Nên thi TOEFL iBT hay IELTS ???

Thế là kể từ tháng 4/2014 này, những bạn nào muốn xin Visa đi Anh thì không thể  sử dụng điểm thi TOEFL và TOEIC của ETS (Mỹ) cung cấp nữa. Trước đây, chúng ta luôn mặc định là đi Anh là thi IELTS, đi Mỹ thì thi TOEFL, thì mấy năm gần đây đã có hơn 3000 trường ở Mỹ chấp nhận điểm IELTS, nước Anh cũng chấp nhận TOEFL. Chính vì thế, sự kiện Chính phủ Anh lại từ chối nhận chấp nhận điểm TOEFL và TOEIC là điều hết sức bất ngờ với các bạn du học sinh và có vẻ đi ngược lại xu thế hội nhập và hợp tác giữa 2 đồng minh lâu năm.

 

Tại sao Anh lại không chấp nhận TOEFL và TOEIC? Lý do là Đài BBC đã phát hiện ra một scandal chấn động khi 2 trung tâm tổ thức thi TOEFL và TOEIC ở Anh được ETS ủy quyền dính đến các cáo buộc gian lận trong kỳ thi TOEIC. Bằng máy quay giấu kín, BBC phát hiện ra các trung tâm này đọc kết quả cho thí sinh điền vào tờ answer sheet.

 

Việc băn khoăn lựa chọn bài thi tiếng Anh nào luôn là một câu hỏi mà nhiều bạn trẻ có dự định du học gặp phải. Nhân đây, tôi xin giới thiệu với bạn bài viết so sánh giữa 2 kỳ thi này. Bài viết được trích từ cuốn sách “Du học không khó” mà tôi mới phát hành.

 

So sánh TOEFL iBT và IELTS

 

 

Dưới đây là bảng so sánh chi tiết các nội dung thi và hình thức câu hỏi trong hai bài thi TOEFL và IELTS để các bạn tham khảo và thấy là cấu trúc bài thi có sự khác biệt như thế nào và lựa chọn bài thi nào phù hợp nhất với khả năng của bạn.

 

 

Dựa trên những so sánh trên đây và trải nghiệm của cá nhân,quan điểm của tôi cho rằng IELTS là bài thi hay hơn và dễ thi hơn TOEFL iBT và IELTS đánh giá chính xác hơn năng lực tiếng Anh của thí sinh so với TOEFL iBT. Dưới đây là các lý do tôi đưa ra kết luận trên:

 

  • Thiết kế: IELTS cũng được thiết kế phù hợp với môi trường học thuật khi thí sinh phải làm bài thi trên giấy và phần Nói thì thí sinh được trao đổi, thảo luận với người bản ngữ, chả khác gì đang thi một bài thi ở trường bên nước ngoài. Trong khi đó, TOEFL iBT lại vi tính hóa toàn bộ, việc đánh giá bị phụ thuộc hoàn toàn vào máy móc. Giả sử trục trặc kỹ thuật hay đường truyền mà chất lượng ghi âm không tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới điểm phần Nói của bạn.

 

  • Tương tác: IELTS tạo ra một môi trường tương tác khi trong phần thi Nói, thí sinh được nói chuyện với giám khảo người bản xứ, các phần thảo luận tự nhiên không bị rập khuôn, cứng nhắc, trong khi đó TOEFL iBT rất thiếu tính tương tác, không giống như môi trường học thuật ngoài đời thực. Phần thi Nói của TOEFL iBT thì phải ngồi “nói chuyện” với cái máy tính, hoàn toàn đánh mất hết đi tính tương tác.

 

  • Ôn luyện: Điều kiện ôn thi IELTS rất đơn giản, bạn chỉ cần sách và bút. Trong khi đó để ôn thi TOEFL iBT thì đòi hỏi cầu kỳ hơn, bạn cần phải có máy vi tính và phần mềm giả lập nếu muốn làm quen với dạng bài thi.

 

  • Tâm lý: Việc TOEFL iBT thi trên máy vi tính, vô hình chung tạo ra một sức ép tâm lý khá lớn với thí sinh bởi lẽ nhiều thí sinh có khả năng tiếng Anh tốt nhưng có thể do không quen sử dụng máy vi tính một cách thành thạo thì có thể mất rất nhiều thời gian loay hoay làm quen và áp lực tâm lý sẽ lớn hơn khi thi IELTS theo phong cách truyền thống.

 

  • Địa điểm: IELTS được tổ chức ở 4 địa điểm là Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ,  nhiều nơi hơn so với 3 địa điểm tổ chức thi TOEFL iBT là Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Điều này cũng rất quan trọng, bởi không phải ai đăng ký thi cũng sinh sống ở những thành phố trên, nên có nhiều địa điểm sẽ thuận lợi hơn trong việc thi.

 

  • Máy móc: Thi IELTS hoàn toàn trên giấy, bạn không bị lệ thuộc vào máy tính, trong khi đó với TOEFL iBT bạn bị lệ thuộc rất nhiều vào máy tính. Ví dụ: nếu bạn nào không quen đánh máy nhanh thì có khả năng không hoàn thành phần Viết do thời gian có hạn.

 

  • Thời gian: Thời gian của bài thi IELTS là khoảng 2h45 phút ngắn hơn so với bài thi TOEFL iBT khoảng 4h30 phút.  Thời gian kéo dài lại thi trên máy vi tính nên sức ép tâm lý với thí sinh thi TOEFL iBT cao hơn và bị mệt mỏi hơn chứ không thoải mái như thi IELTS.  

 

  • Cấp tốc: Nếu bạn cần phải có ôn thi cấp tốc để lấy điểm tiếng Anh nộp xin học bổng thì IELTS là lựa chọn tốt hơn vì thời gian để thích nghi với bài thi nhanh hơn so với TOEFL iBT.  

 

  • Chấp nhận: Nếu như trước đây các trường ở Mỹ chưa chấp nhận IELTS thì bây giờ họ đã chấp nhận nên có điểm IELTS bạn thoải mái xin du học ở Châu Âu và Châu Mỹ rất thuận tiện và đơn giản. 

 

Bài viết được trích từ nội dung cuốn sách “Du học không khó”. Ngoài so sánh 2 bài thi, cuốn sách còn chia sẻ các bí quyết để thi 2 bài thi này đạt điểm cao. 

 

Học 3000 từ Tiếng Anh bằng Thơ

LTS: Có rất nhiều bạn đọc của cuốn sách “Du học không khó” hỏi tôi cách học từ mới tiếng Anh thế nào cho hiệu quả và nhớ lâu. Trong sách, tôi đã chia sẻ một số cách để học từ vựng hiệu quả. Hôm nay xin chia sẻ với các bạn 1 bài thơ chứa đựng 3000 từ mới Tiếng Anh đây là một bài thơ rất hay, tuy dài nhưng lại rất dễ để các bạn học từ vựng. Hãy lẩm nhẫm bài thơ này để nâng cao từ vựng mỗi ngày các bạn nhé. 

 

Trần Ngọc Thịnh

 

 

—-

Hello có nghĩa xin chào

Goodbye tạm biệt, thì thào Wishper

Lie nằm, Sleep ngủ, Dream mơ

Thấy cô gái đẹp See girl beautiful

I want tôi muốn, kiss hôn

Lip môi, Eyes mắt … sướng rồi … oh yeah!

Long dài, short ngắn, tall cao

Here đây, there đó, which nào, where đâu

Sentence có nghĩa là câu

Lesson bài học, rainbow cầu vồng

Husband là đức ông chồng

Daddy cha bố, please don”t xin đừng

Darling tiếng gọi em cưng

Merry vui thích, cái sừng là horn

Rách rồi xài đỡ chữ torn

To sing là hát, a song một bài

Nói sai sự thật to lie

Go đi, come đến, một vài là some

Đứng stand, look ngó, lie nằm

Five năm, four bốn, hold cầm, play chơi

One life là một cuộc đời

Happy sung sướng, laugh cười, cry kêu

Lover tạm dịch ngừơi yêu

Charming duyên dáng, mỹ miều graceful

Mặt trăng là chữ the moon

World là thế giới, sớm soon, lake hồ

Dao knife, spoon muỗng, cuốc hoe

Đêm night, dark tối, khổng lồ giant

Fund vui, die chết, near gần

Sorry xin lỗi, dull đần, wise khôn

Burry có nghĩa là chôn

Our souls tạm dịch linh hồn chúng ta

Xe hơi du lịch là car

Sir ngài, Lord đức, thưa bà Madam

Thousand là đúng…mười trăm

Ngày day, tuần week, year năm, hour giờ

Wait there đứng đó đợi chờ

Nightmare ác mộng, dream mơ, pray cầu

Trừ ra except, deep sâu

Daughter con gái, bridge cầu, pond ao

Enter tạm dịch đi vào

Thêm for tham dự lẽ nào lại sai

Shoulder cứ dịch là vai

Writer văn sĩ, cái đài radio

A bowl là một cái tô

Chữ tear nước mắt, tomb mồ, miss cô

Máy khâu dùng tạm chữ sew

Kẻ thù dịch đại là foe chẳng lầm

Shelter tạm dịch là hầm

Chữ shout là hét, nói thầm whisper

What time là hỏi mấy giờ

Clear trong, clean sạch, mờ mờ là dim

Gặp ông ta dịch see him

Swim bơi, wade lội, drown chìm chết trôi

Mountain là núi, hill đồi

Valley thung lũng, cây sồi oak tree

Tiền xin đóng học school fee

Yêu tôi dùng chữ love me chẳng lầm

To steal tạm dịch cầm nhầm

Tẩy chay boycott, gia cầm poultry

Cattle gia súc, ong bee

Something to eat chút gì để ăn

Lip môi, tongue lưỡi, teeth răng

Exam thi cử, cái bằng licence…

Lovely có nghĩa dễ thương

Pretty xinh đẹp thường thường so so

Lotto là chơi lô tô

Nấu ăn là cook , wash clothes giặt đồ

Push thì có nghĩa đẩy, xô

Marriage đám cưới, single độc thân

Foot thì có nghĩa bàn chân

Far là xa cách còn gần là near

Spoon có nghĩa cái thìa

Toán trừ subtract, toán chia divide

Dream thì có nghĩa giấc mơ

Month thì là tháng , thời giờ là time

Job thì có nghĩa việc làm

Lady phái nữ, phái nam gentleman

Close friend có nghĩa bạn thân

Leaf là chiếc lá, còn sun mặt trời

Fall down có nghĩa là rơi

Welcome chào đón, mời là invite

Short là ngắn, long là dài

Mũ thì là hat, chiếc hài là shoe

Autumn có nghĩa mùa thu

Summer mùa hạ , cái tù là jail

Duck là vịt , pig là heo

Rich là giàu có , còn nghèo là poor

Crab thi` có nghĩa con cua

Church nhà thờ đó , còn chùa temple

Aunt có nghĩa dì , cô

Chair là cái ghế, cái hồ là pool

Late là muộn , sớm là soon

Hospital bệnh viẹn , school là trường

Dew thì có nghĩa là sương

Happy vui vẻ, chán chường weary

Exam có nghĩa kỳ thi

Nervous nhút nhát, mommy mẹ hiền.

Region có nghĩa là miền,

Interupted gián đoạn còn liền next to.

Coins dùng chỉ những đồng xu,

Còn đồng tiền giấy paper money.

Here chỉ dùng để chỉ tại đây,

A moment một lát còn ngay ringht now,

Brothers-in-law đồng hao.

Farm-work đòng áng, đồng bào Fellow- countryman

Narrow- minded chỉ sự nhỏ nhen,

Open-hended hào phóng còn hèn là mean.

Vẫn còn dùng chữ still,

Kỹ năng là chữ skill khó gì!

Gold là vàng, graphite than chì.

Munia tên gọi chim ri

Kestrel chim cắt có gì khó đâu.

Migrant kite là chú diều hâu

Warbler chim chích, hải âu petrel

Stupid có nghĩa là khờ,

Đảo lên đảo xuống, stir nhiều nhiều.

How many có nghĩa bao nhiêu.

Too much nhiều quá , a few một vài

Right là đúng , wrong là sai

Chess là cờ tướng , đánh bài playing card

Flower có nghĩa là hoa

Hair là mái tóc, da là skin

Buổi sáng thì là morning

King là vua chúa, còn Queen nữ hoàng

Wander có nghĩa lang thang

Màu đỏ là red, màu vàng yellow

Yes là đúng, không là no

Fast là nhanh chóng, slow chậm rì

Sleep là ngủ, go là đi

Weakly ốm yếu healthy mạnh lành

White là trắng, green là xanh

Hard là chăm chỉ , học hành study

Ngọt là sweet, kẹo candy

Butterfly là bướm, bee là con ong

River có nghĩa dòng sông

Wait for có nghĩa ngóng trông đợi chờ

Dirty có nghĩa là dơ

Bánh mì bread, còn bơ butter

Bác sĩ thì là doctor

Y tá là nurse, teacher giáo viên

Mad dùng chỉ những kẻ điên,

Everywhere có nghĩa mọi miền gần xa.

A song chỉ một bài ca.

Ngôi sao dùng chữ star, có liền!

Firstly có nghĩa trước tiên

Silver là bạc , còn tiền money

Biscuit thì là bánh quy

Can là có thể, please vui lòng

Winter có nghĩa mùa đông

Iron là sắt còn đồng copper

Kẻ giết người là killer

Cảnh sát police , lawyer luật sư

Emigrate là di cư

Bưu điện post office, thư từ là mail

Follow có nghĩa đi theo

Shopping mua sắm còn sale bán hàng

Space có nghĩa không gian

Hàng trăm hundred, hàng ngàn thousand

Stupid có nghĩa ngu đần

Thông minh smart, equation phương trình

Television là truyền hình

Băng ghi âm là tape, chương trình program

Hear là nghe watch là xem

Electric là điện còn lamp bóng đèn

Praise có nghĩa ngợi khen

Crowd đông đúc, lấn chen hustle

Capital là thủ đô

City thành phố , local địa phương

Country có nghĩa quê hương

Field là đồng ruộng còn vườn garden

Chốc lát là chữ moment

Fish là con cá , chicken gà tơ

Naive có nghĩa ngây thơ

Poet thi sĩ , great writer văn hào

Tall thì có nghĩa là cao

Short là thấp ngắn, còn chào hello

Uncle là bác, elders cô.

Shy mắc cỡ, coarse là thô.

Come on có nghĩa mời vô,

Go away đuổi cút, còn vồ pounce.

Poem có nghĩa là thơ,

Strong khoẻ mạnh, mệt phờ dog- tiered.

Bầu trời thường gọi sky,

Life là sự sống còn die lìa đời

Shed tears có nghĩa lệ rơi

Fully là đủ, nửa vời by halves

Ở lại dùng chữ stay,

Bỏ đi là leave còn nằm là lie.

Tomorrow có nghĩa ngày mai

Hoa sen lotus, hoa lài jasmine

Madman có nghĩa người điên

Private có nghĩa là riêng của mình

Cảm giác là chữ feeling

Camera máy ảnh hình là photo

Động vật là animal

Big là to lớn , little nhỏ nhoi

Elephant là con voi

Goby cá bống, cá mòi sardine

Mỏng mảnh thì là chữ thin

Cổ là chữ neck, còn chin cái cằm

Visit có nghĩa viếng thăm

Lie down có nghĩa là nằm nghỉ ngơi

Mouse con chuột , bat con dơi

Separate có nghĩa tách rời , chia ra

Gift thì có nghĩa món quà

Guest thì là khách chủ nhà house owner

Bệnh ung thư là cancer

Lối ra exit , enter đi vào

Up lên còn xuống là down

Beside bên cạnh , about khoảng chừng

Stop có nghĩa là ngừng

Ocean là biển , rừng là jungle

Silly là kẻ dại khờ,

Khôn ngoan smart, đù đờ luggish

Hôn là kiss, kiss thật lâu.

Cửa sổ là chữ window

Special đặc biệt normal thường thôi

Lazy… làm biếng quá rồi

Ngồi mà viết tiếp một hồi die soon

Hứng thì cứ việc go on,

Còn không stop ta còn nghỉ ngơi!

Cằm CHIN có BEARD là râu

RAZOR dao cạo, HEAD đầu, da SKIN

THOUSAND thì gọi là nghìn

BILLION là tỷ, LOOK nhìn , rồi THEN

LOVE MONEY quý đồng tiền

Đầu tư INVEST, có quyền RIGHTFUL

WINDY RAIN STORM bão bùng

MID NIGHT bán dạ, anh hùng HERO

COME ON xin cứ nhào vô

NO FEAR hổng sợ, các cô LADIES

Con cò STORKE, FLY bay

Mây CLOUD, AT ở, BLUE SKY xanh trời

OH! MY GOD…! Ối! Trời ơi

MIND YOU. Lưu ý WORD lời nói say

HERE AND THERE, đó cùng đây

TRAVEL du lịch, FULL đầy, SMART khôn

Cô đõn ta dịch ALONE

Anh văn ENGLISH , nổi buồn SORROW

Muốn yêu là WANT TO LOVE

OLDMAN ông lão, bắt đầu BEGIN

EAT ăn, LEARN học, LOOK nhìn

EASY TO FORGET dễ quên

BECAUSE là bỡi … cho nên , DUMP đần

VIETNAMESE , người nước Nam

NEED TO KNOW… biết nó cần lắm thay

SINCE từ, BEFORE trước, NOW nay

Đèn LAMP, sách BOOK, đêm NIGHT, SIT ngồi

SORRY thương xót, ME tôi

PLEASE DON”T LAUGH đừng cười, làm ơn

FAR Xa, NEAR gọi là gần

WEDDING lễ cưới, DIAMOND kim cương

SO CUTE là quá dễ thương

SHOPPING mua sắm, có sương FOGGY

SKINNY ốm nhách, FAT: phì

FIGHTING: chiến đấu, quá lỳ STUBBORN

COTTON ta dịch bông gòn

A WELL là giếng, đường mòn là TRAIL

POEM có nghĩa làm thơ,

POET Thi Sĩ nên mơ mộng nhiều.

ONEWAY nghĩa nó một chiều,

THE FIELD đồng ruộng, con diều là KITE.

Của tôi có nghĩa là MINE,

TO BITE là cắn, TO FIND kiếm tìm

TO CARVE xắt mỏng, HEART tim,

DRIER máy sấy, đắm chìm TO SINK.

FEELING cảm giác, nghĩ THINK

PRINT có nghĩa là in, DARK mờ

LETTER có nghĩa lá thơ,

TO LIVE là sống, đơn sơ SIMPLE.

CLOCK là cái đồng hồ,

CROWN vương niệm, mã mồ GRAVE.

KING vua, nói nhảm TO RAVE,

BRAVE can đảm, TO PAVE lát đường.

SCHOOL nghĩa nó là trường,

LOLLY là kẹo, còn đường SUGAR.

Station trạm GARE nhà ga

FISH SAUCE nước mắm, TOMATO là cá chua

EVEN huề, WIN thắng, LOSE thua

TURTLE là một con rùa

SHARK là cá mập, CRAB cua, CLAW càng

COMPLETE là được hoàn toàn

FISHING câu cá, DRILL khoan, PUNCTURE dùi

LEPER là một người cùi

CLINIC phòng mạch, sần sùi LUMPY

IN DANGER bị lâm nguy

Giải phầu nhỏ là SUGERY đúng rồi

NO MORE ta dịch là thôi

AGAIN làm nữa, bồi hồi FRETTY

Phô mai ta dịch là CHEESE

CAKE là bánh ngọt, còn mì NOODLE

ORANGE cam, táo APPLE

JACK-FRUIT trái mít, VEGETABLE là rau

CUSTARD-APPLE mãng cầu

PRUNE là trái táo tàu, SOUND âm

LOVELY có nghĩa dễ thương

PRETTY xinh đẹp, thường thường SO SO

LOTTO là chơi lô tô

Nấu ăn là COOK , WASH CLOTHES giặt đồ

PUSH thì có nghĩa đẩy, xô

MARRIAGE đám cưới, SINGLE độc thân

FOOT thì có nghĩa bàn chân

FAR là xa cách, còn gần là NEAR

SPOON có nghĩa cái thìa

Toán trừ SUBTRACT, toán chia DIVIDE

PLOUGH tức là đi cày

WEEK tuần MONTH tháng, WHAT TIME mấy giờ

Graduate Admissions: the selection process

Để hỗ trợ cho các bạn tốt hơn trong quá trình chuẩn bị hồ sơ, tôi xin kể ra đây các câu chuyện về quá trình làm việc cũng như tiêu chí lựa chọn tôi được biết trong quá trình tham gia tình nguyện ở AC trong khoa. Trong bài viết này tôi chỉ giới hạn thông tin về việc xét duyệt hồ sơ cho ngành Computer Science tại một trường cụ thể trong top 10. Mỗi trường có thể có cách lựa chọn khác nhau, vì thế tôi chỉ có thể đưa ra các thông tin theo góc nhìn ở một ngành, một trường cụ thể, để mong có thể giúp các bạn tưởng tượng được quá trình tuyển chọn diễn ra như thế nào.

Tôi cũng xin nhắc trước là vì chuyện privacy mà tôi không nhắc tới bất cứ một cái tên riêng nào về trường, giáo sư hay sinh viên. Vì thế mong các bạn đừng hỏi tôi về các thông tin cụ thể về các tên riêng kể cả khi các bạn đã biết tôi học ở đâu. Đại loại là các bạn có thể hình dung là có một trường trong top 10 ngành CS có quá trình tuyển chọn như thế.

1. Quá trình tuyển chọn diễn ra như thế nào?
Hội đồng tuyển chọn gồm các faculties của khoa và các grad students đăng ký tham gia tình nguyện. Các giáo sư đa số là các giáo sư trẻ mới về đang muốn tìm kiếm thêm sinh viên mới. Có một giáo sư lâu năm uy tín ở khoa làm chair cho AC. Các sinh viên thì đăng ký một cách tình nguyện để giúp đỡ, san sẻ công việc cho các giáo sư.

Quá trình tuyển chọn diễn ra theo 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu là để sàng lọc ra những sinh viên outstanding trong application pool. Sau đó mới xem xét hồ sơ của nhóm này kỹ hơn xem có match với nhu cầu hiện tại của khoa không.

Trong giai đoạn đầu, hội đồng sẽ chia làm nhiều nhóm làm việc nhỏ nhỏ. Mỗi nhóm gồm 1 faculty và một vài grad students. Các hồ sơ sẽ được phân loại theo các khu vực địa lý: Ấn, Tàu, Mỹ, Hàn, các nước còn lại. Mỗi nhóm làm việc sẽ phụ trách một phần theo các khu vực đó. Thông thường các giáo sư Ấn và sinh viên Ấn sẽ xem các hồ sơ đến từ Ấn, các giáo sư và sinh viên Tàu hay Mỹ cũng như vậy. Họ làm vậy là để tận dụng sự hiểu biết của các thành viên trong AC đối với giáo dục ở mỗi khu vực (Các giáo sư và sinh viên Tàu sẽ có hiểu biết về các application từ Tàu tốt hơn…). Mục đích của giai đoạn này là để tìm kiếm và không bỏ sót những hồ sơ nổi bật.

Sau giai đoạn đầu các sinh viên nổi bật nhất sẽ được lựa chọn ra, số lượng hồ sơ đã được giảm bớt đi rất nhiều. Giai đoạn kế tiếp các faculties trong AC sẽ ngồi lại với nhau để quyết định ai được admitted và ai sẽ có fund. Các hồ sơ cũng được gửi đến các giáo sư khác trong khoa ở mỗi ngành hẹp cụ thể để họ xem sinh viên đó có match với nhu cầu ở các ngành hẹp đó không.

