Nước Mỹ trong tôi – Tung Kelvin

Just wanna share with you some of my experiences in the US. I hope it will somehow inspire you to make your US dream come true.

Nhanh quá, vậy là tôi đã đi gần hết nửa quãng thời gian thực tập ở Mỹ rồi. Ngày đầu tiên đặt chân tới nơi đây, tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác gió thổi mát lạnh lăn dọc sống lưng khi mới bước chân ra khỏi ga tàu điện ngầm Midtown để bắt taxi về nhà anh bạn. Thời tiết mát dịu ở Atlanta lúc này sao mà giống Hà Nội quá, làm tôi nhớ lại hồi cấp 2 vẫn hay cùng đám bạn tối tối cứ ngồi trên bờ tường khu bể nước hóng gió, rôm rả với nhau những câu chuyện tận đâu đâu, rồi cùng nhau đi hái trộm nào bàng, nào sấu, nào chuối xanh… Trước khi sang đây, tôi dự định là sẽ đi kết hợp tàu điện ngầm và bus về cho tiết kiệm, nhưng lúc tới Midtown thì cũng đã gần 9h tối, mà hệ thống giao thông công cộng ở đây không được tiện như ở châu Âu, cộng với cả đống hành lý cồng kềnh nên tôi tặc lưỡi bắt taxi làm tư bản một hôm, coi như thưởng cho mình ngày đầu tiên đến Mỹ. Anh chàng lái xe taxi gốc Nepal là người đầu tiên nói với tôi: “Welcome to the United States!” trước khi chở tôi về địa chỉ mà tôi đã ghi sẵn ra giấy. Tôi không ngờ là đường xá Atlanta lại nhiều dốc gập ghềnh như thế, ngồi xe mà có cảm giác như đang phi xe máy ở Sapa vậy. Quyết định đi taxi đúng là chuẩn quá đi!

Qua sự giới thiệu của một chị bạn bên Hà Lan, tôi liên lạc với anh T. đang học bên này để xin ngủ nhờ vài hôm trước khi đi tìm nhà. Tính tôi thường hay tìm hiểu thông tin về một người mới quen, không phải là tính hiếu kỳ mà đơn giản là tôi muốn biết người mà tôi sẽ gặp là ai, đối với tôi đó là một sự tôn trọng người bạn mới đó. Sau khi gõ fullname vào Google, ngoài mấy kết quả trả về là trộm cắp bị đánh chết hay tốt nghiệp trung cấp ngành tin học lol, tôi mắt chữ A mồm chữ O tay chân thì xoắn quẩy khi biết anh T. đã từng tham gia kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế, còn em trai anh học dưới tôi mấy khóa đã từng được HCV Olympic Toán quốc tế. Tôi bắt đầu vã mồ hôi và lo sợ, từ khi lên đại học tới giờ tôi ham chơi hơn ham học, sợ không bắt chuyện được với những đối tượng như thế này. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi hóa ra anh T. đã bị tha hóa biến chất theo thời gian cũng ham chơi hơn ham học như tôi, tôi đến trước cửa nhà rồi mà anh còn đang bận luyện game, bảo chờ anh tý anh xuống mở cửa. Và bữa ăn đầu tiên của tôi trên đất Mỹ là…mỳ tôm anh T. nấu.

Cùng nhà còn có thằng em T., ở cùng hai anh em được mấy hôm, tôi quyết định ở lại đây luôn vì thấy khá thoải mái, lại có một dàn karaoke và PS3 nữa chứ. Nhà cửa đã xong xuôi, chuẩn bị lên trường thôi tôi ơi. Campus của trường Gatech khá rộng, có cả một hệ thống xe Trolley và Stinger Bus đưa đón sinh viên trong trường, hôm đầu tiên lên trường tôi đã nhảy lên đi xung quanh trường tham quan một vòng rồi, lại hoài niệm ngày xưa hồi còn bên Thượng Hải vẫn thường hay dậy sớm bắt bus từ khu Yanchang campus xuống Baoshan campus mất gần một tiếng, xe chạy từ phía cổng nam rồi vòng ra sân vận động phía lầu Z, rồi đi qua cổng Bắc, không biết anh chị em Shangda có còn nhớ không. Hoài niệm mãi, tôi già thật rồi.

Tôi thích nhất ở Gatech là khu Student Center và những dãy hàng lang trong các tòa nhà. Ngay phía trước Student Center là một đài phun nước bao quanh bởi những vòng tròn bậc thang xếp chồng lên nhau cho đến khi chạm tới mặt đất. Tôi thi thoảng hay ra đây ngồi đọc sách hoặc mang laptop ra ngồi xem phim, vừa hưởng thụ những tia nắng dìu dịu, thi thoảng lại ngoái nhìn người qua lại, gái đẹp lọt vào mắt là chính, còn zai xinh thì bị filter mất rồi. Tầng 1 của Student Center có khu vui chơi giải trí gọi là Tech Rec, nào billard, nào bowling, PS và bóng bàn nữa. Anh em chúng tôi cứ chiều thứ 5 hàng tuần là lại tụ tập nhau cùng chơi billard, xong xuôi lại kéo nhau lên các quán Việt Nam ăn tối.
Tầng 2 của Student Center có một phòng gọi là “Under the Couch”, ở đó họ có một sân khấu nhỏ, có đủ đèn chiếu và các loại nhạc cụ, phía dưới là các dãy bàn ghế cho mọi người ngồi, có một quầy DJ ngay phía cửa ra vào chuyên phụ trách mục lựa chọn nhạc, tôi hay vào đây sau mỗi lần ăn trưa, nằm nghe nhạc và thậm chí là ngủ một giấc, có hôm tới 6h chiều họ đóng cửa tôi mới ra về. Tôi bắt đầu thấy thích giáo dục Mỹ vì cơ sở vật chất của họ tốt quá, lại có nhiều hoạt động phục vụ sinh viên trong trường nữa, những điều mà tôi chưa từng được thấy ở các nơi khác.

Chuyến roadtrip đầu tiên. Hai anh em chúng tôi lên đường xuất phát từ Atlanta, dự định sẽ đi về phía bang Alabama rồi đi dọc vùng Gulf Coast nơi có cơn bão Katrina cách đây gần 7 năm. Tối hôm đó trên đường tới Alabama, chúng tôi đi qua một bìa rừng mà không hề có sóng điện thoại, 3G không lên nên không thể Google Maps được, trên đường không thấy một bóng xe nào khác ngoài xe của chúng tôi, đi mãi đi mãi cuối cùng cũng ra khỏi được khu vực đó, đúng là một kỷ niệm hết hồn mà. Sáng hôm sau, chúng tôi đã có mặt ở Mississippi, ở đây tôi gặp chị L. là bạn của a T. hồi đại học. Chị L. tinh tế và chu đáo đúng chất người con gái Hà Nội, chỉ khổ cho những ai đang thầm thương trộm nhớ chị L. mà thôi, he he. Chúng tôi chạy xe dọc bờ biển, bảy năm sau cơn bão lịch sử, nơi đây trông giống như một khu nghỉ dưỡng mới được khám phá, vẫn còn đâu đó đôi nét hoang sơ, cát biển trắng xóa với thùng rác là những chiếc thùng phi nằm ưỡn bụng phơi mình trên cát. Tối tối chúng tôi cùng nhau nấu đồ ăn Việt Nam, đi bar và chơi billard. Sáng hôm sau trước khi ra về, tôi không quên ôm hôn hai chú chó của Mike, một trong những người bạn ở cùng nhà với chị L.

Có người không khỏi bồi hồi lúc ra đi…

Newyork xa hoa. Kỳ nghỉ Spring Break vừa rồi tôi đi Newyork, Washington DC và Boston. Ngồi xe bus 18 tiếng từ Atlanta lên New York, tôi đi qua gần hết miền Đông nước Mỹ. Chuyến đi chơi này tôi đi một mình, cũng hay vì tự do thoải mái không theo một lịch trình sẵn có nào cả. Trước khi tới New York, xe bus dừng tại Maryland, tôi thấy hơi đói và lạnh vì tối qua mới ăn một chiếc bánh croissant, tôi chạy vào tiệm Starbucks làm một tách cà phê cho ấm bụng. Bình minh Maryland đẹp quá, mặt trời đỏ rực như lòng đỏ trứng gà rưới thêm một lớp mỡ trong đang tan chảy, thi thoảng lại dập dìu chiếu xuống thảm cỏ qua những kẽ lá đang đu đưa theo gió sớm.

11h trưa, tôi đặt chân tới New York. Tôi ở nhờ nhà cô C. qua sự giới thiệu của cô bạn L. bên Thụy Sĩ. Cô C. bằng tuổi mẹ tôi, cái tuổi mà tôi hay đùa là “trâu cày đường nhựa” nên khổ quá. Cô cũng hiền và dễ tính như mẹ tôi vậy, tôi có cảm giác như mình đang ở nhà, được ăn bún riêu cua, kim chi, thịt luộc…Anh con trai cô bằng tuổi chị gái tôi, công việc kiểm toán của anh khá bận rộn nên hai anh em chỉ kịp ngồi nhậu với nhau một lúc đêm trước khi tôi rời New York.

New York xa hoa quá, nhiều tòa nhà cao trọc trời ở khắp mọi nơi, khu quảng trường nổi tiếng Time Squares có nhiều đèn led, màn hình chiếu ở trên cao, hôm tôi tới lại đúng St Patrick Day nên mọi người đổ hết ra đường trong trang phục blue xanh, nhộn nhịp tấp nập quá. Tôi gặp lại H., người bạn học cùng cấp 3 đã sang Mỹ gần 7 năm. Chúng tôi cùng nhau đi tới khu Wall Street, ấn tượng nhất đối với tôi là Trump Building tại 40th Wall Street, nơi trước đây được coi là Bank of Manhattan. Tôi mới chỉ đọc các sách về bất động sản và marketing của Trump, trong đó có đề cập về những thành công của những tòa nhà chọc trời của ông ở New York, một cái ở Wall Street, một cái ở Fifth Avenue, đến giờ mới có cơ hội tận mắt nhìn thấy, hoành tráng quá.

Newyork xa hoa hơn tôi tưởng tượng, nhưng hơi xô bồ…

Boston thanh bình. Rời New York, tôi háo hức tới Boston, nơi có hai trường đại học nổi tiếng Harvard và MIT, ước mơ được học tập tại nơi đây không chỉ là của riêng tôi mà còn là của sinh viên trên toàn thế giới. Tôi đến Boston vào đúng những ngày nắng đẹp, không hiểu sao khi đến nơi đây tôi có cảm giác như mình được sống lại những năm tháng thời đại học, cái nhựa sống của tuổi trẻ hừng hực khí thế. Tôi dành 1 ngày để tham quan MIT và 2 ngày để dạo quanh Harvard, hay chỉ đơn giản là ngồi dưới những hàng cây trong campus của Harvard hàng giờ như những sinh viên nơi đây để có cảm giác mình được sống trong không khí này.

Hôm tới MIT, may mắn cho tôi là đúng hôm diễn ra undergraduate admission session, tôi cứ thế nhảy vào đăng ký, tôi ghi mình sinh năm 94 và năm sau apply MIT =)), thế là có cơ hội vào trong student hall và được nghe một cô Admission Officer nói chuyện. Có những vị phụ huynh băn khoăn những câu hỏi rất thực tế như nếu con họ học MIT thì liệu có người yêu không, hay như thi trượt thì điểm thi trượt có bị ghi vào bảng điểm không. Ở MIT năm học đầu tiên bạn chưa phải vào một chuyên ngành cụ thể nào, năm thứ hai mới phải đăng ký chuyên ngành, và ngoài chuyên ngành chính bạn có thể đăng ký thêm các chuyên ngành phụ để học song song. Mặc dù MIT chuyên về science and engineering nhưng để đủ điều kiện tốt nghiệp, sinh viên phải tham gia đủ các khóa học về nghệ thuật, xã hội, lịch sử và thậm chí là thể dục nữa, toàn diện như thế thì lo gì không có người yêu nhỉ.

Quay trở lại Harvard ngày hôm sau, tôi đi một cái free tour do sinh viên Harvard tổ chức, có khá nhiều fun fact mà cô bạn dễ thương tour guide đề cập tới, nhưng tôi chỉ nhớ duy nhất 1 cái là nếu như bạn học trên thư viện tới sau 2h sáng thì bạn sẽ được ăn bánh ở cafeteria miễn phí. Ôi motivation học hành của các sinh viên:)). Tôi lang thang ra Harvard Square, có một ông già chạc 60 đang biểu diễn âm nhạc đường phố. Ông ăn mặc khá kỳ quái đủ các loại quần áo chắp vá nhiều màu sắc, còn nhạc cụ thì cũng kỳ quái không kém, kết hợp từ xong nồi bát đĩa đến tất cả những thứ gì có thể phát ra âm thanh. Bỗng dưng tôi nhìn thấy cái biển đề motto của ông: “Only those who attempt the absurd will achieve the impossible”. Tôi nghĩ đó không chỉ là điều ông nghĩ mà còn là Harvard’s spirit nữa.

Tôi dành cả buổi chiều cuối cùng tại Boston để ngồi lì trong tiệm sách The Coop của Harvard. Trong đó họ có kê những chiếc ghế gỗ nhỏ ngay bên cạnh những giá sách để mọi người có thể ngồi đọc tại chỗ. Tôi thì thích thoải mái nên ngồi bệt luôn xuống đất, ngồi đọc say sưa mấy quyển sách của The Economist hay Harvard Business Review. Cuối cùng tôi mua tổng cộng 5 quyển, đúng là hơi điên một tý vì cả 2 năm học Master tôi chưa hề mua quyển sách nào lol. Nhưng kệ, thi thoảng điên 1 tý cũng hay.

Ở Boston tôi ở nhờ nhà anh bạn Chris, fiancé của một chị bạn tôi. Anh hiền thật, cứ đi làm về là ở nhà để chờ chat với chị bạn tôi ở Việt Nam, chúng tôi cùng nhau chia sẻ cái sự nhọc nhằn của distance love và cùng thông cảm cho nhau, hay thi thoảng cùng cười phá lên khi cả hai đã cùng ở trong một tình cảnh khó xử, ví dụ như phải present trước bố mẹ vợ tương lai chẳng hạn:)).

Sáng hôm sau tôi phải dậy sớm ra sân bay, lúc này Chris vẫn đang ngủ, tôi không muốn đánh thức anh dậy, tôi ra khỏi nhà sau khi gửi lại anh tấm postcard cảm ơn anh hình con mèo tôi mua ở Atlanta. Tôi rời Boston trong lòng đầy lưu luyến.

…Harvard ơi có ngày rồi tôi sẽ trở lại…

-TungKelvin-

Học bổng du học Mỹ

Học bổng du học Mỹ – Ngày nay, du học ở các quốc gia tiên tiến, nhất là du học Mỹ hầu như là con đường tất yếu. Đặc biệt là như với một số sinh viên có hoài bão phát triển bản thân một cách toàn diện. Dù mức phí du học Mỹ đắt đỏ đối với thanh niên du học theo kiểu tự túc. Nhưng du học Mỹ đưa đến nhiều tiềm năng hứa hẹn trong tương lai.

Bởi vậy, nếu bạn có một nền tảng tài chính mạnh mẽ thì rất tuyệt vời. Trường hợp ngược lại, nếu bạn không thể đảm bảo được điều này thì cũng không nên vội thất vọng. Chỉ cần bạn có kết quả học tập vượt trội kèm theo có một nền tảng kỹ năng tốt. Cơ hội du học Mỹ vẫn còn nguyên đó. Bài viết này nhằm cung cấp những thông tin học bổng cần thiết nhất. Du học Minh Nguyệt hi vọng mang đến một cái nhìn đầy đủ và chi tiết về điều kiện và cách thức xin học bổng du học Mỹ.
Chuẩn bị profile xin học bổng du học Mỹ thật nổi bật

Điều phải nhắc đến đầu tiên khi xin học bổng du học Mỹ là bước chuẩn bị profile xin học bổng. Ai cũng hiểu rằng để thành công trong việc xin học bổng du học thì profile phải ấn tượng như thế nào. Số lượng các suất học bổng dù nhiều thế nào cũng sẽ sớm trở nên hiếm hoi. Vì ai cũng biết những học bổng du học có tiếng chính là khao khát của hàng trăm, hàng nghìn sinh viên ưu tú. Không ai biết được có bao nhiêu ứng cử viên ưu tú ngang hoặc hơn bạn. Nên điều cần nhất là bạn phải chuẩn bị bộ file dự tuyển sao cho hình ảnh bản thân trở nên thật đặc biệt, nổi bật.

Đặc biệt, bạn phải sở hữu những yếu tố chỉ riêng bạn có. Qua đó bạn mới thuyết phục được đơn vị cấp học bổng rằng bạn phù hợp, xứng đáng với nó hơn những ứng cử viên khác.

Một cách để trở nên nổi bật chính là hoàn thiện bản thân qua những trải nghiệm hằng ngày trong cuộc sống ở các lĩnh vực khác nhau. Các hoạt động học thuật, ngoại khóa, du lịch, lễ hội, thậm chí là giải trí. Tất cả góp phần hoàn thiện vốn sống của một cá nhân. Một khi bạn đã xác định được động cơ, mục đích du học, bạn có thể làm nổi bật điều đó bằng cách liên kết mục đích với những điểm mạnh từ kinh nghiệm vốn sống để mang lại tính thuyết phục cao. Nếu làm được điều này, khả năng thành công là khá cao và cơ hội du học Mỹ chỉ cách bạn 2 bước nữa mà thôi.

Trình độ học thuật và khả năng ngoại ngữ

Vấn đề tiếp theo bạn cần cân nhắc chính là sự phù hợp giữa bản thân ứng viên và học bổng. Mỗi loại học bổng tùy vào đơn vị cấp, số lượng và mức ưu đãi mà sẽ có những điều kiện khác nhau. Càng cẩn thận tìm hiểu, cân nhắc các yêu cầu của học bổng để chọn được học bổng phù hợp, khả năng đậu cao.

Tùy vào học lực của bản thân mà bạn chọn lựa học bổng đòi hỏi khả năng tương đương. Bên cạnh những đòi hỏi cơ bản về trình độ học thuật và khả năng ngoại ngữ như GPA >3.2, IELTS >6.0 thì những điều kiện “nhỏ” khác cũng cần cân nhắc như kinh nghiệm làm việc, chứng nhận kỹ năng, hoạt động xã hội.

Hãy nói về những thành tựu của bạn

Việc còn lại cần làm chính là bổ sung những thông tin khách quan về bản thân bạn. Những thành tựu bạn đạt được. những thông tin khách quan này được hiểu là những đánh giá từ một người có chức vụ. Vị thế cao của một tổ chức giáo dục. Sự giới thiệu trực tiếp từ thầy cô các khoa hay ban giám hiệu là một điểm cộng lớn cho giấy tờ của bạn. Để nội dung thư giới thiệu đạt được giá trị, ý nghĩa và có tính thuyết phục. Người viết thư cần thực sự hiểu bạn. Sẽ có sự xác minh từ phía đơn vị cấp học bổng, qua điện thoại hoặc mail. Nên việc người giới thiệu không cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin sẽ dẫn đến nguy cơ bị từ chối.

Điều cuối cùng, mọi công việc đều cần một chút may mắn để thành công trọn vẹn. Ngay cả nhũng giấy tờ xin học bổng du học Mỹ “đẹp” nhất cũng có thể bị loại vào ngày xấu trời. Vậy nên bạn chỉ tập trung hết sức hoàn thành nhiệm vụ của mình. Dù kết quả thế nào thì cũng hãy giữ một tinh thần tích cực và bước tiếp đến những cơ hội đang chờ đợi bạn phía trước.

Chúc bạn thành công trên con đường học vấn đã chọn!

SOP

Hi cả nhà,

Mình đã từng là một mentee, và hiện tại cũng đang giúp một số bạn sửa Resume, SOP, LOR. Mình muốn chia sẻ một chút những trải nghiệm và kinh nghiệm của mình để có được hiệu quả cao khi làm việc với mentor.

1. Nên tìm mentor có background tương đương với mình. Vì một người có background tương đương có thể hiểu và giúp bạn sửa Resume/SOP/LOR tốt hơn về cả mặt nội dung lẫn hành văn. Ngoài ra, họ còn có thể chia sẻ với bạn những insights trong ngành giúp bạn có định hướng tốt cho quá trình apply.
2. Nên chuẩn bị sớm và respect thời gian của mentor. Rất nhiều bạn khi tìm đến mình thì deadline nộp hồ sơ chỉ còn khoảng 1 tuần hoặc thậm chí vài ngày. 1 tuần có thể coi là nhiều, vì review một bài essay thường mất từ 45′-2h. Tuy nhiên, (1) 1 tuần trước deadline, nghĩa là mentor chỉ có 1-3 ngày để review và gửi lại để các bạn còn sửa (2) Giờ Mỹ và VN lệch nhau, nên 1 tuần với các bạn nghĩa là 6 ngày với mentor –> mentor chỉ có 0-2 ngày để review (3) Nhiều người (trong đó có mình) luôn có kế hoạch cho 1 tuần phía trước nên nếu có bạn cần mình giúp gấp thì có nghĩa là mình phải thay đổi lại kế hoạch mình. 1-2 lần không sao, nhưng nhiều lần như thế thì không ổn chút nào. Ngày xưa khi mình bắt đầu apply thì gửi luôn cho mentor một bản kế hoạch chi tiết bao gồm những việc mình cần sự giúp đỡ của mentor, deadline cụ thể, mình cần bao nhiêu thời gian để viết/sửa & đề xuất thời gian review của mentor (thường mình để 1 tuần cho mentor review mỗi lần). Từ đó, 2 người có thể thống nhất kế hoạch với nhau.
3. Nên trao đổi từ dàn ý. Khi bạn viết thì nên suy nghĩ trước mình định viết gì, lập dàn ý và trao đổi với mentor (nhất là khi viết essay, cần nghiên cứu kỹ đề bài). Việc này giúp tiết kiệm thời gian của bạn rất nhiều. Thử tưởng tượng nếu bạn dành rất nhiều thời gian để viết và edit trước khi gửi cho mentor, rồi mentor lại chỉ ra rằng bạn đang sai đề thì sẽ thế nào? Nhất là khi deadline cận kề?
4. Quick response. Cái này mình học được trong quá trình tham gia USGuide và đi học. Thường nếu bạn nhận được email của người khác mà chưa đọc/trả lời ngay được thì cũng nên reply lại để confirm là đã nhận được mail & sẽ trả lời trong vòng n ngày. Mình tới giờ vẫn chưa áp dụng triệt để được, nhưng đấy là thói quen tốt trong công việc.

