate degree
  3. Have at least two years of work experience after graduation by the time of application
  4. Have a valid minimum TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Ineligibility factors

The following persons are ineligible to apply for the Fulbright Vietnamese Student Program:

  1. Candidates who already received one Fulbright Student Program grant
  2. Candidates who are currently living or studying in the United States
  3. Candidates who have earned a Bachelor’s or Master’s degree from a U.S. college or university within the last three years
  4. Local employees of the U.S. Mission in Vietnam who work for the U.S. Department of State and their immediate dependents are ineligible for grants during the period of their employment and for one year following the termination of employment
  5. Candidates who have received any scholarship for graduate study abroad within the past five years, or are scheduled to receive any scholarship for graduate study abroad.

WHICH fields of study are supported?
The Program supports study in most fields of social sciences and humanities, including:

American Literature Education Project/Program Management
American Studies Environmental Studies Psychology
Agricultural Economics Management of IT/Information system Public Administration
Anthropology Journalism Public Policy
Architecture Language/Literature (non-U.S.) Public Health
Art/Film Studies Law Social Work
Business (all fields Library Science Sociology
Communications Linguistics/Language Teaching Urban/Community Planning
Development Studies Philosophy Women/Gender Studies
Economics Political Science

(A brief introduction of each field of study is available here. Please contact the Fulbright office if your desired field of study is not on the list)

HOW to apply?
Please follow these steps to apply for the Program:

Step 1: Download the Application Guidelines and read them carefully before starting your application as Fulbright Vietnam has specific requirements for Vietnamese applicants. Do not refer to the guidelines on the online application system, since it is a generic form for all countries. Failure to comply with the Fulbright Vietnam’s guidelines may make your application “ineligible” for the next rounds of competition.
Step 2: Complete the online application form at: https://iie.embark.com/apply

Please make sure your online application includes:

  1. Two essays (study objectives and personal statement)
  2. Three letters of recommendation
  3. Transcript and degree (for each higher educational institution you list in your application)
  4. TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Curriculum vitae

Deadline for application submission: 5:00PM (Vietnam time), May 15, 2018.
Mailed, emailed and/or faxed applications are not accepted.

SELECTION CRITERIA
Competition is based on academic and professional merits, without regards to race, color, national origin, sex, age, religion, geographic location, socio-economic status, disability, sexual orientation or gender identity. Preference is given to those without recent experience in the United States. A successful applicant is someone who can:

  • Demonstrate a clear and detailed description of the study objectives, and show a clear connection between their study objectives and future goals through a compelling set of essays.
  • Have a depth and breadth of work experience in their intended field of study, and a full understanding of the field.
  • Demonstrate leadership potential based on participation in academic, extra-curricular, community and professional development activities, and personal attributes.
  • Show dedication to Vietnam and potential to make a positive impact upon return
  • Contribute to promoting mutual understanding between the people of the United States and Vietnam through educational and cultural exchange activities.
  • Be willing to be a cultural ambassador of Vietnam.
  • Have demonstrated academic excellence and strong English proficiency

TIMELINE

  • January, 2018: Grant announced and application materials available
  • May 15, 2018: Deadline for submission of application
  • June – July 2018: Application review and semi-final selections
  • September 2018: Interviews & selection
  • October – November 2018: Finalists (re)take GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • November – March 2019: Submission of applications to U.S. universities
  • April – May 2019: University placements confirmed
  • May 2019: Pre-departure orientation
  • June – July 2019: Medical check-up and visa application
  • July – August 2019: Departure

INFORMATION SESSIONS:
More details will be updated soon.

CONTACT
For further information, please read the Frequently Asked Questions or contact Ms. Nguyen Hanh, the Program Assistant at (04) 3850-5089 or email: nguyenHT4@state.gov.

error: Content is protected !!