2. Như thế nào thì được coi là một hồ sơ nổi bật?
Những hồ sơ có những đặc điểm sau sẽ được xem là nổi bật, thứ tự ưu tiên giảm dần:
– Có pubs ở các well-known confs hoặc có strong letters.
– Là top student ở trường/khoa well-known.
– Có các giải thưởng đặc biệt: IMO, ACM programming,…
– good scores, good gpa

Tất nhiên là mỗi sinh viên được nhìn một cách tổng thể kết hợp tất cả mọi thông tin nhưng những sinh viên có đặc điểm gì đó nổi bật sẽ dễ được lựa chọn hơn là các sinh viên tốt một cách đều đều.

3. Pubs có vai trò như thế nào?
pubs là bằng chứng rất tốt chứng tỏ khả năng nghiên cứu của bạn. Tuy nhiên nếu pubs của bạn là pubs kiểu nội địa hoặc khu vực, không ai biết đến thì cũng chẳng có mấy giá trị. Thậm chí có trường hợp tôi thấy có một cậu sinh viên ở Thái đưa hẳn nội dung mấy cái paper nội địa của mình vào và bị comment là bad papers. Nếu bạn có paper ở top-tier conf thì sẽ là một lợi thế cực lớn. Tuy nhiên, khi đó bạn phải chứng minh được mình là người làm chính hoặc có đóng góp lớn cho paper đó, mà cách tốt nhất là thông qua letter của advisor làm chung paper với bạn. Tôi được biết có top conf họ sắp xếp tên tác giả theo thứ tự abc chứ không phải theo sự đóng góp, vì thế nhiều khi first author cũng chưa chắc là người làm chính.

4. Thế nào là strong letters?
Là của những người well-known và give positive comments về bạn. Tuy nhiên, xin letter từ những giáo sư nổi tiếng cũng là con dao 2 lưỡi. Để tôi lấy ra 2 ví dụ mà tôi gặp:

Ví dụ 1: tôi đọc trong thư của một cậu học under ở một trường trong top 4 ngành CS (UCB, Stanford, MIT, CMU) từ bác chair của cs dept trường đó. Trong thư bác ấy có viết cậu này là một trong những sinh viên under xuất sắc nhất mà bác ấy từng gặp trong hơn 20 năm giảng dạy (ở 2 trường thuộc top 4). Chỉ cần một câu nói này thôi thì bất chấp các thứ khác tôi nghĩ cậu ta nộp ở đâu cũng sẽ được nhận thôi.

Ví dụ 2: một cậu khác cũng học under ở một trường top 4, gpa khá cao (cỡ 3.9 gần 4.0), từng có huy chương tin quốc tế. Tuy nhiên trong một letter bác giáo sư có nhắc là cậu này tuy học tập rất chăm chỉ và có kết quả tốt nhưng có vẻ rụt rè, không tích cực tham gia vào các nhóm nghiên cứu của khoa như các sinh viên Mỹ khác. Vì thế bác này không dám chắc cậu ta có khả năng làm nghiên cứu tốt hay không. Chỉ cần một điểm này thôi làm hồ sơ cậu ta yếu hẳn đi và không được vào nhóm top-list.

Các giáo sư ở Mỹ họ nhận xét rất thẳng thẳn, khen chê rõ ràng chứ không chỉ có khen như các giáo sư châu Á. Trong nhiều thư họ nói thẳng là thằng này tuy là sinh viên của tao những tao thấy nó cũng bình thường và tao không chắc là nó có thể thrive ở graduate school. Hoặc kiểu thằng này nó học lớp xxx tao dạy, nó được điểm yyy và thỉnh thoảng tao mới gặp nó một lần nên cũng không có ấn tượng gì nhiều lắm. Hoặc có kiểu giới thiệu gián tiếp như có bác bảo thằng này chủ yếu làm việc với một thằng grad student khác của tao và theo thằng grad student đó thì nó như thế này, thế này.

Kiểu letter điển hình nhất là kiểu viết về do well in the class. Nói chung là kiểu này không có thông tin gì nhiều lắm và xuất hiện nhiều vô kể trong đám hồ sơ. Bác giáo sư trong nhóm tôi bảo là phần nhiều các giáo sư ở các trường ngoài nước Mỹ không biết viết thư giới thiệu như thế nào, hoặc là cụt lủn hoặc là kể lể dài dòng mà không có thông tin cần thiết. Có nhiều là thư tôi đọc được viết theo trường phái “gạch đầu dòng”.

5. gpa có quan trọng không?
Có, nhưng quan trọng hơn là ranking của bạn trong lớp/khoa và sự nổi tiếng của trường bạn. Vì đơn giản nếu bạn đến từ một trường mà họ chưa bao giờ nghe đến thì họ làm thế nào đánh giá điểm học tập của bạn được. Ngoài gpa ra thì bảng điểm của bạn nhiều khi cũng bị soi kỹ xem bạn bọn những môn gì và kết quả các môn đó ra sao. Nếu bạn là top ở một trường mà họ đã từng biết đến thì khả năng vào nhóm outstanding là rất cao.

6. Điểm GRE, toefl đóng vai trò như thế nào?
Toefl thì ít được chú ý, nó chỉ để chứng tỏ khả năng TA của bạn. Nếu thấp quá sẽ bị nghi ngờ là không thể sử dụng TA. Verbal score thì được đánh giá theo từng khu vực. Nếu bạn đến từ nước không sử dụng TA thì nó cũng không được quá coi trọng. Tất nhiên điểm bạn thấp thì sẽ bị nghi ngờ về khả năng TA và sẽ là bất lợi cho hồ sơ của bạn. Điểm quantative thì khác, nếu điểm bạn thấp (khoảng tầm 770 trở xuống) sẽ trở thành một negative point trong hồ sơ của bạn. Đặc biệt nếu thấp khoảng từ 700-720 trở xuống thì bị loại ngay từ vòng gửi xe luôn.

Điểm GRE chỉ là một phần chứ không có tiếng nói nhiều cho trọng lượng hồ sơ của bạn. Nếu chỉ đơn thuần so điểm GRE thì có lẽ chúng ta sẽ mãi mãi không bao giờ đổi kịp các bạn Ấn được. Hồi trước nghe đồn điểm GRE tụi nó cao tôi không tin lắm, bây giờ tận mắt nhìn vào đống hồ sơ thấy chuyện chúng nó được 800+800 cũng không có gì lạ lắm. 600-700 verbal là mức điểm trung bình của bọn nó.

7. SoP có quan trọng lắm không?
Tôi thấy là nó không quan trọng lắm. Sop chỉ là cái dùng để cung cấp thêm những thông tin khác ngoài những thứ bạn có trong hồ sơ. Ví dụ như bạn muốn làm với ai, tại sao bạn thích ngành đó, dự định của bạn sau này như thế nào… Hoặc kiểu giải thích là tại sao tao bị điểm thấp ở môn X nào đó vì hồi đó tao bị gãy chân… Nói chung điều quan trọng ở sop là cố gắng đừng viết sai ngữ pháp và diễn đạt một cách mạch lạc là được.

8. Có sẵn funding có phải là lợi thế lớn không?
Cái này tùy chính sách từng trường, từng khoa, tôi không thể nói trước được. Như ở tôi thấy trong đồng hồ sơ của mình có chú được Fulbright mà vẫn bị loại ngay từ vòng gửi xe.
================

Originally Posted by neikel [IMG]
Cám ơn bác, trong quá trình này, bác cho em hỏi GPA và điểm GRE Subject cái nào được đánh giá cao hơn ?
GRE subject thì cũng tùy trường và tùy khoa, như ở khoa tôi là không yêu cầu và không được đánh giá vào hồ sơ chung. Có lẽ chỉ khi bạn có background ở một ngành khác thì mới cần GRE subject. Trong đống hồ sơ tôi theo dõi thì chưa thấy có ai có điểm subject.

Quote:
Originally Posted by vodanhtieutot
Em hỏi bác thêm về GPA một tí. Lúc mình ghi GPA thì mình tính theo lớp (kiểu như under ở VN), hay theo khoa, hay theo trường. Thông thường mình chỉ biết điểm khoa mình chứ mình không biết các khoa khác, thế làm sao biết được mình ở rank nào nếu ghi theo trường.

Tính theo lớp hoặc theo khoa thôi là đủ rồi. Nhưng điều này chỉ có ý nghĩa hơn khi họ đã biết đến trường của bạn. Nếu trường bạn bị xếp vào loại unknown institution thì đó sẽ là một lợi thế rất lớn. Như tôi thấy nhiều hồ sơ cũng khá tốt nhưng đến từ những nơi mà bọn tôi chẳng biết đó là đâu nên cũng bị loại ngay. Mỗi khi gặp các hồ sơ đến từ Vn, bác giáo sư hỏi tôi khá nhiều về các trường ĐH ở VN.

Quote:
Thêm nữa, nếu ghi theo tỉ lệ A/B thì rõ rồi, còn nếu ghi theo % thì bao nhiêu được gọi là top hả bác (1%, 5%, 10%). Mà cái này mình cũng chỉ phỏng đoán rồi ghi thôi chứ trường cũng đâu có xác nhận nhỉ?
Có nhiều cách để thể hiện điều đó. Với những con số có bằng chứng rõ ràng thì bạn có thể ghi vào resume hoặc trong sop. Nhưng có lẽ cách tốt nhất là thể hiện nó qua các letters. Ví dụ như trong một letter dù từ các giáo sư unknown nhưng có một nhận xét kiểu như thằng này là thằng tốt nhất trong cả chục năm qua ở trường tao thì hồ sơ đó sẽ được đánh giá rất cao. Vì thế tôi mới nói letter được đánh giá rất cao. Tất nhiên là họ không biết kiểu letters tự tay sinh viên viết như nhà mình. Nhưng tôi khuyên là bạn nên trung thực, có sao viết vậy chứ đừng khoác lác quá khi họ phát hiện ra sẽ ảnh hưởng đến tất cả các hồ sơ khác từ VN (kiểu như có 2 thằng đến từ cùng một trường mà đều là tốt nhất trong cả chục năm qua sẽ là conflict)
Quote:
Originally Posted by ccbtm [IMG]
Bác kitte cho em hỏi, nghe nói là ở chỗ bác vòng cuối còn có giáo sư defend cho applicants. Bác nói rõ hơn đoạn đấy được không??

Em không được phép mon men đến cái vòng cuối đó nên chả biết các bác giáo sư defend cho applicants như thế nào. Nhưng về cơ bản chắc có 2 lý do để một bác giáo sư có thể giúp đỡ cho applicants:
– Bác ấy muốn nhận sinh viên đó vào nhóm mình. Trong trường hợp này thì khả năng được admitted của sinh viên đó rất cao, có lẽ trừ khi hồ sơ cậu ta có điểm gì đó khá tệ không chấp nhận được.
– Bác ấy biết thêm thông tin về bản thân cậu sinh viên đó hoặc trường và hệ thống giáo dục ở quốc gia đó. Trong trường hợp này chắc bác ấy sẽ cung cấp những thông tin về hồ sơ đó cho AC biết. Như em đã nói, điều dở nhất của hồ sơ mình nộp là khi họ không biết mình đến từ đâu, chả biết lấy gì để so sánh, đối chiếu.
Nói chung là tụi grad students như bọn em cũng có thể “bảo vệ” cho một vài hồ sơ nào đó ở vòng đầu nhưng tất nhiên là tiếng nói không có nhiều trọng lượng.
Quote:
Originally Posted by ccbtm [IMG]
Bác kitte cho em hỏi, nghe nói là ở chỗ bác vòng cuối còn có giáo sư defend cho applicants. Bác nói rõ hơn đoạn đấy được không??

Em không được phép mon men đến cái vòng cuối đó nên chả biết các bác giáo sư defend cho applicants như thế nào. Nhưng về cơ bản chắc có 2 lý do để một bác giáo sư có thể giúp đỡ cho applicants:
– Bác ấy muốn nhận sinh viên đó vào nhóm mình. Trong trường hợp này thì khả năng được admitted của sinh viên đó rất cao, có lẽ trừ khi hồ sơ cậu ta có điểm gì đó khá tệ không chấp nhận được.
– Bác ấy biết thêm thông tin về bản thân cậu sinh viên đó hoặc trường và hệ thống giáo dục ở quốc gia đó. Trong trường hợp này chắc bác ấy sẽ cung cấp những thông tin về hồ sơ đó cho AC biết. Như em đã nói, điều dở nhất của hồ sơ mình nộp là khi họ không biết mình đến từ đâu, chả biết lấy gì để so sánh, đối chiếu.
Nói chung là tụi grad students như bọn em cũng có thể “bảo vệ” cho một vài hồ sơ nào đó ở vòng đầu nhưng tất nhiên là tiếng nói không có nhiều trọng lượng.

=================

Bác kitte đã giới thiệu quá trình xét duyện hồ sơ ( của trường 1x), dưới góc nhìn của applicants, tôi xin đưa ra một quy trình có phần tương tự nhưng dưới góc quan sát của của hội đồng admission committe ( adcom) ở một trường 2x. Quy trình này chỉ làm tham khảo, tôi không biết nó có đúng với các trường 1x hay không, có điều tôi chắc chắn đó là nó chỉ áp dụng cho ngành khoa học kỹ thuật, còn bên xã hội và nhân văn thì sẽ rất khác. Anh ĐCB hay chị Evil có thể giới thiệu nhiều hơn về ngành xã hội và nhân văn, điều khác biệt dễ nhận thấy đó là bên khoa học, kỹ thuật, theme research của khoa cũng như research group quyết định đến cá nhân người nộp hồ sơ, còn bên xã hội và nhân văn, thì applicants chính là người xác định hướng đi, theme nghiên cứu, và hội đồng xét duyệt phụ thuộc vào cái proposal để xác định và tuyển chọn ứng cử viên.

Bước đầu tiên, đó là xây dựng các tiên đề, hay các nguyên lý; có 3 nguyên lý trong mô hình xét duyệt.

  1. Dựa trên nguyên lý cân bằng động và sự hài hoà giữa tiêu chuẩn chung của khoa cũng như nguyện vọng của các faculty, với điểm chung đó là lựa chọn được các sinh viên có năng lực và best match với lĩnh vực nghiên cứu của nhóm.
  2. Sinh viên chỉ được admitted khi có ít nhất một falcuty member đồng ý supervise và fund cho sinh viên đó. Nguồn funding của thể đế từ các research grants, của khoa, trường, chính phủ, công ty, hoặc external sources – học bổng nhà nước.
  3. Luôn luôn dành một khoảng thời gian để phỏng vấn các ứng cử viên, do nhóm nghiên cứu, hay cá nhân faculty member thực hiện.

Tiếp đến, là quá trình xét duyệt, có 6 bước trong quá trình này đó là (1) vòng sơ khảo , (2) vòng giới thiệu hồ sơ, (3) vòng họp bàn chung (4) vòng phòng vấn riêng, (5) Vòng offer admission, (6) Vớt vát và bổ sung, late admission.

1. Hội đồng sẽ nhìn qua một lượt, và cắt một lượng các đăng ký không hội tụ các tiêu chuẩn cơ bản nhất của khoa. Số còn lại được chia thành 4 nhóm hồ sơ , Outstanding, Strong, Good và Borderline.

2. Một bản hồ sơ ( copy) sẽ được phân phối cho các nhóm nghiên cứu của khoa, dựa trên đánh giá sơ bộ của hội đồng, họ nắm bắt được research interests của applicants, cũng như match interest này với theme của nhóm nghiên cứu, nhằm đảm bảo tiết kiệm thời gian review chồng chéo. Feedback của nhóm nghiên cứu sẽ có vai trò vô cùng quan trọng, sau khi đọc hồ sơ, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra comment:

  • A. Chúng tôi rất thích thú với hồ sơ này, và sẵn sàng tiếp nhận hồ sơ để làm interview.
  • B. Chúng tôi nghĩ rằng hồ sơ này tốt, nhưng không thực sự nổi bật và cạnh tranh, nên chúng tôi có thể sẽ xét duyện và dưa ra quyết định có phỏng vẩn hay không sau, hoặc chuyển qua cho nhóm nghiên cứu khác.
  • C. Chúng tôi không nghĩ rằng hồ sơ này có khả năng được admitted vào khoa của chúng ta.

Ranking của applicants cũng được thiết lập bởi từng nhóm nghiên cứu, để dễ dàng cho các bước tiếp theo.

3. Hội đồng xét duyệt sẽ họp bàn chung trong vài tuần và

  • A. Sắp xếp, coordinates lại các hồ sơ mà nhiều group recommend cũng như thích thú. Lặp lại bước 2 để tìm ra nhóm thích hợp nhất, cũng như có được một hệ gauge, rank các ứng cử viên.
  • B. Xem các hồ sơ ở mục 2A, để đưa ra interview. Nếu thích hợp, nhóm sẽ sắp đặt để interview với ứng cử viên ( admission chưa được offer trong giai đoạn này). Nếu không thích hợp, low rank thì hồ sơ sẽ bị loại. Hoặc trường hợp, không đạt được thoả thuận, sắp đặt giữa các nhóm, thì nguyên lý 3 sẽ được sử dụng.

4. Sau quá trình phỏng vấn, hồ sơ sẽ được chia thành 4 nhóm.

  • A. Nhóm hồ sơ definitely muốn được nhận và cung cấp fund.
  • B. Nhóm hồ sơ được nhận chỉ khi họ có đủ nguồn fund.
  • C. Nhóm hồ sơ mà research group không muốn nhận, nhưng chưa quyết định reject.
  • Nhóm definite bị loại.

5. Hội đồng xét duyệt sẽ họp bàn, và đưa ra quyết định acceptance. Họ sẽ dựa trên tiêu chí, số lượng sinh viên nội, quota sinh viên ngoại và global ranking.

  • A. Hồ sơ thuộc top X ranking, 4A sẽ được offer admission ngay lập tức.
  • B. Xét duyệt và hỏi ý kiến của nhóm nghiên cứu về nhóm hồ sơ 4B, 4C. Nếu không có nhóm nào nhận các hồ sơ này, thì họ sẽ vẫn giữ lại để cho second round offers.

6. Hội đồng xét duyệt sẽ xem xét nên làm gì với nhóm hồ sơ còn lại, ví dụ như nhóm hồ sơ top X nhưng chưa được supervisor nào nhận. Quá trình này diễn ra cũng nhanh, bởi vì dạng hồ sơ này có khả năng thích hợp dễ dàng với nhiều nhóm khác nhau. Hồ sơ applicants thường được review song song với quá trình apply nên không cần phải đợi đến hạn cuối, deadline mới thực hiện 6 bước trên. Hội đồng được lập ra với vai trò sắp xếp, organize , trong khi nhóm nghiên cứu nắm vai trò chủ chốt trong việc nhận hay không nhận sinh viên.

Trên lý thuyết là như vậy, còn thực tế, đối với các sinh viên đã học undergraduate ở trường X, việc xét duyệt hồ sơ và đưa ra offer admission có thể chỉ diễn ra qua 2 emails và một cuộc interview.
=================

Kitte với Sipho đã viết rất tốt rồi. Nhưng đấy là ở các trường 1x, 2x. Chị chỉ góp ý thêm là ở các trường ranking thấp hơn, do ít hồ sơ nổi bật như các trường top trên, tiếng nói cùa faculties và các sinh viên trong khoa cũng rất quan trọng.

Ví dụ: giữa 2 hồ sơ không hơn kém nhau nhiều, một bên đã được một prof trong khoa nhận, thì sẽ được ưu tiên hơn. Được 1 sinh viên khá/giỏi trong khoa giới thiệu cũng có giá trị tương đương. Chính vì vậy, rất nên contact trước với prof hoặc sinh viên Việt.

Nói riêng về các ngành xã hội, có thể phân chia làm hai dạng:

1) Nhóm ngành kinh tế, tài chính, và các ngành khác thuộc business school:

* Kinh tế: Bất kể undergraduate, master là ngành gì đều có thể chuyển sang học PhD kinh tế. Nguyên tắc chung giống như tuyển các ngành tự nhiên và kỹ thuật. GRE Verbal không quan trọng, nhưng Quant và GPA về các môn toán, giải thưởng toán học càng cao, càng nhiều càng tốt.

Papers của undergraduate và master không được quan tâm lắm, bởi vì cực kỳ hiếm khi được đăng ở các tạp chí uy tín, do bậc học này khác xa với bậc PhD. Tuy nhiên các trường 1x cũng ưu tiên hàng đầu cho các ứng viên có khả năng nghiên cứu. Ví dụ U. Chicago, chỉ nhăm nhăm tìm kiếm những người có khả năng được giải Nobel trong tương lai cho nên bên cạnh strong LoR, Papers từ các tạp chí tương đối ở nước ngoài cũng là một nguồn quan trọng để đánh giá về khả năng sản xuất ý tưởng của ứng viên.

Nhưng chính vì vậy, sinh viên đi từ Việt nam rất khó có cơ hội vào được những trường dạng 1x-2x. GRE không đọ được với các bạn Tàu, Ấn, SoP và papers thì không đọ được với sinh viên học under hay master ở nước ngoài.

Paper của ngành kinh tế ở tạp chí uy tín rất khó, khiến cho nhiều assistant professor cũng không thể kiếm được tenure. Mặc dù theo quy định từng trường, trong vòng 6 năm đầu tiên, mỗi ass. prof chỉ cần phải publish 2-3 papers ở tạp chí uy tín thôi. Chính vì vậy, papers của sinh viên under, master thường chả có ý nghĩa gì mấy.

Tài chính: PhD tài chính thuộc loại cạnh tranh bậc nhất ở Mỹ. Phần vì tuyển rất ít, (mỗi khoa tuyển từ 2-5 người, trong khi kinh tế từ 15-20 người), ra trường rất dễ kiếm việc và lương cũng rất cao, (thường là gấp rưỡi ngành kinh tế và gấp 2-2.5 các ngành toán, vật lý. ) Chính vì cạnh tranh quá mạnh cho nên mọi tiêu chí đều bị đội lên cao hơn. Tài chính thi GMAT. Tuy nhiên ở tầm 1x, tôi nghĩ cạnh tranh ở kinh tế và tài chính cao như nhau, bởi vì số applicant của kinh tế cũng cao hơn nhiều.

Các ngành khác thuộc business school: về cơ bản tuyển cũng giống Tài chính, nhưng cấp độ cạnh tranh thấp hơn. Một số ngành như PhD Marketing, Accounting, Insurance, Real Estate…cũng rất hay. Ra trường rất dễ kiếm việc làm.

Tuy nhiên, một đặc điểm của nhóm ngành này là tỷ lệ loại sau các kỳ thi comp, Q.E rất lớn. Kinh tế có kỳ thi Comp năm thứ nhất là quan trọng nhất, có thể loại 50%-70% sinh viên, tuỳ theo từng trường. Các ngành kia tuy thi năm thứ 2, nhưng tỷ lệ loại cũng không kém, (thường là 50%). Cá biệt có một số bạn ở các trường phản ánh, có khi lên đến năm thứ 3, thứ 4, khoa sạch bóng không còn sinh viên nào. Phần vì thi cử khắc nghiệt, phần vì các prof kỳ vọng quá đáng, gây sức ép đến mức sinh viên không chịu nổi phải bỏ hoặc chuyển trường. Ở các khoa này, các prof có project tự nghiên cứu với nhau hoặc joint với các trường khác, chẳng cần sinh viên. Đặc biệt khắt khe là những trường theo trường phái Chicago.