Chúc mọi người apply thành công & có được nhiều lợi ích từ Mentoring Program.

 

—-

Tìm hiểu về Master of Public Affairs

Khi mọi người hỏi tôi học ngành gì, tôi trả lời là tôi học “Public Affairs”. Có rất nhiều người không hiểu học Public Affairs là học cái gì và sau này làm gì? Bài viết này nhằm giải đáp câu hỏi trên. Mục đích của bài viết để tránh mọi người hiểu lầm là học “Public Affairs” là về làm nhà nước, làm công tác tiếp dân. Đồng thời, bài viết cũng cung cấp thông tin cho các bạn dự định đăng ký học Master in Public Affairs có một cái hiểu đầy đủ về ngành học để có thể lựa chọn phân ngành dựa vào năng lực, kinh nghiệm và sở thích của mình.
Master in Public Affairs được chia thành 3 phân ngành chính:

  • Public Administration/Management
  • Public Policy
  • Nonprofit Management

Ở một số trường đại học của Mỹ, ba phân ngành này được phân tách khá rõ. Một số trường thì chuyên đào tạo về 1 trong 3 phân ngành. Một số trường khác thì đạo tạo cả ba phân ngành, sinh viên sẽ được lựa chọn phân ngành mà họ muốn. Như vậy, khi đăng ký vào một trường nào đó, điều quan trọng là bạn phải nghiên cứu chương trình giảng dạy của trường để xem các môn học có thực sự là những cái bạn muốn học không. Vì cùng ngành học Public Policy, có trường dạy môn này, có trường dạy môn khác. Do đó, đừng có nhìn vào cái tên mà lựa chọn vội vàng, tránh tình trạng “treo đầu dê, bán thịt chó”.

Vậy đâu là sự khác biệt của 3 phân ngành trên:

  • Public Administration/Management: được dịch ra là “Quản trị công hay Quản lý công”. Ngành học này sẽ đào tạo ra những người làm công tác quản lý tại các cơ quan của nhà nước. Làm quản lý là làm cái gì? Tức là làm quản lý về nhân sự, về tài chính, về kế hoạch của một cơ quan nhà nước. Làm quản lý xét ở khía cạnh nào đó thì là làm sếp, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn sẽ là lãnh đạo, vì để trở thành lãnh đạo, bạn cần phải có một số yếu tố khác nữa. Chính vì lẽ đó mà ở một số trường dạy Public Administration có dạy một môn gọi là Leadership. Các môn học bắt buộc với ngành Public Administration là quản trị nhân sự, quản lý tài chính, quản lý dự án. Như vậy, thì nếu MBA đào tạo nhà quản lý ở các doanh nghiệp, thì MPA đào tạo nhà quản lý ở các cơ quan của chính phủ.

 

  • Public Policy: được dịch ra là “Chính sách công”. Ngành này đào tạo ra những cán bộ làm chính sách. Bao gồm thiết kế chính sách, phân tích chính sách và đánh giá chính sách. Công việc thiết kế chính sách là công việc của lập pháp, giống như hoạt động của Quốc hội. Họ sử dụng các công cụ nghiên cứu để thiết kế một chính sách cụ thể nào đó. Còn công việc phân tích chính sách là công việc sử dụng các công cụ nghiên cứu để phân tích xem chính sách đó sẽ có tác động đến xã hội như thế nào? Cần bao nhiêu kinh phí? Bao nhiêu năm để thực hiện? Còn đánh giá chính sách, là một công việc sử dụng công cụ phân tích như thống kê, xác suất để đánh giá hiệu quả của một dự án, tác động của nó đối với xã hội về mặt kinh tế, văn hóa, chính trị….vv Như bạn có thể thấy, ngành Public Policy sử dụng rất nhiều các công cụ phân tích, do đó các môn học bắt buộc của phân ngành này là kinh tế vi mô, vĩ mô, xác suất, thống kê, các công cụ đánh giá khác.

 

  • Nonprofit Management: được dịch ra là “Quản lý Phi chính phủ”. Ngành học này sẽ đào tạo ra những người làm công tác quản lý tại các tổ chức phi chính phủ. Để hiểu tổ chức phi chính phủ là tổ chức như thế nào? hoạt động ở những lĩnh vực gì? nguồn vốn ở đâu? vv…xin các bạn đọc bài viết của mình ở địa chỉ http://tranngocthinh.wordpress.com/2009/07/17/pcp-ngo-august-30-2007/.<span> </span>

Ở các nước phát triển, thì tổ chức phi chính phủ rất phổ biến, còn ở Việt Nam thì tổ chức phi chính phủ còn bị hạn chế do xã hội dân sự ở Việt Nam mới bắt đầu manh nha. Các tổ chức phi chính phủ là một loại hình tổ chức có những đặc điểm riêng biệt, do đó khâu quản lý cũng có những đặc thù riêng. Tuy là ngành mới có, nhưng đang phát triển mạnh mẽ với nhiều lợi thế cạnh tranh. Xem thêm ở bài viết trên.

Hiện nay, ba trụ cột chính trong xã hội hiện đại là Chính Phủ – Doanh Nghiệp – Xã Hội Dân Sự, do đó ngành học Public Affairs có tính áp dụng rất cao ở cả ba trụ cột này. Thêm vào đó, ba trụ cột này có mối quan hệ, gắn chặt với nhau nên tính tương tác rất lớn. Vì vậy học Public Affairs, bạn có thể làm việc được ở Nhà nước, doanh nghiệp hay ở Phi chính phủ. Điều này hoàn toàn vào năng lực và sự thích nghi môi trường của bạn. Điều đó để thấy rằng ngành Public Affairs có sự linh hoạt rất cao, hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân bạn. Public Affairs là một ngành học rất rộng, do đó không thể nào tham vọng học hết được, và chương trình thạc sỹ 2 năm cũng không thể nào dạy hết. Do đó khi lựa chọn ngành học cụ thể, phải căn cứ vào năng lực, trình độ và niềm đam mê sau này. Hiện tại tại Việt Nam, ngành Public Affairs đang rất thiếu người vì Việt Nam mới bắt đầu đào tạo ngành này một cách bài bản một vài năm trở lại đây. Là một nước đang phát triển, chập chững xây dựng nên ngành Public Affairs đòi hỏi một lượng lớn nguồn nhân lực.

Đối với mỗi người học, câu hỏi thường trực là học xong sẽ làm cái gì. Xin minh chứng một số cá nhân học Public Affairs đã thành danh. Xin lưu ý, ví dụ không có nghĩa là ai học Public Affairs cũng sẽ thành công như những cá nhân trong ví dụ này.

Đây là danh sách những cá nhân kiệt xuất đã từng học Public Affairs http://www.naspaa.org/alumni/distinguished.asp. Trong danh sách này bạn có thể dễ dàng nhận ra Ban Ki Moon – Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Felipe Calderon – Tổng thống Mexico, Robert Zoellick – Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, các vị bộ trưởng, thủ tướng, quan chức hàng đầu chính phủ khác.

Còn ở Việt Nam, người học MPA mà nổi tiếng nhất phải nói tới Nguyễn Thiện Nhân. Ông Nhân học Public Affairs tại University of Oregon theo học bổng Fulbright. Ông Nhân hiện tại là Phó thủ tướng Chính phủ Việt Nam.

Thay cho lời kết, hy vọng bài viết này sẽ giúp ai chưa hiểu về Public Affairs sẽ có cái nhìn rõ hơn về ngành này. Đối với những ai dự định theo học Public Affairs, sẽ định hướng rõ hơn về sự nghiệp của mình. Chúc các bạn thành công với sự nghiệp sau khi tốt nghiệp ngành Public Affairs.

Trần Ngọc Thịnh
September 05, 2010
Columbia, MO

SOP by Mellypink

Nguồn: http://ttvnol.com/Duhoc/1210039

Chào các bạn,
Thời gian gần đây mình có nhận được khá nhiều email hỏi kinh nghiệm về việc apply học bổng trong đó phần lớn các email đều hỏi xin Statement of Purpose – SOP. Trên diễn đàn mình thấy có khá nhiều bạn đã chia sẻ các kinh nghiệm xin học bổng tuy nhiên chia sẻ quá trình viết SOP chưa nhiều, mà đây lại là 1 trong những yếu tố quan trọng của quá trình apply. Nhân tiện hôm nay mình “dọn dẹp” USP tìm lại được bản final của mấy hồ sơ xin học bổng, mình copy lại ra đây để chia sẻ với mọi người. Mình lập topic mới, hy vọng các EMer, Fulbrighter … cùng vào đây chia sẻ. Nếu có topic nào đã trùng lặp thì mod chuyển giúp mình. Lưu ý mình chỉ chia sẻ về học bổng Erasmus Mundus và Fulbright là 2 học bổng mình đã apply thành công, các học bổng khác có thể có các yêu cầu cụ thể riêng, các bạn nên tìm hiểu kĩ.

1. Học bổng Erasmus Mundus – EM

Học bổng EM thường yêu cầu bạn viết 1 bản Statement of Purpose hoặc Letter of Motivation. Theo kinh nghiệm của cá nhân mình, cả 2 dạng essay trên đều có nội dung giống nhau, để trả lời cho các câu hỏi WHY – Tại sao bạn muốn đi học, What- học khoá này sẽ đem lại cho bạn điều gì, How- Bạn sẽ ứng dụng những điều bạn học được như thế nào. Trong khi viết bạn cũng cần thể hiện bạn là người PHÙ HỢP với khoá học. Sự phù hợp có thể thể hiện ở Kinh nghiệm làm việc, khoá học Đại học có liên quan, hay những đam mê, sở thích mà bạn có.

Về format, Letter of Motivation cần viết dưới dạng 1 bức thư (tất nhiên)! Có mở thư, kết thư cẩn thận.

Dưới đây, tớ post lại Letter of Motivation cho khoá Communication, Media & Cultural Studies. Rất tiếc là khoá này đã close, tuy nhiên các bạn có thể tham khảo cho quá trình apply các course khác!

Name
No 1- XYZ St-Hanoi, Vietnam
University of Florence – Polo delle Scienze Sociali
D1 ?” Room 003 – Via delle Pandette,
32 – 50127 Florence, Italy
15 December 2008
Dear Sir or Madam,
I am writing to express my interest in your European Master of Arts in Media, Communication and Cultural Studies programme and would like to explain my motivation in a few words for your consideration on granting me the admission and scholarships.

As you can see from my enclosed CV, one of my most distinctive characteristics is the diversity of experiences I possess. Graduated from Hanoi Foreign Trade University, I have had one year working for a multi-national company and then more than three years working as founder and coordinator of GreenZoom ?” an organisation focusing on the field of Culture and Communication for Community Development. My initiative is launched from a firm belief that a group of young people can make real change to their community by using various methods of communication in development projects. With the spirit of Sharing & Creating, GreenZoom strives to build a Vietnamese community of creative, intellectual and responsible young people aiming to preserve the country?Ts diverse culture and traditions, promote cultural exchanges and contribute passionately to the progress of society. During the last three years, GreenZoom has achieved great attention through various development projects, creative workshops and community exhibitions.

As part of my personal and professional development, I had chance to attend various cultural and social exchange programmes and international conferences from Asia to Europe, Latin Amerian, Africa where I once again appreciated the beauty of cultural diversity, the necessity of enhancing and deepening the understanding of country?Ts unique cultural identity and heritage, the importance of developing multimodal communication for development. I think that it has been these experiences that have shaped the person I am today.

As having set my long-term career in cultural studies and communication, I am motivated to work as an active young activist preserving and promoting my homeland?Ts culture as well as making a difference for better futures of community development in Vietnam by applying various ways of communication and media. After three years working in practice and pursuing professional interest in communication, I realized that I am in need of developing my understanding of both theoretical and practical issues relating to the mass media, culture and the new technologies. Now it is high time for me to work out a master plan which I believe would help me bring greater contributions to my organisation particularly and the prosperity of my country generally.

Looking for a name from a large pool of different programmes, I chose The Erasmus Mundus MA in Media, Communication and Cultural Studies for its unique, interdisciplinary and inter-university features which enable students to attend courses at two universities in different countries.
Firstly, considering that the focus of the programme is on Media, Culture, and Communication, taking this course will help me explore the most recent developments of multimodal communication as well as extend skills of multimedia production. Within the course?Ts duration, I will be equipped with numerous approaches and applications and given opportunities to design, produce and analyse media messages in a variety of contexts. From what I have found out at the Comundus website as well as via correspondence with programme?Ts professors, I believe the combined skills and knowledge the course offer will give me valuable resources to take home and contribute for my own organization growth. Therefore I consider this Master program a stepping stone to my future career success.
Secondly, the Master?Ts program offered by a consortium of leading European higher education institutions would give me the possibility to learn with famous scholars and excellent students and at the same time, gain precious experience with other perspectives and cultural practices. As communication and culture strike me as one of the most exciting areas of research today, I appreciate the chance to broaden my network, meeting and exchanging views with peers from around the world. Besides, being familiar with living and working in a multicultural international surroundings, I am eager to quickly adapt to new environment, to accept and appreciate differences, to learn from others and easily get connected in a network.

Thirdly, having a passion for traveling and understanding different cultures of the world, I do hope that, through this master course, I am able me to get an in-depth understanding and real experience of European society where beholds the vibrant cultural and historical significance as the epicenter of civilization. I have come to Europe one year ago as a visitor, this year I hope to come back as a student.

In conclusion, ?olearning, sharing, networking, and leading?-those are four elements that I would like to apply for Media, Communication and Cultural Studies Master course . Upon return to Vietnam on completion of my study, I strongly believe that the advanced knowledge and skills I have will affirm me for better contributions to my organisation particularly and my country generally.
I well understand the great pressure and challenges that will be presented to me when studying in such a distinguished program as yours; but given a chance, I am determined to overcome any obstacles to achieve my goals.

I would be obliged if you could give me an opportunity to contribute to the excellence and diversity of your advanced program.
Thank you for your consideration and I am looking forward to your positive reply.

Yours sincerely,

Name

Graduate Admissions: the selection process

Để hỗ trợ cho các bạn tốt hơn trong quá trình chuẩn bị hồ sơ, tôi xin kể ra đây các câu chuyện về quá trình làm việc cũng như tiêu chí lựa chọn tôi được biết trong quá trình tham gia tình nguyện ở AC trong khoa. Trong bài viết này tôi chỉ giới hạn thông tin về việc xét duyệt hồ sơ cho ngành Computer Science tại một trường cụ thể trong top 10. Mỗi trường có thể có cách lựa chọn khác nhau, vì thế tôi chỉ có thể đưa ra các thông tin theo góc nhìn ở một ngành, một trường cụ thể, để mong có thể giúp các bạn tưởng tượng được quá trình tuyển chọn diễn ra như thế nào.

Tôi cũng xin nhắc trước là vì chuyện privacy mà tôi không nhắc tới bất cứ một cái tên riêng nào về trường, giáo sư hay sinh viên. Vì thế mong các bạn đừng hỏi tôi về các thông tin cụ thể về các tên riêng kể cả khi các bạn đã biết tôi học ở đâu. Đại loại là các bạn có thể hình dung là có một trường trong top 10 ngành CS có quá trình tuyển chọn như thế.

1. Quá trình tuyển chọn diễn ra như thế nào?
Hội đồng tuyển chọn gồm các faculties của khoa và các grad students đăng ký tham gia tình nguyện. Các giáo sư đa số là các giáo sư trẻ mới về đang muốn tìm kiếm thêm sinh viên mới. Có một giáo sư lâu năm uy tín ở khoa làm chair cho AC. Các sinh viên thì đăng ký một cách tình nguyện để giúp đỡ, san sẻ công việc cho các giáo sư.

Quá trình tuyển chọn diễn ra theo 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu là để sàng lọc ra những sinh viên outstanding trong application pool. Sau đó mới xem xét hồ sơ của nhóm này kỹ hơn xem có match với nhu cầu hiện tại của khoa không.

Trong giai đoạn đầu, hội đồng sẽ chia làm nhiều nhóm làm việc nhỏ nhỏ. Mỗi nhóm gồm 1 faculty và một vài grad students. Các hồ sơ sẽ được phân loại theo các khu vực địa lý: Ấn, Tàu, Mỹ, Hàn, các nước còn lại. Mỗi nhóm làm việc sẽ phụ trách một phần theo các khu vực đó. Thông thường các giáo sư Ấn và sinh viên Ấn sẽ xem các hồ sơ đến từ Ấn, các giáo sư và sinh viên Tàu hay Mỹ cũng như vậy. Họ làm vậy là để tận dụng sự hiểu biết của các thành viên trong AC đối với giáo dục ở mỗi khu vực (Các giáo sư và sinh viên Tàu sẽ có hiểu biết về các application từ Tàu tốt hơn…). Mục đích của giai đoạn này là để tìm kiếm và không bỏ sót những hồ sơ nổi bật.

Sau giai đoạn đầu các sinh viên nổi bật nhất sẽ được lựa chọn ra, số lượng hồ sơ đã được giảm bớt đi rất nhiều. Giai đoạn kế tiếp các faculties trong AC sẽ ngồi lại với nhau để quyết định ai được admitted và ai sẽ có fund. Các hồ sơ cũng được gửi đến các giáo sư khác trong khoa ở mỗi ngành hẹp cụ thể để họ xem sinh viên đó có match với nhu cầu ở các ngành hẹp đó không.

2. Như thế nào thì được coi là một hồ sơ nổi bật?
Những hồ sơ có những đặc điểm sau sẽ được xem là nổi bật, thứ tự ưu tiên giảm dần:
– Có pubs ở các well-known confs hoặc có strong letters.
– Là top student ở trường/khoa well-known.
– Có các giải thưởng đặc biệt: IMO, ACM programming,…
– good scores, good gpa

Tất nhiên là mỗi sinh viên được nhìn một cách tổng thể kết hợp tất cả mọi thông tin nhưng những sinh viên có đặc điểm gì đó nổi bật sẽ dễ được lựa chọn hơn là các sinh viên tốt một cách đều đều.

3. Pubs có vai trò như thế nào?
pubs là bằng chứng rất tốt chứng tỏ khả năng nghiên cứu của bạn. Tuy nhiên nếu pubs của bạn là pubs kiểu nội địa hoặc khu vực, không ai biết đến thì cũng chẳng có mấy giá trị. Thậm chí có trường hợp tôi thấy có một cậu sinh viên ở Thái đưa hẳn nội dung mấy cái paper nội địa của mình vào và bị comment là bad papers. Nếu bạn có paper ở top-tier conf thì sẽ là một lợi thế cực lớn. Tuy nhiên, khi đó bạn phải chứng minh được mình là người làm chính hoặc có đóng góp lớn cho paper đó, mà cách tốt nhất là thông qua letter của advisor làm chung paper với bạn. Tôi được biết có top conf họ sắp xếp tên tác giả theo thứ tự abc chứ không phải theo sự đóng góp, vì thế nhiều khi first author cũng chưa chắc là người làm chính.

4. Thế nào là strong letters?
Là của những người well-known và give positive comments về bạn. Tuy nhiên, xin letter từ những giáo sư nổi tiếng cũng là con dao 2 lưỡi. Để tôi lấy ra 2 ví dụ mà tôi gặp:

Ví dụ 1: tôi đọc trong thư của một cậu học under ở một trường trong top 4 ngành CS (UCB, Stanford, MIT, CMU) từ bác chair của cs dept trường đó. Trong thư bác ấy có viết cậu này là một trong những sinh viên under xuất sắc nhất mà bác ấy từng gặp trong hơn 20 năm giảng dạy (ở 2 trường thuộc top 4). Chỉ cần một câu nói này thôi thì bất chấp các thứ khác tôi nghĩ cậu ta nộp ở đâu cũng sẽ được nhận thôi.

Ví dụ 2: một cậu khác cũng học under ở một trường top 4, gpa khá cao (cỡ 3.9 gần 4.0), từng có huy chương tin quốc tế. Tuy nhiên trong một letter bác giáo sư có nhắc là cậu này tuy học tập rất chăm chỉ và có kết quả tốt nhưng có vẻ rụt rè, không tích cực tham gia vào các nhóm nghiên cứu của khoa như các sinh viên Mỹ khác. Vì thế bác này không dám chắc cậu ta có khả năng làm nghiên cứu tốt hay không. Chỉ cần một điểm này thôi làm hồ sơ cậu ta yếu hẳn đi và không được vào nhóm top-list.

Các giáo sư ở Mỹ họ nhận xét rất thẳng thẳn, khen chê rõ ràng chứ không chỉ có khen như các giáo sư châu Á. Trong nhiều thư họ nói thẳng là thằng này tuy là sinh viên của tao những tao thấy nó cũng bình thường và tao không chắc là nó có thể thrive ở graduate school. Hoặc kiểu thằng này nó học lớp xxx tao dạy, nó được điểm yyy và thỉnh thoảng tao mới gặp nó một lần nên cũng không có ấn tượng gì nhiều lắm. Hoặc có kiểu giới thiệu gián tiếp như có bác bảo thằng này chủ yếu làm việc với một thằng grad student khác của tao và theo thằng grad student đó thì nó như thế này, thế này.

Kiểu letter điển hình nhất là kiểu viết về do well in the class. Nói chung là kiểu này không có thông tin gì nhiều lắm và xuất hiện nhiều vô kể trong đám hồ sơ. Bác giáo sư trong nhóm tôi bảo là phần nhiều các giáo sư ở các trường ngoài nước Mỹ không biết viết thư giới thiệu như thế nào, hoặc là cụt lủn hoặc là kể lể dài dòng mà không có thông tin cần thiết. Có nhiều là thư tôi đọc được viết theo trường phái “gạch đầu dòng”.

5. gpa có quan trọng không?
Có, nhưng quan trọng hơn là ranking của bạn trong lớp/khoa và sự nổi tiếng của trường bạn. Vì đơn giản nếu bạn đến từ một trường mà họ chưa bao giờ nghe đến thì họ làm thế nào đánh giá điểm học tập của bạn được. Ngoài gpa ra thì bảng điểm của bạn nhiều khi cũng bị soi kỹ xem bạn bọn những môn gì và kết quả các môn đó ra sao. Nếu bạn là top ở một trường mà họ đã từng biết đến thì khả năng vào nhóm outstanding là rất cao.

6. Điểm GRE, toefl đóng vai trò như thế nào?
Toefl thì ít được chú ý, nó chỉ để chứng tỏ khả năng TA của bạn. Nếu thấp quá sẽ bị nghi ngờ là không thể sử dụng TA. Verbal score thì được đánh giá theo từng khu vực. Nếu bạn đến từ nước không sử dụng TA thì nó cũng không được quá coi trọng. Tất nhiên điểm bạn thấp thì sẽ bị nghi ngờ về khả năng TA và sẽ là bất lợi cho hồ sơ của bạn. Điểm quantative thì khác, nếu điểm bạn thấp (khoảng tầm 770 trở xuống) sẽ trở thành một negative point trong hồ sơ của bạn. Đặc biệt nếu thấp khoảng từ 700-720 trở xuống thì bị loại ngay từ vòng gửi xe luôn.

Điểm GRE chỉ là một phần chứ không có tiếng nói nhiều cho trọng lượng hồ sơ của bạn. Nếu chỉ đơn thuần so điểm GRE thì có lẽ chúng ta sẽ mãi mãi không bao giờ đổi kịp các bạn Ấn được. Hồi trước nghe đồn điểm GRE tụi nó cao tôi không tin lắm, bây giờ tận mắt nhìn vào đống hồ sơ thấy chuyện chúng nó được 800+800 cũng không có gì lạ lắm. 600-700 verbal là mức điểm trung bình của bọn nó.

7. SoP có quan trọng lắm không?
Tôi thấy là nó không quan trọng lắm. Sop chỉ là cái dùng để cung cấp thêm những thông tin khác ngoài những thứ bạn có trong hồ sơ. Ví dụ như bạn muốn làm với ai, tại sao bạn thích ngành đó, dự định của bạn sau này như thế nào… Hoặc kiểu giải thích là tại sao tao bị điểm thấp ở môn X nào đó vì hồi đó tao bị gãy chân… Nói chung điều quan trọng ở sop là cố gắng đừng viết sai ngữ pháp và diễn đạt một cách mạch lạc là được.

8. Có sẵn funding có phải là lợi thế lớn không?
Cái này tùy chính sách từng trường, từng khoa, tôi không thể nói trước được. Như ở tôi thấy trong đồng hồ sơ của mình có chú được Fulbright mà vẫn bị loại ngay từ vòng gửi xe.
================

Originally Posted by neikel [IMG]
Cám ơn bác, trong quá trình này, bác cho em hỏi GPA và điểm GRE Subject cái nào được đánh giá cao hơn ?
GRE subject thì cũng tùy trường và tùy khoa, như ở khoa tôi là không yêu cầu và không được đánh giá vào hồ sơ chung. Có lẽ chỉ khi bạn có background ở một ngành khác thì mới cần GRE subject. Trong đống hồ sơ tôi theo dõi thì chưa thấy có ai có điểm subject.

Quote:
Originally Posted by vodanhtieutot
Em hỏi bác thêm về GPA một tí. Lúc mình ghi GPA thì mình tính theo lớp (kiểu như under ở VN), hay theo khoa, hay theo trường. Thông thường mình chỉ biết điểm khoa mình chứ mình không biết các khoa khác, thế làm sao biết được mình ở rank nào nếu ghi theo trường.

Tính theo lớp hoặc theo khoa thôi là đủ rồi. Nhưng điều này chỉ có ý nghĩa hơn khi họ đã biết đến trường của bạn. Nếu trường bạn bị xếp vào loại unknown institution thì đó sẽ là một lợi thế rất lớn. Như tôi thấy nhiều hồ sơ cũng khá tốt nhưng đến từ những nơi mà bọn tôi chẳng biết đó là đâu nên cũng bị loại ngay. Mỗi khi gặp các hồ sơ đến từ Vn, bác giáo sư hỏi tôi khá nhiều về các trường ĐH ở VN.

Quote:
Thêm nữa, nếu ghi theo tỉ lệ A/B thì rõ rồi, còn nếu ghi theo % thì bao nhiêu được gọi là top hả bác (1%, 5%, 10%). Mà cái này mình cũng chỉ phỏng đoán rồi ghi thôi chứ trường cũng đâu có xác nhận nhỉ?
Có nhiều cách để thể hiện điều đó. Với những con số có bằng chứng rõ ràng thì bạn có thể ghi vào resume hoặc trong sop. Nhưng có lẽ cách tốt nhất là thể hiện nó qua các letters. Ví dụ như trong một letter dù từ các giáo sư unknown nhưng có một nhận xét kiểu như thằng này là thằng tốt nhất trong cả chục năm qua ở trường tao thì hồ sơ đó sẽ được đánh giá rất cao. Vì thế tôi mới nói letter được đánh giá rất cao. Tất nhiên là họ không biết kiểu letters tự tay sinh viên viết như nhà mình. Nhưng tôi khuyên là bạn nên trung thực, có sao viết vậy chứ đừng khoác lác quá khi họ phát hiện ra sẽ ảnh hưởng đến tất cả các hồ sơ khác từ VN (kiểu như có 2 thằng đến từ cùng một trường mà đều là tốt nhất trong cả chục năm qua sẽ là conflict)
Quote:
Originally Posted by ccbtm [IMG]
Bác kitte cho em hỏi, nghe nói là ở chỗ bác vòng cuối còn có giáo sư defend cho applicants. Bác nói rõ hơn đoạn đấy được không??

Em không được phép mon men đến cái vòng cuối đó nên chả biết các bác giáo sư defend cho applicants như thế nào. Nhưng về cơ bản chắc có 2 lý do để một bác giáo sư có thể giúp đỡ cho applicants:
– Bác ấy muốn nhận sinh viên đó vào nhóm mình. Trong trường hợp này thì khả năng được admitted của sinh viên đó rất cao, có lẽ trừ khi hồ sơ cậu ta có điểm gì đó khá tệ không chấp nhận được.
– Bác ấy biết thêm thông tin về bản thân cậu sinh viên đó hoặc trường và hệ thống giáo dục ở quốc gia đó. Trong trường hợp này chắc bác ấy sẽ cung cấp những thông tin về hồ sơ đó cho AC biết. Như em đã nói, điều dở nhất của hồ sơ mình nộp là khi họ không biết mình đến từ đâu, chả biết lấy gì để so sánh, đối chiếu.
Nói chung là tụi grad students như bọn em cũng có thể “bảo vệ” cho một vài hồ sơ nào đó ở vòng đầu nhưng tất nhiên là tiếng nói không có nhiều trọng lượng.
Quote:
Originally Posted by ccbtm [IMG]
Bác kitte cho em hỏi, nghe nói là ở chỗ bác vòng cuối còn có giáo sư defend cho applicants. Bác nói rõ hơn đoạn đấy được không??

Em không được phép mon men đến cái vòng cuối đó nên chả biết các bác giáo sư defend cho applicants như thế nào. Nhưng về cơ bản chắc có 2 lý do để một bác giáo sư có thể giúp đỡ cho applicants:
– Bác ấy muốn nhận sinh viên đó vào nhóm mình. Trong trường hợp này thì khả năng được admitted của sinh viên đó rất cao, có lẽ trừ khi hồ sơ cậu ta có điểm gì đó khá tệ không chấp nhận được.
– Bác ấy biết thêm thông tin về bản thân cậu sinh viên đó hoặc trường và hệ thống giáo dục ở quốc gia đó. Trong trường hợp này chắc bác ấy sẽ cung cấp những thông tin về hồ sơ đó cho AC biết. Như em đã nói, điều dở nhất của hồ sơ mình nộp là khi họ không biết mình đến từ đâu, chả biết lấy gì để so sánh, đối chiếu.
Nói chung là tụi grad students như bọn em cũng có thể “bảo vệ” cho một vài hồ sơ nào đó ở vòng đầu nhưng tất nhiên là tiếng nói không có nhiều trọng lượng.

=================

Bác kitte đã giới thiệu quá trình xét duyện hồ sơ ( của trường 1x), dưới góc nhìn của applicants, tôi xin đưa ra một quy trình có phần tương tự nhưng dưới góc quan sát của của hội đồng admission committe ( adcom) ở một trường 2x. Quy trình này chỉ làm tham khảo, tôi không biết nó có đúng với các trường 1x hay không, có điều tôi chắc chắn đó là nó chỉ áp dụng cho ngành khoa học kỹ thuật, còn bên xã hội và nhân văn thì sẽ rất khác. Anh ĐCB hay chị Evil có thể giới thiệu nhiều hơn về ngành xã hội và nhân văn, điều khác biệt dễ nhận thấy đó là bên khoa học, kỹ thuật, theme research của khoa cũng như research group quyết định đến cá nhân người nộp hồ sơ, còn bên xã hội và nhân văn, thì applicants chính là người xác định hướng đi, theme nghiên cứu, và hội đồng xét duyệt phụ thuộc vào cái proposal để xác định và tuyển chọn ứng cử viên.

Bước đầu tiên, đó là xây dựng các tiên đề, hay các nguyên lý; có 3 nguyên lý trong mô hình xét duyệt.

  1. Dựa trên nguyên lý cân bằng động và sự hài hoà giữa tiêu chuẩn chung của khoa cũng như nguyện vọng của các faculty, với điểm chung đó là lựa chọn được các sinh viên có năng lực và best match với lĩnh vực nghiên cứu của nhóm.
  2. Sinh viên chỉ được admitted khi có ít nhất một falcuty member đồng ý supervise và fund cho sinh viên đó. Nguồn funding của thể đế từ các research grants, của khoa, trường, chính phủ, công ty, hoặc external sources – học bổng nhà nước.
  3. Luôn luôn dành một khoảng thời gian để phỏng vấn các ứng cử viên, do nhóm nghiên cứu, hay cá nhân faculty member thực hiện.

Tiếp đến, là quá trình xét duyệt, có 6 bước trong quá trình này đó là (1) vòng sơ khảo , (2) vòng giới thiệu hồ sơ, (3) vòng họp bàn chung (4) vòng phòng vấn riêng, (5) Vòng offer admission, (6) Vớt vát và bổ sung, late admission.

1. Hội đồng sẽ nhìn qua một lượt, và cắt một lượng các đăng ký không hội tụ các tiêu chuẩn cơ bản nhất của khoa. Số còn lại được chia thành 4 nhóm hồ sơ , Outstanding, Strong, Good và Borderline.

2. Một bản hồ sơ ( copy) sẽ được phân phối cho các nhóm nghiên cứu của khoa, dựa trên đánh giá sơ bộ của hội đồng, họ nắm bắt được research interests của applicants, cũng như match interest này với theme của nhóm nghiên cứu, nhằm đảm bảo tiết kiệm thời gian review chồng chéo. Feedback của nhóm nghiên cứu sẽ có vai trò vô cùng quan trọng, sau khi đọc hồ sơ, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra comment:

  • A. Chúng tôi rất thích thú với hồ sơ này, và sẵn sàng tiếp nhận hồ sơ để làm interview.
  • B. Chúng tôi nghĩ rằng hồ sơ này tốt, nhưng không thực sự nổi bật và cạnh tranh, nên chúng tôi có thể sẽ xét duyện và dưa ra quyết định có phỏng vẩn hay không sau, hoặc chuyển qua cho nhóm nghiên cứu khác.
  • C. Chúng tôi không nghĩ rằng hồ sơ này có khả năng được admitted vào khoa của chúng ta.

Ranking của applicants cũng được thiết lập bởi từng nhóm nghiên cứu, để dễ dàng cho các bước tiếp theo.

3. Hội đồng xét duyệt sẽ họp bàn chung trong vài tuần và

  • A. Sắp xếp, coordinates lại các hồ sơ mà nhiều group recommend cũng như thích thú. Lặp lại bước 2 để tìm ra nhóm thích hợp nhất, cũng như có được một hệ gauge, rank các ứng cử viên.
  • B. Xem các hồ sơ ở mục 2A, để đưa ra interview. Nếu thích hợp, nhóm sẽ sắp đặt để interview với ứng cử viên ( admission chưa được offer trong giai đoạn này). Nếu không thích hợp, low rank thì hồ sơ sẽ bị loại. Hoặc trường hợp, không đạt được thoả thuận, sắp đặt giữa các nhóm, thì nguyên lý 3 sẽ được sử dụng.

4. Sau quá trình phỏng vấn, hồ sơ sẽ được chia thành 4 nhóm.

  • A. Nhóm hồ sơ definitely muốn được nhận và cung cấp fund.
  • B. Nhóm hồ sơ được nhận chỉ khi họ có đủ nguồn fund.
  • C. Nhóm hồ sơ mà research group không muốn nhận, nhưng chưa quyết định reject.
  • Nhóm definite bị loại.

5. Hội đồng xét duyệt sẽ họp bàn, và đưa ra quyết định acceptance. Họ sẽ dựa trên tiêu chí, số lượng sinh viên nội, quota sinh viên ngoại và global ranking.

  • A. Hồ sơ thuộc top X ranking, 4A sẽ được offer admission ngay lập tức.
  • B. Xét duyệt và hỏi ý kiến của nhóm nghiên cứu về nhóm hồ sơ 4B, 4C. Nếu không có nhóm nào nhận các hồ sơ này, thì họ sẽ vẫn giữ lại để cho second round offers.

6. Hội đồng xét duyệt sẽ xem xét nên làm gì với nhóm hồ sơ còn lại, ví dụ như nhóm hồ sơ top X nhưng chưa được supervisor nào nhận. Quá trình này diễn ra cũng nhanh, bởi vì dạng hồ sơ này có khả năng thích hợp dễ dàng với nhiều nhóm khác nhau. Hồ sơ applicants thường được review song song với quá trình apply nên không cần phải đợi đến hạn cuối, deadline mới thực hiện 6 bước trên. Hội đồng được lập ra với vai trò sắp xếp, organize , trong khi nhóm nghiên cứu nắm vai trò chủ chốt trong việc nhận hay không nhận sinh viên.

Trên lý thuyết là như vậy, còn thực tế, đối với các sinh viên đã học undergraduate ở trường X, việc xét duyệt hồ sơ và đưa ra offer admission có thể chỉ diễn ra qua 2 emails và một cuộc interview.
=================

Kitte với Sipho đã viết rất tốt rồi. Nhưng đấy là ở các trường 1x, 2x. Chị chỉ góp ý thêm là ở các trường ranking thấp hơn, do ít hồ sơ nổi bật như các trường top trên, tiếng nói cùa faculties và các sinh viên trong khoa cũng rất quan trọng.

Ví dụ: giữa 2 hồ sơ không hơn kém nhau nhiều, một bên đã được một prof trong khoa nhận, thì sẽ được ưu tiên hơn. Được 1 sinh viên khá/giỏi trong khoa giới thiệu cũng có giá trị tương đương. Chính vì vậy, rất nên contact trước với prof hoặc sinh viên Việt.

Nói riêng về các ngành xã hội, có thể phân chia làm hai dạng:

1) Nhóm ngành kinh tế, tài chính, và các ngành khác thuộc business school:

* Kinh tế: Bất kể undergraduate, master là ngành gì đều có thể chuyển sang học PhD kinh tế. Nguyên tắc chung giống như tuyển các ngành tự nhiên và kỹ thuật. GRE Verbal không quan trọng, nhưng Quant và GPA về các môn toán, giải thưởng toán học càng cao, càng nhiều càng tốt.

Papers của undergraduate và master không được quan tâm lắm, bởi vì cực kỳ hiếm khi được đăng ở các tạp chí uy tín, do bậc học này khác xa với bậc PhD. Tuy nhiên các trường 1x cũng ưu tiên hàng đầu cho các ứng viên có khả năng nghiên cứu. Ví dụ U. Chicago, chỉ nhăm nhăm tìm kiếm những người có khả năng được giải Nobel trong tương lai cho nên bên cạnh strong LoR, Papers từ các tạp chí tương đối ở nước ngoài cũng là một nguồn quan trọng để đánh giá về khả năng sản xuất ý tưởng của ứng viên.

Nhưng chính vì vậy, sinh viên đi từ Việt nam rất khó có cơ hội vào được những trường dạng 1x-2x. GRE không đọ được với các bạn Tàu, Ấn, SoP và papers thì không đọ được với sinh viên học under hay master ở nước ngoài.

Paper của ngành kinh tế ở tạp chí uy tín rất khó, khiến cho nhiều assistant professor cũng không thể kiếm được tenure. Mặc dù theo quy định từng trường, trong vòng 6 năm đầu tiên, mỗi ass. prof chỉ cần phải publish 2-3 papers ở tạp chí uy tín thôi. Chính vì vậy, papers của sinh viên under, master thường chả có ý nghĩa gì mấy.

Tài chính: PhD tài chính thuộc loại cạnh tranh bậc nhất ở Mỹ. Phần vì tuyển rất ít, (mỗi khoa tuyển từ 2-5 người, trong khi kinh tế từ 15-20 người), ra trường rất dễ kiếm việc và lương cũng rất cao, (thường là gấp rưỡi ngành kinh tế và gấp 2-2.5 các ngành toán, vật lý. ) Chính vì cạnh tranh quá mạnh cho nên mọi tiêu chí đều bị đội lên cao hơn. Tài chính thi GMAT. Tuy nhiên ở tầm 1x, tôi nghĩ cạnh tranh ở kinh tế và tài chính cao như nhau, bởi vì số applicant của kinh tế cũng cao hơn nhiều.

Các ngành khác thuộc business school: về cơ bản tuyển cũng giống Tài chính, nhưng cấp độ cạnh tranh thấp hơn. Một số ngành như PhD Marketing, Accounting, Insurance, Real Estate…cũng rất hay. Ra trường rất dễ kiếm việc làm.

Tuy nhiên, một đặc điểm của nhóm ngành này là tỷ lệ loại sau các kỳ thi comp, Q.E rất lớn. Kinh tế có kỳ thi Comp năm thứ nhất là quan trọng nhất, có thể loại 50%-70% sinh viên, tuỳ theo từng trường. Các ngành kia tuy thi năm thứ 2, nhưng tỷ lệ loại cũng không kém, (thường là 50%). Cá biệt có một số bạn ở các trường phản ánh, có khi lên đến năm thứ 3, thứ 4, khoa sạch bóng không còn sinh viên nào. Phần vì thi cử khắc nghiệt, phần vì các prof kỳ vọng quá đáng, gây sức ép đến mức sinh viên không chịu nổi phải bỏ hoặc chuyển trường. Ở các khoa này, các prof có project tự nghiên cứu với nhau hoặc joint với các trường khác, chẳng cần sinh viên. Đặc biệt khắt khe là những trường theo trường phái Chicago.

2) Nhóm các ngành xã hội khác:

Nhiều ngành của nhóm này có thiên hướng ngoại giao, chính trị, cho nên kinh nghiệm làm việc, lý lịch gia đình, vị trí công tác, địa vị và uy tín xã hội, công tác đoàn đội, ấn phẩm, papers đặc biệt quan trọng. Thậm chí quan trọng hơn là thành tích học tập ở under và master nhiều. Nhóm ngành này cũng thường đòi hỏi khả năng tiếng Anh, TOEFL và Verbal của GRE, cao hơn. Thường là Verbal từ 500-700. Ở nhóm ngành này, sinh viên Mỹ, đặc biệt là những người lớn tuổi, học rất đông. Bởi vì các ngành xã hội đòi hỏi khả năng viết lách, sáng tác là những thứ mà dân Âu, Mỹ hơn đứt dân châu Á, châu Phi. Hơn nữa, nhóm ngành này lương thường không cao, hoặc khó xin việc do rào cản ngôn ngữ, nên khó hấp dẫn các bạn đến từ các nước kém phát triển. PhDer Tàu hoặc Việt làm sao có thể cạnh tranh job với PhDer tiếng anh bản ngữ trong các ngành Báo chí, Truyền thông, Văn chương hoặc Khoa học Chính trị, đúng không nhỉ???

Cũng chính vì kinh nghiệm làm việc, ấn phẩm, xuất bản được ưu tiên nên những người lớn tuổi có ưu thế ở nhóm ngành này. Trong khi họ rất khó cạnh tranh với các cháu thế hệ @ giải toán hay coding.

Học các ngành xã hội rất hay, bởi gần gũi với cuộc sống. Bản thân tôi là người cấp III học vật lý, đại học học Tin, khi chuyển sang học MBA rồi Econ, tôi cảm nhận được thế giới hoàn hảo hơn nhiều. Chính vì vậy tôi rất khuyến khích các bạn cố gắng tìm hiểu về các ngành xã hội, nếu như không có điều kiện học lấy bằng.

Tuy nhiên, do tỷ lệ cạnh tranh mạnh và loại nhiều, để học nhóm ngành I, nếu không phải là người đặc biệt thông minh, bạn cần có sự chuẩn bị brackground bậc PhD về math và Statistics &probability.