2) Nhóm các ngành xã hội khác:

Nhiều ngành của nhóm này có thiên hướng ngoại giao, chính trị, cho nên kinh nghiệm làm việc, lý lịch gia đình, vị trí công tác, địa vị và uy tín xã hội, công tác đoàn đội, ấn phẩm, papers đặc biệt quan trọng. Thậm chí quan trọng hơn là thành tích học tập ở under và master nhiều. Nhóm ngành này cũng thường đòi hỏi khả năng tiếng Anh, TOEFL và Verbal của GRE, cao hơn. Thường là Verbal từ 500-700. Ở nhóm ngành này, sinh viên Mỹ, đặc biệt là những người lớn tuổi, học rất đông. Bởi vì các ngành xã hội đòi hỏi khả năng viết lách, sáng tác là những thứ mà dân Âu, Mỹ hơn đứt dân châu Á, châu Phi. Hơn nữa, nhóm ngành này lương thường không cao, hoặc khó xin việc do rào cản ngôn ngữ, nên khó hấp dẫn các bạn đến từ các nước kém phát triển. PhDer Tàu hoặc Việt làm sao có thể cạnh tranh job với PhDer tiếng anh bản ngữ trong các ngành Báo chí, Truyền thông, Văn chương hoặc Khoa học Chính trị, đúng không nhỉ???

Cũng chính vì kinh nghiệm làm việc, ấn phẩm, xuất bản được ưu tiên nên những người lớn tuổi có ưu thế ở nhóm ngành này. Trong khi họ rất khó cạnh tranh với các cháu thế hệ @ giải toán hay coding.

Học các ngành xã hội rất hay, bởi gần gũi với cuộc sống. Bản thân tôi là người cấp III học vật lý, đại học học Tin, khi chuyển sang học MBA rồi Econ, tôi cảm nhận được thế giới hoàn hảo hơn nhiều. Chính vì vậy tôi rất khuyến khích các bạn cố gắng tìm hiểu về các ngành xã hội, nếu như không có điều kiện học lấy bằng.

Tuy nhiên, do tỷ lệ cạnh tranh mạnh và loại nhiều, để học nhóm ngành I, nếu không phải là người đặc biệt thông minh, bạn cần có sự chuẩn bị brackground bậc PhD về math và Statistics &probability.

Ở nhóm ngành II, nếu không có một lý lịch hoạt động xã hội đặc biệt, một địa vị tốt ở cơ quan nhà nước, một lý lịch học tập tương đối, thì cũng chưa phải là tuyệt vọng. Bạn có thể đầu tư 1-2 năm viết báo, sáng tác văn học, dịch hoặc viết sách phù hợp với ngành mà bạn định xin học. Đặc biệt là các bài báo tiếng Anh. Nếu như viết sách/ truyện tiếng Việt thì cần viết bản giới thiệu/ tóm tắt nội dung bằng tiếng Anh. Nhưng dù sao đi nữa, nhóm ngành này cũng đòi hỏi tiếng Anh khá tốt.

Để kết thúc: Tôi nhận thấy, những người học tự nhiên/kỹ thuật thường bị thiệt thòi vì không có nhãn quan đa dạng. Trong khi những người học xã hội thì không hiểu được độ khó và độ sâu.

Nói một cách văn hoa, dân học xã hội thường “không biết trên đầu có ai”, còn dân tự nhiên/kỹ thuật thì không hiểu “biển mênh mông nhường nào”. [IMG]

Chính vì vậy, tôi mong rằng các bạn cố gắng bổ xung những khiếm khuyết của mình. Đặc biệt, forum này đa phần là dân tự nhiên, kỹ thuật. Tôi mong các bạn hãy để tâm nhiều hơn nữa đến các vấn đề chính trị xã hội. Chịu khó vào những site này để update thông tin:

www.x-cafevn.orgwww.danluan.orgwww.talawas.dewww.bbc.com/vietnamese

=============

Apply vào Carnegie Mellon University computer science chú ý 1 số điểm sau

1. Tối đa có thể nộp 2 bộ hồ sơ vào 2 khoa khác nhau. Ví dụ: 1 bộ vào PhD program của Language Technologies Institute, 1 bộ vào Machine Learning Department. Mỗi bộ hồ sơ sẽ được duyệt bởi admission committee riêng biệt. Các khoa trong School of Computer Science sẽ họp bàn riêng biệt. Khoa Language Technologies Institute thường họp toàn bộ faculty members 1 ngày và xét từng hồ sơ đã qua vòng gừi xe. Thông thường 70% số PhD được nhận hằng năm của LTI đến từ những người đã học master.

2. Chương trình Master tại các khoa như Language Technologies Institute, Machine Learning, Robotics mặc dù trên website ghi là không có funding nhưng khi nhập học phần lớn (>70%) Master students đều tìm được funding từ RA hoặc TA. Do vậy nếu được nhận vào Master program của CMU, nên suy nghĩ kĩ.

3. Để vào được chương trình PhD tại CMU, yêu cầu quan trọng nhất là LORs, research experience và SOP. Toefl, GRE chỉ cần qua vòng gửi xe là ok. Phần lớn những người nộp vào CMU đều có background rất mạnh. Ví dụ hội học master từ top schools như MIT, Stanford; hội đang đi làm ở Google, Yahoo.

4. Để apply thành công luôn phải nghiên cứu thật kĩ từng giáo sư trong khoa, và suy tính xem bạn có thể làm việc với những ai. Những thông tin đó sẽ giúp cho quá trình viết SOP cũng như contact với các giáo sư.

5. PhD student khi đuợc nhận vào CS được đảm bảo funding trong 5 năm. Do đó các ông thầy/khoa khi nhận sinh viên thường cực kì cân nhắc vào khả năng/tiềm năng làm nghiên cứu của applicants.

====================

Apply vào Johns Hopkins University CS cần chú ý một số điểm sau

1. Nếu đã có funding ví dụ như 322, VEF thì nên liên lạc trực tiếp với các giáo sư trong khoa để khi duyệt hồ sơ nếu giáo sư thích thì sẽ xuống phòng hồ sơ để rút hồ sơ của bạn ra. Lí do là trong trường hợp hồ sơ của bạn ko có gì nổi bật thì sẽ bị để riêng vào một loại, nếu các giáo sư có thừa thời gian thì họ mới review những hồ này.

2. Sau khi nhận đơn, hồ sơ sẽ được phận loại theo hướng nghiên cứu ưu thích, ví dụ nếu trong SOP bạn viết thích computer graphic thì hồ sơ sẽ được phân sang mục computer graphic. Phận loại xong các giáo sư ờ từng chuyên nghành phù hợp sẽ review hồ sơ của bạn, với ví dụ trên thì hồ sơ của bạn nhiều khả năng sẽ được review bởi Greg Harger và Mike Kazhdan.

3. JHU CS đặc biệt rất mạnh trong hướng Natural Language & Speech Processing. Nếu bạn nào theo đuổi hướng này thì nên vào
Center for Language and Speech Processing, Johns Hopkins University
để tìm hiểu thêm thông tin. Họ thường gửi thư mời đến interview khoảng 6 người, và thông thường JHU một năm nhận khoảng 3 PhD students trong hướng này.

4. Để apply thành công luôn phải nghiên cứu thật kĩ từng giáo sư trong khoa, và suy tính xem bạn có thể làm việc với những ai. Những thông tin đó sẽ giúp cho quá trình viết SOP cũng như contact với các giáo sư.

5. Nếu được nhận vào Master program thì có cơ hội xin được TA jobs ở khoa, job khoảng $8-12/hour và tuần làm 20 hours.

========================

Now that late January is upon us, a wave of graduate school admissions letters is soon to come crashing down upon undergraduates throughout the land. The process can be immensely frustrating to a student, as one often has little idea as to what magic ingredient is determining whether one is admitted or rejected from different schools. Having been involved in graduate admissions decisions for much of the last decade, I therefore thought I’d give a summary of how it’s done at UW Astronomy, so students can get a sense of where in the process their application might potentially go astray. My take will be different from other schools and other departments whose admissions committees may emphasize different strengths, but at least it’s one data point where few are available.

Details below the fold. Enter if you dare!

  • We typically get around 100 applications, plus or minus 20, depending on the state of the economy. This number has been steadily increasing, but the number of students we admit in a given year can vary wildly, depending on our target for the size of the entering class. A few years back we wound up with an entering class of nearly twice what we were shooting for (lucky for us, because all of them were awesome), which meant that applicants for the next year’s class had the proverbial snowball’s chance in hell of being admitted. Thus, sometimes schools are harder or easier to get into than you might anticipate.
  • We do not read all the files, I hate to say. The fact is that if you have a GPA that reflects predominantly B- and C-level work, without the counterbalance of a strong physics GRE score or enthusiastic letters, you are not going to be admitted. Therefore we only read files where some weighted combination of GPA, GRE, or letters suggests that the student might potentially be admitted. We actually consider a few different weighted combinations, and will read any file that pops up above some line in any of the different weighting schemes. The resulting cut usually preserves more than half of the files, so while we don’t read all the files, we at least read most of them. The graduate program assistant also keeps an eye out for promising files which might fail any numerical criteria, to make sure that truly unusual cases don’t fall through the cracks.
  • The committee has three people, so we divide the files surviving the first cut into three piles. Each committee member reads one pile, and does an initial rating of the file. The rating flags any files that still fall below the level of admission. The remaining files (usually ~1/3 of the original applicant pool) are then read carefully by the entire committee.
  • By this point, we’ve got a very strong group of applicants to choose from, and yet we still have to winnow it down by a factor of two to three. As a starting point, all the committee members sort the remaining applicants into strict quintiles. We then merge everyone’s ranking into a single ranked list. We then discuss the entire list in great detail, focusing most of our energies on cases where there is a significant dispersion in the quintile assigned by different committee members. The dispersion usually indicates that someone on the committee noticed something in the file that others missed (”You guys missed the part where he said he wanted to study astronomy because the stars control everything we do?!?!?”), or that there’s extra information that someone on the committee had (for example, meeting the student at a conference). This process is both grueling and gratifying. It’s grueling because much of what happens at this point is splitting hairs, as we always have more strong candidates than we can admit. It’s also gratifying because (1) many of these applicants are just phenomenal and (2) we finally get to talk about all these files we’ve been absorbing for the past week or so (seriously, even with all the triage, the committee does little but read applications for a solid week).
  • Based on the discussion, we move people above and below “the line” that indicates our cutoff for immediate admission. This is by far the most painful part, as we are always forced to delay admitting people we’d admit in an instant if we could risk having an entering class of 15. We sometimes get to admit them, but usually a bit later, after we have a sense of what fraction of the first round of admits seem genuinely interested. We’ve noticed a trend of very strong students applying to way too many schools, making it extremely difficult to predict the fraction of our admits who will wind up enrolling. Back when I applied to grad school — you know, back when dinosaurs roamed the earth — we had to type our applications onto forms, which put a physical limit on how many schools you could actually apply to before carpal tunnel set in.

So, what goes into all the subjective judgment above?

  • Confidence that the student will not fail our rigorous written qualifying exam. We usually judge this based upon excellent work in physics courses, a record of actually taking a lot of physics courses (this is getting to be a real problem, as undergraduate astronomy programs proliferate), and/or strong physics GRE scores.
  • Evidence of research potential. This is usually shown by participating in one or more REU programs, with a big extra bonus point for actually publishing a paper. However, we do sometimes admit students who, while lacking direct research experience, show evidence of tremendous drive and/or creativity.
  • Evidence of actual interest in astronomy. There are a fair number of otherwise qualified applicants who don’t seem to really appreciate what they’re getting themselves into. Instead, applying to grad school seemed better than applying for a real job.
  • Evidence of a fit to the program. Particularly for students near “the line”, it helps if your interests are a decent match to the research going on here. We also look for diversity in the applicants’ interests, to avoid an entering class consisting entirely of budding cosmologists.
  • Evidence that the applicant has inspired loyalty and/or enthusiasm from at least one or two letter writers. There are students with decent grades, GRE scores, and REU experience who somehow made it through school without ever inspiring anyone to jump up and down on their behalf.
  • Evidence of maturity, leadership, drive, and/or independence. Given that we have a surfeit of applicants who are over the bar in terms of physics preparation and research experience, we give an extra nod to applicants who already seem to have their act together in other ways.

Given all the above, a frequent admissions committee comment is “I’m not sure I would have gotten in….”
UPDATE: By the way, a common refrain from anxious students waiting for admissions decisions is “WHY IS IT TAKING SO LONG FOR THEM TO DECIDE?!?!?!”. If you look at the list of steps above, you’ll see that the process involves the assembly and verification of 100+ applications (each of which involves 6 separate contributing agencies — student, letter writers, transcript office, ETS), careful reading of ~10 pages of documentation for at least 50 files, coordination of schedules for at least 3 very busy faculty members over several rounds of deadlines (first triage, first reading, second reading by everyone, final meeting), coordination of the details of the offers (what financial packages are we authorized to offer, when are visiting days, etc), and THEN, finally, notification of the aforementioned anxious student. If it were as simple as noting your 950 on the physics GRE and dropping you an email, it would be a lot faster, but to do it right takes time. For a large physics department with 500 applicants and a larger admissions committee, the process will be even more involved and take significantly longer. Moreover, because of the coordination of schedules among committee members, we are often unable to predict exactly when we’ll be able to make offers. A few badly timed conferences can set back admission decisions by weeks.

==================

Còn đây là kinh nghiệm của một MBA Ambassador ở trường 2X đối với trường hợp nộp hồ sơ xin học MBA:

Đối với domestic/international applicants có less than 2 years of experience nhưng có good GMAT and/or Toefl
– Sau khi applicant applies, Phỏng vấn luôn để kiểm chứng xem có tiềm năng không, có thật sự articulate không:
–> Không. Then refuse luôn để tiết kiệm thời gian.
–> Có. Mời đến trường, thăm campus, dự lớp học, và thực hiện phỏng vấn chính thức với Graduate program office, career service. Ứng viên cũng được mời đi ăn trưa với current students. Các sv sẽ có bản evaluation về candidate ngay sau đó. Tiếp theo, hội đồng tuyển sinh gồm cả dean của MBA program sẽ làm việc trực tiếp từng hồ sơ để quyết định.

Các SV quốc tế có GMAT tốt, Toefl tốt, kinh nghiệm tốt,essays tốt, resume tốt –> hồ sơ được review bởi Graduate program team, career service; từng mục đều được cho điểm–> phỏng vấn. Người phỏng vấn phải xem kỹ background của applicant, và có quyền đặt các câu hỏi theo manual hoặc các câu hỏi khác nếu thấy cần thiết để tìm hiểu về applicant. Sau đó, bản evaluation tới từng chi tiết và thang điểm được chuyển tới hội đồng tuyển dụng.

Hội đồng sẽ xem xét từng trường hợp và quyết định.

Hầu hết các trường hợp SV quốc tế đều được yêu cầu qua US sớm để học ngoại ngữ thêm, chuẩn bị cho quá trình tham gia lớp học. Hầu hết SV từ China, Korea, Japan, Taiwan, … đều học pre-MBA classes. Vào trường rồi, các SV này lại take speaking test và writing test. Nếu không vượt qua, sẽ tiếp tục phải học một số khóa speaking và writing song song với MBA. Bản thân em phải học writing cho khóa advanced tại School of language.

Với thủ tục tuyển và chương trình như vậy, không rõ là SV châu Á có ruin MBA program hay không?

8 TUYỆT CHIÊU GIÚP BẠN ‘KIỂM SOÁT’ TÚI TIỀN KHI ĐI DU HỌC

Không ít sinh viên đã và đang du học thừa nhận rằng, việc quản lý chi tiêu trong khoảng thời gian ‘chinh chiến’ tại nước ngoài là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất. Nghe hơi sợ nhỉ, nhưng các newbies đừng lo lắng quá nhé, hãy thử áp dụng 8 tuyệt chiêu ALT Scholarships chia sẻ dưới đây thử xem, túi tiền của bạn sẽ ‘sống sót’ an toàn cho xem.

[IMG]

Hy vọng với 8 tuyệt chiêu trên, ALT có thể giúp túi tiền của bạn ‘sống sót’ an toàn và thành công. Mọi thắc mắc về học bổng và du học hãy liên hệ với ALT Scholarships để được tư vấn và hướng dẫn tận tình nhé.

Kinh nghiệm cải thiện tiếng Anh khi đi du học

Đa số du học sinh khi vừa đặt chân sang Úc, vốn tiếng Anh ít ỏi gây thiếu tự tin khi giao tiếp với người Úc hoặc bạn bè từ quốc gia khác. Để vượt qua được thử thách này thì dĩ nhiên phải cố gắng xây dựng và nâng cao trình độ tiếng Anh của bản thân. Song song đó là phải tìm hiểu những lí do vì sao mình lại yếu kém khi giao tiếp bằng tiếng Anh.

 

Mời các bạn tham gia đóng góp ý kiến chia sẻ những khuyết điểm mà các bạn cho là đang hạn chế khả năng tiếp thu tiếng Anh của các bạn. Để những người có kinh nghiệm hơn có thể giúp đỡ chia sẻ bí quyết để khắc phục.

 

Mình xin chia sẻ một số lí do từ kinh nghiệm bản thân và từ bạn bè:

1) Ngại nói tiếng Anh: vì sợ phát âm không chuẩn, nói ra sai thì mất mặt và quê lắm, tốt nhất im miệng cho qua và không nói nghe người khác nói rồi học theo sau là tốt nhất.

=> người ta nói practice makes perfect, nếu bạn không chịu nói thì sẽ không có cơ hội tập nói để biết sai chỗ nào và tại sao lại sai như vậy. Nghe người khác nói và học theo sẽ chỉ giúp ích nếu bạn sẽ nói theo thay vì luôn im lặng.

Khi bạn nói sai một số người sẽ giúp bạn sửa lỗi sai tại chỗ và sẽ giúp bạn nhận ra lỗi sai ngay lập tức. Nhưng đa số người Úc (hoặc người giỏi tiếng Anh hơn) ngại việc chỉnh sửa lỗi sai, họ e ngại sẽ làm đối phương mất mặt khi giao tiếp với họ nên sẽ cho qua những lỗi phát âm, ngữ pháp bạn mắc phải. Tốt nhất bạn nên chủ động nhờ họ chỉnh sai và vui vẻ cám ơn vì họ đã giúp để tốt cho bản thân và tránh gây ngại ngùng cho họ nếu họ có ý định giúp bạn chỉnh sửa.

 

2) Sao người Úc khó gần quá, họ nói gì mà mình chẳng hiểu gì hết, đến lượt mình nói thì họ cũng không hiểu huhu ngại nói chuyện với người bản xứ chết đi được  

=> Vì ngại như vậy nên nhiều bạn tránh tiếp xúc với người bản xứ. Tốt nhất là tập nghe và nói nhiều hơn, các bạn có rất nhiều nguồn thông tin để tận dụng nhưng đa số lại không biết tận dụng nó.

 

1/ Khi đi train, bus, … thay vì checking Facebook hoặc nghe nhạc Việt Nam, K-pop,… các bạn có thể lắng nghe những cuộc đối thoại giữa những người trên train, bus,… và học theo cách họ nói và biểu cảm. Khi đi chợ, siêu thị cũng có thể lắng nghe những người bản xứ trò chuyện với nhau.

Không nên nghĩ việc nghe người khác đối thoại là xấu, vì bạn không phải nghe lén, họ nói chuyện ở nơi công cộng thì mọi người đều có thể nghe không riêng gì bạn. Việc để ý cách nói chuyện và cách diễn đạt của người bản xứ hằng ngày sẽ giúp rất nhiều cho bản thân bạn không chỉ riêng về việc giao tiếp tiếng Anh mà còn về cách họ sống và cư xử ra sao. Như vậy sẽ giúp ích cho việc hoà nhập vào cộng đồng bạn đang ở.

 

2/ Khi ở nhà và có thời gian rảnh rỗi thay vì check Facebook, xem phim Hàn phim TQ phim VN thì các bạn có thể tập xem ti vi của Úc, nghe radio, hoặc tập xem phim tiếng Anh. ….

 

Một điều nữa là đừng mang tư tưởng mọi người Úc đều khó gần. Họ cũng là con người như mình, những gì mình suy nghĩ họ cũng suy nghĩ giống mình thôi.

 

Một người bạn người Úc (VN sinh ra tại Úc) mình chơi chung từng nói với mình là ở high school bạn ấy thấy du học sinh VN đa số tụ tập chơi chung nhóm và nói tiếng của họ nên thật khó gần với các bạn VN này. Hơn nữa, khi giao tiếp với người Việt đa số họ phát âm không chuẩn nên bạn ấy cũng không hiểu họ nói gì. Đôi khi hỏi lại thì họ lại ngại ngùng không dám nói nữa nên cứ nói là “nothing, never mind” để cho qua. Bạn thấy đấy, không phải người Úc là khó gần như bạn luôn nghĩ.

Vì vậy quan trọng nhất là phải luôn cố gắng nghe và nói thay vì luôn thụ động.

Các bạn cùng chia sẻ thêm nhé!

Tác giả: Hội du học sinh tại Úc

Động lực rải hồ sơ hay Kinh nghiệm vì sao mãi tôi không tìm được học bổng

Trên con đường tìm kiếm và chinh phục học bổng, không kẻ đi săn nào tránh khỏi sự mệt mỏi, chán nản, và cả thất bại nữa. Cùng đọc và theo dõi những dòng tâm sự này để có thêm động lực hoặc ít nhất hiểu ra VÌ SAO mình cứ mãi bị bỏ lại trong cuộc đua tranh thần kỳ ấy nhé cả nhà 🙂

Mình đang trong tâm trạnghơi confused vì nhận nhiều reject letter quá đâm “khủng hoảng” nênnếu nhỡ có buôn than bán cháo thì bà con cũng đừng chém gió nhá. Chủ yếu topiccũng muốn động viên những ai đang đồng cảnh ngộ, và thảo luận sau khi rớt thìlàm gì, con đường sắp tới chông gai mình xông vào tiếp hay tìm một cách khácthuận lợi hơn …

Mình share kinh nghiệm fail trước: (những cái này là do mình “tự kỉ”nghĩ ra thôi)
Nói về cơ bản thì profile mình cũng thuộc loại đẹp “sơ sơ”. Theo nhưlời khuyên của các vị tiền bối, mình cũng rải hồ sơ chi chít, kết quả thì chưabiết hết nhưng cũng thuộc dạng rải nhiều mà chả dính dc cái nào đàng hoàng. Rútra một số kinh nghiệm sau (có thể là rất basic – theo mình h nhận ra – nhưngcũng có thể có người sai lầm căn bản như mình lắm chứ!):
– Lần đầu tiên mình rớt 322, mình rút ra cơm nguội là ko nên đâm đầu vào nhữngnước khó nhai như Anh chẳng hạn. Đành là mình lí luận, hầu hết những người đăngkí 322 thì mức độ cạnh tranh ko cao, thấy bà con chả có chứng chỉ tóp pheo ai ồgì cả mà đăng kí loạn xạ Úc, Hà Lan, Pháp, US … Nên ỉ i mình đủ điểm tiếngAnh nên … apply Anh. Rớt chạch. Trong khi những người apply những nước nhưPháp hay Hà Lan (mặc dù Hà Lan nó nằm trong số những nước khác nên số lượng hbko nhiều bằng Anh) và Pháp có số lượng hb rất nhiều, thì dù profile hơi yếu hơntí tẹo cũng đậu. Mình chưa đọc ở đâu (kể cả ở topic 322) đánh giá khả năng đâmđầu vào nước nào khi chọn 322 thì khả năng cao hơn. Nhưng mình thấy đi Pháp vàĐức có vẻ có khả năng cao.
– Sau đó pv 1 học bổng của trường và rớt. Mình rút ra kinh nghiệm là vào phỏngvấn, đôi khi mình cứ nói rất đơn giản huỵch toẹt ra thì hơn là nói vòng vo tamquốc, kiểu tỏ ra ta đây nguy hiểm mà thực chất ta đây ngu ngu. Kiểu như họ hỏimình là “học xong mày về VN ko?”, tớ dĩ nhiên là biết phải trả lời”tao về chứ”, nhưng lại vòng vo “tao sẽ về xây dựng quê hươngchứ, gia đình tao ở đây mà, nhưng mà tao muốn học xong, tìm mt nghiên cứu tốt,rồi có chút ít kinh nghiệm thì về giúp đất nước chớ chả có j mà về thì ko giúpdc j”, đại ý là thế, nhưng ko biết do t.a của mình có vấn đề hoặc là ýtưởng có vấn đề mà nó quy kết mình là “nó bảo nó ko về VN nữa đâu”… (sau khi có kết quả tớ nhờ thầy hỏi, thầy bảo thế). Thế là tạch!
– Một kinh nghiệm nữa là những học bổng cạnh tranh cao kiểu như HSP hay Eramus,có lẽ phải xem xét rất kĩ cách ngành mình đăng kí. Thực chất là có nhiềufaculty có coordinator rất nice, mình thấy các bạn nói dù có khi ko dc nominatechẳng hạn, nhưng contact một hồi cũng có người viết nom cho. Mình á, contact đãđời, bà coordinator chỉ bảo “mày ko dc”, mình viết mail hỏi thêmthông tin vì sao rớt cũng ko dc, bà í ko trả lời. Mà email nào cũng cả tuần saumới trả lời. Về sau coi lại, thấy hình như faculty mình đăng kí chả có ai màmình biết dc nom và cũng chung tình trạng contact mãi ko dc. Biết thế mình cứapply mấy faculty đã có người VN từng học dc cho dễ dàng.