Ở nhóm ngành II, nếu không có một lý lịch hoạt động xã hội đặc biệt, một địa vị tốt ở cơ quan nhà nước, một lý lịch học tập tương đối, thì cũng chưa phải là tuyệt vọng. Bạn có thể đầu tư 1-2 năm viết báo, sáng tác văn học, dịch hoặc viết sách phù hợp với ngành mà bạn định xin học. Đặc biệt là các bài báo tiếng Anh. Nếu như viết sách/ truyện tiếng Việt thì cần viết bản giới thiệu/ tóm tắt nội dung bằng tiếng Anh. Nhưng dù sao đi nữa, nhóm ngành này cũng đòi hỏi tiếng Anh khá tốt.

Để kết thúc: Tôi nhận thấy, những người học tự nhiên/kỹ thuật thường bị thiệt thòi vì không có nhãn quan đa dạng. Trong khi những người học xã hội thì không hiểu được độ khó và độ sâu.

Nói một cách văn hoa, dân học xã hội thường “không biết trên đầu có ai”, còn dân tự nhiên/kỹ thuật thì không hiểu “biển mênh mông nhường nào”. [IMG]

Chính vì vậy, tôi mong rằng các bạn cố gắng bổ xung những khiếm khuyết của mình. Đặc biệt, forum này đa phần là dân tự nhiên, kỹ thuật. Tôi mong các bạn hãy để tâm nhiều hơn nữa đến các vấn đề chính trị xã hội. Chịu khó vào những site này để update thông tin:

www.x-cafevn.orgwww.danluan.orgwww.talawas.dewww.bbc.com/vietnamese

=============

Apply vào Carnegie Mellon University computer science chú ý 1 số điểm sau

1. Tối đa có thể nộp 2 bộ hồ sơ vào 2 khoa khác nhau. Ví dụ: 1 bộ vào PhD program của Language Technologies Institute, 1 bộ vào Machine Learning Department. Mỗi bộ hồ sơ sẽ được duyệt bởi admission committee riêng biệt. Các khoa trong School of Computer Science sẽ họp bàn riêng biệt. Khoa Language Technologies Institute thường họp toàn bộ faculty members 1 ngày và xét từng hồ sơ đã qua vòng gừi xe. Thông thường 70% số PhD được nhận hằng năm của LTI đến từ những người đã học master.

2. Chương trình Master tại các khoa như Language Technologies Institute, Machine Learning, Robotics mặc dù trên website ghi là không có funding nhưng khi nhập học phần lớn (>70%) Master students đều tìm được funding từ RA hoặc TA. Do vậy nếu được nhận vào Master program của CMU, nên suy nghĩ kĩ.

3. Để vào được chương trình PhD tại CMU, yêu cầu quan trọng nhất là LORs, research experience và SOP. Toefl, GRE chỉ cần qua vòng gửi xe là ok. Phần lớn những người nộp vào CMU đều có background rất mạnh. Ví dụ hội học master từ top schools như MIT, Stanford; hội đang đi làm ở Google, Yahoo.

4. Để apply thành công luôn phải nghiên cứu thật kĩ từng giáo sư trong khoa, và suy tính xem bạn có thể làm việc với những ai. Những thông tin đó sẽ giúp cho quá trình viết SOP cũng như contact với các giáo sư.

5. PhD student khi đuợc nhận vào CS được đảm bảo funding trong 5 năm. Do đó các ông thầy/khoa khi nhận sinh viên thường cực kì cân nhắc vào khả năng/tiềm năng làm nghiên cứu của applicants.

====================

Apply vào Johns Hopkins University CS cần chú ý một số điểm sau

1. Nếu đã có funding ví dụ như 322, VEF thì nên liên lạc trực tiếp với các giáo sư trong khoa để khi duyệt hồ sơ nếu giáo sư thích thì sẽ xuống phòng hồ sơ để rút hồ sơ của bạn ra. Lí do là trong trường hợp hồ sơ của bạn ko có gì nổi bật thì sẽ bị để riêng vào một loại, nếu các giáo sư có thừa thời gian thì họ mới review những hồ này.

2. Sau khi nhận đơn, hồ sơ sẽ được phận loại theo hướng nghiên cứu ưu thích, ví dụ nếu trong SOP bạn viết thích computer graphic thì hồ sơ sẽ được phân sang mục computer graphic. Phận loại xong các giáo sư ờ từng chuyên nghành phù hợp sẽ review hồ sơ của bạn, với ví dụ trên thì hồ sơ của bạn nhiều khả năng sẽ được review bởi Greg Harger và Mike Kazhdan.

3. JHU CS đặc biệt rất mạnh trong hướng Natural Language & Speech Processing. Nếu bạn nào theo đuổi hướng này thì nên vào
Center for Language and Speech Processing, Johns Hopkins University
để tìm hiểu thêm thông tin. Họ thường gửi thư mời đến interview khoảng 6 người, và thông thường JHU một năm nhận khoảng 3 PhD students trong hướng này.

4. Để apply thành công luôn phải nghiên cứu thật kĩ từng giáo sư trong khoa, và suy tính xem bạn có thể làm việc với những ai. Những thông tin đó sẽ giúp cho quá trình viết SOP cũng như contact với các giáo sư.

5. Nếu được nhận vào Master program thì có cơ hội xin được TA jobs ở khoa, job khoảng $8-12/hour và tuần làm 20 hours.

========================

Now that late January is upon us, a wave of graduate school admissions letters is soon to come crashing down upon undergraduates throughout the land. The process can be immensely frustrating to a student, as one often has little idea as to what magic ingredient is determining whether one is admitted or rejected from different schools. Having been involved in graduate admissions decisions for much of the last decade, I therefore thought I’d give a summary of how it’s done at UW Astronomy, so students can get a sense of where in the process their application might potentially go astray. My take will be different from other schools and other departments whose admissions committees may emphasize different strengths, but at least it’s one data point where few are available.

Details below the fold. Enter if you dare!

  • We typically get around 100 applications, plus or minus 20, depending on the state of the economy. This number has been steadily increasing, but the number of students we admit in a given year can vary wildly, depending on our target for the size of the entering class. A few years back we wound up with an entering class of nearly twice what we were shooting for (lucky for us, because all of them were awesome), which meant that applicants for the next year’s class had the proverbial snowball’s chance in hell of being admitted. Thus, sometimes schools are harder or easier to get into than you might anticipate.
  • We do not read all the files, I hate to say. The fact is that if you have a GPA that reflects predominantly B- and C-level work, without the counterbalance of a strong physics GRE score or enthusiastic letters, you are not going to be admitted. Therefore we only read files where some weighted combination of GPA, GRE, or letters suggests that the student might potentially be admitted. We actually consider a few different weighted combinations, and will read any file that pops up above some line in any of the different weighting schemes. The resulting cut usually preserves more than half of the files, so while we don’t read all the files, we at least read most of them. The graduate program assistant also keeps an eye out for promising files which might fail any numerical criteria, to make sure that truly unusual cases don’t fall through the cracks.
  • The committee has three people, so we divide the files surviving the first cut into three piles. Each committee member reads one pile, and does an initial rating of the file. The rating flags any files that still fall below the level of admission. The remaining files (usually ~1/3 of the original applicant pool) are then read carefully by the entire committee.
  • By this point, we’ve got a very strong group of applicants to choose from, and yet we still have to winnow it down by a factor of two to three. As a starting point, all the committee members sort the remaining applicants into strict quintiles. We then merge everyone’s ranking into a single ranked list. We then discuss the entire list in great detail, focusing most of our energies on cases where there is a significant dispersion in the quintile assigned by different committee members. The dispersion usually indicates that someone on the committee noticed something in the file that others missed (”You guys missed the part where he said he wanted to study astronomy because the stars control everything we do?!?!?”), or that there’s extra information that someone on the committee had (for example, meeting the student at a conference). This process is both grueling and gratifying. It’s grueling because much of what happens at this point is splitting hairs, as we always have more strong candidates than we can admit. It’s also gratifying because (1) many of these applicants are just phenomenal and (2) we finally get to talk about all these files we’ve been absorbing for the past week or so (seriously, even with all the triage, the committee does little but read applications for a solid week).
  • Based on the discussion, we move people above and below “the line” that indicates our cutoff for immediate admission. This is by far the most painful part, as we are always forced to delay admitting people we’d admit in an instant if we could risk having an entering class of 15. We sometimes get to admit them, but usually a bit later, after we have a sense of what fraction of the first round of admits seem genuinely interested. We’ve noticed a trend of very strong students applying to way too many schools, making it extremely difficult to predict the fraction of our admits who will wind up enrolling. Back when I applied to grad school — you know, back when dinosaurs roamed the earth — we had to type our applications onto forms, which put a physical limit on how many schools you could actually apply to before carpal tunnel set in.

So, what goes into all the subjective judgment above?

  • Confidence that the student will not fail our rigorous written qualifying exam. We usually judge this based upon excellent work in physics courses, a record of actually taking a lot of physics courses (this is getting to be a real problem, as undergraduate astronomy programs proliferate), and/or strong physics GRE scores.
  • Evidence of research potential. This is usually shown by participating in one or more REU programs, with a big extra bonus point for actually publishing a paper. However, we do sometimes admit students who, while lacking direct research experience, show evidence of tremendous drive and/or creativity.
  • Evidence of actual interest in astronomy. There are a fair number of otherwise qualified applicants who don’t seem to really appreciate what they’re getting themselves into. Instead, applying to grad school seemed better than applying for a real job.
  • Evidence of a fit to the program. Particularly for students near “the line”, it helps if your interests are a decent match to the research going on here. We also look for diversity in the applicants’ interests, to avoid an entering class consisting entirely of budding cosmologists.
  • Evidence that the applicant has inspired loyalty and/or enthusiasm from at least one or two letter writers. There are students with decent grades, GRE scores, and REU experience who somehow made it through school without ever inspiring anyone to jump up and down on their behalf.
  • Evidence of maturity, leadership, drive, and/or independence. Given that we have a surfeit of applicants who are over the bar in terms of physics preparation and research experience, we give an extra nod to applicants who already seem to have their act together in other ways.

Given all the above, a frequent admissions committee comment is “I’m not sure I would have gotten in….”
UPDATE: By the way, a common refrain from anxious students waiting for admissions decisions is “WHY IS IT TAKING SO LONG FOR THEM TO DECIDE?!?!?!”. If you look at the list of steps above, you’ll see that the process involves the assembly and verification of 100+ applications (each of which involves 6 separate contributing agencies — student, letter writers, transcript office, ETS), careful reading of ~10 pages of documentation for at least 50 files, coordination of schedules for at least 3 very busy faculty members over several rounds of deadlines (first triage, first reading, second reading by everyone, final meeting), coordination of the details of the offers (what financial packages are we authorized to offer, when are visiting days, etc), and THEN, finally, notification of the aforementioned anxious student. If it were as simple as noting your 950 on the physics GRE and dropping you an email, it would be a lot faster, but to do it right takes time. For a large physics department with 500 applicants and a larger admissions committee, the process will be even more involved and take significantly longer. Moreover, because of the coordination of schedules among committee members, we are often unable to predict exactly when we’ll be able to make offers. A few badly timed conferences can set back admission decisions by weeks.

==================

Còn đây là kinh nghiệm của một MBA Ambassador ở trường 2X đối với trường hợp nộp hồ sơ xin học MBA:

Đối với domestic/international applicants có less than 2 years of experience nhưng có good GMAT and/or Toefl
– Sau khi applicant applies, Phỏng vấn luôn để kiểm chứng xem có tiềm năng không, có thật sự articulate không:
–> Không. Then refuse luôn để tiết kiệm thời gian.
–> Có. Mời đến trường, thăm campus, dự lớp học, và thực hiện phỏng vấn chính thức với Graduate program office, career service. Ứng viên cũng được mời đi ăn trưa với current students. Các sv sẽ có bản evaluation về candidate ngay sau đó. Tiếp theo, hội đồng tuyển sinh gồm cả dean của MBA program sẽ làm việc trực tiếp từng hồ sơ để quyết định.

Các SV quốc tế có GMAT tốt, Toefl tốt, kinh nghiệm tốt,essays tốt, resume tốt –> hồ sơ được review bởi Graduate program team, career service; từng mục đều được cho điểm–> phỏng vấn. Người phỏng vấn phải xem kỹ background của applicant, và có quyền đặt các câu hỏi theo manual hoặc các câu hỏi khác nếu thấy cần thiết để tìm hiểu về applicant. Sau đó, bản evaluation tới từng chi tiết và thang điểm được chuyển tới hội đồng tuyển dụng.

Hội đồng sẽ xem xét từng trường hợp và quyết định.

Hầu hết các trường hợp SV quốc tế đều được yêu cầu qua US sớm để học ngoại ngữ thêm, chuẩn bị cho quá trình tham gia lớp học. Hầu hết SV từ China, Korea, Japan, Taiwan, … đều học pre-MBA classes. Vào trường rồi, các SV này lại take speaking test và writing test. Nếu không vượt qua, sẽ tiếp tục phải học một số khóa speaking và writing song song với MBA. Bản thân em phải học writing cho khóa advanced tại School of language.

Với thủ tục tuyển và chương trình như vậy, không rõ là SV châu Á có ruin MBA program hay không?

Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm apply học bổng Fulbright

FULBRIGHT EXPERIENCE Q&A WORKSHOP

(HỘI THẢO CHIA SẺ KINH NGHIỆM APPLY HỌC BỔNG FULBRIGHT)

USGuide and COF are pleased to announce the Fulbright Experiences Q&A workshop,
held on 19 April , 2009 at Van Viet Bar in Hanoi.
This program is to give you experiences and tips in the process of Fulbright Scholarship Application and to help you become a successful Fulbrighter 2010

[IMG]

Time: 9:00 a.m -11:00 a.m Sunday, 19 April, 2009
Location: Van Viet bar, 27A Tran Binh Trong

Guest speakers:
1. Ms. Le Huong – Fulbrighter, American study
2. Mr. Nguyen Ngoc Thinh- Fulbrighter, Public administration
3. Mr. Hoang Ha – Fulbrighter, Computer Science
4. Ms. Nguyen Thuy Linh- Fulbrighter, MBA
5. Mr. Ly Lam Duy- Fulbrighter, MBA

and valued guest from Fulbright Scholarship, USGuide and COF

Targeted audiences: 30-40 USGuide/COF members and others

WORKSHOP AGENDA

9:00- 9:05: Program Introduction
9:05- 9:20: Brief overview about USGuide, COF, Fulbright programs and advice for workshop participants
9:20-10:45:
– Self introduction by guest speakers, highlighting background and strengths as Fulbright applicants
– Q&A session
10:45-11:00: Break into smaller groups to facilitate discussion between speakers and interested students

Please send your registration form to: hapt@us-guide.org (cc: minhphuong.doan@us-guide.org)
Deadline: 18 April 2009

Priority for whom sending registration form soon, with following information:
1. Personal profile: full name/major/ occupation/ working place (school)& contact details
2. US study plan: US-study period/ Fulbright application period (2010 or?)
3. TOEFL/GMAT scores (if have)
4. Questions for speakers and guests/ programmes (if have)

Welcome your registration and participation in this workshop

 

Nội dung tóm tắt do 1 bạn tham gia ghi lại

 

MỞ ĐẦU

Thịnh trình bày lý do của buổi họp mặt:

· Chia sẻ thông tin nhằm tạo nên một sự cạnh tranh lành mạnh giữa các semi-finalists

· Tạo network giữa các Fulbrighters hiện tại và trong tương lai

Thịnh giới thiệu các bạn finalists năm ngoái và semi-finalists năm nay

Thịnh nói về mức độ cạnh tranh của học bổng Fulbright (có khoảng 600 hồ sơ, chọn ra khoảng 60 người vào vòng phỏng vấn, và cuối cùng sẽ có 20-25 người đươc chọn làm Fulbrighters)

NỘI DUNG CHÍNH (Q&A)

1.Có rất nhiều người apply vào các ngành khác nhau, Fulbright phân chia ngành như thế nào?
Phân chia ngành không cố định, thay đổi theo từng năm. Lưu ý có một số ngành không có trong danh sách của Fulbright, tuy nhiên nếu bạn chứng minh được khả năng của mình cũng như ngành học của bạn phù hợp với tiêu chí của chương trình thì bạn hoàn toàn có thể qua được vòng interview. (Giang-Journalism)

Fulbright tập trung vào các ngành khoa học xã hội, vì vậy những ngành liên quan đến khoa học xã hội thì bạn đều có thể apply được. Trong hồ sơ, bạn cần thể hiện rõ mức độ quan tâm của mình đến ngành nghề mình sẽ theo đuổi để thuyết phục ban giáo khảo. Ban giám khảo chấm điểm hồ sơ sẽ bao gồm 2 người Việt và 2 người nước ngoài, các bạn hãy bình tĩnh và cố gắng thể hiện tốt nhất năng lực của mình. (Duy-MBA)

So sánh Fulbright với một số học bổng khác, ví dụ học bổng ADS và Chevening (giành 50% chỉ tiêu cho khối nhà nước). Riêng Fulbright thì rất công bằng, tất cả các đối tượng đều được quyền apply, năm nay có cả những người là giáo viên cấp II cũng là Fulbrighters. Fulbright lựa chọn dựa trên năng lực cá nhân, nếu hồ sơ bạn thật sự mạnh, bạn hoàn toàn có khả năng thành công dù ngành của bạn không có chỉ tiêu. (Thịnh-MPA)

2.Một hồ sơ mạnh là hồ sơ như thế nào?

Fulbright đánh giá một ứng cử viên dựa trên rất nhiều yếu tố. Fulbright muốn tìm kiếm một change agent (một người có thể tạo ra sự thay đổi). Điều bạn cần chứng minh đó là bạn sẽ là một change agent. Trong qúa trình hoàn thiện hồ sơ, bài luận cũng là một yếu tố rất quan trọng. Ngoài ra, khi các bạn có những thành tích hay hoạt động xã hội, các bạn cũng nên thêm vào. Các bạn cũng cần trình bày được tại sao các bạn lựa chọn Fulbright, và nếu như bạn được học bổng Fulbright thì các bạn sẽ làm gì với học bổng đó (Thịnh-MPA)

Về hồ sơ, đối với Fulbright không có gì là không quan trọng, và không có gì là quá quan trọng. Không nên xem nhẹ bất cứ cái gi, không có một yếu tố nào hoàn toàn quyết định, tuy nhiên có mấy điểm bạn cần lưu ý khi làm hồ sơ. Thứ nhất, các kinh nghiệm của bạn phải phù hợp và quá trình học tập của bạn có liên quan đến ngành bạn xin học. Thứ hai, future plan của bạn cũng hết sức quan trọng, qua đó họ sẽ đánh giá khả năng của bạn có phù hợp với future plan không và future plan đó có phục vụ cho lợi ích của VN hay không. Bạn phải cân nhắc giữa điều gì VN đang cần, điều gì bạn có thể làm được, điều gì phù hợp với kết quả học tập cũng như quá trình làm việc của bạn. Thứ ba, Fulbright không tìm kiếm người giỏi nhất mà tìm kiếm người phù hợp nhất với tiêu chí mà học bổng đưa ra. Tôi biết rất nhiều người đã trở thành semi-finalists, đó là những cực kỳ giỏi nhưng sau khi nghe tin họ trượt tôi cũng hơi sốc. Khi tôi hỏi những người phỏng vấn lý do tại sao bạn đó không thành công, họ trả lời rằng bạn này chưa sẵn sàng hoặc bạn này có mục tiêu không rõ ràng. (Nam-Law)

3.Quyết định cuối cùng chọn finalists được đưa ra dựa trên hồ sơ hay là kết quả cuộc phỏng vấn? Tỉ lệ tầm quan trọng của 2 yếu tố này thế nào?

Sẽ không thể nói yếu tố nào quan trọng hơn. Trước khi phỏng vấn bạn, người ta đọc hồ sơ của bạn rất kỹ nên khi phỏng vấn bạn,họ sẽ dựa trên cả hai. Ví dụ bài luận của bạn rất hay nhưng là do bạn nhờ người khác viết. Khi vào phỏng vấn bạn không thể hiện được đúng những gì bạn đã viết trên SoP thì người phỏng vấn sẽ nhận ra ngay. (Thịnh-MPA)

Theo những thông tin từ chị Hạnh (trợ lý chương trình) và thầy Thảo (giám đốc chương trình), mình có cảm nhận rằng những người hỏi mình họ đã đọc rất kỹ hồ sơ của mình, và họ sẽ đặt ra những phản biện ví dụ như họ băn khoăn điểm gì, họ muốn làm rõ cái gì, họ muốn hỏi cái gì về mình. Đến khi phỏng vấn, tất cả những câu hỏi đó họ sẽ dồn về phía mình để mình làm rõ hơn bộ hồ sơ. Họ hỏi rất kỹ về kế hoạch tương lai của mình. Họ cũng hỏi nhiều câu hơi khó khăn cho mình. Tuy nhiên, có những người có hồ sơ rất mạnh, thể hiện cả một quá trình phấn đấu học tập và làm việc rất tốt nhưng chỉ vì trả lời phỏng vấn không được thông minh và sắc sảo, không thể hiện được hết bản thân mình (có thể thời điểm đó phong độ của họ không tốt) như thế cũng rất là tiếc bởi vì nhiều khả năng là sẽ bị đánh trượt. (Duy-MBA)

4.Thái độ khi phỏng vấn, mình nên rất là tự tin hay là tự tin vừa vừa thôi?

Phỏng vấn chỉ có một lần duy nhất, nên mình phải chuẩn bị làm sao ở thời điểm đó phong độ của mình là tốt nhất. Một bí quyết nữa đó là nên thành thật với bản thân mình, nghĩ gì thì trả lời như thế. Không nên nghĩ đến những chủ đề quá xa xôi với bản thân. Mình hiểu ở mức độ nào thì mình trả lời ở mức độ đấy, không nên tham vọng quá. Tuyệt đối đừng phóng đại. Tự nhiên, hết sứcthành thật. Trả lời thông minh và ngắn gọn. (Duy-MBA)

Thái độ khi phỏng vấn là điều rất cần cân nhắc. Mình chuẩn bị cho buổi phỏng vấn rất kỹ, mình đặt ra tất cả các câu hỏi, làm mock interview khoảng 30 lần với rất nhiều người. Gần như mình phủ kín các câu hỏi nhưng trước khi phỏng vấn thì mình hơi băn khoăn đó là có nên tỏ ra tự tin hay không. Mình nghĩ đây là một con dao hai lưỡi, phong cách tự tin của bạn sẽ tạo ấn tượng với người phỏng vấn, tuy nhiên họ cũng sẽ expect nhiều hơn ở bạn. Có thể họ sẽ hỏi những câu hỏi khó hơn. Một câu trả lời đầu tiên mà bạn làm cho họ không hài lòng, hình ảnh của bạn sẽ bị giảm hẳn xuống. Nếu bạn hơi nervous, họ sẽ nghĩ rằng có thể bạn này chuẩn bị rất tốt nhưng hôm nay hơi bồi hồi một chút thôi. Hôm đó mình chọn phong cách tự tin. Việc đầu tiên là mình bắt tay họ và đưa cho họ card visit. Mình ngồi xuống ghế cũng rất thoải mái, tuy nhiên mình cũng hơi sợ. Phương án đó nên thận trọng khi sử dụng. (Nam-Law)

Về thái độ, quan trọng nhất là các bạn phải thể hiện sự tự tin. Các bạn nhớ là khi các bạn trở thành semi-finalists là các bạn đã rất xuất sắc rồi, các bạn đã đi được nửa chặng đường tới đích. Mình nghĩ các bạn hãy thể hiện thái độ tự tin, nhưng làm sao đừng quá tự tin. Khi bạn được hỏi, hãy bình tĩnh, suy nghĩ kỹ và trả lời. Đừng lộng ngôn, đừng nói gì mình không biết. Cuộc phỏn g vấn thường kéo dài từ 30-60 phút, rất stressful. Các bạn sẽ giống như là bị tấn công, và các câu hỏi rất nhiều. Các bạn nên chuẩn bị tinh thần. Các bạn nên lưu ý điều chỉnh EQ của mình ở mức độ vừa phải thôi. (Thịnh-MPA)

Hai lỗi mà thầy Thảo nói với mình. Một số bạn khi đến ngồi phỏng vấn thì quá tự tin, chân gác lên đùi, sau đó thì tiếng chuông điện thoại reo lên. Một số bạn khác thì cứ ngồi ở mép ghế, thể hiện là bạn ý rất e dè, thiếu tự tin. Các bạn cứ ngồi thoải mái, tươi cười trò chuyện với họ. Đó là 2 lỗi cơ bản thầy Thảo có nhắc. Một điểm nữa để chứng tỏ mình tự tin đó là người VN mình rất ngại đặt câu hỏi, đặc biệt là khi phỏng vấn có thể các bạn cũng không rõ câu hỏi của người ta là gì nhưng các bạn cũng chẳng dám hỏi lại. Khi các bạn không hiểu cái gì, các bạn cứ tự tin hỏi lại. (Hương-TESOL)

Theo mình thì không nhất thiết bạn phải tỏ thái độ như thế nào. Mình cứ bình thường thôi, nếu mình tự tin thì mình cứ tỏ ra như vậy. Nếu mình là người khiêm tốn thì mình cứ như vậy. Trong quá trình phỏng vấn, mình nên quan tâm tới người đối diện với mình. Các bạn có thể hỏi “Ông (bà) có nghe tôi nói rõ không?” vì khi phỏng vấn khoảng cách giữa người phỏng vấn và mình không quá gần. Nếu mình nói quá bé hay quá to nó đều có tác động khác đến người nghe. Tốt nhất làm thế nào để người ta nghe vừa giọng mình thôi. Thứ hai, nếu bạn nào đã đọc nhiều về văn hóa Mỹ sẽ thấy không bao giờ người ta tì khuỷu tay lên trên mặt bàn, không bao giờ bắt chéo chân trong những cuộc phỏng vấn quan trọng . Eye contact cũng rất quan trọng. Có hai người phỏng vấn, hai người đó sẽ liên tục đặt câu hỏi với mình. Nên mình làm thế nào để chuyển mắt từ người này sang người kia rất firm, chứ không phải mình đảo mắt lia lịa hoặc là tập trung vào người đang hỏi mình thôi mà quên mất người kia đang ngồi nghe và chăm chú chép. (Giang-Journalism)

Khi vào vòng phỏng vấn, các bạn nên chuẩn bị một câu hỏi để hỏi ban giám khảo. Thực tế là có rất nhiều câu hỏi hay và mình chuẩn bị trước, khi mình hỏi người ta sẽ cảm thấy thú vị. Một điều nữa là trong quá trình phỏng vấn người ta ghi chép rất nhiều thế cho nên các bạn hết sức chú ý câu trả lời của mình. Nên vạch ra nhiều ideas để trả lời, để cho người ta thấy mình có những ý tưởng thế nào, dựa trên đó họ chấm điểm. Họ sẽ so sánh ý tường của mình với những người khác, nếu mình không có nhiều ý tưởng thì mức độ cạnh tranh của mình sẽ kém. (Duy-MBA)

Điều cuối cùng mình muốn lưu ý các bạn đó là speaking skill, sẽ không giống như toefl đâu. Các bạn nên rèn luyện để trả lời đối thoại bằng tiếng Anh để làm sao cái việc các bạn thể hiện bằng lời nói cũng như hành động thể hiện được sự tự tin. Ví dụ bạn đã hiểu câu hỏi, bạn nghĩ ra rất nhiều ý tường hay những các bạn không thể diễn đạt được điều đó, hoặc là các bạn diễn đạt một cách ấp úng thì người ta không thể thấy bạn thực sự thể hiện khả năng của mình. Mình khuyên các bạn nên rèn luyện speaking, đặc biệt là những bạn nào không học chuyên về ngoại ngữ và lo lắng về tiếng Anh của mình thì các bạn nên tập trung vào đấy một chút. (Thịnh-MPA)

5.Nếu như ban giám khảo hỏi mà mình không biết thì mình nói thế nào?

Mình nghĩ rằng nên nói là tôi không biết và đề nghị ông bà giải thích cho tôi. Nên chân thật nói rằng mình không biết. Họ rất nice, họ có thể giành thời gian giải thích cho mình.(Thịnh-MPA)

Câu này cũng có người gặp. Năm nay cũng có một người được hỏi là “Giữa $100,000 và học bổng Fulbright thì bạn chọn cái nào?” Bạn đó không trả lời được, bạn ấy nói “$100,000 là một số tiền rất lớn đối với tôi, trong khi Fulbright cũng là một chương trình rất thú vị. Tại thời điểm này tôi ngồi đây tôi chưa quyết định được cái gì quý giá hơn. Tôi xin nợ câu trả lời này.” Cô bé đấy vẫn đỗ. Bạn ấy gặp lại đúng người hỏi trong buổi giao lưu với các thầy cô giáo, chính người đã phỏng vấn bạn ý có nói rằng “May mà em nói rằng em không biết, chứ nếu mà em trả lời là $100,000 hay là Fulbright mà em không thuyết phục được tôi thì em cũng bị trượt.” (Duy-MBA)

6.Cấu trúc của một cuộc phỏng vấn?

Một cuộc phỏng vấn sẽ có 2 phần: phần đầu là phần họ hỏi các bạn rất nhiều, phần hai là phần các bạn hỏi lại. Nếu như phần đầu các bạn cảm thấy bị đuối, thì phần hai là phần để gỡ điểm cho các bạn. Do vậy các bạn nên hỏi những câu hỏi thực sự smart, tránh hỏi lan man thì các bạn có thể gỡ điểm rất nhiều. Và kinh nghiệm của chính bản thân mình, phần đầu của mình trôi qua rất nhanh nhưng phần kéo lại chính là phần mình hỏi ban giám khảo. Và hai người phỏng vấn mình (giống như mình hỏi đúng cái mà họ muốn) họ nói say sưa, kể hết chuyện nọ đến chuyện kia, mình ngồi nghe rất là thích thú (giống như kiểu good listener). Vì vậy các bạn lưu ý phần bạn hỏi lại là phần các bạn thể hiện bản thân rất nhiều đấy. (Thịnh-MPA)

Có một điểm nữa các bạn đã và đang đi làm rồi nên lưu ý, họ sẽ hỏi rất sâu vào công việc của mình. Ví dụ như làm về ngân hàng hay chứng khoán, người ta có thể hỏi là “bây giờ gửi vào ngân hàng nào lãi suất cao nhất” hay “đầu tư chứng khoán đầu tư cổ phiếu nào là sinh lời nhất”. Nhiều khi người ta muốn đóng vai trò là khách hàng và mình là người tư vấn. Hôm mình phỏng vấn bị một cô yêu cầu kể về một ngày làm việc điển hình. Mình nên làm chủ công việc của mình để khi người ta hỏi mình có thể trả lời thật tốt. Đặc biệt nên cập nhật những thông tin trên phương tiện báo đài mà gần đây nó hot, phải rất cẩn thận vì người ta có thể hỏi những câu hỏi như thế. (Duy-MBA)

7.Đối với từng ngành, mình nên nhấn mạnh điều gì trong hồ sơ và phần phỏng vấn của mình?

Các ngành nghề khác nhau thì có những đặc thù khác nhau. Ví dụ như ngành xã hội thì rất khó được điểm cao, vì vậy các ngành có những tiêu chí rất khó so sánh. Vì vậy để vào được đến vòng trong, các hồ sơ phải đáp ứng được tiêu chí là hết sức hấp dẫn, logic, có tình thuyết phục, và người ta đánh giá được triển vọng của mình. Làm thế nào để người ta đánh giá là mình có triển vọng và sau này khi mình trở về VN thì mình có thể gây tầm ảnh hưởng đến những người khác. Về MBA, với kinh nghiệm là việc của mình bạn có thể biết được những bất cập trong ngành của mình, có rất nhiều thứ người ta có thể hỏi bạn. (Duy-MBA)

Như mình nói Fulbright họ mong muốn tìm người thể hiện cái trăn trở, khao khát của bạn và bạn nói rằng Fulbright sẽ giúp tôi giải quyết những vấn đề đó. Khi mình apply MPA, mình cũng nói những quan tâm của mình trong bộ hồ sơ ví dụ như về chính sách ở VN, các chương trình của chính phủ, xóa đói giảm nghèo… Mình nói rằng mình muốn học ngành này để khi trở về có thể áp dụng vào thực tế. Nếu bạn muốn focus vào điều gì đấy, thì trong hồ sơ bạn cũng nên nói luôn định hướng nghiên cứu của mình vào lĩnh vực gì, ở góc độ thế nào. Nếu bạn càng specific, càng clear thì họ sẽ thấy rằng con đường bạn lựa chọn là con đường đã được định hướng rõ ràng rồi, có nhiều supporting points trong lựa chọn đó chứ không phải là một lựa chọn hú họa, thích thì chọn. (Thịnh-MPA)

Nói về làm bài luận, có mấy điểm cần lưu ý với các bạn. Khác với các bạn xin học bổng trực tiếp ở trường, đó là những học bổng tìm kiếm những người xuất sắc nhất, còn với Fulbright, họ tìm kiếm những người phù hợp nhất. Cách tiếp cận truyền thống nhất đối với học bổng Fulbright đó là bạn chọn một vấn đề gì trong ngành của bạn, bạn cho là cái đó bất cập, bạn nói rằng tôi cần phải đi học về để tôi góp phần vào sửa cái bất cập đó. Ví dụ mình chọn cách tiếp cận là hệ thống văn bản pháp luật ở VN được ban hành rất nhiều, nhưng có nhiều lộn xộn. Tôi đã đóng góp nhiều cho vấn đề góp ý các văn bản pháp luật nhưng tôi nghĩ là nếu tôi có được kiến thức sâu rộng hơn từ Mỹ về tôi sẽ góp ý tốt hơn. Bạn hãy gắn bạn với sự phát triển của đất nước. Một cách tiếp cận khác, có một bạn viết về việc bạn ấy thích ban nhạc F4, đi một hồi đến khổ cuối bạn ấy khóa lại là tôi muốn học về bảo vệ bản quyền. Tất cả những điều trên tường chừng như không có vẻ liên quan thì một khổ cuối khóa lại tất cả những điều đó lại. Nhưng phải rất cẩn thận khi tiếp cận theo cách này vì nó đòi hỏi nhiều thời gian đầu tư và cả sự sáng tạo. Bình thường thì mình khuyên các bạn nên đi theo cách tiếp cận truyền thống kia. (Nam-Law)

8.Làm thế nào để khống chế sự căng thẳng?

Không nên nghĩ ngợi qua nhiều, bởi vì mình càng nghĩ nhiều về chủ đề phỏng vấn thì mình càng thấy run. Mình sợ người ta hỏi những câu hỏi khó mà nó vượt quá tầm hiểu biết của mình, nếu cứ theo cái hướng đấy thì cảm thấy rất là mất tự tin. Và tốt nhất cứ để cho đầu óc nhẹ nhàng, thư thái, mình biết đến đâu thì mình trả lời đến đấy. Bạn cứ yên tâm trong buổi phỏng vấn họ sẽ tạo cho mình một không khí hết sức thân thiện. Fulbright khác các học bổng khác ở chỗ là họ tạo cho mình một không khi mà mình có thể là mình, mình sẽ cảm thấy rất thoải mái, không bị gò bó, ép buộc gì hết. Mình cứ nghĩ theo hướng là người ta chỉ hỏi những câu hỏi để làm rõ hồ sơ của mình, không có gì phải căng thẳng cả. Có một câu hỏi quan trọng nữa là “Bạn có về VN hay không?” Đương nhiên sẽ phải về nhưng người ta vẫn cứ hỏi câu đấy. (Duy-MBA)

Một bí quyết khác đó là chuẩn bị thật kỹ. Trước khi bạn đi phỏng vấn, hãy chuẩn bị tất cả những câu hỏi họ có thể hỏi, đồng thời sau khi trả lời những câu hỏi đó lại nghĩ ra những câu hỏi có thể liên quan đến câu trả lời của bạn. Mình cũng soạn ra đến hàng trăm câu hỏi, nhưng vẫn bị lọt 2-3 câu. Nhưng mình cũng học thuộc quá nên sợ là đi phỏng vấn không được tự nhiên. Bạn cũng nên nhờ những người khác làm mock interview cho bạn, nó sẽ tạo cho bạn thói quen đó là phản ứng nhanh khi nhận được câu hỏi. Cuối buổi mock interview hãy hỏi xem cảm giác của người đối diện về bạn như thế nào, có cảm thấy bạn tự tin không, tiềm năng không, có cảm nhận bạn sẽ là người đóng góp cho VN không. Nếu họ trả lời có, chắc bạn sẽ đỗ đấy! (Nam-Law)

Trước ngày phỏng vấn mình đánh game Đế Chế. Tất nhiên nhưng ngày trước các bạn nên chuẩn bị. Nhưng đến ngày cuối cùng trước ngày phỏng vấn bạn nên relax một chút cho tâm lý thoải mái. (Thịnh-MPA)

9.Tầm quan trọng của future plan thế nào?

Như các bạn biết, học bổng Fulbright yêu cầu các bạn học xong quay về VN 2 năm. Trong một cuộc nói chuyện, thầy Tháo có nói rằng “Liệu việc đóng góp cho đất nước có nhất thiết cứ phải là về VN hay không?” Các bạn có thể ở lại làm giàu, có thể đóng góp về chính sách, tác động về chính sách một cách hiệu quả. Future plan các bạn thể hiện rất quan trọng, bởi vì Fulbright đầu tư cho các bạn về giáo dục thì họ cũng mong muốn hiệu quả đầu tư đó được thể hiện ra như thế nào. (Thịnh-MPA)

10.Nếu bạn muốn mang đến sự thay đổi, nhưng cơ chế không cho phép bạn thay đổi thì bạn làm thế nào?

Khi apply Fulbright, future plan của mình rất quan trọng , thường thì phải ambitious một chút theo nghĩa là không chỉ cho cá nhân mình mà nó cần có tầm ảnh hưởng tương đối vĩ mô. Khi điều các bạn muốn làm có tầm vĩ mô như thế, các bạn có thể gặp khó khăn về mặt cơ chế chính sách, luật định, hay môi trường văn hóa không cho phép bạn làm đó cũng là những điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, nếu bạn phỏng vấn tôi, tôi sẽ nói như sau “Đúng là câu hỏi đó nếu các bạn đặt ra cách đây khoảng 20 năm, hay nói rõ hơn là trước năm 1986 khi vẫn còn nền kinh tế kế hoạch hóa thì câu trả lời là rất khó để có tầm ảnh hưởng vĩ mô. Nhưng theo tôi, ở điều kiện kinh tế xã hội như hiện tại nếu bạn muốn mở một công ty riêng, hay một cơ sở giáo dục đào tạo, một tổ chức nào đấy và bạn áp dụng kiến thức của mình vào, nếu bạn thực sự quyết tâm, tôi nghĩ bạn sẽ thành công. Có thể không thật sự lớn, nhưng dù sao bạn cũng làm được một phần cái bạn muốn. Và hơn nữa bạn sẽ lôi kéo được những người cùng tâm huyết với mình để làm điều đó. Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện tại, bạn hoàn toàn có thể làm được những gì bạn muốn.” Ví dụ trước đây để đóng góp cho giáo dục là rất khó khi 100% các trường đại học đều là state-owned hay public cả thì rõ ràng bạn không thể apply new ideas vào đó. Nhưng bây giờ có khoảng 30 trường dân lập và ở đó họ sẵn sang tiếp nhận những tư tưởng quản lý mới, những cách thức tiếp cận giải quyết vấn đề mới thì bạn hoàn toàn có cơ hội giải quyết vấn đề của mình. Trong giáo dục đã như vậy rồi thì theo tôi nghĩ trong lĩnh vực kinh tế hay khoa học kỹ thuật khác bạn hòan toàn có cơ hội. (Duy-Education Management)

Đây là câu hỏi tôi đã gặp trong buổi interview của tôi. Tôi nhớ đến một lần thầy Thảo có nói với tôi cũng như các Fulbrighters ở đây là “Thầy cũng như mọi người ở đây đều muốn đi đến một cái đích cuối cùng, mỗi người ở đây như là một điểm sang, mà từ điểm sáng này có thể đi đến điểm sáng kia nhanh hơn. Chứ không giống như đi một quãng đường xa với những phương tiện thô sơ mà mình có. Nhưng người đi học về sẽ là những điểm sáng nhỏ và giúp cho mình đi nhanh hơn về đích. Theo tôi hiểu, bạn sẽ tạo ra thay đổi nho nhỏ và cùng với người khác bạn sẽ làm cho nó lớn hơn. Ví dụ một bài báo này người ta chắc chắn là không cho đăng vì đây là báo nhà nước, nhưng tôi sẽ thương lượng với sếp của tôi. Có thể tuần này không được đăng, nhưng ngày hôm sau tôi lại thương lượng lại cho đến khi nào đến gần hơn với mục đích của tôi. Tôi tạo ra thay đổi nào đó thay vì việc là tôi không làm gì cả. (Giang-Journalism)

Về mặt tác động, contribution, hay là thay đổi theo mình nghĩ đúng là một cá nhân khó có thể nào thay đổi mọi thứ nhưng nếu chúng ta kết hợp lại với nhau, nó sẽ mang đến một sức mạnh chung. Chính vì thế tâm huyết của mình là xây dựng một cộng đồng Fulbrighters. Tất cả các Fulbrighters đều có chung một tâm huyết thì các bạn nên liên kết lại với nhau, sức mạnh tổng hợp đó sẽ có tác động rất lớn. Ở góc độ cá nhân, mình nghĩ rằng không thể một sớm một chiều mang lại sự thay đổi. Nhưng về cá nhân nếu mình raise cái voice của mình lên, hoặc mình thay đổi bản thân mình trước tiên, mình thấy được những tác động tốt đối với bản thân mình, người khác họ sẽ đi theo cái thay đổi đó. Dần dần sự thay đổi đó sẽ lan tỏa. (Thịnh-MPA)

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

Minh Bùi tên đầy đủ là Bùi Quang Minh tên thường gọi là Minh Beta, sinh năm 1983 là một người bạn của Thịnh. Minh Bui apply học bổng Fulbright nhưng sau đó lại xin học bổng của trường Harvard chứ không lấy Fulbright nữa. Dưới đây là bài viết tóm tắt quá trình apply MBA và chia sẻ kinh nghiệm của Minh Bui. Minh nghĩ sao viết vậy, hy vọng giúp ích được ít nhiều cho các bạn sẽ apply những năm tới.

 

 

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

 

… Gọi là giấc mơ Harvard vì cái tên này là ước mơ của mình từ khi còn học high school ở Ams. Lúc đó nó chính xác là một giấc mơ, rất rất xa vời. Đến giờ, khi nghĩ đến việc mình sắp được sang Harvard để học MBA, mình vẫn còn lâng lâng :D.

 

Disclaimer: Cái note này ghi chép lại những kinh nghiệm cá nhân của mình trong quá trình apply để đi học MBA. Những đánh giá và nhận định ở đây có thể mang tính chủ quan. Mình viết bài này để dành riêng cho mình, và cũng mong muốn chia sẻ một chút gì đó với các bạn đi sau. I tend to rant, so bear with me. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng nhé 😀

 

Quick facts (cho các bạn chưa biết về MBA):

  1. MBA là gì: MBA = Master of Business Administration, tức là Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh. Khác với các bằng thạc sĩ khác, MBA đa số đều yêu cầu bạn có kinh nghiệm làm việc một vài năm. Bạn không cần phải có background về business/economics để học MBA, hầu như ngành nào cũng có thể theo học MBA.
  2. GMAT là gì: GMAT là một bài test mà hầu hết các trường danh tiếng đều yêu cầu khi bạn apply học MBA
  3. Học MBA làm gì: Để nâng cao kiến thức về lĩnh vực quản trị & kinh doanh (duh), để chuyển từ công việc chuyên môn lên các vị trí quản lý, để được tăng lương (nếu bạn xác định muốn đi làm cho các công ty/tập đoàn sau khi tốt nghiệp) hoặc để nâng cao kỹ năng về business start-up nếu bạn muốn làm riêng.
  4. Bằng MBA khá có giá trị, nhất là các trường top. Ví dụ như các sinh viên của Harvard và Stanford khi tốt nghiệp có rất nhiều cơ hội việc làm, với mức lương khởi điểm trung bình lên tới $140,000 một năm chưa kể bonus cuối năm.  Vì nó có giá trị nên rất nhiều người muốn theo học, như Stanford có đến hơn 7000 hồ sơ xin học cho lớp học hơn 300 sinh viên, mà toàn là các nhân vật hoành tráng apply cả.