Sau khi có nhiều “vấp váp” như thế, mình đi rảo quanh một vòng các topic củacác box du học ở các diễn đàn, hầu hết các anh chị đi trước profile đẹp cũngthấy họ vấp váp vài lần. Điều quan trọng là ai cũng biết quá trình xin học bổnglà một quá trình lâu dài và yêu cầu cần kiên nhẫn. Dĩ nhiên được hb để đi họcthì tốt rồi. Nhưng nếu ko có hb thì cũng vẫn còn nhiều lựa chọn. Có thể tiếptục làm việc cho Industries, sau này có cơ hội lại đi học như rất nhiều ngườiđang làm. Có thể chọn học các chương trình liên kết (như mình biết thì thạc sĩhiện nay chương trình liên kết với các đh nước ngoài rất nhiều, và đc cấp bằngcho đh nước ngoài cũng nhiều), nhưng mình ko biết cơ hội với những người cóbằng thạc sĩ liên kết này có nhiều ko? (cái này nhờ các anh chị có kinh nghiệmcho ý kiến). Ngoài ra cũng có thể tiếp tục chờ đợi, hạ mức yêu cầu xin các họcbổng của trường ranking thấp hơn, hoặc học bổng bán phần, rồi về sau có thể đilàm trả nợ … Mong sao các anh chị có kinh nghiệm vẽ ra một số đường để tiếptục chiến đấu.

Like topic này! Tớ cũng đã vật lộn với mùa apply năm ngoáivà trượt vỏ chuối tất tần tật, cũng đã từng trải qua giai đoạn mất phương hướngvà ko biết mình sẽ tiếp tục cố gắng vì cái gì, tâm trạng dễ hiểu mà, cũng chảcó j đáng xấu hổ, nhưng bây giờ thì tạm ổn rồi, tớ đang tiếp tục tràn đầy nănglượng cho mùa apply năm nay!
Năm ngoái tớ cũng apply HSP và thực sự là gặp rất nhiều khó khăn với cái bọnHL, giống bạn chủ topic này. Nào thì ko cho admission, xin xỏ ỉ ôi mãi đểconsider lại thì rốt cuộc vẫn là ko cho, nào thì cho admission nhưng mãi chảcho nomination, giục đi giục lại thì sát đến ngày deadline mới gửi cho báo hạimình thức trắng đêm để complete hồ sơ và ngày hôm sau bỏ cả làm để đi gửi, lolắng đến bạc cả tóc vì sợ ko đến kịp ngày. Thế đấy, rốt cuộc thì cũng là fail!EM thì cũng fail, nhưng cái này cũng competitive quá tớ ko hi vọng nhiều lắm.Học bổng của trường bên HL thì đợi mòn mỏi, coordinator cũng khá nice nhưng chờmãi chờ mãi, hi vọng hi vọng, cuối cùng kết quả cũng là reserve list, thôixong, đã tháng 7 rồi còn làm j được nữa! 1 năm vật lộn đã trôi qua toàn những thấtbại!
Nhưng mà năm nay tớ có nhiều kinh nghiệm hơn và tớ sẽ chơi chiến thuật khác.Năm ngoái chỉ vì còn non và cũng bận bịu quá mà cứ chăm chăm vào có vài cái họcbổng, chả chịu tìm kiếm các trường và rải truyền đơn nên có quá ít lựa chọn khiquá phụ thuộc và hi vọng vào số ít đó. Tớ cũng ko nghĩ thời gian vừa qua ko đidu học được là vô nghĩa vì tớ đã khám phá và đạt được những điều cũng quý giáko kém. Tớ mong bạn chủ topic sẽ tiếp tục giữ được niềm tin và tiếp tục cốgắng, vì cho dù ở đâu và làm gì thì cái cốt yếu vẫn là mình luôn cố gắng hếtsức, thế là được rồi! Btw, tớ nghĩ việc được học bổng hay ko còn do số trờicho, phần lớn candidates đều là những người có profile đẹp, ko đẹp chỗ này thìđẹp chỗ khác, và đều có khả năng, bọn board nó xét thế nào thì có giời mới biếtnên ko được học bổng ko có nghĩa là mình ko có năng lực, chỉ là do mình thiếuchút may mắn thôi, nhỉ? Cứ nghĩ thế cho nó có chút lạc quan!

tớ cũng like topic này. trước là, vì nó tiếp động lực cho mọi người thêm phần hăm hở và kiên nhẫn khi gởi hồ sơ vòng quanh thế giới. saulà, tớ cũng muốn bán than quá đi mất! ối làng nước ôi…

nhưng thôi ko than đâu. chuyện buồn nhẹm đi. tớ kể chuyện vui nhé! .

ngày xửa ngày xưa, khi vừa tốt nghiệp cấp 3, tớ đâm đơn vào NUS ở Singapore. chỉxin admission học undergraduate thôi, rồi tính vay ngân hàng đóng tiền học. aidè rớt thẳng cánh cò bay. đóng cửa khóc 3 ngày 3 đêm. xong lại xách bánh mì bútchì đi Thủ Đức học (chứ bây giờ nó thế rồi thì mình làm thế nào!).

3 năm sau, tớ lại đâm đơn vào NUS, quyết tâm phục thù. lần này với 1 tư cáchkhác. NUS nhận vào, lại cho cả học phí, lại cho cả sinh họat phí, lại có cảphỏng vấn và đăng bài nhá. wành tráng.

thế, hụt trái dưa, dc trái dừa, nên giả mà có hôm nay bị hụt trái dưa thì chúngta cũng cứ lạc quan mà sống thôi nhể. biết đâu sớm mai check mail lại thấynguyên trái dừa nằm chình ình ở đấy! cố lên cố lên!

ps: ba tớ ngày xưa bị hụt những 9 trái dưa, mãi mới dc 1 trái dừa đấy! (ơntrời!!!!)

 

allroadsleadtoRome

Nhiều khi tái ông thất mã. Mình biết có trường hợp trượt EM, trượt học bổng trường (xa xôi hẻo lánh), hồi đấy cry cũng to lắm, đã có lúc định đi trường xa xôi hẻo lánh đấy (phải tự lo sinh hoạt phí) cho… xong, cuối cùng đc… Fulbright.

Lại có anh thủ khoa trường mình, profile kô thể đẹp hơn (thực sự là cực kỳ hoành tráng), 3 năm apply Chevening đều trượt (giang hồ đồn đại là anh í trả lời phỏng vấn “cứng” quá). Đến năm thứ 4 apply thêm Fulbright thì được cả 2, lại vò đầu bứt tai xem nên đi đâu.

Thế nên biết đâu trượt học bổng này, sau lại đc học bổng kia theo nhiều tiêu chí là tốt hơn.

Trường hợp trượt năm đầu, năm sau apply lại đúng học bổng đấy (Fulbright, Chevening, BP/Leeds/Chevening, ADS, EM…) và thành công mình biết khá nhiều, trong đó có bản thân mình. Năm đầu mình apply trượt ngay vòng hồ sơ, kô mon men đc đến vòng phỏng vấn. Năm sau re-apply, profile dầy dặn hơn + đc sự giúp đỡ của tiền bối + các đối thủ kô mạnh như năm trước nên mình đã giải quyết đc vấn đề. Sau đó, mình vẫn nhận đc thêm 2 thư “Chúng tôi rất tiếc phải báo rằng…” của 2 học bổng trường – mà so về hầu hết/tất cả các mặt là kô bằng đc học bổng mình vừa có.

Hồi mình trượt năm đầu mình thấy đấy là điều… hiển nhiên, chả đau khổ gì vì mới ra trường, kinh nghiệm làm việc ít, profile ngắn ngủn. Cũng xác định là phải apply mấy năm, may đến năm 2 đã tu thành chính quả.

Tuy nhiên, mình cũng biết 1 trường hợp profile thấy cũng OK – kô lung linh nhưng cũng triển vọng, chịu khó học hỏi kinh nghiệm, apply mấy năm mà vẫn kô đc.

Thư giới thiệu (LoR) – Tất tần tật từ a –> z

Xin thư giới thiệu, nghe thì có vẻ đơn giản nhưng kéo theo đó là rất rất rất nhiều vấn đề, từ đủ mọi khâu như tìm người cho LoR, chuẩn bị, trình bày, xin chữ ký, gửi/upload LoR… Một cẩm nang cho việc sửa soạn LoR là tối cần thiết! Và đó cũng là mục tiêu của bài viết này…***Như mình đã từng nhấn mạnh: thư giới thiệu hay Letter of Reference hay LoR là 3 chữ cái quyền lực chỉ đứng sau Statement of Purpose (SoP). Thế nhưng nếu SoP là cái mà bản thân bạn có quyền tự chủ, tự quyết thì LoR lại là cái phụ thuộc vào người khác (mà nhiều khi bạn phải lạy lục, cầu cạnh người ta) –> quyền lực có thể không bằng SoP nhưng rắc rối thì lại hơn nhiều Dựa trên quá trình tự đặt câu hỏi và thẫn thờ tìm kiếm đáp án ngày xưa của bản thân + quá trình trả lời (đi trả lời lại) 1 số câu hỏi của các bạn, mình tổng kết 1 số (nhiều) các câu hỏi thường gặp và trả lời ở đây. Sẽ cố gắng cập nhật thường xuyên do đó ai có câu hỏi rất hoan nghênh comment ở dưới bài (mình chỉ trả lời các comment ở link bài gốc trên blog 5continents4oceans.com). TUY NHIÊN, nếu câu hỏi đó đã có trong bài –> ko hoan nghênh chút nào!Một số thông tin sẽ trùng với bài Các bước cơ bản để chuẩn bị apply (Phần 2: LoR, SoP và research proposal) do bài đó viết trước ^^. Các tips về nội dung thì nên xem ở bài đó.

I/ NGƯỜI CHO LoR

Q: Ai có thể cho LoR?

A: Cơ bản có 2 loại: academic (từ thày cô, nói chung dính đến trường), work (từ sếp, đồng nghiệp, dự án, project nào đó mà người cho LoR chả có dính dáng đến cái trường nào hết)

Q: Người cho LoR có nhất thiết phải có chức danh Giáo sư không, hay ít nhất cũng phải là tiến sĩ?
A: KHÔNG. LoR từ thạc sĩ cũng không sao. LoR yếu hay mạnh nằm ở nội dung của LoR, người cho quan trọng nhưng không phải tất cả. (Tuy nhiên nên chú ý là nếu cấp xin học bổng càng cao thì LoR từ người có vị trí/tiếng tăm càng cao càng có giá trị :P. Nói cách khác xin học bổng tiến sĩ thì có LoR từ giáo sư là 1 điểm quan trọng!)
Dù tự viết hay người ta viết cho bạn, hãy xin từ người mà gần gũi với bạn nhất, có nhiều liên quan đến bạn nhất. Ví dụ, bạn xin 1 ông trưởng khoa khéo chả biết bạn là ai (nhưng xin thì vẫn cho, support sv mà), bạn viết được gì trong LoR? bịa ra 1 vài môn học, tôi thấy em ý xuất sắc vì giơ tay phát biểu nhiều???, em ý nổi trội trong hoạt động, tôi “nghe” các giáo viên trong khoa nhận xét rất tốt về em ý bla bla –> thuyết phục? ko hề. Bạn xin của thày hướng dẫn bạn luận văn, vô vàn cái để nói: đối phó với stress, giải quyết vấn đề, gặp khó khăn thì …, ham học hỏi, kỹ năng viết lách, nghiên cứu, lại còn 1 đống đặc điểm cá nhân (LoR của BẠN mà, về BẠN mà, nên cái này quan trọng) như lạc quan, kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống bla bla –> hấp dẫn, thuyết phục? Yes. Thế chạy theo ông trưởng khoa làm zề?!

II/ VIẾT LoR

 

Q: Cần phải viết/chuẩn bị bao nhiêu LoR?

A: Thông thường là từ 2-3 LoR, 1 hoặc hơn 3 thì khá hiếm.

Q: Mình tự viết hay người ta sẽ viết cho mình?
A: Tùy thuộc người cho LoR. Thông thường nếu là thầy cô/sếp người Việt thì sẽ yêu cầu mình tự viết rồi họ sửa (cũng hiếm nha) và ký cho. Nếu là thầy cô/sếp người nước ngoài thì thường sẽ tự viết cho mình. Có khi còn không cho mình xem nội dung

Q: Người cho LoR tự viết rồi bỏ vô phong bì dán kín nhưng mình muốn biết nội dung (tò mò là ko tốt nhưng…) thì làm thế nào?
A: Bịa ra thêm 1 trường nào đó, nói rằng sẽ apply nhưng thực tế là không –> xé phong bì đựng LoR của trường đó ra xem

Q: Nếu người cho LoR tự viết thì mình có khả năng (và có cần) can thiệp vào nội dung không?
A: Có và rất nên làm!!! Can thiệp ở đây không có nghĩa là sửa, thay đổi mà là hướng người viết vào 1 số điểm. Ví dụ, lưu ý người viết nêu rõ quan hệ của họ với mình (số năm quen biết, dự án làm chung, hướng dẫn…), đề cập đến khả năng abc gì đó, đề cập đến trình độ ngoại ngữ, kỹ năng viết … Như bạn thấy, mình xin họ lưu ý đề cập là 1 chuyện còn họ đề cập như thế nào là chuyện khác

Q: Nếu phải tự viết tẩt cả LoR thì làm thế nào để đỡ bị giống nhau?
A: Nói gì thì nói giọng văn của bản thân rất khó thay đổi, kể cả khi cố tình thì hiệu quả cũng không cao lắm Thế nên tốt nhất là viết ý tiếng Việt và nhờ bạn bè thân thiết dịch + diễn giải sang Tiếng Anh (khi làm vậy người dịch sẽ tự dùng giọng văn của họ để viết ^^). Nếu vẫn muốn tự viết toàn bộ thì lưu ý chia đều nội dung khen ra các LoR, dùng từ đồng nghĩa, ko dùng các cụm từ/cụm câu giống hệt nhau giữa các LoR! Ví dụ: LoR 1: It is a great pleasure for me to recommend xyz; LoR 2: I am delighted to be called upon as a reference for xyz…

Q: Độ dài?
A: Thông thường là 1 trang A4, vậy là đủ thông tin rồi. Dài có thể viết dại, dài có thể lan man, dài lại có thể rất thiếu thực tế (tự viết mới dài thế chứ người ta trăm công nghìn việc, sức đâu mà viết vừa dài vừa chi tiết keke)

 

Q: Lưu ý gì về nội dung?
A: Khen là phải có dẫn chứng. Chia đều ý ra các LoR. Nội dung cần thống nhất và logic với phần còn lại của hồ sơ. Chuyên biệt hóa LoR (đề rõ tên trường)…Chi tiết hơn xem tại đây.

III/ TRÌNH BÀY LoR

Letter head của trường mình (ĐH Y tế công cộng – Hanoi School of Public Health)

Q: Có cần sử dụng giấy có letter head (của trường/cty) để viết LoR không?

A: Nên. Vì nó tăng tính tin cậy + thẩm mỹ của LoR lên

Q: Thế nếu trường/công ty không có letter head hoặc người cho LoR làm cho dự án nên ko có letter head hoặc trường/cty có nhưng ko xin được (hoặc ko dám xin vì sợ lộ việc xin học bổng khi đang đi làm^^)?
A: Bạn có thể tự design ra 1 cái!!! Nếu là trường hay công ty thì khá đơn giản vì hình logo của trường/cty chắc không khó kiếm, việc còn lại là nhìn mẫu của 1 vài trường khác rồi làm theo thôi.Letter head tự thiết kế cho bà sếp cũ
“Trường hợp quái đản của bản thân: Mình xin LoR từ bà sếp cũ (ko dám xin sếp hiện tại vì mình làm cho tư nhân và ko hay ho gì việc đang đi làm lại ngắm nghía chuồn đi học). Khổ nỗi sếp cũ tạm thời đang không đi làm cho cty/tổ chức nào hết mà làm free lancer, kiểu cố vấn cho dự án Đương nhiên là phải tự thiết kế riêng 1 letter head cho bà ý rồi.”

Q: Làm sao để chèn LoR vào letter head?
A: Cách đơn giản nhất dĩ nhiên là dùng giấy letter head để in LoR ra, trình ký rồi scan lại. Nhưng cách này không hợp lý khi số lượng letter head thì hạn chế mà số LoR cần thì nhiều hoặc khi letter head là tự design. Giải pháp: Scan cái letter head không, lưu dưới dạng file ảnh. Dùng file đó làm nền cho cái LoR mình chuẩn bị trong file word. Cách làm: Vào thẻ page layout –> chọn watermark –> chọn custom watermark –> chọn picture watermark –> chèn ảnh letter head vào, ok –> chọn scale là 100%, bỏ dấu tick ở ô washout –>OK. Done

Q: Phong bì có cần có logo của trường không?
A: Thực ra thì bây giờ đa phần nộp hồ sơ online nên trường hợp này cũng hiếm. Nhưng nếu có nơi yêu cầu nộp hồ sơ qua đường bưu điện và LoR phải để trong phong bì dán kín thì bạn nên kiếm cái phong bì có logo của trường luôn. Ko có thì như trên, tự design

Q: Một LoR duy nhất chung chung cho mọi chương trình/trường sẽ apply hay mỗi nơi có 1 LoR riêng?
A: Nếu “điều kiện cho phép”, tốt nhất là modify LoR theo hướng yêu cầu của học bổng và tên chương trình. Khá tốn công nhưng hiệu quả cao. Dù sao thì thư có tên người nhận rõ ràng (trường A, B, consortium A, B) thì phải hơn cái thư chung chung kiểu your prestige university –> giống spam gửi từ robot ý.
“Điều kiện cho phép ở đây là người cho bạn LoR support bạn (cho bạn chữ ký điện tử hoặc thân thiết đến độ khi nào bạn vác thân lên xin chữ ký cũng ok) hoặc bạn tính đủ các học bổng bạn định apply, đưa sẵn tên vào, làm chục cái LoR rồi đưa thày cô ký 1 thể.”

IV/ XIN CHỮ KÝ CHO LoRQ: Có cần chữ ký tươi không hay chữ ký điện tử cũng được?

A: Nếu nộp hồ sơ qua bưu điện thì dĩ nhiên cần chữ ký tươi. Còn nếu apply online thì ko cần.Q: Có cách nào để không phải mỗi lần viết 1 LoR lại lên xin thày cô/sếp không?
A: Cách 1) Lên danh sách hết các trường/chương trình cần nộp –> làm 1 loạt LoR 1 lúc –> trình ký ^^ Cách 2 (Chỉ áp dụng khi được phép) Xin chữ ký (mực xanh cho nổi), scan chữ ký, lưu dưới dạng file ảnh. Sau này viết LoR chỉ việc chèn chữ ký vào file word rồi convert sang pdf để nộp là xong.V/ GỬI, NỘP LORQ: LoR được nộp như thế nào?
A: Tựu chung có 3 dạng. 1) Nộp hồ sơ qua bưu điện: LoR nằm trong phong bì dán kín hoặc nằm trong hồ sơ. 2) Nộp online: tự upload bản scan của LoR lên hệ thống. 3) Nộp online: Điền địa chỉ mail của người cho LoR, hệ thống sẽ gửi yêu cầu (bao gồm 1 link để upload LoR) đến địa chỉ mail mình điền.
Dạng 3 hiện tại xảy ra nhiều nhất (dạng 1 thì hiếm do ít chương trình còn bắt nộp hồ sơ qua bưu điện, dạng 2 thì do các chương trình hết tin nổi sinh viên ^^)
Q: Làm gì nếu rơi vô dạng 3 ở trên?
A: Dặn người cho LoR forward email yêu cầu upload LoR của chương trình cho mình rồi sau đó mình tự xử HOẶC sau khi điền mail của người cho LoR vào hệ thống của học bổng x –> chuẩn bị LoR cho học bổng này –> gửi LoR đó + thông báo tới người cho LoR rằng yêu cầu từ học bổng x sẽ sớm đc gửi đến và thày/cô/sếp upload LoR này lên nhé.

Tác giả: Ngan Tran

Kinh nghiệm ôn GMAT từ Endeavor Scholarship holder

Phân trần

 

Hồi còn đi học sống với một nguyên tắc: chỉ có 2 đứa có tư cách nói về việc lấy điểm thế nào là đứa điểm cao nhất, và thủ khoa (điểm cao nhất chưa chắc được thủ khoa). Điểm GMAT chỉ bảy trăm mấy đã tự fail tiêu chuẩn mình đặt ra nên thi xong gần chục năm nay chả dám hó hé gì về GMAT. Giờ đời đưa đẩy làm thầy; thầy có chém ảo cũng có bạn tưởng thật nên tranh thủ chém vậy.

 

QUANTITATIVE 37 CÂU

Không máy tính, không formula sheet.

Học xong Toán lớp 6 Việt Nam là đủ lấy trọn điểm mọi phần ngoại trừ Integer rồi nên khỏi nói.

Phần Integer có chừng 3-5 câu, giống Toán thi học sinh giỏi Quận lớp 4. Cứ ra nhà sách mua sách Toán chuyên lớp 4 xem sơ là được.

Quantitative đừng làm quá 30s mỗi câu.

 

VERBAL 41 CÂU

Grammar

Cứ chửi dân ta chỉ biết cắm đầu học ngữ pháp; thật ra cách đó là để lấy trọn điểm phần Grammar. Phần Grammar của GMAT dễ nhất trong Verbal, phải lấy trọn điểm. Thật ra Grammar rất dễ, bắt lỗi ngữ pháp chỉ như đang vội nuốt cơm cắn phải sạn cái cộp ói máu răng. Grammar đừng làm quá 15s mỗi câu.

Critical Reasoning

Phần Critical Reasoning đơn giản là tập đọc rồi suy luận logic. Trong 5 lựa chọn sẽ có 2 lựa chọn có vẻ đúng, phải chọn cái đúng hơn. Khẩu quyết là CÀNG THÔNG MINH CÀNG CHẾT. Cái đúng hơn là cái nhìn ngu hơn. Cái gần đúng là cái nhìn có vẻ thông minh nhưng phải suy diễn quá lố từ thông tin đề không cho (two-step inference).