 

I.               MY STATS:

 

–       Mình qua Úc học bằng học bổng AusAID của chính phủ Úc, tốt nghiệp Sydney University năm 2007 với bằng 1st class honors, có một vài awards và học bổng của trường.

–       GMAT 750 (Q50, V41) or 98 percentile.

–       TOEFL được waiver nhưng lúc thi để nộp Fulbright là 113/120 TOEFL iBT.

–       Work: 2 năm làm research/trading commodities ở Louis Dreyfus Commodities (công ty MNC về commodities, gốc Pháp, văn phòng ở Singapore), sau đó về VN mở business riêng (DOCO Donuts & Coffee), rồi vừa run biz vừa rejoin LDC, văn phòng ở Việt Nam (senior position).

–       Extra: Vice President của hội sinh viên VN ở NSW, Úc (VDS), tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, một vài giải thi hát, 1 bài hát đã released, tham gia 1 vài dự án phim ảnh linh tinh…

 

II.              KẾT QUẢ APPLY:

 

(Khi viết tên các trường mình sẽ mở ngoặc kèm theo Rank xếp hạng chương trình, theo US News 2013 để các bạn dễ hình dung, ví dụ Harvard (#1) và Stanford (#1) vì 2 trường này đồng hạng cao nhất trên US News)

 

–       Tháng 4/2011, mình apply học bổng Fulbright (học bổng toàn phần của chính phủ Mỹ). Tháng 9 thì nhận được học bổng này. Bước tiếp theo là apply vào các trường.

–       Fulbright đứng ra apply cho mình vào 4 trường: Stanford (#1), UC Berkeley (#7), UCLA (#15), và Emory (#19).

–       Cả 4 trường này mình đều phải làm hồ sơ như 1 applicant bình thường. Ngoài ra mình còn tự apply thêm nhiều trường nữa – tổng cộng là hơn 10 trường, tất cả đều cùng một Round với deadline trong tháng 1/2012. Lý do: Sợ là không vào được trường nào, apply nhiều cho chắc. Lúc đó mình đang có học bổng Fulbright nên sống chết cũng phải vào được 1 trường nào đó.

–       Kết quả: mình được nhận vào tất cả các trường mình applied (Harvard, Stanford, Wharton, Berkeley Hass, Cambridge, Chicago). Đa số các trường đều cho $$$. Có một vài trường mời đi phỏng vấn thì mình từ chối vì lúc đó đã có Admit của các trường mình thích hơn rồi. Đa số các trường đều cho học bổng. 3 trường xếp hạng cao nhất là Stanford (#1), Harvard (#1),  và Wharton của U.Penn (#3) release kết quả vào 3 ngày liên tiếp là 28, 29, 30 tháng 3 (!)… và mình được Admitted vào cả 3 trường. Rất rất hài lòng với kết quả này, vì thật sự thì đây là một điều khá ít khi xảy ra, kể cả với các bạn Mỹ. I’m really proud of this achievement.

 

III.            VÀI KINH NGHIỆM CHUNG

 

1.     Start early:

–       Nếu mình có lời khuyên nào cho các bạn, thì lời khuyên quan trọng nhất là hãy chuẩn bị càng sớm càng tốt. Nếu bạn xác định được là mình muốn theo học MBA thì bạn sẽ chú ý để luyện tiếng Anh nhiều hơn, có thêm thời gian học GMAT, đạt kết quả học tập ở bậc đại học tốt hơn, và chăm chỉ tham gia các hoạt động ngoại khóa hơn…

–       Đến giai đoạn nước rút thì thời gian càng quan trọng. Mình chỉ có 2 tháng để thi lại GMAT và viết essays, and I kick myself often for delaying all this until the last minute.

 

2.     Aim high:

–      Năm 2011, khi đã xin được học bổng Fulbright, mình còn không có ý định apply lại vào Harvard vì tự nhiên lúc đó thấy lười biếng và nghĩ thôi học trường nào cũng được. Đó là lý do mình không ôn lại GMAT sớm hơn và không apply trường nào ở Round 1. Đến khi bắt đầu apply ở Round 2 thì càng ngày càng máu và lúc đó mới quyết tâm apply vào Harvard và Stanford. Lúc này thời gian không còn nhiều nữa, mình vừa phải đi làm, vừa phải ôn GMAT và vừa phải viết essays trong khoảng thời gian rất ngắn.

–       Nếu tâm lý mình không thay đổi kịp, thì mình đã không apply vào Harvard và Stanford, và mình cũng không lo thi lại GMAT hay chắm chúi đầu tư vào essays. Không apply thì đương nhiên không được nhận.

–       Do đó, mình khuyên các bạn chuẩn bị sớm và aim high để đạt kết quả tối ưu.

 

3.     Know your story and be focused:

–       Mình khá là may mắn vì các công việc và ngành học của mình lại rất liên quan đến nhau. Nói là may mắn vì mình không plan trước những việc này, mà toàn là hứng lên thì theo, may thế nào lại vẫn liên quan 😀

–       Nếu các bạn xác định được từ sớm, thì bạn hãy nhìn sự nghiệp của mình như một cái cây đang lớn thẳng. Hãy biết bạn đang ở đâu, bạn đang mọc như thế nào và bạn muốn vươn đến đâu. Các công việc của bạn nên nằm trên đường thẳng đó, hoặc là đừng có chệch quá và đừng nhảy lung tung. Nếu bạn thay đổi liên tục, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi giải thích những quyết định này – Admissions people sẽ nghĩ quyết định học MBA của bạn cũng là 1 cái random choice.

–       Sẽ tuyệt vời hơn nữa nếu bạn kết nối được cái cây đó đi xa hơn nữa, đến những điểm bắt đầu là tuổi thơ, là quá khứ, là cội nguồn, là những mong ước thơ bé của bạn. Nếu đường thẳng đó chạm được đến những cái gốc rễ sâu kín nhất thì nó sẽ vững chắc hơn nhiều, và như một cái cây có gốc, nó sẽ dễ đơm hoa kết trái hơn!

–       Ví dụ như câu chuyện của mình: Mình học đại học với 3 majors, gồm có Economics, Finance và Agribusiness. Công việc của mình ở Louis Dreyfus là về commodities (research và buôn bán đường, coffee, oilseeds… cả futures contracts lẫn physical products). Mình đã start-up DOCO Donuts & Coffee – về lĩnh vực thực phẩm ăn uống. Khi viết essays, mình đã nhắc đến quá khứ nghèo khó của gia đình, khi mà thực phẩm là nỗi ám ảnh và là mong ước hạnh phúc. Mình đã nhắc đến những người họ hàng gần còn nghèo khó, phải chạy bữa hàng ngày. Và mình nói về kế hoạch trong tương lai: làm về food processing, để bring customers food and happiness, để tạo việc làm cho nhiều người và để benefit Vietnam’s agriculture.

 

4.     However, be fun

–       Sự nghiệp của bạn nên là 1 cái cây lớn thẳng, nhưng bạn nhớ tô màu cho nó. Đừng quá tập trung vào việc học tập và công việc mà quên đi các lĩnh vực khác.

–       Hãy là một leader trong mọi lĩnh vực, kể cả trong hobby của bạn. Đối với mình, mình thích âm nhạc và hát hò, nên cái hobby này đã đi suốt với mình từ khi mình còn học đại học. Hãy dùng mọi resouces của bạn để vừa enjoy cái hobby đó, vừa làm được điều gì có ích và phát triển kỹ năng leadership của mình.

–       Trong bài essays và khi phỏng vấn, Ad-com tỏ ra rất quan tâm khi mình viết về dự án âm nhạc của mình (Việt Nam ơi). Thậm chí họ còn mở bài hát trên youtube ra xem :D.

–       Mình nghĩ ad-com đánh giá cao các ứng viên năng động, dám sống hết khả năng với các lĩnh vực mình quan tâm.

 

5.     Be humble, personal and sincrere

–       Khi làm hồ sơ xin học, nhất là cho các trường top, nhiều bạn có tâm lý là phải gồng mình lên để thể hiện. Don’t. Hãy để các con số và các thông tin khác trong Data Sheet tự nói lên các thành quả của bạn, đừng kể lể quá nhiều về chúng.

–       Các trường rất kị các ứng viên arrogant. Họ muốn tìm các ứng viên khiêm tốn và thành thật. Họ muốn thấy bạn đã có những thành công nhất định nhưng lại rất open to learn, và willing to change.

–       Khi viết essays, mình viết nguyên 1 bài essay khá personal, lead bằng cái tên Minh Beta. Mình giải thích tại sao mình chọn cái tên này, và nó liên quan gì đến cách suy nghĩ và nhìn nhận của mình. Đây là 1 đoạn trích trong bài essay cho Harvard:

 

Answer a question you wish we’d asked? (400 words)

 

I wish you’d asked: “Why do you often go by the name Minh Beta?”

 

I have used this pseudonym for years to distinguish myself from others named Minh Bui, a popular Vietnamese name. I appreciate that Beta refers to an “unfinished” product, which resonates with my life’s philosophy; I consider myself a “work in progress” and a change agent, constantly seeking self-improvement and subsequently creating positive societal change.”

 

6.     Apply for as many as you can!

–       Nhiều người sẽ khuyên bạn là nên tập trung vào 1 vài trường thôi. Mình thì nghĩ khác. Chiến lược của mình là tập trung apply vào 3-4 trường chính, nhưng rải hồ sơ khắp nơi. Kinh nghiệm của mình là các trường thường hỏi nhưng câu essays khá giống nhau, nếu không giống thì cũng biến tấu từ essay này sang essay kia được, và không mất quá nhiều thời gian. Tất nhiên là cái này tùy vào goal của từng bạn, và đương nhiên là đừng mất công apply vào trường nào bạn không định đi học nếu được nhận. Apply vào nhiều trường thì khả năng được nhận vào trường tốt của bạn sẽ cao hơn.

–       Mình apply cả chục trường, và dùng bài luận của Berkeley và Harvard làm gốc để phát triển ra essays của các trường khác. Trong tháng 1/2011, trung bình 2 ngày mình apply 1 trường. A lot of copy and paste! Nhưng đương nhiên là mình phải nhào nặn cho khớp câu hỏi của từng trường. This strategy worked for me.

 

IV.            CÁC YẾU TỐ RIÊNG

 

1.     GMAT

 –       Mình không có bí quyết ôn thi gì đặc biệt, nhưng mình khá là thích GMAT vì nó rất “smart”. Vì thích nên mình cảm thấy học cũng dễ vào hơn.

–       Mình recommend các bộ sách: Official, Manhattan và Sentence Correction Bibble. Trang web của Manhattan với các bài tests cũng rất hay và sát với bài thi thật.

–       Kỹ năng quan trọng bậc nhất của GMAT là quản lý thời gian. Cái này tuy đơn giản nhưng bạn phải thật sự kỷ luật. Mình thi GMAT mấy lần mà khi thi lần cuối vẫn không thật sự gò mình theo biểu đồ thời gian hợp lý được, vẫn bị tâm lý la cà và “làm cố” để đúng.

 

2.     Resume

 –       Ngắn gọn hết sức. Resume của mình nộp cho các trường chỉ 1 trang. Năm nay Harvard thay đổi essays ngắn hơn năm ngoái rất nhiều, nên Resume có lẽ phải dài hơn. Nhưng dù gì thì cũng mình nghĩ không nên để Resume quá dài.

–       Dùng “Action verbs”, các từ mạnh, mang tính tích cực. Tham khảo: http://www.ocs.fas.harvard.edu/students/resources/resume_actionwords.htm

–       Cố gắng miêu tả thành quả và kinh nghiệm bằng các con số và chỉ số cụ thể mang tính định lượng. Đừng miêu tả chung chung.

–       Nếu có thể thì hãy viết resume để nêu bật được định hướng và khả năng về leadership của bạn.

 

3.     Essay

 –       Liệt kê tất cả những gì bạn muốn chuyển tải ra và tìm cách “nhét” chúng vào các câu trả lời Essays. Một hướng tốt là liệt kê các câu chuyện theo nhiều chiều, nhiều phương diện. Các câu chuyện của bạn nên phản ánh nhiều chiều về cuộc sống của bạn, về thời gian (cũ vs gần đây), lĩnh vực (công việc v.s sở thích), cá nhân v.s cộng đồng…

–       Hãy nhớ là Data sheet đã chuyển tải được khá nhiều thông tin về bạn, nên đừng phí nhiều word count ở Essay để lặp lại thông tin.

–       Do not brag! Tell things the way they are. People will be impressed if your stories are impressive.

–       Cố gắng viết súc tích và truyển tải càng nhiều thông tin càng tốt. Mình đã bỏ rất nhiều thời gian để dò từng

chữ một, cân nhắc chữ nào cần chữ nào không. Vì bạn chỉ có ngần đó chữ, make them count!

–       Khi viết essay và chuẩn bị hồ sơ, hãy tiên lượng những mối băn khoăn người đọc sẽ hỏi về bạn. Tại sao bạn lại chọn công việc này? Tại sao bạn bỏ việc kia? Tại sao bạn thích hát mà không đi làm ca sĩ chuyên nghiệp… Bạn chỉ có một cơ hội để giải thích những điều này trong hồ sơ. Nếu Adcom (Admissions Committee) có băn khoăn điều gì thì họ cũng sẽ không có cơ hội hỏi bạn – until U get an interview. Mà với các trường top thì họ có quá nhiều good applicants – they simply wont take the risk.

 

4.     Interview

 –       Tùy trường, nhưng theo mình thì Interview chỉ để họ hiểu thêm về bạn. Tất nhiên cũng tùy từng trường hợp, nếu application của bạn thật sự tốt thì Interview chỉ để confirm điều này. Cũng có thể là họ thích hồ sơ của bạn nhưng có một vài thắc mắc… hoặc là họ đã định cho bạn Out nhưng muốn cho bạn thêm một cơ hội cuối cùng. Nhìn chung thì Interview không mang quá nhiều sức nặng – trừ khi bạn perform exeptionally well/badly, đó là cảm nhận của mình.

–       Lời khuyên này bạn sẽ nghe nhiều & thấy nhàm, nhưng vẫn đúng: Just be yourself. Các trường chỉ muốn thấy bạn là người tự tin, có common senses, nhanh nhạy và có thể survive in the business world.

–       Nhưng đồng thời, preparation is the key. Khi chuẩn bị phỏng vấn cho Harvard, mình đã list ra tất cả các điều trên trời dưới bể họ có thể hỏi và ứng phó thử, để nếu không may họ hỏi một vài câu hỏi cắc cớ thì mình không bị động. Cuối cùng thì buổi phỏng vấn diễn ra rất tự nhiên, như là coffee chat vậy (thank god!).

 

Mình cũng chỉ biết đưa ra các lời khuyên chung chung như vậy để các bạn tham khảo. Nếu bạn nào có câu hỏi cụ thể thì có thể tham gia vào buổi Coffee Chat tại Hà Nội vào ngày 26/6 tới.

 

Nguồn: Minh Bui (Minh Beta)

 

IIE bị cáo buộc vi phạm quy định về chi tiêu khi quản lý chương trình Fulbright

Institute Accused of Falsely Reporting How It Spent State Dept. Funds Settles Lawsuit for $1-Million

APRIL 16, 2012

The Institute of International Education has paid $1-million to the U.S. government to settle a lawsuit that accused the nonprofit organization of falsely reporting how it spent State Department funds over eight years. The investigation involved a whistle-blower within the institute, who said she first raised concerns about financial procedures to her superiors and had received unfair treatment as a result.

The lawsuit was filed by Preet Bharara, U.S. attorney for the southern district of New York, and was settled in June 2011. The settlement went largely unnoticed at the time but began circulating among international educators last week. While alleging violations of the False Claims Act, the suit does not accuse institute staff members of pocketing federal dollars for personal gain but instead paints a portrait of improper accounting practices that allowed the institute to squeeze every dollar from the grants it received.

The complaint says the organization inaccurately reported labor costs while managing various international scholarships under the State Department’s Fulbright Program. Instead of keeping records on how much time employees actually spent working on Fulbright grants, the complaint says the institute told its employees to fraudulently charge their time based on predetermined percentages. It also says the organization shifted funds between grant programs so it could use up all available money. (The government required that leftover funds be returned.)

“Over an eight-year period, the program’s administrator did not comply with grant requirements and repeatedly made false claims for payment,” Mr. Bharara said in a statement shortly after the settlement was reached. According to his office, the institute did not change its practices until it discovered it was under investigation in 2008.

The institute is a major player in international education, organizing educational training programs for universities, overseeing scholarship programs, and providing emergency funds to help scholars in dangerous parts of the world. According to its 2011 annual report, it had 600 staff members in 17 offices worldwide and a budget of $326-million, 66 percent of which came from the federal government.

The institute released a brief statement Friday in response to an interview request by The Chronicle.

“We worked closely with the Justice Department to understand and address the time-recording practices in question—and we have implemented effective remedial measures to prevent recurrence,” the statement said. The institute also said independent accountants had reported that the value of the actual work it performed exceeded what the government paid, and that the government has confirmed that the nonprofit remains fully qualified to continue receiving federal grants.

The State Department declined to comment.

The investigation was prompted by a complaint first filed in 2007 by Rachel Goldberg, an employee of the nonprofit international-education institute at the time. Ms. Goldberg, who was part of the foreign-students division, says she complained to her supervisor and others in 2003 that the institute was improperly including so-called supplemental benefits, which include books and computers, in accounting for funds meant to pay for Fulbright students’ tuition and fees. In addition, the complaint says the institute used funds meant for seminars and enrichment grants for supplementary benefits instead.

Saying her protests were rebuffed, Ms. Goldberg sent an e-mail message to the State Department about the problems. As a result, the agency stopped providing funds for supplemental benefits.

Mary E. Kirk, who at the time was the institute’s vice president for student exchanges, told Ms. Goldberg “that she should not have sent the e-mail and should have left the matter to her superiors at IIE,” according to the complaint. What’s more, Ms. Goldberg said she had “been ostracized, her staff had been reduced, and she has incurred unwarranted negative performance evaluations.”

As part of the settlement and as a reward for her exposing the accounting practices, the government gave Ms. Goldberg $170,000, which was taken out of the $1-million paid to the government by the institute.

According to her lawyer, Timothy J. McInnis, she no longer works for the institute. Ms. Kirk is now senior counselor for academic exchanges in the office of the president. Aside from the statement about the settlement, the institute declined to comment further on the complaints against it.

Source: https://www.chronicle.com/article/Institute-Accused-of-Falsely/131563

Từ kẻ ngỗ ngược thành học giả Fulbright

“Câu chuyện của tôi bắt đầu từ khi là cậu học sinh lười biếng, ngỗ ngược. Tôi đã nuôi dưỡng giấc mơ du học đến khi cánh cửa đại học Mỹ mở ra với mình”, Nguyễn Bá Trường Giang viết.

Tôi sinh ra ở làng quê ngoại thành Hà Nội. Hồi nhỏ, tôi lười học, đến lớp không bao giờ nghe giảng, chỉ mang vở ra vẽ. Có lần, tôi trèo lên nóc nhà giám hiệu, phi máy bay giấy bay lượn. Tôi cứ thầm ước sau này cũng bay cao, bay xa, dù khi ấy học dốt.

Tuổi thơ ngỗ ngược

“Thôi con ạ, con học dốt thế này, suốt ngày lêu lổng, học võ, đánh nhau, tụ tập thì chẳng hy vọng gì đâu”, mẹ đã nói như vậy cách đây đúng 24 năm, khi tôi học lớp 9.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 1
Nguyễn Bá Trường Giang tại lễ tốt nghiệp đại học.

May mắn đỗ vào cấp 3, tôi vẫn tiếp tục… đánh nhau, đốt pháo, nhiều lần bị đuổi học. Năm lớp 11, người bạn thân rủ tôi đi học tiếng Anh để bố cậu ta xin cho vào làm khách sạn. Cuộc đời cậu bé ngỗ ngược bắt đầu thay đổi từ đó.

Tôi và bạn đạp xe đến trung tâm tiếng Anh học giáo trình Streamline A. Hôm đầu vào lớp, nghe thầy nói tiếng Anh, tôi choáng lắm.

Bố mẹ rất vui vì 16 năm qua mới thấy con tôi học. Bố ra trường Sư phạm Ngoại ngữ mua cho băng cát-xét giáo trình Streamline A, B, C. Tôi nghe 1 tháng hết cả ba giáo trình. Chị tôi học trong Nam ra, mang cho cuốn từ điển bé xíu, tôi tra nát cả từ điển, đánh dấu nguệch ngoạc.

Học hết cấp 3, tôi thi đỗ hai trường đại học với điểm khá cao khiến người thân và bè bạn đều ngỡ ngàng. Ai cũng biết đến năm lớp 11, tiếng Anh của tôi chỉ 3,9, đến lớp 12 đã là 8,9.

Nuôi ước mơ du học

Tôi kể câu chuyện về hành trình vươn lên từ một cậu bé lười nhác, ngỗ ngược để nhắn nhủ các bạn trẻ hãy nuôi dưỡng ước mơ, để bước tới cánh cửa du học. Các bạn trẻ hãy quyết tâm, thành công rồi sẽ đến.

Tốt nghiệp đại học, tôi làm giảng viên tiếng Anh và đi dịch kiếm tiền. Đây chính là thời gian tôi rèn luyện, tu dưỡng bản lĩnh để chuẩn bị cho chuyến xuất ngoại đầu tiên của mình.

Tôi học say mê, nghỉ hè cũng lao vào học. Khi tốt nghiệp, tôi đã có hơn 10 cuốn sổ đầy ắp từ mới. Chiếc cát-xét bố mua tặng đã bị gãy nút “tua” vì nghe quá nhiều.

Từ bé, tôi đã mơ thấy cánh cửa đại học Mỹ mở ra. Đến một ngày, có người chị gái thân thiết làm ở Đại sứ quán Mỹ, khuyên tôi xin học bổng Fulbright. Tôi cũng chẳng nghĩ mình đạt được, vì học bổng này rất giá trị. Tôi vẫn đăng ký và được gọi đi thi tiếng Anh. Với sở trường ngoại ngữ, tôi vượt qua các vòng thi tuyển thuận lợi.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 2
Nguyễn Bá Trường Giang và nhóm Fulbrighter 2007 tại nhà Đại Sứ Michael W.Marine.

Bài luận của tôi nói về Việt Nam, về những khó khăn của thế hệ chúng tôi, tình hình chung của đất nước. Tôi thể hiện một niềm tin chắc chắn về tương lai của Việt Nam và kế hoạch tương lai của mình. Tôi hứa đi học về sẽ đóng góp hết lòng để phát triển đất nước. Quy định của Fulbright chỉ cho 800 chữ, nhưng tôi viết gần 2.000 chữ rồi kẹp vào hồ sơ.

Sau này, nhiều người nhờ tôi sửa giúp bài luận khi du học. Trong số đó, có người vào Đại học Harvard, Đại Học Luật Fordham, Michigan (Mỹ). Một em đỗ Đại học Oxford (Anh).

Trở thành học giả Fulbright

Đến vòng phỏng vấn xin học bổng, hai người phỏng vấn tôi, một người Mỹ và một người Việt, mặt mũi nghiêm trọng lắm. Có nhiều ứng viên gặp họ đã run, không biết bắt đầu thế nào. Tôi vào phòng, nhìn hai vị, cười tươi và chào họ. Không đợi họ hỏi, tôi bắt đầu câu chuyện ngay bằng câu hỏi xã giao: “Ông sang Việt Nam lâu chưa? Thời tiết oi bức quá, ông có quen không?”.

Chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Vị giáo sư đó hỏi: “Trong bài, tôi thấy em viết câu này, em có quan điểm thế nào mà viết thế?”. Tôi trả lời: “Tôi xin đính chính là không viết như thế…”. Người đó mỉm cười.

Sau này tôi mới biết đó là thủ thuật để xem người đối diện có phải tác giả thực sự của bài viết không. Chúng tôi ngồi nói chuyện về kinh tế Việt Nam, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực…

Tôi giành học bổng Fulbright trong sự vui mừng của gia đình và bạn bè. Sau một năm chuẩn bị, tôi được nhận vào trường Cornell, một trong 8 đại học thuộc nhóm Ivy-League (Havard, Yale, Princeton, Cornell, Dartmouth, Brown, Colombia, Pennsylvania). Các trường này có chất lượng giáo dục rất tốt.

Nguyễn Bá Trường Giang là học giả Fulbright, tốt nghiệp khoa Kinh tế, Đại Học Cornell, New York và khoa Luật, Đại học Luật Boston, Mỹ.

Trường Giang từng giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ – Văn hóa Anh – Mỹ, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; làm cố vấn pháp luật cao cấp tại Hãng luật Baker & McKenzie; giám đốc pháp luật tại Tập đoàn Thiên Minh và hiện là chuyên gia cao cấp tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).

Nguồn: https://news.zing.vn/tu-ke-ngo-nguoc-thanh-hoc-gia-fulbright-post616540.html

25 năm Fulbright Vietnam qua những con số

Năm 2017 đánh dấu lễ kỷ niệm 25 năm chương trình Fulbright tại Vietnam. Đại sứ quán Mỹ đã tổ chức một buổi lễ kỷ niệm hoành tráng tại Khách sạn Melia Hanoi vào ngày 19/12/2017 để nhìn lại những thành quả của 25 năm hoạt động của chương trình Fulbright đồng thời tôn vinh những đóng góp của các Fulbrighter người Việt trong suốt thời gian qua. Bài viết này, tôi viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm Fulbright Program in Vietnam, dựa trên phân tích dữ liệu của chương trình Vietnamese Student Program từ năm 1992 đến năm 2015.

Như các bạn biết, thì Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995, nhưng Fulbright đã bắt đầu trước đó 3 năm. Lứa Fulbrighter đầu tiên sang Mỹ là vào năm 1992. Trong suốt 23 năm từ 1992 đến 2015 đã có tổng cộng 527 người Việt được trao học bổng thạc sỹ tại các trường đại học của Mỹ. Trung bình mỗi năm có khoảng 22 người được trao học bổng tới các trường đại học của Mỹ. Số lượng người được trao học bổng mỗi năm thay đổi tùy theo chất lượng hồ sơ và ngân sách. Bảng dưới đây cho biết số lượng Fulbrighter mỗi năm.

Năm đông nhất là năm 1994 với tổng cộng 31 người được trao học bổng. Năm thấp nhất là năm 2013 với chỉ vỏn vẹn có 15 người. Năm tôi được học bổng là năm 2009 năm đó có 28 bạn được học bổng bao gồm cả 3 bạn ở waiting list. Dưới đây là bảng số liệu học bổng giai đoạn 2005-2011.

Một điều vô cùng thú vị là mặc dù là trường danh tiếng với tỷ lệ chọi rất cao, nhưng Harvard lại là trường Đại học tiếp nhận nhiều Fulbrighter Vietnam nhất trong các trường ở Mỹ trong 23 năm qua của Fulbright Vietnam. Đại học Harvard đã tiếp nhận tổng cộng 24 Fulbrighter từ Việt Nam theo học các ngành khác nhau như Economics, MBA, Public Policy. Đứng thứ hai trong danh sách là đại học Syracuse University với 23 sinh viên. Đứng thứ ba là trường Brandeis University và University of Arizona với 16 người.

Fulbright Vietnam và Ivy League

Trong những trường Ivy League, Harvard là trường “thân thiện” nhất với Fulbrighter từ Việt Nam. Harvard tiếp nhận tổng cộng 24 người. Columbia tiếp nhận 14 người, UPenn tiếp nhận 10 người. Các trường Ivy League không rộng cửa với Fulbrighter từ Vietnam bao gồm Brown (không có 1 người nào), hai Đại học Dartmouth và Yale trong 23 năm qua chỉ tiếp nhận duy nhất một người. Như vậy, thông qua thống kê này, các bạn nào đang xin học bổng Fulbright mà nhắm tới các trường thuộc nhóm Ivy League sẽ thấy mình khả năng được chấp nhận nhập học ở những trường nào cao hơn. Dễ dàng thấy rằng trong nhóm Ivy League thì việc giành được học bổng Fulbright sẽ biến giấc mơ được học Harvard của bạn dễ dàng trở thành hiện thực hơn cả.

Harvard University 24
Columbia University 14
University of Pennsylvania 10
Cornell University 8
Princeton University 5
Dartmouth College 1
Yale University 1
Brown University 0

Những trường danh tiếng khác của Mỹ như Princeton tiếp nhận 5 người, Stanford nhận 3 người, MIT nhận 4 người. Trong 23 năm từ 1992 tới 2015, danh sách các trường Đại học tiếp nhận Fulbrighter từ Việt Nam có tới 65 trường chỉ nhận duy nhất 1 người, 27 trường chỉ nhận 2 người, 11 trường chỉ nhận 3 người, 8 trường chỉ nhận 4 người. Những trường nhận 5 người trở lên các bạn có thể tham khảo ở bảng bên dưới

Học bổng Fulbright mặc dù cho rất nhiều ngành học KHXHNV khác nhau như business, báo chí, ngoại giao…vv và Fulbright cũng công bố là không có quota cho từng nhóm ngành mỗi năm nhưng theo con số thống kê trong 23 năm qua thì ngành Business Administration chiếm một tỷ lệ áp đảo những người được học bổng so với những ngành khác.

Như bảng trên đây thì trong số 527 người được học bổng từ 1992-2015 thì có tới tận 112 người theo học Business Administration ở nhiều chuyên ngành nhỏ khác nhau như Finance, Accounting hay Marketing. 112 người theo học MBA này được sắp xếp học ở những trường khác nhau. Chúng ta hãy cùng xem những trường nào tiếp nhận nhiều MBA Fulbrighter từ Việt Nam nhất nhé.

Như vậy có thể thấy Trường Vanderbilt University ở bang Tennesse là nơi tiếp nhận nhiều nhất số lượng MBA Fulbrighter Vietnam qua học. Tính đển 2015 có tổng cộng 8 người đã lấy bằng MBA ở đây. Những trường TOP đầu ngành MBA cũng tiếp nhận một số ít Fulbrighter từ Vietnam. Cụ thể như MIT nhận 3 người, Harvard nhận 5 người, UPenn nhận 7 người. Standford nhận duy nhất 1 bạn học MBA là Nguyễn Hải Vinh năm 2010. Như vậy nếu bạn apply MBA mà nhắm tới top đầu thì UPenn là lựa chọn có khả năng thành công cao hơn.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Một điều thú vị là ngành Public Administration khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng. Đây cũng là ngành mà tôi theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Vềphân bổ theo địa lý của người được học bổng, bảng số liệu giai đoạn 2005-2011 cho thấy Hà Nội chiếm hơn 50% số lượng Fulbrighter. Đứng thứ hai là Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi lẽ hai thành phố lớn tập trung nhiều nhất những người ở khắp mọi nơi về học tập và sinh sống. Và theo như mình hiểu thì Fulbright tính địa lý căn cứ theo nơi làm việc, chứ không phải nơi sinh (quê quán) của ứng viên. Ví dụ như mình, khi nộp Fulbright thì đang sống và làm việc tại Hà Nội, nhưng quê quán thì ở Hưng Yên.

 

Về phân bổ theo đơn vị công tác, thì biểu đồ ở trên cho thấy sự phân bổ khá đồng đều xấp xỉ 25% giữa 4 khối: Nhà nước, Tổ chức quốc tế, Đại học/ Trường và Khối phi nhà nước (bao gồm kh ối tư nhân và phi chính phủ). Như vậy có thể thấy là qua số liệu thống kê thì Fulbright không hề có sự ưu tiên cho khối Nhà nước như các học bổng chính phủ khác. Do vậy các bạn ở khối tư nhân hay phi chính phủ hoàn toàn có thể tự tin để nộp học bổng.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Master of Public Affairs

Fulbright 2009-2011

Cơ hội đi Mỹ MIỄN PHÍ 2 năm kèm trợ cấp ngàn USD/ tháng

Bạn muốn đi Mỹ MIỄN PHÍ cho bản thân bạn và cả gia đình??

Bạn muốn nhận được bằng Master của những trường đại học hàng đầu bên Mỹ

Không những thế còn được nhận trợ cấp từ 1500-2000 USD/ tháng để trang trải sinh hoạt phí

và cơ hội giáo dục miễn phí cho con bạn từ lớp 1 đến lớp 12, bạn còn chần chừ gì nữa mà không tìm hiểu học bổng Fulbright – học bổng danh giá của Chính phủ Hoa Kỳ cho người Việt Nam.

Điều kiện để nộp hồ sơ khá đơn giản có 4 yêu cầu chính 

1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship) –> không có 2 quốc tịch

2. Have at least one undergraduate degree – đã có bằng đại học ở Việt Nam

3.  Có tối thiểu 2 năm kinh nghiệm tính từ ngày ghi trên bằng đại học tới ngày hết hạn nộp hồ sơ.

4. Có điểm tiếng Anh tối thiểu là TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Những đối tượng sau đây sẽ không được nộp hồ sơ 

  1. Người đã được nhận học bổng Fulbright

  2. Người đang sống và học tại Hoa Kỳ

  3. Người có bằng cử  nhân hay Thạc sỹ ở Đại học của Mỹ trong vòng 3 năm trở lại đây

  4. Nhân viên của phái đoàn ngoại giao Mỹ tại Việt Nam và những người thân thuộc bao gồm những người đang làm việc hoặc 1  năm sau khi kết thúc làm việc

  5. Người đã nhận học bổng cao học trong vòng 5 năm trở lại đây hoặc sắp nhận học bổng cao học khác.

Danh sách những ngành học được cho học bổng

Các bạn có thể tìm hiểu về các ngành học được cấp học bổng tại link này

Short introduction to Study Subjects in Vietnam Fulbright Student Program

Ngành nào có nhiều cơ hội dành học bổng hơn, các bạn đọc bài viết này 

Nộp ngành gì dễ được học bổng Fulbright???

Hồ sơ xin học bổng bao gồm 

  1. Hai bài essays (study objectives and personal statement)
  2. Ba thư giới thiệu
  3. Bằng đại học và bảng điểm (cho mỗi Đại học mà bạn theo học)
  4. Điểm TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Sơ yếu lý lịch

Nộp hồ sơ online tại địa chỉ https://iie.embark.com/apply. Hướng dẫn cách nộp hồ sơ tại địa chỉ https://vn.usembassy.gov/wp-content/uploads/sites/40/fvst2019-application-guidelines.pdf

Tiêu chí lựa chọn

Không phân biệt giới tính, màu da, ngành nghề, xuất thân, tổ chức mà hoàn toàn dựa vào năng lực và thành tích. Ưu tiên cho những ai chưa có kinh nghiệm trước đó với nước Mỹ. Một ứng viên thành công sẽ cần phải hội đủ các yêu cầu sau:

  • Mô tả rõ ràng và chi tiết mục tiêu học tập, thể hiện một sự kết nối rõ ràng giữa mục tiêu học tập với mục tiêu tương lai thông qua các bài luận
  • Có kinh nghiệm làm việc sâu rộng trong lĩnh vực dự định nộp hồ sơ và hiểu biết đầy đủ về ngành học
  • Thể hiện tiềm năng lãnh đạo dựa trên hoạt động ở trường, hoạt động ngoại khóa, cộng đồng và các hoạt động  nghề nghiệp khác
  • Thể hiện sự cống hiến cho Việt Nam và tiềm năng mang lại sự thay đổi tích cực khi quay về
  • Đóng góp thúc đẩy hiểu biết giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Mỹ thông qua các hoạt động trao đổi giáo dục và văn hóa
  • Sẵn lòng trở thành đại sứ văn hóa của Việt Nam
  • Thể hiện thành tích học tập xuất sắc và khả năng Anh ngữ tốt.

Khung thời gian 

  • Tháng 1/2018: Thông báo học bổng
  • Ngày 15/5/2018: Hết hạn nộp hồ sơ
  • Tháng 6 &7/ 2018: Xét duyệt hồ sơ và lựa chọn người vào vòng phỏng vấn
  • Tháng 9/ 2018: Phỏng vấn và lựa chọn người trao học bổng
  • Tháng 10 &11/2018: Người được học bổng thi lại GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • Tháng 11/2018 – Tháng 3/ 2019: Nộp hồ sơ cho các trường bên Mỹ
  • Tháng 4 & 5/2019: Xác nhận việc sắp xếp trường
  • Tháng 5/2019: Hội thảo định hướng trước khi lên đường
  • Tháng 6 & 7/2019: Kiểm tra sức khỏe và xin Visa
  • Tháng 7&8/2019: Lên đường sang Mỹ nhập học.

Cơ hội mà học bổng Fulbright đem lại 

  • Được vào học những trường danh tiếng của Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được nhận trợ cấp từ 1200 -2000 USD/ tháng để trang trải chi phí ăn học
  • Được hỗ trợ xin visa rất dễ dàng
  • Được tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa bên Mỹ rất thú vị
  • Được được vợ/ chồng và con cái theo, visa diện J2 có thể đi làm
  • Được cơ hội cho con cái từ lớp 1 đến lớp 12 học tại Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được cho vé máy bay và bảo hiểm y tế trong suốt quá trình học
  • Được gia nhập mạng lưới Fulbrigther khắp toàn cầu một network rất giá trị
  • Và được rất nhiều thứ khác nữa vô giá

 

Vậy còn chần chừ gì nữa mà không nộp hồ sơ nào các bạn ơi. Đừng lo lắng, đừng sợ sệt. Hãy mạnh dạn thử sức mình, nếu được ta ăn mừng, nếu chưa được năm sau ta thử sức tiếp.

Nếu trong quá trình nộp hồ sơ, bạn có thắc mắc gì, các bạn có thể liên hệ với mình. Trong quá trình chuẩn bị làm hồ sơ, viết luận, xin thư giới thiệu, các bạn muốn mình tư vấn thì chủ động liên hệ với mình. Contact của mình ở dưới đây

Email: tranngocthinh@gmail.com

Facebook:  www.facebook.com/tranngocthinh

Fanpage: www.facebook.com/tranngocthinh287

 

Chúc các bạn may mắn có được suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng ngàn USD/ tháng nhé.

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter Public Administration

AY 2009-2011

Ngành nào từ trước đến nay được nhiều học bổng Fulbright nhất??

Mặc dù trong FAQ (Tài liệu hỏi đáp), Fulbright Vietnam trả lời rằng không có quota cho từng ngành học được tài trợ.

“Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits”

Thực tế là Fulbright không phân bổ quota cho từng ngành học. Nhưng nhìn qua số liệu thống kê của học bổng Fulbright Vietnamese Student Program từ năm 1992  đến 2015 thì có thể thấy một sự phân bổ không đồng đều số lượng người nhận học bổng theo ngành học như sau

Đứng đầu là ngành Business, đây chính là nhóm nộp ngành MBA gồm nhiều phân ngành nhỏ như Marketing, Finance, Accounting, MIS…vv. Nhóm này đứng đầu với 112 người được học bổng/ 527 người được học bổng Fulbright từ 1992 đến 2015. Chia bình quân cho 23 năm, thì mỗi năm có gần 5 người nộp MBA được học bổng trong sốtrung bình 20 người được học bổng Fulbright hàng năm.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng trong 23 năm. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Hầu hết những bạn được học bổng ngành TESOL mà tôi biết đều là giảng viên dạy tiếng Anh ở những trường đại học công lập lớn của Việt Nam.

Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Ngành kinh tế cũng có nhiều người được vào những trường top như Williams College – số 1 nước Mỹ về Development Economics hay Harvard, Columbia..vv

Một điều thú vị là ngành Public Administration (quản trị công) khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng.  Những người theo học ngành này thì có người làm trong khối nhà nước, có người làm ở các tổ chức phi chính phủ. Tôi còn biết có bạn làm phóng viên của 1 đài truyền hình cũng được học bổng ngành này.

Đây cũng là ngành mà tôi đăng ký theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

 

Ngành tiếp theo, có nhiều người được học bổng là ngành Truyền thông (Communications)/ Báo chí (Journalism) với 36 người được học bổng, đa phần đều là nhà báo, phóng viên.

Ngành Luật có 33 người được học bổng. Đối với  những ngành khác, bạn có thể nộp hồ sơ xin học bổng trái ngành so với ngành học ở bậc đại học. Ví dụ bạn tốt nghiệp đại học Ngoại giao, nhưng xin học bổng về Public Admin hay Public Policy thì được. Riêng ngành Luật thì nếu bạn không có bẳng cử nhân Luật, bạn sẽ không thể apply xin học bổng ngành Luật. Những người được học bổng ngành luật đa phần là Luật sư. Nổi tiếng nhất chắc là anh Lê Công Định, Trương Trọng Nghĩa.

Ngành chính sách công (Public Policy) và Y tếcông cộng (Public Health) đang là một ngành rất hot ở Việt Nam và rất mạnh của Mỹ. Trước đến giờ Việt Nam chưa có đào tạo chính sách công bài bản, bởi lẽ chính sách chủ yếu làm ra trong phòng lạnh nên Mỹ muốn giúp mình phát triển nhân lực trong mảng chính sách công.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

Như vậy qua một số con số thống kê trong vòng 23 năm qua, chúng ta đã có một bức tranh khá rõ về những ngành học nào có nhiều khả năng được học bổng Fulbright. Điều này không có nghĩa là những ngành khác không có cơ hội. Học bổng Fulbright khuyến khích tất cả các bạn theo đuổi đam mê của mình chứ không có một ưu tiên cho ngành nào cả. Chỉ cần bạn thật xuất sắc thì bạn vẫn có thể được học bổng, mặc dù số liệu cho thấy xác suất thành công của những ngành ưu tiên như MBA và TESOL vẫn cao hơn rất nhiều những ngành khác.

Xin chia sẻ một số thông tin để các bạn tham khảo khi lựa chọn nộp hồ sơ cho học bổng Fulbright.

 

Source of Data: Dữ liệu sử dụng trong bài viết này là từ thông tin được công bố công khai của chương trình Fulbright Vietnam.

Disclaimer: Tất cả những nội dung tôi viết trên đây là quan điểm của cá nhân tôi, không đại diện cho chương trình Fulbright tại Việt Nam.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter 2009-2011 – Public Administration

www.tranngocthinh.com

Tỷ lệ chọi của học bổng Fulbright

Khi tôi post trên Facebook của tôi dòng status là hiện đang có khoảng 20 suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng tháng từ 1500-2000usd/ tháng, chỉ yêu cầu 2 năm kinh nghiệm và tiếng Anh, đã có rất nhiều bạn comment và inbox để hỏi tôi về cơ hội này. Khi nhận được câu trả lời đó là học bổng Fulbright nhiều bạn đã vội vàng mất hứng vì cho rằng Fulbright để điều kiện đầu vào rất mở nên nhiều người có đủ điều kiện để nộp hồ sơ, do vậy nên tỷ lệ chọi của Fulbright rất cao. Có lẽ chính sự cạnh tranh cao và tính chọn lọc rất khốc liệt mà Fulbright mới trở thành một học bổng danh giá đáng được nhiều người khao khát bởi mỗi năm chỉ có khoảng 20 người xuất sắc nhất ở Việt Nam được trao học bổng thôi.