Cách tư duy của CR gần giống toán rời rạc (discrete math). Đây là hẳn môn năm nhất ĐH khối A; ở RMIT nó là một phần nhỏ trong môn Mathematics for Computing.

Cách để luyện logic dễ nhất & rẻ nhất là cãi nhau trên mạng. Trên 90% bọn cãi nhau online ở VN phỉ nhổ vào logic (vì không có khả năng tư duy logic) nên lập luận cảm tính đầy lỗi logic. Chỉ cần chơi bựa như Lệnh Hồ Xung, chấp hẳn nội lực kiến thức, nhắm lỗ hổng logic mà chọt vào là được. Cãi nhau không cần thắng, chỉ cần chọt quen tay là trọn điểm phần CR. CR đừng làm quá 40s mỗi câu.

Cái giá phải trả: bị kỳ thị vì chửi nhau nhiều, bị kỳ thị vì ham hố over-achiever.

 

“You never win an argument until they attack your person.” – Nassim Taleb

Reading

Reading khó nhất. Hên thì đụng 3 passage, xui thì 4, xui nhất là làm được 3 passage rồi xong câu 38 tưởng mừng rồi đến câu 39 nó ra passage thứ tư. Toàn bộ điểm có thể mất được và thời gian tiết kiệm được từ các phần khác nên dồn hết vào Reading.

Nội dung Reading về chuyên môn khoa học, lịch sử, chính trị… với đủ từ chuyên ngành cỡ năm nhất ĐH ngành đó mới hiểu. Xác suất đụng trúng ngành mình cực thấp. Tưởng tượng một đứa software engineering chỉ biết astrology để chém gió mà đụng trúng passage về astronomy, vừa làm vừa khóc gọi tên thầy Nguyễn Thành Tương.

Vậy một thằng không thông minh làm được gì.

Có một theme xuyên suốt các passage là chửi nhau học thuật. Bạn nào học Honour Year đọc journal article chuyên ngành thấy các nghiên cứu sinh cãi nhau sa sả là nó đó.

Để biết chúng chửi nhau gì mà không cần (thật ra là không thể) hiểu thì nhìn vào 2 thứ: logic, và transition words.

Cách luyện transition words là viết essay, abuse transition words rồi đưa thầy chuyên writing sửa lỗi. Bị gạch đỏ nát mặt vài trăm lần là (hy vọng) đỡ ngu.

Nhưng ngay cả luyện xong 2 kỹ năng trên cũng không được 780, vì còn ải cuối cùng: từ vựng.

Câu hỏi: “Ê mày, chữ này nghĩa là gì?” Rồi đưa ra 5 lựa chọn. 6 chữ đều không biết mặt mình, rồi xong. Có khoảng 2-4 câu kiểu này. Xác suất thất bại của em là 80%, chúc em may mắn. Siêng cày từ vựng hay ăn may chỉ có vậy thôi; đường đến xông xênh không tồn tại ngõ tắt để đút vào.

Writing

Phần writing cũng là cãi nhau. Mấy năm nay đổi cấu trúc cũng chưa xem lại nên không dám chém.

Tóm tắt

 

  • Học xong lớp 6 VN đủ trọn điểm toán đầu vào thạc sĩ tây.
  • Học xong Anh văn lớp 12 thường VN đủ đủ trọn điểm ngữ pháp đầu vào thạc sĩ tây.
  • CR: phụ cãi.
  • Reading: xem chúng cãi nhau.
  • Writing: cãi chính.

Điểm khác nhau là ở quê ta đi chửi nhau thằng nào rạch mặt ăn vạ để làng thương là thắng, còn chửi kiểu GMAT phải dùng não máy móc tí kiểu như con robot.

 

FAQ

* Học sách nào?

Đóng tiền xong lấy official guide và chỉ xem trong đó. Đề ra sát nhất với official guide hơn hẳn mấy sách khác. Đừng xem Kaplan gì cả, bị bull trap. (Quan điểm cá nhân của tác giả)

* Học luyện ở đâu?

Toán lớp 6 Trung học cơ sở & Anh văn lớp 12 Trung học phổ thông.

* Học bao lâu thì được?

Chỉ là bài thi đầu vào thạc sĩ thôi mà, làm cho lẹ còn đi kiếm cơm.

* Điểm bao nhiêu thì được học bổng?

Trong khi ta đang bận rộn đấu tố bọn học bổng thì Tàu, Ấn, và Nam Hàn đã phổ cập GMAT 780 toàn dân từ lâu rồi, hỏi thừa.

 

Tác giả: Tai Tran

Kinh nghiệm phỏng vấn MBA (Áp dụng được cho các chương trình khác)

Ngoại trừ một số ít không phỏng vấn, hầu hết các chương trình MBA đều sẽ tiến hành phỏng vấn applicant. Có hai dạng phỏng vấn:

1)      Phỏng vấn trước khi nộp application

Dạng này thì phổ biến hơn ở nếu bạn ở Mỹ và apply. Một số trường sẽ cho phép bạn đặt lịch phỏng vấn trước khi nộp application. Đây là cơ hội để bạn tìm hiểu về trường về khóa học, etc nhằm giúp cho lựa chọn apply của bạn là đúng đắn. Mình xin phép không nói về phần này vì mình không có kinh nghiệm thực tế mà chỉ có đọc từ sách ra.

2)      Phỏng vấn sau khi nộp application

Sau khi nộp application, tùy từng trường mà sẽ mất từ 20 ngày đến 40 ngày để đánh giá hồ sơ và quyết định xem bạn có được mời phỏng vấn không. Thời gian này là tùy thuộc vào từng trường, số lượng hồ sơ họ phải xem xét và nhiều yếu tố khác. Bạn không cần phải sốt ruột viết email hỏi trường, trừ khi là đã quá lâu hoặc bạn có trường hợp đặc biệt. Nếu sốt ruột quá thì bạn hãy vào các topic của các trường trên Gmatclub để nghe ngóng từ các applicant khác. Đây cũng là nơi bạn có thể hỏi kinh nghiệm của những người đã phỏng vấn. Ở Việt Nam thì có thể phỏng vấn qua điện thoại hoặc Skype. Theo mình thấy thì các trường prefer Skype vì có thể nhìn thấy applicant luôn. Tới đây cũng có hai dạng phỏng vấn: một dạng là blind interview, tức là người phỏng vấn không biết gì về toàn bộ application (gồm essay, recommendation letters, etc) mà chỉ có CV của bạn thôi. Dạng này thường là khi các trường dung alumni để phỏng vấn nhưng cũng có khi là chính người trong adcom phỏng vấn. Dạng còn lại là interview bình thường, người interview đã xem các thành phần trong application của bạn.

Chuẩn bị cho interview:

a)      Blind interview. Với dạng này, vì interviewer chưa biết gì về bạn nên câu hỏi mở đầu như tell me something about yourself hay walk me through your resume là không thể tránh khỏi. Vì interviewer không xem essay hay recommendation letter của bạn nên bạn hoàn toàn có thể lấy những chuyện đã nói ở trong đó ra để trả lời cho các câu hỏi phỏng vấn mà không sợ bị lặp. Các câu hỏi kinh điển của mba như goal, why mba, why now… là không thể tránh khỏi. Những phần này bạn cũng đã phải chuẩn bị kỹ từ khi viết essay rồi nên khi interview chỉ cần cố gắng nói lưu loát, tự nhiên và passionate thì tốt. Người phỏng vấn thường rất cởi mở, thân thiện nên bạn không phải lo gì cả. Đây cũng là cơ hội để bạn tìm hiểu thêm về trường nên hãy chuẩn bị những câu hỏi. Lưu ý là đừng hỏi những câu có thể tìm thấy đáp án dễ dàng trên website, vì hỏi như thế tức là bạn chưa do your homework, sẽ bị mất điểm trong mắt interviewer.

b)      Interview bình thường. Cái này mình nói riêng kinh nghiệm của mình khi phỏng vấn với Ms. Amanda, admission director của Mason school of Business. Mình thật sự rất thích trường này nên trước khi phỏng vấn mình đã tìm hiểu khá kỹ về trường, xem rất nhiều video của trường trên youtube channel nữa. Amanda đã xem application của mình nên cô ấy biết mình là ai, các câu hỏi của cô ấy thì dựa trên application mà đưa ra, có những chỗ cô ấy muốn hỏi kỹ hơn về những thứ mình đề cập đến trong bài essay chẳng hạn. Ví dụ như trong essay mình nói học xong muốn về VN làm, cô ấy hỏi thế có xem thử các cty trong lĩnh vực của mình chưa, rồi có xem các cty đó họ yêu cầu gì không…etc. Nên để chuẩn bị, bạn nên xem kỹ lại toàn bộ application của mình, gồm cả essay và recommendation letters. Đây thực sự là cuộc interview mà mình thích nhất từ trước đến giờ. Amanda cực kỳ nice và inspiring nữa. Cô còn đưa ra cho mình rất nhiều thông tin bổ ích, ví dụ như năm tới trường sẽ có concentration cho các chương trình MBA, hỏi mình xem mình thấy thế nào, rồi giới thiệu về cái job fair ở NY nơi mà nhiều cty ở Châu Á đến để recruit… etc. Nói chung đây thực sự là một cuộc trò chuyện cởi mở và bổ ích. Bạn hãy cố gắng chứng tỏ được là mình rất yêu thích và passionate với trường, và có định hướng mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng là được.

 

Nguồn: USguide

Nộp hồ sơ học bổng bậc tiến sĩ tại các đại học Úc

Định không chia sẻ bài viết này, nhưng vì thấy có ích cho một số bạn nên post lại đây. Có thể sẽ có ích nhiều cho các bạn có xuất phát điểm thấp và trung bình như mình. Phần chia sẻ này dựa vào kinh nghiệm cá nhân đúc rút từ quá trình nộp hồ sơ ở Úc và New Zealand. Các chiến lược mình áp dụng trong này đều học từ thầy Vũ Hồ. Tổng kết: Năm 2016 mình apply hai học bổng chính phủ gồm học bổng Endeavour và học bổng chính phủ New Zealand (trượt cả hai), 6 học bổng trường (1 trường của New Zealand – Aukcland University và 5 trường ở Úc) thì được 4 trường Úc cho học bổng toàn phần gồm Flinders University, Latrobe University, University of Canberra và Monash University. Có mấy điểm mình thấy làm cho hồ sơ lột xác hoàn toàn so với trước đây là:

Một là sense of purpose (hiểu rõ mục đích bản thân): Mục đích đời bạn là gì? Các mục tiêu ngắn hạn của bạn? Bạn sẽ đi con đường nào để theo đuổi những mục đích và mục tiêu đó? Hình dung cuộc sống của bạn khi có học bổng sẽ thay đổi như thế nào? Học bổng sẽ giúp bạn đạt được điều gì?

Trước đó mình có ý muốn đi du học, nhưng chưa xác định được cụ thể mình tại sao mình cần đi học (mà chỉ có ý định trốn chạy vì công việc ngột ngạt thôi). Thấy “mông lung như một trò đùa” nên những câu hỏi kiểu như nên đi học về cái gì, sau này học xong thì làm gì, học bổng giúp thay đổi điều gì trong cuộc sống v.v. đều không có một định hướng gì để trả lời cả. Do chưa có xác định được rõ ràng nên toàn bộ những hồ sơ mình đã nộp trong năm 2014-đầu 2016, đặc biệt là phần phát biểu về mục đích (statement of purpose) và đề cương nghiên cứu (research proposal) đều phiên phiến, mơ hồ và thiếu dấu ấn cá nhân (personal touch). Bản thân mình còn thấy thế, người ta chấm học bổng thì không chấm trượt mới lạ!

Có bạn cứ bảo học xong thạc sĩ rồi mà còn mông lung. Mình thì thấy, mỗi giai đoạn cuộc đời đều rơi vào một số các mông lung đặc thù: lúc ra học cấp 3 thì không biết học đại học gì, lúc tốt nghiệp đại học thì không biết nên làm gì, đến lúc đi làm rồi không biết làm nghề này có đúng không hay chuyển nghề khác, lúc học xong thạc sĩ rồi thì không biết nên học tiến sĩ hay tiếp tục đi làm là đủ, v.v. Nói chung, cuộc sống mà thiếu mông lung thì có gì đó không đúng. Nếu có mông lung tức là phải nghiêm túc để tìm kiếm lối ra. Quá trình tìm kiếm mục đích của mình bắt đầu bằng việc suy nghĩ thật chín chắn cái gì mình thực sự đam mê – cái này rất quan trọng. Nếu không đam mê thì sau này khó mà theo đuổi được. Đối với mình, lựa chọn chủ đề nghiên cứu chính là cụ thể hóa của đam mê. Sau khi đã trằn trọc suy nghĩ về định hướng nghề nghiệp của mình, thì việc tham khảo cả ý kiến của thầy cô và đồng nghiệp đi trước sẽ rất có ích. Họ là những người đi trước mình, nên chia sẻ của họ là cực kỳ giá trị. Mỗi lần chia sẻ với họ giúp mình nhận ra mục đích của mình còn chưa phù hợp chỗ nào để mà điều chỉnh. Khi mục đích lớn dần dần lộ rõ thì các phần khác của bộ hồ sơ trở nên liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất do xoay quanh một định hướng. Chốt lại, không có sense of purpose thì viết cái gì cũng nhạt.

Hai là research proposal (đề xuất nghiên cứu).

Có lẽ cái này là phần khó nhất, và là điểm khởi đầu trong hồ sơ apply tiến sĩ. Trước đây đề tài nghiên cứu thạc sĩ của mình là về “nghi thức thể hiện sự tôn trọng trong đời sống người Việt”, dù mình khá hứng thú với nó, nhưng thực tế nó ít được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm và cũng khó khơi gợi được sự quan tâm của các giáo sư ở Úc. Do đó mình nghĩ phải tìm một chủ đề mới, thực tế hơn. Trước khi có bản cuối cùng mình có phải đến vài ba chủ đề khác nhau, mỗi chủ đề viết thành 4-5 bản khác nhau, cái về Internet và truyền thông xã hội, cái về mạng lưới tương tác ảo, cái về tổ chức xã hội tự nguyện, v.v. Khi đã chọn cho mình một chủ đề với ý tưởng thú vị, việc tiếp theo là xây dựng nó thành một đề xuất nghiên cứu (research proposal). Vì không thạo với tài liệu chuyên ngành liên quan đến chủ đề lựa chọn nên dù mình tự mày mò, tự xây dựng, tự sửa cho mình nhưng rốt cuộc vẫn rối như canh hẹ. Sau đó, mình quyết định tham khảo các anh chị tiền bối trong ngành bằng cách trao đổi với họ, gửi proposal cho họ góp ý, rồi từ đó tìm cách sửa chữa lại. Mình gửi đi khoảng 4-5 người. Qua đó mình thấy mình học hỏi được rất nhiều thứ. Đúng là phải soi mình vào một cái gương thì mới thấy mình thế nào. Qua đó, phải nói research proposal của mình tốt lên hẳn. Kết quả là khi mình gửi đi thì hầu hết giáo sư đều đồng ý nhận hướng dẫn ngay từ lần đầu tiên với comment đại ý là đề tài của mày promising (đáng mong đợi) và thú vị.

Tóm lại, tìm ra được ý tưởng nghiên cứu hấp dẫn, nằm trong một topic đúng mốt (không chỉ quan trọng đối với Việt Nam mà phù hợp với định hướng nghiên cứu của trường và được cả giáo sư họ quan tâm), xác định được được lỗ hổng của nghiên cứu hiện tại, đặt ra câu hỏi đích đáng , có một hình dung tốt về phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng, quyết định phần lớn thành bại của một hồ sơ học PhD.

Ba là chọn và liên lạc với giáo sư hướng dẫn (supervisor).

Có một số chiến thuật để tiếp cận với giáo sư hướng dẫn. Trước hết là tìm kiếm từ rộng đến hẹp. Xác định trình độ của mình ở mức trung bình thôi (mình nghĩ cái này nên trung thực với bản thân, biết mình đang ở đâu!), nên mình chọn các trường đại học rank thấp và trung bình thôi. Trong các trường đó, mình tìm về các khoa liên quan đến chủ đề nghiên cứu mình quan tâm, ví dụ mình quan tâm đến thảm họa tự nhiên từ góc độ xã hội học thì sẽ tìm khoa nhân học, xã hội học, nghiên cứu phát triển, v.v. Trong các khoa đó có các hồ sơ (profiles) của các giáo sư. Mình tìm tới từng profile, đọc, tham khảo một số các nghiên cứu của họ, tìm chỉ số trích dẫn của họ (chẳng hạn qua Google Scholar), suy nghĩ xem có liên hệ nào giữa họ và đề tài của mình hay không (cố tìm ra!). Sau đó, chọn “nạn nhân” để đầu tư thời gian. Lưu ý là mỗi khoa, mỗi thời điểm chỉ nên lựa chọn một giáo sư thôi vì họ có thể trao đổi với nhau. Mình gửi nhiều người họ cũng có thể biết, và như thế không hay. Ngoài ra, khi chọn giáo sư thì không nên chọn người có thâm niên quá cao, vì họ có thể không có nhiều thời gian để trả lời thư của mình, hoặc không có nhiều thời gian để hướng dẫn cho mình sau này (sau này sang bên Monash học mình mới biết, nhiều trường hợp giáo sư thâm niên rất ít khi gặp và trao đổi với sinh viên, làm sinh viên toàn tự bơi. Về lâu dài thì rất khổ!). Hơn nữa, giáo sư rank cao cũng sẽ chọn các sinh viên xuất sắc (outstanding), mình nên biết lượng sức mình mà lựa chọn người cho phù hợp. Mình thường chọn các associate professor hoặc các senior lecturer hoặc những người có citation thấp hơn một chút. Kết quả phản hồi rất tốt.
Một vấn đề quan trọng nữa là liên lạc email. Đầu tiên là tiêu đề thư, ngắn gọn, súc tích, và làm rõ ý định của người viết thư. Nội dung thư đầu tiên mình cũng không đặt quá nhiều vấn đề kiểu như lá thư trăn trối cuối cùng (nhét được bao nhiêu thông tin thì cố nhét) vì giáo sư họ sẽ khiếp, không có thời gian mà đọc thư quá dài. Mình chỉ giới thiệu đề tài nghiên cứu của mình, đặc biệt nhấn mạnh vào sự tương đồng giữa mình và các research interests hay topics mà họ đang theo đuổi, rồi cuối cùng chốt hỏi một câu xem họ có quan tâm đến đề tài của mình không. Trong phần tái bút, mình cũng chèn thêm tài khoản researchgate.com hoặc academia.edu để họ cần thì vào xem.
Thời điểm gửi thư thì mình dùng Boomerang để set thời gian đúng 8h sáng bên nước họ và thấy rất hiệu quả. Tất cả giáo sư mình gửi đều phản hồi (sớm hay muộn thôi) và hầu hết đều đồng ý. Sau đó mình mới hỏi họ cho phép mình đặt tên họ vào hồ sơ xin nhập học (admission) và học bổng (scholarship). Như vậy đến đây đã xong một bước quan trọng là xin được giáo sư đồng ý hướng dẫn, việc tiếp theo là hoàn thành hồ sơ xin nhập học và học bổng. Tóm lại, cách liên lạc với giáo sư phải thể hiện mình tôn trọng thời giờ vàng ngọc của người ta, và qua đó cho họ thấy mình là người chuyên nghiệp.

Liên quan đến liên hệ giáo sư, mình cũng chia sẻ thêm là chăm đi các events và workshops rất có ích. Thời điểm mình đang mơ hồ tìm kiếm thì có dự một event do Chính phủ Úc tổ chức ở Hà Nội. Ở đó mình có trao đổi với một chị người Úc rời đại sứ quán Úc về nước làm tiến sĩ. Ngay lập tức mình xin kết nối với nhóm nghiên cứu bên đó thì được ngay. Sau đó giáo sư chủ động gọi mình phỏng vấn qua Skype và qua đó mình được nhận. Đặc biệt là trong supervisory panel của mình có một leading scholar trong mảng environmental politics, và bác ý cũng đồng ý làm hướng dẫn hai cho mình vì thích đề tài của mình. Quả thực họ rất nhiệt tình ủng hộ mình trong quá trình nộp hồ sơ cho trường, thậm chí còn viết của thư support gửi cho trường và hứa cho thêm tiền để làm thực địa và đi dự conference nữa. Kinh nghiệm là cứ đi kết nối nhiều vào, mạnh dạn trình bày ý tưởng, và nắm bắt mọi cơ hội tới.

Bốn là làm bài luận (essays).

Một trong những phần quan trọng của hồ sơ xin nhập học và hồ sơ học bổng là viết các bài luận theo các câu hỏi khác nhau. Việc viết này quả thực tương đối thách thức theo nghĩa mình vừa đang đi làm kiếm tiền, vừa phải lo viết bài xuất bản, nên việc viết bài luận phải tranh thủ và tập trung cao độ. Hơn nữa, việc hoàn thành các bài luận này thường không phải một lúc là xong, mà kéo dài rất mệt mỏi. Viết thế nào để thuyết phục hội đồng cho học bổng quả không dễ. Vậy viết thế nào?

Ý tưởng, nội dung của các bài cần phải có ‘personal touch’, tức là cần phải mang dấu ấn cá nhân, chứ không phải cứ copy các bài mẫu trên mạng, tạo ra các bản sao. Đã là bản sao thì không thể xuất sắc hơn bản chính được, dù nó được trau chuốt đến đâu. Dấu ấn cá nhân là hình ảnh, trải nghiệm, mục đích cá nhân được in đậm trong đó. Đó là cái phân biệt hồ sơ của bạn với hàng loạt hồ sơ khác.

Thứ hai là phải viết logic và mạch lạc. Mỗi bài luận thường có các câu đề bài, ví dụ hỏi: Tại sao mày là một ứng cử viên xuất sắc để nhận học bổng này? và được giới hạn trong một lượng tự nhất định (ví dụ 100-200 từ). Người chấm học bổng phải đọc rất nhiều hồ sơ, nên họ không có quá nhiều thời gian để thẩm thấu cái gì quá phức tạp, cao siêu. Mình cần phải viết cái gì rất rõ ràng, dễ hiểu. Để làm được điều đó, kinh nghiệm của mình là trước khi viết, vạch ý ra thật rõ ràng. Ví dụ một câu trả lời mình dự định có 3 ý, thì xây dựng 3 ý thật rõ ràng, đi kèm các lập luận và ví dụ cụ thể của bản thân (nhất thiết phải của bản thân). Hơn nữa, cần sắp xếp 3 ý này theo tuyến tính, hay theo một logic nào đó. Ví dụ, ý A, B và C được sắp xếp theo trật tự thời gian, từ quá khứ tới hiện tại. Như vậy, người đọc sẽ biết mạch văn của mình. Không chỉ mạch lạc, logic trong nội bộ một bài luận, mà các bài luận cũng nên liên kết với nhau, cùng làm toát lên mục đích nghề nghiệp của mình.
Thứ ba, tự sửa cho mình. Để hoàn thiện một bài luận, bản thân mình phải tự sửa rất nhiều lần. Đây là một quá trình phản thân (reflective process) rất cần thiết. Một bài luận của mình thường có rất nhiều bản thảo. Ví dụ mình hoàn thành một bản thảo, sau đó cách hai ba ngày bỏ đi không nghĩ tới, rồi quay lại đọc bản thảo đó. Cách này khiến mình nạp lại năng lượng, làm mới đầu óc mình, từ đó nhìn nhận bản thảo rõ ràng hơn, dễ tìm các điểm chưa được mà khắc phục. Ngoài cách trên, nếu nhờ được ai xem giúp cho mình thì rất tốt.

Năm, sắp xếp một hồ sơ (điện tử) gửi đi.

Hình dung là người nhận và xét duyệt sẽ có hàng tá bộ hồ sơ gửi đến. Làm thế nào để bộ hồ sơ của mình nổi bật và dễ thiện cảm? Có mấy gợi ý.
Thứ nhất, ghi tên rõ ràng. Mỗi file trong hồ sơ cần ghi tên rõ để họ nhìn là biết file đó là gì.
Thứ hai, đối với các bằng cấp, bảng điểm, nên ghi thêm năm. Hình dung họ nhìn vào list các file bảng điểm là biết mình tốt nghiệp năm nào.
Thứ ba, đối với các files như passport, giấy khai sinh thì nên ghi thêm tên mình.
Thứ tư, các files trong một bộ hồ sơ nên đánh số thứ tự: 1, 1.1., 1.2. Thứ tự nên theo yêu cầu trong form hồ sơ học bổng/nhập học. Khi họ mở hồ sơ ra thì đã biết nên đọc file nào trước.
Thứ năm, nên bổ sung thêm một số files có tác dụng làm rõ thêm các tài liệu khác, dù không được yêu cầu. Ví dụ mình bổ sung thêm một bản báo cáo đánh giá luận văn thạc sĩ của mình từ các examiners, có dấu xác nhận của trường cũ.
Thứ sáu, đừng nên tiếc tiền mà không chuẩn bị các file đẹp nhất có thể. Ví dụ nếu scan các ấn phẩm xuất bản thì nên scan màu, cắt gọt các phần đen, thừa đi.
Thứ bảy, khi gửi hồ sơ tới một địa chỉ cụ thể, tiêu đề thư nên ghi rõ hồ sơ của ai, dành cho học bổng hay nhập học.
Thứ tám, nội dung thư nên nói rõ phần đính kèm gồm những files gì.
Thứ chín, nếu toàn bộ hồ sơ quá nặng để đính kèm thì chia thành hai thư, nhưng cần nói rõ là sẽ có 2 thư, mỗi thư gồm các tài liệu gì đính kèm. Lưu ý, số thứ tự của hai phần vẫn thống nhất với nhau.
Thứ mười, vẫn nên set thời gian gửi email vào đầu giờ làm việc buổi sáng của bên nước họ.
Cuối cùng, kiên nhẫn chờ đợi, thành công sẽ tới.

Năm nay, trước khi thành công đến thất bại viếng thăm liên tiếp. Bắt đầu với học bổng New Zealand sau khi đã vào vòng 3, sau đó đến trường Aucland cũng bị từ chối nốt dù đã chấp nhận học bổng, tiếp đó học bổng Endeavour cũng trượt (cái mình cực kỳ hy vọng), trường Western Sydney University cũng từ chối dù đã cho nhập học. Thời điểm đó cứ cách 1-2 tuần là một tin báo trượt. Chắc ai đã từng apply học bổng rồi mà trượt nhiều và liên tục thì mới thấy đau khổ và thất vọng thế nào. Thực sự thì tới thời điểm nhận được mấy tin báo thất bại liền, mình không còn tin ở khả năng mình nhận được học bổng nữa. Thực tế là đa số các trường ở Úc mỗi năm chỉ dành 1-2 suất học bổng cho sinh viên quốc tế làm PhD thôi (ví dụ University of Canberra họ báo ngay cho mình từ khi chuẩn bị hồ sơ kiểu như để mày nghĩ cho kỹ đỡ mất công làm). Khi mình so các tiêu chí chấm điểm học bổng thì thấy hồ sơ của mình chỉ ở mức trung bình thôi, đặc biệt là phần xuất bản phẩm (đòi hỏi các bài báo trên tạp chí peer-review).

Nhưng cuối cùng, may mắn cũng mỉm cười. Vào một buổi trưa của chuyến công tác, đang nằm võng ở Trà Vinh, mình nhận được email thông báo học bổng. Rồi có thêm 3 trường nữa gửi thư thông báo học bổng liên tiếp làm mình không tin nổi luôn. Việc này cho thấy một điều này: nhiều khi may mắn chiếm một phần rất quan trọng đối với việc apply học bổng. Nhiều khi mình trượt nhưng mình đến đến rất gần với thành công, chỉ thiếu một chút may mắn thôi (mà may mắn đó có thể do hội đồng chấm hắt hơi, đau đầu hay vừa cãi nhau với partner) và cần phải kiên trì chờ đợi. Ví dụ năm 2016, học bổng Endeavour dành cho PhD cho Việt Nam duy nhất 1 học bổng, trong khi đó Bangladesh tận 6-7 người. Năm trước đó Việt Nam còn được đến 5-6 giải thì phải. Có một anh tâm sự (không biết đúng không) bảo năm nay review hồ sơ học bổng có nhiều bạn nổi bật hơn cả những người năm trước đạt giải nhưng do chính sách cắt giảm của Úc nên không được chọn. Vậy đó, đôi lúc mình cố rồi mà hoàn cảnh khách quan thì phải chịu. Nhưng có lẽ, cứ cố gắng, đi đúng hướng, làm đúng cách thì rồi thành quả sẽ tới.

Source: Kien Nguyen

Hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ xin học bổng

 

Xin chào tất cả các bạn. Phải nói là rất rất lâu, sau bài hướng dẫn học IELTS từ kinh nghiệm của bản thân, mình chưa viết bài nào. Thiệt ra mình không giành được học bổng Havard hay nhóm những trường IVY League nổi tiếng gì, nên không dám nói bài viết của mình là kim chỉ nam, mình chỉ xin hướng dẫn, và nêu cách chuẩn bị hồ sơ thôi, tùy vào mỗi người sẽ có thêm nhiều “tuyệt chiêu” nữa. Thôi vào nội dung chính nhé.

Như các bạn biết đó, chuẩn bị 1 bộ hồ sơ cho việc xin học bổng là 1 chuyện lâu dài và đòi hỏi sự đầu tư rất nhiều. Bài viết của mình dựa trên kinh nghiệm bản thân và một số các thầy cô, cũng như anh chị đi trước góp ý. Mình mong bài viết sẽ đem lại những thông tin hữu ích cho các bạn.

Điều đầu tiên, mình thấy rất nhiều các bạn luôn đưa ra câu nói: “Tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia” khi mong muốn đạt được mục đích gì đó. Nếu các bạn đã từng vậy, thì từ giờ các bạn hãy thử đưa ra 1 câu hỏi, thay cho 1 câu khẳng định xem: “Làm thế nào tôi có thể đạt được cái này, cái kia?” Đặt được câu hỏi, trả lời tất cả và thực hiện, mình tin chắc các bạn sẽ thành công trong rất nhiều việc. Mà việc xin học bổng cũng là 1 điều tương tự.
Một bộ hồ sơ cho việc xin học bổng thuờng gồm những mục quan trọng sau:

1. Curriculum vitae (CV)
2. Bằng tốt nghiệp
3. Academic transcript – Bảng điểm
4. Letter of Recommendation – Thư giới thiệu
5. Letter of Motivation – Thư động lực
6. English proficiency – Trình độ tiếng Anh
7. Awards &

Trên là những tài liệu quan trọng cần cho một bộ hồ sơ. Tuỳ trường, tuỳ khoá hoc mà sẽ có đòi hỏi them 1 số tài liệu khác.

1. Mình xin nói về Curriculum vitae: Một CV tốt là một CV nêu bật được những nội dung tốt về bản thân của bạn: thông tin cá nhân, quá trình học tập, kinh nghiệm làm việc, các hoạt động, nghiên cứu, v.v… Ngoài ra, CV cũng đừng quá dài (tốt nhất là trong 2 trang), câu cú ngắn ngọn nhưng xúc tich, và định dạng sao cho khoa học. Mình recommend các bạn nên sử dụng trang web của Europass để tạo CV online. Form này dung để apply học bổng các nước thuộc khối EU, và đuợc các truờng highly recommend. Nếu như các bạn apply học bổng nhữmg nước khác thì có thể tham khảo của Europass để định dạng lại cho phù hợp. Và theo mình tốt nhất là làm 1 table gồm 2 cột. 1 cột là các đề mục và 1 cột là nội dung. Nhìn khoa học và dễ nhìn nhất. Những đề mục chính thì các bạn có thể tham khảo trên Europass, và có thêm số đề mục như sau: Personal Interests, Awards, v.v… Cái này thì phải thực hiện hằng ngày nhé ^^

2. Bằng tốt nghiệp của các trường ĐH hiện nay đều song ngữ nên các bạn không lo phải translate qua tiếng Anh nữa.

3. Về Academic transcript: Mình thấy hầu như bạn nào cũng rất đặt nặng vấn đề bảng điểm. Đó chỉ là một trong số những tiêu chuẩn đánh giá, nhưng không phải là quan trọng nhất. Dù bạn có được GPA 10/10 đi chăng nữa, nó chỉ chiếm của bạn 1 dòng nhỏ trong CV hay là MV thôi. Nhưng nếu bạn có những lợi thế khác như hoạt động xã hội, kinh nghiệm làm việc hay nghiên cứ nữa, lẽ dĩ nhiên bạn đuợc đánh giá cao hơn rồi, và 1 phần nữa là giáo dục ở Việt Nam không đuợc thế giới đánh giáo cao cho lắm. Nhưng nói như thế, không có nghĩa là bạn không cần cố gắng học để lấy điểm cao hay làm cái cớ cho những lần điểm thấp. Hãy cố gắng học khi còn có thể các bạn nhé. Nhiều bạn mình biết vẫn còn có tư tưởng gian lận trong thi cử, và nghĩ đó là điều không thể tránh khỏi đối với HS-SV. Tất cả chỉ là nguỵ biện thôi các bạn à. Học là cả 1 quá trình dài, thi cử chỉ là 1 công cụ đánh giá mang tính chất tuơng đối. Chúng ta gian lận để đuợc điểm cao, nhưng đổi lại là kiến thức các bạn trống không, và đến khi cần nó chúng ta lại ngỡ ngàng là mình đã từng học. Thực tế bản thân mình cũng từng gian lận trong thi cử, hồi năm 11, nhưng lên tới năm 12, mình tự hỏi bản thân, gian lận để làm gì vì điểm số đó đâu phải của mình, và bất ngờ khi có nhiều kiến thức mình đã từng biết nó, nhưng vì muốn được điểm cao nên chả học bài và để rồi không nhớ gì cả. Và mình đã từ bỏ ý nghĩ gian trong thi cử từ đó, nhờ vậy đã giúp mình rất nhiều trong việc thi ĐH và quá trình học ĐH sau này. Điều này muốn nhận biết rõ ràng không khó gì cả. Nhất là đối với các bạn SV, trong quá trình học tập một số bạn chỉ lo chơi, đến lúc thi thì tranh thủ quay, hỏi bài, và rồi ra đời làm việc thì không nhớ gì cả, mặc dù những kiến thức đó đã học rồi. Một số bạn trong quá trình học tập, có 1 giai đoạn lơ là, không sao cả, hãy cố gắng cho giai đoạn sau: “Better late than never”. Bên cạnh đó, hãy bổ sung một số những thứ khác để tăng điểm mạnh cho hồ sơ của mình, để bù lại khiếm khuyết đó bằng cách tham gia nhiều hoạt động xã hội, nghiên cứu học thuật. Bảng điểm dĩ nhiên là bằng tiếng Anh nhé. Các bạn hãy liên hệ với phòng đào tạo hay phòng quan hệ quốc tế (tùy trường) để xin bảng điểm tiếng Anh. Nếu bảng điểm đã được đóng dấu tròn của trường thì xem như được rồi. Còn nếu là dấu vuông hay hình chữ nhật thì các bạn hay đem bảng điểm đó đến bộ phận công chứng nhờ họ dịch và tham khảo bảng điểm bạn xin từ trường để họ dịch chích xác nhất. Vì có 1 điểm ở đây là dấu tròn mới có tư cách pháp lý, còn các loại dấu khác thì không. Về bảng điểm thì nếu xin trực tiếp ở trường, tầm 1 tuần là các bạn có và nếu không thì dịch lẫn công chứng tầm 1 – 3 ngày là có.

4. Letter of recommendation: Đây là 1 trong những tài liệu mà bộ phân tuyển sinh rất xem trọng, vì nó đem đến 1 cái nhìn khách quan về HS-SV. Sau đây, mình sẽ chia sẻ kinh nghiệm của bản thân làm sao để có 1 thư giới thiệu mạnh. Điều đầu tiên, hiển nhiên bạn phải xây dựng được mối quan hệ với giáo viên. Các bạn đừng nghĩ đây là mối quan hệ dựa trên vật chất và lời nói nhé, tất cả đều dựa trên hành động. Bản thân mình, hồi năm 1 chỉ là 1 cái bóng trong lớp. Nhưng sang đến năm 2, thì Khoa đã bắt đầu rộn ràng tên mình. Mình không có chơi nổi gì đâu ^^ Rất đơn giản thôi à. Vào lớp học, mình chăm chú nghe giảng, và quan trọng là mình chộp lấy email của giáo viên môn học đó liền. Để trong quá trình học mình nếu có gì không hiểu mình sẽ email hỏi giáo viên ngay. Nói thật với các bạn, đây là 1 cách tạo ấn tượng tốt với giáo viên rất hiệu quả đấy. Hãy hỏi và hỏi thật nhiều với giáo viên nếu có thể, trong lớp hay qua email. Giáo viên họ rất thích thế các bạn à. Các bạn biết tại sao không? Đơn giản đó là cách mà giáo viên họ biết SV có quan tâm tới môn học của họ hay không và quan tâm như thế nào. Bên cạnh đó, khi các bạn đặt câu hỏi, đó cũng là 1 cách để họ review lại kiến thức. Nhưng đặt câu hỏi của phải biết cách các bạn nhé. Chứ không phải kiểu như: “Thưa thầy/cô tại sao A nó lại B vậy?”, những câu hỏi đại loại thế sẽ không được đánh giá cao và chả có 1 tí tác dụng gì cả. Nếu như trên lớp, nếu không hiểu các bạn có thể giơ tay hỏi ngay, không vấn đề gì cả. Nhưng khi về nhà, các bạn hãy hãy đầu tư cho câu hỏi bằng cách tìm tài liệu, tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Sau khi tìm hiểu nếu đã thông suốt thì thôi. Nhưng nếu chưa, hãy email cho giáo viên: “Thưa thầy/cô, khi sáng trong bài giảng em có vấn đề này không hiểu. Sau tham khảo tài liệu A, B, C, v.v… em hiểu như thế này, như thế kia, nhưng vẫn chưa rõ. Nhờ thầy/cô giải đáp cho em vấn đề này”. Giáo viên khi đọc email, họ sẽ nghĩ: “À. Em này nó có quan tâm đến môn học của mình, chịu khó tìm hiểu, v.v…” Cách tạo mối quan hệ với thầy cô đơn giản như thế thôi các bạn à. Nhờ cách này mà mình “nổi tiếng” trong Khoa luôn ^^ Ai mình cũng hỏi. Học tập là ở nhiều nơi mà Bên cạnh đó, trong quá trình học tập, các bạn có thể tham gia các hoạt động học thuật của Khoa, lớp như một cách tạo ấn tượng với các cán bộ trẻ. Một đồn mười, mười đồn một trăm, nếu bạn cố gắng, làm tốt, tự nhiên các bạn sẽ nổi bật thôi. Chính nhờ những cách trên, mà mình có mối quan hệ tốt với thầy cô. Có lần mình chỉ buột miệng nói: “Em sắp làm hồ sơ xin học bổng thầy à”. Thầy mình liền bảo: “Thế à. Có cần viết thư giới thiệu không em? Khi nào cần, nói thầy 1 tiếng, thầy viết cho”. Nghe mà mình vui. Đơn giản là mình biết trong mắt thầy, mình cũng được để tâm. Thứ hai, nhờ thầy cô viết hay tự viết. Rõ ràng nhờ thầy cô viết là tốt nhất, vì nó đem đến cái nhìn khách quan nhất. Nhưng đa phần hiện nay đều là SV tự viết, và thầy cô xem qua rồi ký tên. Về vấn đề này, theo mình các bạn nên xây dựng mối quan hệ tốt với các giáo viên trẻ, vì thầy cô rõ ràng nhiệt tình hơn các thầy cô lớn tuổi hơn 1 chút, nên khi bạn có nguyện vọng, thầy cô rất sẵn lòng. Và mình recommend với các bạn nếu được, hãy tìm thầy cô giỏi tiếng Anh nhé. Vì không những thầy cô viết cho các bạn, mà còn có thể check ngữ pháp và những thứ khác cho mình nữa. Mình may mắn được làm việc được làm việc với 1 cô và 2 thầy, đều tốt nghiệp PhD ở nước ngoài, nên về khoản này mình rất yên tâm. Nên mình rõ ràng không sợ, nếu lỡ bộ phận admission (tuyển sinh) hay Prof gọi đt cho GV hướng dẫn mình để check thông tin lại lần nữa. Nên các bạn cũng hãy suy nghĩ kỹ khi chọn giáo viên để xin thư giới thiệu nhé. Không cần các thầy cô quá đao to búa lớn trong khoa hay trong công ty đâu. Vì mình nói thật, Prof hay bộ phận admission họ không biết thầy cô bạn là ai đâu. Trừ khi trường bạn thật sự nổi tiếng, thầy cô bạn được biết đến qua các công trình nghiên cứu trên tạp chí quốc tế, thì may ra họ mới biết. Nên hãy tìm thầy cô thật sự hiểu mình nhất, nhiệt tình với mình nhất và có trình độ tiếng Anh tốt. À, có một số bạn phạm 1 lỗi rất nghiêm trọng khi tự viết thư giới thiệu và đưa cho thầy cô ký. Đó là nêu các hoạt động xã hội, các tổ chức, câu lạc bộ mình tham gia. Prof hay bộ phận admission họ đọc là biết ngay bạn tự viết. Vì không thầy cô nào, kể cả bố mẹ bạn có thể biết rõ bạn như vậy. Đơn giản hãy nêu là: “Em ấy là 1 SV năng động, tích cực tham gia các hoạt động học thuật trong khoa và xã hội. Kể 2, 3 ví dụ tiêu biểu thôi”. Về việc xin thư giới thiệu, các bạn nên đánh tiếng với thầy cô trước. Nếu được thì nên nói trước khoảng 1 tháng để thầy cô soạn, còn nếu phải tự viết thì nên đầu tư tầm 1 tháng, vì để nghĩ ra 2 thư giới thiệu mà nội dung không bị trùng thì cần thời gian và ý tứ nhiều lắm đấy.

5. Letter of Motivation: Đây cũng là 1 trong những tài liệu quan trọng mà bộ phận tuyển sinh đánh giá bạn gây ấn tượng cho họ như thế nào, và bạn khác biệt ra sao. Hãy đầu tư cho nó 1 khoảng thời gian tương đối các bạn nhé. Chừng 1 – 2 tháng. Các quá trình bao gồm: Tham khảo một số bài mẫu – Chắt lọc những ý hay – Lựa chọn bố cục cho bài viết của bản thân – Lựa chọn những nội dung chính cần viết (Đây là phần quan trọng để bạn cho bộ phận admission cảm thấy bạn khác biệt và xứng đáng để học trao học bổng) – Viết – Check lại – Gửi thầy cô, những anh chị đi trước check và góp ý – Check lại lần nữa – Xong (nếu cảm thấy hài lòng) – Hoặc gửi thầy cô, những anh chị đi trước check góp ý lần cuối. Về khoản này, mình cũng khuyến cáo các bạn nên đầu tư trong khoảng 2 tháng, vừa thời gian đọc, viết, chỉnh sửa, rất nhiều giai đoạn, vì tính chất quan trọng nên đòi hỏi thời gian và công sức nhiều. Kinh nghiệm mình thấy, viết letter of motivation quan trọng là bạn phải thật sự có đam mê về ngành học của bạn thì bạn viết sẽ rất thật và hay. Và càng viết thì càng lên tay smile emoticon

6. English proficiency: Đây là điều kiện tiên quyết khi các bạn apply học bổng. TOEFL hay IELTS thì tùy thuộc các bạn cảm thấy mình phù hợp thế nào. Bản thân mình thì mình học IELTS. Đầu tư thời gian cho nó thật nhiều các bạn nhé. Mình không khuyến khích các bạn nước tới chân mới nhảy, kiểu như ôn luyện cấp tốc. Không gì cấp tốc nổi khi các bạn không có nền tảng cả. Nhiều bạn nghĩ là lên mạng kiếm nhiều tips của những người đi trước để sử dụng cho bản thân. Đây là 1 suy nghĩ sai lầm đối với những bạn muốn bỏ ích công sức mà đạt được kết quả cao. Mình nghĩ thời gian để các bạn đầu tư là khoảng 6 tháng – 1 năm, tùy trình độ và khả năng tiếp thu của mỗi người. Các bạn yên tâm, luyện nhiều tự khắc sẽ giỏi. Nghe chưa tốt, nghe nhiều tự nhiên tốt (không ai có thể chỉ bạn nghe và nghe dùm bạn), đọc chưa tốt học từ vựng, đọc nhiều tự nhiên tốt (không ai có thể giúp bạn học từ vựng và đọc dùm bạn), viết chưa tốt, viết nhiều, ôn ngữ pháp nhiều, nhờ thầy cô sửa bài, tự nhiên tốt, nói chưa tốt, trong khoảng thời gian luyện đề, tầm 1 tháng, luyện nói liên tục, tự nhiên phản xạ tăng, mức độ fluent cũng tăng. Và các bạn cũng nên hiểu. Thi cũng chỉ là 1 bài thi thôi. Nó không đánh giá được toàn bộ khả năng của bạn. Có thể bạn không may mắn thi điểm chưa như ý. Đừng buồn, hãy ôn luyện tiếp tục và thi lại. Keep trying. Thành công luôn đến với những người biết cố gắng. Và cả khi thi xong điểm cao rồi, vẫn hãy cứ tiếp tục trau dồi nhé. Đừng để mai một. Ngoại ngữ là phải luyện tập thường xuyên các bạn à. Bên cạnh đó, mình thấy có một số bạn có suy nghĩ tiêu cực như sau: “Chăm chỉ luyện thi, luyện đề này nọ, điểm số cao, nhưng lại không vận dụng được”. Tiếng Anh là công cụ để chúng ta sử dụng. Các bạn phải vận dụng nó để đem vào cuộc sống. Chăm chỉ luyện speaking thì phải sử dụng được vào những mục đích thực tế như giao tiếp, thuyết trình. Khi nào các bạn được mọi người, đặc biệt người nước ngoài khen các bạn thuyết trình tốt, tức là các bạn đã thành công. Vì không có người bản ngữ nào khen người bản ngữ nói chuyện tiếng Anh tốt cả. Cũng giống như chúng ta không có khen lẫn nhau là chúng ta nói chuyện tiếng Việt tốt cả. Cũng giống như nói, viết cũng phải được vận dụng vào trong cuộc sống, học tập hằng ngày như viết báo cáo, bài báo, bài luận. Vì thực tế ngoài đời, bạn không chỉ có viết 1 đoạn essay với số từ tối thiểu là 250 từ.

7. Ngoài ra, các bạn cũng có thể tăng sự năng ký cho hồ sơ của mình bằng những bằng khen học thuật. Mình sử dụng đề tài nghiên cứu khoa học (Khóa luận tốt nghiệp) để đi thi thố, may mắn dành cả 3 giải, cấp Bộ, cấp Thành phố, cấp Trường. Và 1 bài báo khoa học đăng trên tạp chí khoa học quốc tế của Springer. Bài báo khoa học thì cần cho những ai muốn xin học bổng Master hay PhD, vì đây là cách để cho người khác biết bạn làm gì.

Chuẩn bị hồ sơ kỹ càng, tạo nhiều folder cho nhiều course, cũng như nhiều phong bì cho từng course (nếu phải gửi post). Tại đến lúc cần, chỉ cần lấy và gửi thôi, không sợ thiếu giấy tờ. Mình chuẩn bị những 9, 10 bộ, mà xài chỉ 5, 6 bộ thôi.