Theo số liệu thống kê của Chương trình Fulbright Vietnam thì dưới đây là số lượng người được trao học bổng trong mấy năm gần đây.

 

 

Năm tôi đi học 2009 là năm kỷ lục với số lượng 28 trong đó có 3 bạn ở waiting list cũng được cho sang Mỹ học. Mỗi năm thì tùy theo ưu tiên vào số lượng và ngân sách mà Fulbright sẽ có số lượng học bổng khác nhau. Trung bình khoảng 20-22 suất học bổng/ năm.

 

Các bạn hình dung, có 1 cục ngân sách mỗi năm cho Fulbright nó như 1 miếng bánh vì thế nếu nhiều người được học bổng thì miếng bánh phải chia cho nhiều người, đồng nghĩa với việc ngân sách học bổng cho mỗi người sẽ ít đi, nếu không được trường cho thêm thì khả năng vào được trường top (chi phí lớn) rất khó. Ngược lại, nếu năm đó ít người được học bổng, thì miếng bánh cho mỗi người sẽ cao, khả năng vào trường top Ivy League sẽ cao hơn.

Nói về tỷ lệ chọi, thì mình thực sự là không biết một năm có bao nhiêu hồ sơ nộp. Mình nhớ mang máng khi có dịp cafe với chị Hạnh thì đâu đó vài ngàn hồ sơ. Vài là bao nhiêu, mình nghĩ chỉ tầm maximum 5000 là căng. Chủ yếu tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, còn các tỉnh cũng có nhưng không nhiều.

Giả sử có 5000 người nộp hồ sơ, thì để vào vòng 2 là vòng phỏng vấn thì Fulbright sẽ chọn 50 bạn để vào semi-finalist. Như vậy tỷ lệ chọi sẽ là 50/5000 tức là 1 chọi 100. Khi đến vòng phỏng vấn, thì chỉ lấy khoảng 25 người, như vậy ở vòng phỏng vấn tỷ lệ chọi sẽ là 1 chọi 2.

Thực sự thì để qua vòng hồ sơ là khó bởi như đã nói ở trên do điều kiện đầu vào khá mở nên nhiều người nộp dẫn tới tỷ lệ chọi của Fulbright khá cao. Trong mấy ngàn hồ sơ nộp như vậy, phải làm sao để hồ sơ của mình phải thật sự nổi bật thì bạn mới có cơ hội vào vòng phỏng vấn. Đến vòng phỏng vấn rồi, thì bạn sẽ phải chuẩn bị rất kỹ càng để có thể trả lời phỏng vấn tự tin chứ không thì hồ sơ cho dù long lanh, profile xuất sắc mà trả lời phỏng vấn không toát lên được sự “xuất sắc” ấy thì bạn vẫn có thể trượt. Xác suất thất bại là 50% do đó phỏng vấn rất là quan trọng.

Mình nghĩ rằng cái gì khó khi giành được mới cảm thấy sướng, mới thấy cái danh giá của nó. Do vậy, rất mong các bạn hãy tự tin mà nộp hồ sơ, nếu cần giúp đỡ hãy chủ động liên hệ mình. Mình sẽ giúp các bạn.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Contact of Vietnam Fulbright Program

Trong quá trình nộp hồ sơ học bổng Fulbright, chắc hẳn là các bạn sẽ có nhiều câu hỏi hay thắc mắc. Các bạn vui  lòng liên hệ qua email hoặc điện thoại với chị Nguyễn Thị Hạnh – trợ lý chương trình nhé. Chị Hạnh sinh năm 1982 rất là nice, nhiệt tình sẽ trả lời các câu hỏi của các bạn liên quan tới học bổng Fulbright nhé. 

Ms. Nguyen Thi Hanh

Program Assitant

Fulbright Vietnamese Student Program
Public Affairs Section, U.S. Embassy
7 Lang Ha, Ha Noi
Tel: (04)-3850-5100 (ext. 5089)
Email: 
nguyenHT4@state.gov.

Fulbright Sharing – Fulbright Connection

Few months ago, I and other Fulbrighters were invited to an offline meeting to share our experiences to be a Fulbrighters. After joining this meeting, I decided to write a blog with the topic about Fulbright Scholarship for Vietnamese. I started by collecting articles from different sources. I spent sometimes to write my own articles to share my own experiences. Since I go for Master in Public Administration, so I also contact other Fulbrighters with other field of study like: American Study, MBA, Journalism, Social Work to invite them to write for this weblog to share their own experiences. They are all agreed, but they are now too busy with their jobs and preperation for their trip. I hope that they will keep their promise.


Recently, I have been informed that semi-finalists of Fulbright AY 2010-2012 was announced, so many semi-finalists contacted me and said my sharing is useful. I am happy to hear that, because what I have done, now being recognized by people use it. At the moment, I start working with this weblog on my own. This is part of my personal weblog, because I do not have time to manage different blogs at a time. There is nothing I gain from this weblog, except the power of sharing. I think of what I had experienced when I prepared for my Fulbright interview, almost nothing available on the internet, because the previous generation of Fulbrighters are not much active on the internet with blog. So I want to change it, to make it much more easier to next generation of Fulbrighters. However, I try to make it fair, that no one has a priviledge to know, that others do not. This weblog is for everyone who will, who is, who was a Fulbrighters. The fair information they get, the fair competition they face.

 

With the spirit of “pay it forward”, I do hope that other Fulbrighters will contribute to share their experiences to help the next generation of Fulbrighters, to make Fulbright Scholarship – a dream of many people comes true. I also do hope that any people who will be next Fulbrighters who is benefited from the information on this weblog will continue to share their own story of success to next generation. I look forward to seeing our Vietnamese Fulbright Community growing day by day. I believe with the contribution of many people, this weblog will be the way to connect and to share among Vietnamese Fulbrighters.

I am happy to see you share the same ideas, same inspirations. Thank you for your support!

 

Regards,

 

Tran Ngoc Thinh

 

Thư gửi các bạn Semi-finalist của Fulbright Việt Nam AY 2010-2012

Columbia, Missouri, 24/9/2009

 

Thân gửi các bạn Semi-finalist !

Trước hết, chúc mừng các bạn đã trải qua một cuộc phỏng vấn thú vị và cũng rất căng thẳng. Có thể có một số điểm làm bạn chưa hài lòng, nhưng hãy vui lên và giữ cho mình một tâm thế phấn khởi để đón đợi tin vui. Chắc các bạn đang rất hồi hộp chờ đợi kết quả.Mình rất hiểu cảm giác này vì mình đã từng trải nghiệm nó. Mình muốn chia sẻ một đôi điều với các bạn:

 

1. Về kết quả phỏng vấn:

Thường sẽ có sau khi phỏng vấn 1 đến 2 ngày (năm của mình là 1 ngày). Kết quả sẽ gửi bằng email tới email các bạn đăng ký với Fulbright. Cho dù bạn trúng tuyển hay không cũng đều nhận được email hết. Không có chuyện trúng tuyển mới có email, còn trượt thì không có. Cứ yên tâm và hồi hộp chờ đợi nhé. Sau đó, thư thông báo trúng tuyển có chữ ký của thầy Thảo sẽ được gửi tới địa chỉ bưu điện mà bạn đăng ký với Fulbright.

50 ứng viên tham gia phỏng vấn đều rất xuất sắc, do vậy việc lựa chọn 25 người trúng tuyển là một công việc rất vất vả, khó khăn và tốn thời gian, mong các bạn kiên nhẫn và lạc quan chờ đợi tin vui. Cho dù kết quả có thể nào, các bạn cũng phải tự hào vì nỗ lực của mình.

2. Sau khi biết kết quả:

 

    • Tự thưởng cho mình một cái gì đó: đi chơi, du lịch, ăn uống, karaoke
    • Viết bài chia sẻ kinh nghiệm phỏng vấn Fulbright cho Fulbright Weblog, hãy nhớ viết ngay sau khi trúng tuyển, bởi để lâu mấy chi tiết nho nhỏ, thú vị sẽ không còn fresh. Các bạn gửi bài vào hòm thư của mình tranngocthinh@gmail.com, mình sẽ post bài lên Fulbright weblog.
    • Bắt tay vào việc ôn thi cho mấy kỳ thi TOEFL, GRE hoặc GMAT. Thường thì lịch thi sẽ do Fulbright đặt chỗ với ETS nên các bạn sẽ không chủ động được thời gian ôn thi, do đó nên bắt tay vào ôn thi ngay khi biết kết quả trúng tuyển. Việc ôn thi sẽ rất stressful, đặc biệt nếu bạn đang đi làm. Hãy cân bằng thời gian, và ưu tiên cho kỳ thi, bởi vì ưu tiên số một lúc này là kỳ thi, vì một thời gian nữa, bạn sẽ không còn làm ở cơ quan nữa.
    • Suy nghĩ thật kỹ để trả lời Fulbright 4 trường mà bạn sẽ dự định nộp hồ sơ. Lưu ý, không chắc chắn là bạn sẽ vào 1 trong 4 trường đó. Quyết định là của Fulbright, do đó đừng có quá hy vọng mà trở nên thất vọng.
    • Hãy dành thời gian mà tận hưởng Việt Nam trước khi sang Mỹ, không sang đây rồi lại nhớ. Nếu bạn chưa đi thăm chỗ nào ở Việt Nam: Hạ Long, Nha Trang, Sài Gòn thì hãy đi đi. Nếu bạn chưa ăn thịt chó, bún đậu mắm tôm thì hãy ăn đi. Nếu bạn chưa phi xe máy lượn lờ đường phố Hà Nội thì hãy làm đi. Nếu bạn chưa ngắm hoàng hôn ở Hồ Tây, thì đi thử đi. Nếu bạn chưa đi chợ đêm Hàng Đào, hãy đi ngay. Bởi nếu không sang Mỹ bạn không có sẵn cơ hội như Việt Nam mà thử đâu. Và một điều nữa, hãy tập thể dục bằng việc đi bộ, nếu không sang học, đi bộ trong trường cũng thấy mỏi cả chân 

Viết cho các bạn mấy dòng. Lâu lắm mới có cảm hứng viết blog từ khi sang Mỹ. Chúc các bạn có được tin vui, và mong chờ những dòng chia sẻ cảm xúc phỏng vấn Fulbright của các bạn.

 

Thân mến từ Hoa Kỳ,

Trần Ngọc Thịnh

Fulbright Vietnamese Student Program FAQ

About the Program

What does the Fulbright scholarship provide?
The scholarship provides grantees with the opportunity to pursue a master’s degree at a
university in the United States. The grant provides full tuition and fees, a living allowance,
round-trip travel and health insurance.

How long is the program?
Most M.A. programs take 2 academic years to complete, although in some cases, the M.A.
course is only 10-12 months. Law students will take one academic year to complete their
degrees. All grantees must remain in good academic standing to continue their program.

How many awards are there?
The number of scholarships depends on the amount of funding allocated by the US Department
of State. Approximately 20 new grantees go to the U.S. each year.

Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits.

Eligibility requirements

What are the minimum eligibility requirements for a Fulbright scholarship?
Vietnamese citizens from all regions in Vietnam are welcome to apply. Applicants must have at
least a BA degree and have two years of work experience by the time of their application. All
applicants must be proficient in English, as measured by a minimum 79 on TOEFL iBT or 6.5 on
IELTS. Finally, the field of study that an applicant intends to pursue must be supported by the
Fulbright Program.

The Program requires two years of work experience since graduation. I graduated recently
but I had worked full-time for more than two years before graduation. Can that experience
satisfy the requirement?

Unfortunately, the Fulbright Program counts the work experience based on the date of issuance
of your first bachelor’s degree. For example, to be eligible for the academic year 2019-2020 of
which the application deadline is May 15, 2018 your first bachelor’s degree must be issued
before May 15, 2016. The experience you gained before graduation only add bonus to your
competitiveness but does not necessarily meet this requirement.

Does the Fulbright Program require applicants to submit contracts of employment and
certificates of extra-curricular activities?

No. Contracts of employment and certificates of all kinds are not required. You just need to list
your work history and extra-curricular activities in your CV.

Do I need an offer of admission from a university in the US prior to applying for a
Fulbright award?

No. All grantees will be placed at universities by the Institute of International Education after
attaining finalist status.

Which fields of study are supported by the Fulbright program?
In general, most fields in the Humanities and Social Sciences are supported by the Fulbright
Program. Please contact the program office if your desired field of study is not listed.

Is there a minimum GPA for applicants?
No. Applicants will evaluated based on the merits of their entire application, including their
GPA, work experience, references, essays, and TOEFL/IELTS score.

Is there an age limit for applicants?
No, although most successful candidates are at an early or mid-point in their careers.

Do I need a Bachelor’s degree in the same subject that I want to study for a Master’s
degree?
No. Master’s degree programs in the U.S. do not require that applicants have a Bachelor’s degree
in the same subject. However, it is recommended that applicants have substantial work
experience related to their intended field of study. One exception is Law: candidates for a
Master’s in Law must have a B.A. in Law. A master’s in Economics may also require an
academic background in economics or finance.

My TOEFL iBT/IETLS test score is expired. Can I use GMAT/GRE instead?
Yes. At the application round, the Fulbright Program may accept GMAT/GRE in place of your
expired TOEFL iBT/IELTS. Your GMAT/GRE must be valid by the application deadline, and
your percentile ranking must be 50% for each component of each exam.

Applying

When should I apply for a Fulbright award?
Applicants who wish to obtain the scholarship to for the fall of 2019 should submit an
application by May 15, 2018.

What are the components of an application?
All applicants are required to apply online. A complete online application consists of an
application form, three confidential letters of reference, diplomas and transcripts from
undergraduate and graduate degrees, and TOEFL iBT/IELTS score reports.

I applied last year and was not successful. Can I resubmit that application for the new
cycle?

Unfortunately, once the application is submitted, you can no longer have access to it. You need
to create a new log-in account using a new email address and password.

When I register online, the Embark system asks me to contact the Fulbright Office prior to
commencing my application. What should I do?

This is NOT a requirement of the Fulbright Program in Vietnam, so there is no need to call or
email the Fulbright officer. Please select “yes” in answer to question 3 and start your application.

I do not have much work experience in my chosen field. Will my application be at a
disadvantage?

Work experience in the field you wish to pursue is an indication of your commitment to that field
and is considered additional preparation for graduate work. Work experience can often make up
for any academic experience you may lack. While it is not a mandatory requirement, a lack of
relevant work experience may diminish your chances to earn the scholarship.

Is there another way to submit the reference letters if my referees cannot submit them
online?
Online references are preferred; however, if by no means your referees can submit online letters,
you can go to “Supplemental Form” on our online application system, download the Fulbright
Reference form and forward it to your referees for completion. Your referees should complete
both parts of the Fulbright Reference Form (rating chart & recommendation). The reference form
must be sent to the Fulbright Office in a closed envelope with the referees’ signature on the seal.
Interviews

What happens to my application after submission?
Your formal application will be reviewed by a committee, which will decide whether to
recommend your application for an interview.

How many interview slots are there?
It depends on the number of qualified applicants. In general, we usually interview approximately
50 applicants per year.

When are interviews held?
Interviews are held in the fall in Hanoi and Ho Chi Minh City.

Who is on the selection panel?
The selection committee is composed of Vietnamese and American experts in a variety of fields
of study.

Receiving the scholarship

What happens after I am chosen as a finalist?

You will be required to sit for the official TOEFL (Internet-based) and GRE exams. MBA
students will take the GMAT exam instead of the GRE, and Law students will only take the
TOEFL exam. The Fulbright Program will provide you with test vouchers for these exams, as
well as transportation to and from the test site if necessary.

Your application will then be sent to the Institute of International Education (IIE) in the United
States. The IIE Placement office will review your application and send your dossier to a variety
of universities. The Fulbright Program and IIE will make the final decision regarding your placement at a university,
based on whether the program fits your academic needs and whether your qualifications meet the
requirements of the university.

Will my score on the TOEFL/GRE/GMAT affect my placement at a university?
Yes. Each university in the U.S. has different admissions criteria, and therefore a low TOEFL
score may make your application less competitive. Therefore, the Fulbright Program encourages
finalists to prepare carefully for these exams. In general, the Program is able to successfully
place Vietnamese grantees at appropriate university programs.

The application instructs applicants to name three-four universities of their choice. Will
IIE honor my choice?
IIE will try to honor your choices. However, if there is no match between you and your choice,
IIE will find other universities where you have a better chance of gaining admission.

Can I defer or delay the scholarship to the following year?
No. You should plan to apply for the year that you will be able to participate fully in the
program.

Does the Fulbright Program provide any orientation for grantees before leaving for the
U.S.?
Yes. The Program will organize a pre-departure orientation in Vietnam for all grantees in May
2019.

Are there any requirements attached to the Fulbright grant?
As part of a U.S. government-funded study program, all Fulbright grantees are subject to a 2-
year home country residency requirement. This means that grantees may not apply for a work or
immigrant visa to the U.S. until after two years of residence in Vietnam upon the completion of
the Fulbright grant.

Fulbright Vietnamese Student Program AY 2019-2020

The U.S. Mission in Vietnam is pleased to announce the Fulbright Vietnamese Student Scholarship Program for academic year 2019-2020. Established in 1946 and funded by the U.S. government, the Fulbright Program aims at achieving mutual understanding through academic and cultural exchange. The Fulbright Vietnamese Student Program is a competitive, merit-based scholarship program which recruits and nominates young Vietnamese professionals for Master’s degree programs at U.S. universities. Approximately 20 fully-funded scholarships are granted on an annual basis. Since 1992, more than 600 Vietnamese students have been selected to participate in the Program.

WHAT does the Scholarship provide? Successful candidates will pursue a Master’s degree that begins in the academic year 2019-2020. Fulbright Vietnam will arrange placement at universities in the United States. Successful candidates will receive a full scholarship which covers tuition and fees, monthly stipend, round-trip airfare to the United States, and health insurance.
WHO can apply? Competition is open to people who meet the following criteria:

  1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship)
  2. Have at least one undergraduate degree
  3. Have at least two years of work experience after graduation by the time of application
  4. Have a valid minimum TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Ineligibility factors

The following persons are ineligible to apply for the Fulbright Vietnamese Student Program:

  1. Candidates who already received one Fulbright Student Program grant
  2. Candidates who are currently living or studying in the United States
  3. Candidates who have earned a Bachelor’s or Master’s degree from a U.S. college or university within the last three years
  4. Local employees of the U.S. Mission in Vietnam who work for the U.S. Department of State and their immediate dependents are ineligible for grants during the period of their employment and for one year following the termination of employment
  5. Candidates who have received any scholarship for graduate study abroad within the past five years, or are scheduled to receive any scholarship for graduate study abroad.

WHICH fields of study are supported?
The Program supports study in most fields of social sciences and humanities, including:

American Literature Education Project/Program Management
American Studies Environmental Studies Psychology
Agricultural Economics Management of IT/Information system Public Administration
Anthropology Journalism Public Policy
Architecture Language/Literature (non-U.S.) Public Health
Art/Film Studies Law Social Work
Business (all fields Library Science Sociology
Communications Linguistics/Language Teaching Urban/Community Planning
Development Studies Philosophy Women/Gender Studies
Economics Political Science

(A brief introduction of each field of study is available here. Please contact the Fulbright office if your desired field of study is not on the list)

HOW to apply?
Please follow these steps to apply for the Program:

Step 1: Download the Application Guidelines and read them carefully before starting your application as Fulbright Vietnam has specific requirements for Vietnamese applicants. Do not refer to the guidelines on the online application system, since it is a generic form for all countries. Failure to comply with the Fulbright Vietnam’s guidelines may make your application “ineligible” for the next rounds of competition.
Step 2: Complete the online application form at: https://iie.embark.com/apply

Please make sure your online application includes:

  1. Two essays (study objectives and personal statement)
  2. Three letters of recommendation
  3. Transcript and degree (for each higher educational institution you list in your application)
  4. TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Curriculum vitae

Deadline for application submission: 5:00PM (Vietnam time), May 15, 2018.
Mailed, emailed and/or faxed applications are not accepted.

SELECTION CRITERIA
Competition is based on academic and professional merits, without regards to race, color, national origin, sex, age, religion, geographic location, socio-economic status, disability, sexual orientation or gender identity. Preference is given to those without recent experience in the United States. A successful applicant is someone who can:

  • Demonstrate a clear and detailed description of the study objectives, and show a clear connection between their study objectives and future goals through a compelling set of essays.
  • Have a depth and breadth of work experience in their intended field of study, and a full understanding of the field.
  • Demonstrate leadership potential based on participation in academic, extra-curricular, community and professional development activities, and personal attributes.
  • Show dedication to Vietnam and potential to make a positive impact upon return
  • Contribute to promoting mutual understanding between the people of the United States and Vietnam through educational and cultural exchange activities.
  • Be willing to be a cultural ambassador of Vietnam.
  • Have demonstrated academic excellence and strong English proficiency

TIMELINE

  • January, 2018: Grant announced and application materials available
  • May 15, 2018: Deadline for submission of application
  • June – July 2018: Application review and semi-final selections
  • September 2018: Interviews & selection
  • October – November 2018: Finalists (re)take GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • November – March 2019: Submission of applications to U.S. universities
  • April – May 2019: University placements confirmed
  • May 2019: Pre-departure orientation
  • June – July 2019: Medical check-up and visa application
  • July – August 2019: Departure

INFORMATION SESSIONS:
More details will be updated soon.

CONTACT
For further information, please read the Frequently Asked Questions or contact Ms. Nguyen Hanh, the Program Assistant at (04) 3850-5089 or email: nguyenHT4@state.gov.

error: Content is protected !!