Kết lại, mình muốn nói với các bạn. Hãy lên kế hoạch cho bản thân khi quyết định đi trên con đường xin học bổng, vì đó là một con đường dài hơi và đòi hỏi tâm huyết, công sức và thời gian rất nhiều. Và mình tin, thành công sẽ đến với những ai biết cố gắng. Có 1 câu nói mà mình rất thích của đại tá Jimmy Doolittle, người đã dẫn đội quân 16 chiếc máy bay tiến thẳng và Nhật Bản với lực lượng hơn 300 chiếc máy bay, sau trận đánh bất ngờ của Nhật ở Trân Châu Cảng. “Victory belongs to those who believe in it the most and believe in it the longest”, Lt. Col. Jimmy Doolittle said. Nếu ngồi ngẫm nghĩ một tí, các bạn sẽ thấy, thành công của các vĩ nhân, tỷ phú trên thế giới đều có thể là những ví dụ mạnh mẽ cho câu nói này.

Chúc các bạn luôn học tốt và thành công trên con đường xin học bổng.

Kinh nghiệm viết CV xin học bổng

Không giống như các hồ sơ nhập học thông thường, hồ sơ đăng ký xin học bổng đòi hỏi các thí sinh phải đầu tư nhiều thời gian hơn. Ngoài những giấy tờ chứng từ như bảng điểm, thư giới thiệu (Reference letter), bài tự luận (Personal statement) thì một phần quan trong nhất trong hồ sơ mà các hội đồng xét tuyển quan tâm đó là CV (Curriculum Vitae – bản lý lịch học tập và làm việc).

CV là một yếu tố quan trọng trong hồ sơ vì thông qua CV hội đồng xét tuyển sẽ nắm được thông tin về tất cả các hoạt động, thành tích và những khả năng nổi trội của bạn. Những thông tin này sẽ quyết định bạn có được vượt qua vòng tuyển hồ sơ hay không.

Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để bạn có thể thể hiện hết được những hoạt động, thành tích nổi trội của bạn trong một bản CV ngắn gọn nhằm thuyết phục được hội đồng xét tuyển?
Mỗi trường đại học hay cơ sở giáo dục cung cấp học bổng sẽ có những yêu cầu khác nhau trong việc ứng tuyển. Có thể bạn sẽ được yêu cầu điền theo mẫu CV có sẵn hoặc cung cấp CV của riêng mình. Ví dụ, tại Châu Âu thông thường có một mẫu CV Châu Âu mà các ứng viên được yêu cầu sử dụng trong quá trình ứng tuyển.
Mặc dù có sự khác nhau trong cách thức nộp hồ sơ ứng tuyển nhưng để có sự chủ động bạn nên chuẩn bị cho mình trước một bộ CV. Việc này có thể giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tạo sự chủ động ví dụ trong trường hợp bạn biết thông tin về chương trình học bổng muộn. Ngay cả khi phải điền vào CV có sẵn thì việc copy từ CV được chuẩn bị công phu từ trước sẽ giúp bạn hoàn thiện nhanh chóng và giảm thiểu sai sót trong quá trình đăng ký học hay xin học bổng.

Bạn cũng nên chuẩn bị cho mình hai loại CV, một bản đầy đủ (chỉ nên dài tối đa từ 2-3 trang A4) và một bản rút gọn (1 trang A4). Bản đầy đủ để nộp cùng hồ sơ xét tuyển còn bản rút gọn dùng trong các trường hợp bạn muốn xin thư giới thiệu của các giảng viên, giáo sư hay người quản lý. Việc gửi kèm bản CV cho người giới thiệu sẽ giúp họ hiểu hơn về các thành tích của bạn, từ đó sẽ có thể có nội dung giới thiệu phù hợp và xác thực hơn với mục tiêu và kỳ vọng của bạn.

Những điều cơ bản cần chú ý
Mỗi người có cách thức trình bày thông tin và nội dung CV khác nhau, nhìn chung các mục của CV tương đối giống nhau nhưng bạn không nên phụ thuộc quá nhiều hay copy toàn bộ CV của người khác. Bạn là người hiểu bản thân mình nhất, vì thế nên tạo một bản CV thể hiện những tố chất và khả năng của mình một cách thông minh và sáng tạo. Đây chính là điều giúp bạn nổi trội hơn trong mắt hội đồng xét duyệt.

CV nên rõ ràng, ngắn gọn và xúc tích, hơn nữa nó phải thể hiện được sự chuyên nghiệp và logic. Những lỗi nhỏ như chính tả, màu chữ, căn lề… cũng cần được kiểm tra cẩn thận.
Bạn có thể tham khảo ý kiến của các giáo viên hay tư vấn trong trường về CV của mình. Tuy nhiên những lời khuyên này chỉ mang tính tham khảo, hãy cân nhắc kỹ càng xem có thực sự phù hợp với mục tiêu của bạn hay không.

Nội dung CV

Nhìn chung CV thường có những phần chính như:

Thông tin cá nhân – Personal information: giới thiệu về tên tuổi, quê quán, thông tin liên lạc… Lời khuyên của Hotcourses là chọn địa chỉ email có kèm theo tên/họ của bạn nhằm giúp nhân viên nhận hồ sơ dễ dàng tìm kiếm thông tin về bạn nếu có bất cứ sự cố hay yêu cầu nào. Hơn nữa điều này cũng thể hiện được sự chuyên nghiệp của người nộp đơn.

Trình độ học vấn – Education Background: giới thiệu trình độ học vấn, thời gian học, kết quả…

Kinh nghiệm làm việc – Work Experirence: giới thiệu về các công việc đã từng làm, thời gian…

Kinh nghiệm nghiên cứu – Research Experience: giới thiệu về các dự án thực tế, chương trình nghiên cứu mà bạn đã từng tham gia và kết quả… Nội dung này đặc biệt quan trọng nếu bạn xin học/học bổng các chương trình mang tính nghiên cứu.

Hoạt động ngoại khóa – extracurricular activities: giới thiệu về các hoạt động ngoại khóa bạn đã tham gia, thời gian. Ví dụ: các hoạt động đoàn trường, câu lạc bộ trường, tình nguyện…

Các giải thưởng, bằng khen – Awards and honours: các chứng nhận về thành tích trong học tập cũng như các hoạt động của bạn.

Các kỹ năng – Skills: Các kỹ năng mền ví dụ, ngoại ngữ, máy tính, sử dụng các phần mềm máy tính, làm việc nhóm… Nội dung này không cần quá chú trọng trong hồ sơ xin học trừ những trường hợp xin học/học bổng về những ngành nghề đòi hỏi những kỹ năng đặc biệt như làm việc nghiên cứu độc lập, làm việc nhóm, làm việc trong phòng thí nghiệm…

Người giới thiệu/xác nhận – References: Những người này thường là giảng viên hay cấp trên của bạn… Bạn có thể tìm hiểu thêm về việc xin thư giới thiệu trên Hotcourses.
Những phần trong một bản CV tuy giống nhau nhưng cách bạn khai thác và xây dựng mỗi phần là lựa chọn của bạn, vì thế nên dành thời gian để tạo nên một bản CV của riêng mình trong đó lột tả được hết những thế mạnh của bạn. Bạn cũng nên viết CV một cách trung thực vì những gì bạn viết trong đó thường sẽ là những câu hỏi đặt ra cho bạn trong quá trình phỏng vấn (nếu hồ sơ của bạn được chấp nhận).

Chúc các bạn luôn thành công!

Nguồn: Scholarship Planet

Kinh nghiệm xin thư giới thiệu du học

Bên cạnh bảng điểm cùng một lô một lốc những bằng khen, giấy chứng nhận hay thậm chí cả những từ ngữ được trau chuốt một cách cẩn thận trong bài luận xin học bổng thì Thư giới thiệu (Recommendation Letter) cũng đóng vai trò quan trọng chẳng kém. Vậy là thế nào để có được những lá thư giới thiệu tốt nhất là khi mỗi trường lại có một yêu cầu khác nhau về thư giới thiệu. Vậy dưới đây là những kinh nghiệm xin thư giới thiệu mà mình muốn chia sẻ với các bạn.

Tại Việt Nam, việc yêu cầu một lá thư giới thiệu chưa quá phổ biến, nhưng với các trường đại học quốc tế đây là một trong những yêu cầu bắt buộc và đặc biệt quan trọng nếu như bạn muốn có cơ hội giành được học bổng. Thư giới thiệu là một cách để đánh giá về bạn ngoài những điểm số bạn cung cấp. Vậy làm sao để có được một lá thư giới thiệu có tính tin cậy cao và thuyết phục được trường đại học bạn đăng ký.

Mỗi trường đại học có một yêu cầu khác nhau đối với thư giới thiệu. Một số trường chỉ đánh giá cao thư giới thiệu từ những giảng viên, nhà nghiên cứu có uy tín, một số khác lại mong muốn nhận được thư giới thiệu từ những công ty mà bạn đã làm việc trước đó (yêu cầu này thường phổ biến cho những sinh viên dăng ký học thạc sỹ quản trị kinh doanh).

 

Tuy nhiên tại một số trường đại học có những yêu cầu khác hơn, điển hình như trường đại học Stanford thường có những yêu cầu rất cụ thể trong việc cung cấp thư giới thiệu. Trường yêu cầu những lời nhận xét, hoặc một thư giới thiệu từ một người từng làm cùng với bạn trong một nhóm nghiên cứu trước đây. Điều này để đánh giá năng lực của bạn trong làm việc nhóm và những kỹ năng xã hội.

 

Điểm thiết yếu trong một lá thư giới thiệu để có thể gây ấn tượng với các nhà tuyển sinh đó là người mà bạn xin bức thư giới thiệu. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ càng khi trong việc chọn người viết thư. Người đó nên hiểu rõ về bạn và có những cái nhìn và ý kiến sâu rộng. Nếu một giáo viên hiểu rõ về bạn cũng như năng lực học tập của bạn, lá thư giới thiệu sẽ có tính sát thực và đáng tin cậy hơn. Người giới thiệu có học hàm cao và có tên tuổi cũng sẽ có ảnh hưởng lớn tới việc đánh giá thư giới thiệu.

Tuy nhiên, người viết thư giới thiệu không phải là điều duy nhất bạn giúp bạn được nhận vào trường. Bạn phải nghĩ về những điều thiết yếu bạn muốn được đề cập đến trong thư giới thiệu.

Những Lưu ý khi viết thư xin Giới Thiệu Du Học

Bạn nên nói chuyện với người viết thư giới thiệu cho bạn, giải thích về mong muốn của mình khi đăng ký học, tại sao bạn lại muốn học chương trình này? ngôi trường này? Nếu bạn đã có trường đại học nhất định muốn đăng ký vào bạn có thể nói về những thế mạnh của mình, tại sao bạn là một ứng viên sáng giá cho trường? Điều này sẽ giúp người viết thư giới thiệu có cái nhìn cụ thể hơn về bạn cũng như hiểu được nguyện vọng của bạn thông qua bức thư đó. Hơn nữa vì các bạn sinh viên thường chọn những giáo sư, giảng viên uy tín hay những người có kinh nghiệm nghề nghiệp cao để viết thư giới thiệu. Vì thế bạn cũng có thể xin những lời khuyên và tư vấn về lựa chọn của bạn.

 

Đừng quyên cung cấp cho người viết thư giới thiệu của bạn danh sách những thành tích mà bạn đã đạt được cũng như tất cả những thông tin mà bạn nghĩ nên được đề cập trong thư giới thiệu.

 

Cố vấn nhập học Mỹ, ông William Trần chia sẻ với Hotcouses Việt Nam: thư giới thiệu càng chi tiết càng tốt. Tôi thực sự không thấy mấy ấn tượng với những từ ngữ chung như “chăm chỉ” hay “thông minh”. Hay một loại thư giới thiệu kiểu liệt kê hàng loạt những hoạt động ngoại khóa, vai trò trong các câu lạc bộ tại trường học trước kia… Điều này cũng giống như giới thiệu Barack Obama bởi ông là tổng thống Mỹ. Bức thư cần chiều sâu, những tố chất cá nhân và những điểm khác biệt mà không có ở những học sinh khác. 90% những bức thư giới thiệu không gây được ấn tượng với các nhà tuyển sinh như tôi.

Một sai lầm phổ biến khác là xu hướng yêu cầu thư giới thiệu từ “tên tuổi lớn” với hy vọng rằng điều này sẽ tạo được ấn tượng với ban nhập học. Jay Bhatti trong bài viết An Inside Look At The Brutal Business School Admissions Process cho biết:

 

“Chúng tôi nhận được những bức thư giới thiệu từ những thượng nghị sỹ, giám đốc điều hành hay các nhà lãnh đạo thế giới. Tuy nhiên trừ khi người được giới thiệu đã từng làm cho những người nói trên, những bức thư giới thiệu còn lại thường rất chung chung, không có chiều sâu. Tốt nhất bạn nên xin thư giới thiệu từ một người từng trực tiếp quản lý và đánh giá những thành tích, kiến thức và kỹ năng của bạn”.

 

Bạn cũng nên dành cho người viết một khoảng thời gian nhất định để cân nhắc, suy nghĩ để viết thư. Cùng với đó là tất cả những tài liệu mà bạn nghĩ có thể giúp người viết tham khảo.

 

Và cuối cùng, khi bạn nhận được thư mời nhập học từ trường đại học bạn đăng ký đừng quên thông báo đến người viết thư giới thiệu cũng như viết thư, email cảm ơn đến người viết thư giới thiệu ngay khi nhận được thư.

Nguồn: Hotcourses Việt Nam.

Chia sẻ kinh nghiệm viết bài luận xin học bổng

Quà tặng cho các cú đêm nhé 😀

Tuần trước, mình đã chia sẻ một số kinh nghiệm khi học và thi IELTS Listening. Tuần này, mình sẽ tiếp tục với Reading. Hơn nữa, có vẻ như đợt trước mình vẫn chưa giải thích rõ lắm hoặc có thể là dài quá nên khi đọc dễ chán vì vậy lần này mình sẽ cố gắng giản đơn lại hết mức có thể.

Trước khi nói đến phần Reading, bao giờ mình cũng muốn nhấn mạnh là phương pháp phổ biến nhất mà đa số những người đạt điểm cao trong kì thi đều là luyện tập, luyện tập và luyên tập. Chính vì vậy, hãy cố gắng dành chút thời gian trong ngày để luyện cho thành thục các kĩ năng của mình.

– Trong Reading, quan trọng là bạn biết phải tìm tài liệu ở đâu để trau dồi khả năng của mình. Cách tốt nhất là tìm đến đọc những sách tiếng Anh, có thể là những mẩu truyện ngắn, những mẩu báo (Sunflower, Vietnam News,…) hoặc những ai cảm thấy có thể thì hoàn toàn có quyền tự do chinh phục những quyển tiểu thuyết dài hơn, nếu muốn.

– Trong khi đọc, cố gắng đừng dùng đến từ điển, bởi nếu bạn cứ ỷ lại vào từ điển thì khi thực sự vào thi, bạnsẽ cảm thấy bối rối nếu gặp từ lạ nhưng lại không có từ điển ở bên cạnh. Hãy tập đoán nghĩa của một từ lạ bằng cách đọc qua câu có chứa từ đó, dựa vào những từ đã biết xung quanh nó để đoán từ lạ đó có nghĩa là gì, bạn không cần phải đoán đúng chính xác, chỉ cần đoán đủ để có thể dùng nó trả lời cho câu hỏi là được. Sau khi làm xong bài, bạn mới dành thời gian để ngồi tra lại số từ mà bạn vừa đoán, một là để kiểm tra xem mình đoán đã đúng chưa, hai là để biết được nghĩa chính xác của nó để học thuộc (như mình đã nhắc từ trước, việc học từ mới là rất quan trọng). Chú ý, đừng vội nản khi bạn đoán sai, vì có sai thì bạn mới nhớ lâu, phải không 🙂

– Khi làm bài thi, bạn nên dành khoảng 3 phút đọc lướt qua mỗi phần bài đọc và nhanh chóng đánh dấu những ý chính, những thông tin quan trọng trong phần đó như các tên, số liệu và ngày tháng quan trọng.
– Bạn nên vạch ý chính viết khoảng 1 hoặc hai từ ra lề của đoạn đó như cách đánh dấu để nhận dạng câu trả lời cho dễ. Tốt hơn hết nữa, bạn nên cố gắng tóm tắt lại một cách ngắn gọn (có thể viết bằng tiếng Việt nếu bạn thấy bí từ quá) bài văn, động tác này sẽ có ích cho bạn khi làm phần Matching Heading. Nếu bạn gặp tên riêng trong bài văn, hãy khoanh tròn chúng lại để tiện cho phần Matching Information sau này.

– Tiếp đến bạn sẽ xem xét các câu hỏi một cách kỹ càng và làm bài thi của bạn theo thứ tự các câu hỏi dễ tới khó. Thông thường mình sẽ làm phần True/False/Not Given trước khi làm phần Matching Heading. Chú ý, khi làm bài, bạn cần phải xác định rõ đề bài yêu cầulà True/False/Not Given hay là Yes/No. Có một số người không chú ý nên dễ chủ quan nhầm lẫn dẫn đến mất điểm cả bài chỉ vì vài kí hiệu dùng sai.

– Phần Fill in blanks là phần nên làm cuối cùng, bởi sau khi các bạn đã trả lời hết những câu hỏi khác, lúc này các bạn có thể đã nắm được phần nào ý của bài văn, khi đó bạn sẽ cảm thấy dễ dàng hơn khi làm phần này

– Đặc biệt khi làm bài, mình nghĩ các bạn nên đánh dấu những từ khóa trong các câu văn để tìm các chi tiết,đặc biệt là các từ mà thường không có các từ đồng nghĩa phổ biến. Sau đó hãy đọc thật kỹ về những từ này, chú ý tới những từ khóa khác ở trong câu hỏi mà có thể bao gồm từ đồng nghĩa với từ đang đọc trong bài. Khi đã tìm thấy từ nào đó,bạn chú ý hơn nữa tới ngữ cảnh và hãy đọc các phần xung quanh từ đó như câu văn đứng trước, câu văn bao gồm từ đó và câu văn phía sau để tìm ra câu trả lời.
– Nếu khúc mắc ở một câu hỏi nào đó, hãy khoanh tròn đánh dấu rồi tiếp tục với câu tiếp theo và quay lại xem xét nếu còn thời gian.
– Đôi lúc làm bài không kiểm soát được thời gian làm bài, mình vẫn mò mẫm đáp án cho bằng kín và hết, cho bõ công làm và đi thi. Tuy nhiên, theo mình thấy đối với listening và reading chúng ta cần thường xuyên luyện tập để phát triển tốc độ đọc và sự chính xác khi làm bài. Cũng như tập làm quen được với các dạng đề,và các chủ điểm khác nhau nhiều hơn.

– Vì làm bài luôn bằng bút chì nên bạn nên ghi luôn đáp án vào Answer Sheet chứ không nên ghi ra nháp rồi transfer lại, mặc dù bạn luôn có thời gian cuối giờ để làm chuyện này nhưng đôi khi bạn transfer vào sai do quá hấp tấp trong lúc bối rối hoặc đôi khi bạn cố ý vớt vát vài câu còn sót lại mà làm mất thời gian transfer.

Hy vọng những thứ này có thể giúp ích cho các bạn. Chúc may mắn.

Tác giả: Hoàng Phương

Làm thế nào để có một hồ sơ xin học bổng tốt?

Hầu hết các bạn sinh viên đều muốn nhận được học bổng tốt nhất có thể. Chính vì vậy các bạn luôn cố gắng thêm vào hồ sơ của mình nhiều thành tích (có thể là vượt trội) nhằm lấy điểm trong mắt người tuyển chọn. Nhưng không phải ai cũng biết như thế nào là một hồ sơ xin học bổng thực sự tốt để có thể là một tấm vé cho bạn bước vào thế giới của những du học sinh. Và trong thực tế, học bổng là một nguồn vô cùng khan hiếm, và bạn cần phải cạnh tranhvới vô số người giỏi hơn mình, vậy làm sao để chúng ta có thể thành công? Mình xin chia sẻ một bài viết của chị Lê Thị Xuân, một du học sinh ở Anh, về kinh nghiệm khi viết hồ sơ xin học bổng để các bạn tham khảo:

 

Hãy là chính mình

Kinhnghiệm đầu tiên và cũng là kinh nghiệm quan trọng nhất chính là bạn hiểu bạnnhư thế nào? Bạn mong muốn điều gì? Tại sao bạn lại đi học? Đi học xong bạn làmgì? Rất nhiều bạn với mong muốn làm đẹp hồ sơ của mình đã viết quá lên nhữngkinh nghiệm hoạt động của mình, mà quên mất động lực quan trọng nhất để bạn đihọc là gì.

 

Bạn nênnhớ rằng có hàng nghìn người như bạn, và bạn phải tìm được một điểm độc đáo củabạn, để bạn có thể xuất sắc hơn những người khác. Bạn không cần là người giỏinhất, nhưng bạn cần có một sự độc đáo. Sự độc đáo có thể từ một kinh nghiệmthực tế bạn rút ra bài học, từ một cuộc đối thoại với một người bạn vô cùng yêuquý, hoặc có thể từ mong muốn mà bạn có thể đạt được sau khi đi du học.

 

Có một bạnhọc sinh đã viết như thế này: “Tôi đã đọc rất nhiều bài luận xin học bổng vàphát hiện ra một điều thú vị là học sinh nước tôi đều lấy lý do là gia đìnhkhông có đủ điều kiện tài chính để đi du học nên phải xin học bổng. Còn tôi,tôi tin bố mẹ tôi có đủ điều kiện cho tôi đi du học, nhưng tôi vẫn mong muốnđược nhận học bổng này, vì đơn giản, tôi muốn tự lập như chính các bạn sinhviên trên thế giới.” Bạn có tìm thấy sự đặc biệt nào trong bài luận trên không?

 

Lựa chọn phù hợp

 

Sau khibạn hiểu bạn cần gì, bạn muốn gì, giờ đến lúc bạn cần lựa chọn những đặc điểmphù hợp với từng học bổng. Một thực tế bạn cần hiểu rằng các học bổng danh giánhất (Chevening, Fulbright) hoàn toàn khác với các học bổng của từng trường.Bạn không thể copy hồ sơ bạn gửi cho các học bổng chính phủ để gửi cho các họcbổng của trường được, vì mỗi loại có những yêu cầu khác nhau. Bạn cũng cần sửdụng các kinh nghiệm bản thân cho phù hợp với từng loại học bổng.

 

Đối vớihọc bổng Lãnh đạo trẻ (trường đại học Indiana, Hoa Kỳ), một trong những yêu cầucủa học bổng này là bạn có kinh nghiệm làm việc trong các cơ quan nhà nước tốithiểu 12 tháng, còn đối với học bổng ngành tài chính của trường đại học Leeds,Vương Quốc Anh, thì họ lại chỉ mong muốn bạn là công dân Việt Nam và có thànhtích xuất sắc trong học tập và công việc. Vậy bạn biết mình phải lựa chọn nhưthế nào chưa?

 

Điểm thi IELTS, TOEFL, SAT, GMAT, GRE

 

Các bàithi chuẩn hóa có thể coi là điều kiện nhất thiết cần để xin được học bổng. Khácvới điểm GPA (trung bình học tập) là tùy thuộc vào chương trình đào tạo củatừng quốc gia (ví dụ thang điểm Việt Nam là 10, thang điểm Mỹ là 4), thì cácbài thi tiếng Anh như IELTS, TOEFL, hay bài thi tư duy như SAT, GMAT, GRE đềuđã được chuẩn hóa để đánh giá trình độ của học sinh khắp nơi trên thế giới, vìthế bạn không thể viện cớ bạn ở Việt Nam nên điểm IELTS, TOEFL hay GMAT thấpđược.

 

Do đó, đểcó thể cộng thêm một điểm vào hồ sơ xin học bổng, bạn cần phải có các điểm bàithi chuẩn hóa này càng cao càng tôt. Và sẽ thật khó để thuyết phục người kháccho bạn học bổng nếu bạn chỉ có IELTS 5.0.

 

Hoạt động ngoại khóa

 

Học sinh,sinh viên Việt Nam ta rất thông minh và nhanh nhạy, vì thế sau rất nhiều nămkinh nghiệm xin học bổng, giờ đây các diễn đàn và trang mạng đều có một lờikhuyên sắt đá cho các bạn muốn xin học bổng là cần phải có thật nhiều hoạt độngngoại khóa.

 

Nhưng sựthật thì không hoàn như vậy. Những người xét duyệt học bổng muốn bạn tham giacác hoạt động ngoại khóa để bạn phát huy được các tố chất cá nhân của mình, vàđể họ có thể phát hiện ra một tiềm năng nào đó của bạn. Bạn ghi ra quá nhiềuhoạt động, người ta sẽ không thể biết bạn thực sự muốn làm gì, hay bạn chỉ muốnlàm cho vui và đẹp hồ sơ thôi.

 

Một bạnhọc sinh trong hồ sơ học bổng của mình đã liệt kê 12 công việc khác nhau màmình đã làm, nhưng không thể mô tả chi tiết một công việc nào. Một bạn học sinhkhác chỉ có duy nhất một hoạt động ngoại khóa, nhưng có thể kể chi tiết từngquy trình, từng vấn đề gặp phải và từng bài học rút ra. Theo bạn, ai sẽ chiếnthắng?

 

Thư giới thiệu

 

Kinhnghiệm cuối cùng để bạn có thể tạo được đột phá trong hồ sơ của mình chính làthư giới thiệu. Lựa chọn ai là người giới thiệu đặc biệt quan trọng, vì ngườiđó không chỉ là người có chức vụ cao, mà còn là người hiểu bạn. Đa số các họcbổng sẽ đều kiểm tra lại người giới thiệu bằng cách gọi điện thoại hoặc gửiemail, nếu người bạn chọn không hiểu và thân với bạn, họ sẽ không thể trả lờicác câu hỏi liên quan đến bạn được. Và đương nhiên bạn sẽ thất bại cho dù ngườigiới thiệu đó có là tổng giám đốc hay hiệu trưởng của bạn.

 

Cuối cùng,cho dù bạn đã hội tụ rất nhiều yếu tố, thì may mắn cũng là một phần không thểthiếu trong việc xin học bổng. Bạn hãy coi việc xin học bổng như một trò cácược, và khi bạn chiến thắng, bạn sẽ hả hê vô cùng! Còn khi bạn thất bại, hãycứ mỉm cười và tiếp tục con đường du học bằng học bổng “butachi”, vì phía trướccòn vô cùng nhiều cơ hội để bạn khẳng định mình! Chúc bạn luôn thành công!

 

Tác giả: Lê Thị Xuân, Huddersfield University, UK

GMAT là gì? Kinh nghiệm thi GMAT?

GMAT là gì? Điều gì khiến hơn 5,800 chương trình cao học về quản trị hoặc kinh doanh trên toàn thế giới sử dụng GMAT như một yêu cầu đầu vào. Các thông tin bổ ích dưới đây sẽ giúp bạn tìm hiểu về GMAT và kinh nghiệm thi GMAT.

GMAT là gì?

GMAT (Graduate Management Admission Test) là kỳ thi đánh giá tiêu chuẩn trình độ và khả năng của sinh viên nộp đơn vào chương trình học cao cấp về kinh doanh và quản trị (Management). Cụ thể là đánh giá các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, toán định lượng, viết luận phân tích mà bạn có được trong quá trình học tập và làm việc. GMAT không đánh giá kiến thức của bạn về kinh doanh, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng ở bất kỳ lĩnh vực cụ thể nào. Kỳ thi này được tiến hành quanh năm, thực hiện thi trên máy tính tại hơn 550 trung tâm khảo thí trên thế giới.

 

Ai cần thi GMAT?

Các sinh viên nộp đơn xin học các chương trình cao học về quản trị hoặc kinh doanh trên khắp thế giới. Ở Mỹ hầu hết các chương trình cao học về quản trị kinh doanh đều yêu cầu sinh viên có điểm GMAT. Hơn 5,800 chương trình cao học về kinh doanh trên toàn thế giới cũng sử dụng điểm này như một yêu cầu đầu vào tối thiểu.

Du học sinh đăng ký thi GMAT ở đâu? Lệ phí thi GMAT là bao nhiêu?

Sinh viên nên vào website www.mba.com để tìm trung tâm tổ chức thi gần bạn nhất. Nếu bạn muốn làm bài test ở một nước khác, thì bạn cần có hộ chiếu còn thời hạn. Lệ phí thi được áp dụng trên toàn thế giới là 250 USD.

Thi GMAT bao lâu thì có kết quả?

Ngay sau khi hoàn thành các phần Verbal (Ngôn ngữ), Quantitative (Toán định lượng), bạn sẽ biết kết quả ngay. Nhưng điểm chính thức sẽ được gửi cho bạn trong vòng 20 ngày kể từ ngày thi. Khi đăng ký thi, bạn đăng ký mã trường mà bạn định nộp hồ sơ xin học, trung tâm sẽ gửi trực tiếp điểm thi cho bạn và những nơi mà bạn đã đăng ký (tối đa 5 trường), nếu muốn gửi nhiều hơn 5 trường thì bạn sẽ cần phải trả thêm phí.

Cần chuẩn bị những gì cho kỳ thi GMAT?

Hội đồng thi GMAT (Graduate Management Admission Council) cung cấp phần mềm luyện thi miễn phí và các tài liệu (có mất phí) cũng như những hướng dẫn chuẩn bị cho kỳ thi. Hầu hết sinh viên muốn thi GMAT sẽ chuẩn bị trước từ 3-6 tháng. Bạn nên nghĩ làm thế nào để chuẩn bị tốt nhất, đưa ra các nguyên tắc, động lực và lựa chọn cá nhân.

Làm thế nào để có tài liệu hướng dẫn ôn thi GMAT?

Sau khi đã hiểu kĩ GMAT là gì, bạn có thể vào trang web www.mba.com để đăng ký tài khoản, sau đó sẽ được phép download phần hướng dẫn ôn thi (GMATPrep). Phần mềm này bao gồm 2 bài thi hoàn chỉnh, được xây dựng dựa trên những câu hỏi của các kỳ thi trước. Nếu bạn đã đăng ký ngày thi, bạn có thể yêu cầu cung cấp cho bạn đĩa CD có chứa các bài thi này.

Khi đi thi GMAT cần mang những gì?

Bạn cần có 1 ảnh thẻ chụp gần đây nhất và 1 loại giấy tờ tùy thân (CMND, hộ chiếu, thẻ quân nhân hoặc bằng lái xe)

Bài thi GMAT bao gồm những gì?

Bài thi GMAT gồm 4 phần: Analytical Writing Assessment, Intergrated Reasoning, Quantitative và Verbal. Tổng thời gian là 3h30 phút.

  • Phần Analytical Writing Assessment: 30 phút, gồm 1 topic. Đánh giá khả năng phân tích phê bình.
  • Phần Intergrated Reasoning: 30 phút, gồm 12 câu hỏi về: Lý luận đa nguồn, Giải thích đồ họa, Phân tích 2 phần, Phân tích bảng.
  • Phần Quantitative: 75 phút, gồm 37 câu hỏi. Đánh giá khả năng toán, kỹ năng lý luận định lượng, giải lượng tính và số liệu ký đồ.
  • Phần Verbal: 75 phút, gồm 41 câu hỏi. Đánh giá kỹ năng đọc hiểu tài liệu, đánh giá và sửa lỗi văn bản cho đúng với tiêu chuẩn Anh ngữ và ý nghĩa của bài viết.

Kinh nghiệm làm bài thi GMAT

Vì bài thi GMAT được tính theo giờ, nên bạn cần phải chú ý đến thời gian.  Không tập trung quá lâu vào câu hỏi nào, cần bố trí thời gian hợp lý để trả lời tất cả các câu hỏi vì bạn rất có thể bị phạt nếu có những câu hỏi không trả lời sau khi xong mỗi phần. Trường hợp bạn không làm xong bài thi, bạn vẫn có điểm nếu bạn tiếp tục làm hết từng phần của bài thi.

Trong khi làm phần Verbal (Ngôn ngữ) và Quantitative (Toán định lượng), bạn có thể sử dụng công cụ Trợ giúp (Help) bất kỳ lúc nào trong khi làm bài. Nhưng thời gian sử dụng công cụ Trợ giúp cũng sẽ bị tính giờ cho phần thi đó. Do vậy, bạn phải hết sức chú ý.
Đọc cẩn thận từng câu hỏi và chọn câu trả lời đúng nhất. Nếu không biết câu trả lời, bạn hãy cố gắng sử dụng phương pháp loại trừ để loại bỏ câu trả lời mà bạn biết chắc là không chính xác, sau đó áp dụng khả năng suy đoán. Khi đã chọn “xác nhận” thì bạn không thể bỏ qua hay thay đổi các câu đã trả lời.

Hội đồng thi Graduate Management Admission Council có bán các tài liệu ôn tập và luyện thi sau đây: The Official Guide for GMAT® Review, 12th Edition; The Official Guide for GMAT® Quantitative Review, Second Edition; The Official Guide for GMAT® Verbal Review, Second Edition; và GMAT® Paper Tests, là một bộ bài thi trên bản in không còn sử dụng nữa, tải được từ trang mạng. Khi đăng ký vào trang mba.com , bạn cũng sẽ có thể tải về các phần mềm GMATPrep miễn phí, mô phỏng kỳ thi thực tế.

Thí sinh phải có kỹ năng tối thiểu về máy tính để thi GMAT. Khi cảm thấy thoải mái với con chuột và bàn phím thông thường, bạn sẽ bớt được phần nào lo lắng về bài thi. Phần mềm GMATPrep có cả hướng dẫn về những kỹ năng này. Xin lưu ý rằng bài thi GMAT được thực hiện hoàn toàn bằng tiếng Anh. Tất cả các hướng dẫn được cung cấp bằng tiếng Anh, và tất cả các câu trả lời phải được nhập bằng cách sử dụng các ký tự tiếng Anh chuẩn.

Du học bằng niềm tin

 

1.“Nhà em không có điều kiện, học lực em chỉ thuộc dạng khá, em có tham gia hoạt động ngoại khóa nhưng không nhiều, nhưng em tin em sẽ đi du học được. Anh chỉ cách cho em được không ạ?”Đó là câu hỏi mà các bạn trẻ hay inbox hỏi tôi dạo gần đây. Tôi rất thường muốn viết những điều có thể truyền cảm hứng cho các bạn trẻ để các bạn cố gắng, nhưng trước khi làm điều đó, hãy để tôi đính chính lại một điều để các bạn rõ ngay và luôn: ngay cả con em nhà có điều kiện, học lực giỏi, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa đôi khi cũng rất khó được nhận vào các trường ĐH Mỹ, đặc biệt là các trường top đầu.Điều đó có nghĩa là, khi gia đình bạn không có điều kiện, học lực và hoạt động ngoại khóa chỉ tàm tạm, bạn tuyệt đối không thể du học chỉ bằng niềm tin và mơ ước.

2.“Nếu vậy”, có lẽ các bạn đang tự hỏi, “tại sao trên báo luôn có nhiều câu chuyện nghèo, tự ti, vượt khó, gia đình không điều kiện được mưa học bổng từ các ĐH Mỹ?” Hay nói một cách khác, chắc các bạn đang phân vân những cái tên như Tôn Hà Anh, Đỗ Liên Quang, hay Châu Thanh Vũ,… làm sao mà đến được vị trí hiện tại?Câu trả lời khá đơn giản: đằng sau cơn “mưa học bổng” và các bảng thành tích mà các bạn đọc được trên mặt báo là rất nhiều cố gắng trong suốt một thời gian dài mà có lẽ vài trăm chữ trên báo không thể nào nói hết được. Do đó, khi mặt báo đang tràn ngập các câu chuyện thành công về “thanh niên vượt khó học giỏi,” những câu chuyện ấy vô hình dung đang phản tác dụng, khiến các bạn tin rằng du học rất dễ, và chỉ cần tự tin là đủ.Đây là một suy nghĩ hết sức nguy hiểm.Nếu ai cũng có thể du học với học bổng toàn phần chỉ bằng niềm tin, thì nước Việt Nam này đã có hàng triệu du học sinh rồi! Sự thật là chỉ một vài người thực sự đạt được mục đích du học cho thấy rằng có hàng triệu người mơ ước, nhưng chỉ có một vài người biến ước mơ thành hiện thực.Riêng tôi, tôi biến giấc mơ du học của mình thành hiện thực bằng cách luôn tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn, có thể đạt được trước mắt thay vì mơ ước viễn vông xa vời; không quá tự tin vào bản thân, và luôn biết mình đang ở đâu.


3. Mơ ước du học đầu tiên của tôi là khi còn là học sinh tiểu học. Lúc đó, bố bảo tôi rằng “nhà mình không có điều kiện nên nếu con muốn du học, con phải tự lo kiếm học bổng.” Gần 10 năm sau đó, tôi gác lại ước mơ du học để tập trung vào các mục tiêu gần, thực tế với mình hơn.Tôi học cấp 2 ở tỉnh Ninh Thuận. Năm lớp 6, tôi tham gia hội chữ thập đỏ ở địa phương vì bạn bè tôi rủ, và vì họ dạy mật mã Morse và Semaphore – 2 thứ mã tôi rất say mê. Tôi tham gia thi cờ vua cấp trường và cấp thành phố dù chỉ là dân không chuyên, ở nhà đánh cờ không lại hàng xóm. Tôi thức đêm viết hàng chục trang dự thi nhiều cuộc thi lớn nhỏ như “An toàn giao thông,” “Học tập tấm gương Hồ Chí Minh,” “Viết thư UPU,” “English and Me,” etc.Hồi đó tôi tham gia nhiều cuộc thi như thế có vì chuẩn bị cho du học đâu. Đơn giản chỉ là những cuộc thi đó là những cái đích nhỏ, gần, và dễ đạt của tôi. Và đến khi tôi viết đơn xin học bổng du học thì những cuộc thi này đã không còn đủ ý nghĩa để tôi có thể tự tin viết vào đơn nữa, nhưng phải công nhận rằng nếu tôi đã không đi những bước nhỏ trước thì đã không bao giờ đi những bước xa hơn.Những cuộc thi nhỏ này đã rèn luyện cho tôi khả năng tập trung suy nghĩ dưới áp lực của thời gian, khả năng viết lách, kinh nghiệm thức trắng đêm để cố làm hoàn hảo một bài dự thi, tinh thần đầu tư 100% công sức để làm điều mình ưa thích, và hàng tá kĩ năng khác mà đã giúp ích tôi phần nào trong các cuộc thi sau này (thi vào chuyên tin Năng Khiếu, thi HSG quốc gia, viết luận xin học bổng, phỏng vấn học bổng UWC, vân vân). Có thể bạn không tin, nhưng đối với tôi, tôi luôn tin rằng mình đã lớn lên một ít từ việc tham gia những thứ nhỏ nhặt nhất trong đời.Do đó, nếu bạn đang kiếm đường đi du học vì bạn đang cảm thấy bế tắc, hay chán ghét giáo dục Việt Nam, hay vừa thi trượt đại học,… thì bạn hãy đầu hàng ý tưởng đó và làm chuyện khác thiết thực hơn. Đó là vì du học không phải là một giải pháp tạm thời để bạn vượt qua bế tắc, càng không phải thứ bạn có thể đạt được trong một hai ngày hay một hai năm. Ngược lại, du học là thành quả của sự không ngừng trau dồi bản thân, không ngừng học tập từ những cái nhỏ nhất qua một thời gian dài.

4. Nếu bạn đã bao giờ có suy nghĩ “dù khó, tôi tự tin tôi chắc chắn sẽ làm được,” tôi nghĩ bạn nên đi chậm và suy nghĩ lại về sự tự tin của mình.Có lẽ mỗi người có suy nghĩ khác nhau, nhưng bản thân tôi chưa bao giờ dám nghĩ rằng mình sẽ làm được điều gì đó 100%. Khi bạn tự tin đến thế, tôi nghĩ nhiều khả năng bạn đang đánh giá quá cao khả năng của bản thân, hoặc đang đánh giá quá thấp những khó khăn mà bạn đang đối mặt, hoặc cả hai.Hãy nhớ rằng đối với bất cứ ai, tự tin là một điểm mạnh, còn tự tin thái quá lại là một điểm yếu.

5. Lần tới khi bạn đọc báo về một câu chuyện học sinh Việt Nam được nhiều học bổng, hãy đừng đọc xem học bổng trị giá bao nhiêu tiền, hay người học sinh ấy đạt được những thành tích nào. Hãy cố đọc xem họ đã từng trải qua những khó khăn gì, và họ đã làm gì để vượt qua những khó khăn ấy. Nếu một bài báo không viết về những điều này, bài báo ấy chỉ đang được viết bởi những phóng viên đời cũ muốn trang trí bài bằng những thông tin hào nhoáng mà thôi.Cuối cùng, cho những bạn đang định đi du học chỉ bằng niềm tin: các bạn hãy dừng lại đi. Hãy ngồi xuống và nghĩ thiết thực hơn: gia cảnh khó khăn và học lực không giỏi sẽ có nghĩa là xuất phát điểm của bạn thấp hơn bình thường. Điều này có nghĩa là bạn sẽ phải cố gắng rất nhiều lần để đạt được mục tiêu du học của mình. Hãy tự hỏi, (1) bạn cần bao nhiêu thời gian, và (2) bạn có đủ kiên nhẫn và ý chí để đi quãng đường dài đó không. Nhớ là, hãy đừng tự tin thái quá.

Tác giả: Chau Thanh Vu

Ma trận các dạng học bổng – cách nhận biết và lựa chọn

Ý tưởng “du học” xuất hiện trong đầu. Sau đó là quyết tâm đi du học nhưng vì cò không tiến nên quyết tâm tiếp theo là xin “học bổng” Bắt đầu mở Google ra để tìm hiểu, gõ những từ khóa đầu tiên và CHOÁNG… + VÁNG… Nghe quen không? ***What the hell! Sao phức tạp thế :(Mình đảm bảo là có rất nhiều bạn rơi vào tình trạng trên. Nhìn cái mớ hỗn độn của kết quả trên mạng mà lạc lối, ko biết bắt đầu từ nơi đâu ^^! Để giúp các bạn đỡ choáng, cần hiểu rõ “học bổng” là cái gì vì nó có vô vàn loại trong khi bạn chỉ đủ sức để nộp những dạng phù hợp với bản thân thôi (trừ trường hợp thiên tài cứ nộp là trúng và nộp đâu trúng đó thì ko nói làm gì nhé).Nếu bạn đã đọc post “Các bước chuẩn bị apply học bổng” của mình thì cái post này sẽ khớp vào bước số 2 “xác định sở thích và tìm học bổng phù hợp”.Hiểu nôm na thì có “học bổng” là khi có một mạnh thường quân nào đó (kể cả bố mẹ, họ hàng) chi trả tiền cho bạn đi học. Khác với mọi người, theo ngu ý của mình thì “du học tự túc” là khi và chỉ khi bạn dùng tiền của chính bản thân mình để học, dù là lao động cật lực, tích cóp trước khi đi học hay vừa học vừa làm.

Mình rất phục những người “du học tự túc” kiểu này, nhiều khi phục hơn cả những bạn xin được học bổng (dạng không phải trợ giúp từ người thân^^!).
Mặc dù lan man vậy nhưng tóm lại dưới đây mình chỉ đề cập đến cái dạng “học bổng” từ “người lạ” nhé!

I/ Phân loại theo cách cho (vay) tiền Viện trợ không hoàn lại và không điều kiện:

Dạng học bổng đáng mơ ước nhất! Rất đơn giản, bạn nhận tiền, bạn tiêu tiền, học xong thì làm gì mặc bạn. Ko có ràng buộc là phải quay trở về nước, phải làm trả nợ cho xyz. Học bổng nổi tiếng nhất dạng này là Erasmus Mundus, Endeavour và các học bổng trường.Viện trợ không hoàn lại nhưng có điều kiện ràng buộc: Cũng tương tự dạng trên, chỉ khác là thường yêu cầu quay trở lại nước ít nhất 2 năm, tiếp tục làm việc cho công ty/tổ chức xyz mà bạn đang làm trước khi đi học tối thiểu thêm 2 năm nữa v.v.v Học bổng dạng này thường là học bổng của chính phủ, dạng ngoại giao như Fulbright, VEF, AAS (hay ADS cũ), NFP…Vay và phải trả: Loại này là đau lòng nhất đây. Sướng trước khổ sau^^. Cơ bản là cầm tiền đi học rồi sau đó phải trả lại một phần (phù) hoặc toàn phần (oops) dưới nhiều hình thức khác nhau: làm việc tại nước đó (ô cũng hay), trả góp bằng tiền (oops)… Cái này thường được gọi là study loan hơn là scholarship, mặc dù vẫn có chỗ nhập nhằng gọi scholarship. Mỹ có rất nhiều cái dạng study loan và Singapore thì có học bổng kiểu cho vay và “bắt” ở lại làm việc trả nợ.
Vậy bạn thích vay rồi trả (nhỡ đâu có bạn thích được bắt ở lại làm việc ở 1 nước nào đó ^^!) hay là cầm tiền đi học với 1 số ràng buộc hay là tiền phải có mà tự do cũng cần luôn???

II/ Phân loại theo mức cho (vay) tiền

Cái này thì dễ hiểu rồi mặc dù nó cũng muôn hình vạn trạng.Chỉ tài trợ học phí với các mức 25%, 50%, 75%, 100%. Sinh hoạt phí phải tự túc.
Nếu bạn xác định không có khả năng “với” tới học bổng toàn phần, dạng học bổng này không hề tệ, nhất là nếu học ở những nước có sinh hoạt phí rẻ (Đông Âu, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…) hoặc nhiều chính sách hỗ trợ sinh viên (Pháp, Đức…)
Chỉ tài trợ sinh hoạt phí. Tại 1 số nước mà học phí được miễn (Na Uy, Phần Lan, 1 số bang của Đức…) thì được tài trợ sinh hoạt phí nữa sẽ gần như ngang với có học bổng toàn phần (kém phần vé máy bay, bảo hiểm thôi)Tài trợ tất tần tật hay là học bổng toàn phần; thì như tên gọi, học phí có người trả, thuê nhà cũng có người trả, ăn cũng được trả luôn, bay đi bay về được bao, bảo hiểm được đóng. Nói chung là vô cùng sung sướng Dĩ nhiên họ (người trả tiền) cũng tính cả nên sẽ không cho quá nhiều, các học bổng ở Châu Âu cho sinh hoạt phí 1 tháng khoảng từ 800 – 1200 euro. Không đủ để sống vương giả, nhưng thừa đủ để sống như 1 sinh viên “đích thực” và thỉnh thoảng đi du lịch!!!

III/ Phân loại theo mục đích của người chi tiền! (liên quan đến cơ cấu xét tuyển luôn)

Có 2 dạng chính, 1) tìm người tài hay học bổng dạng merit-based và 2) học bổng ngoại giao, trợ giúp phát triển, đào tạo/nâng cao năng lực cán bộ. Mình không nói dạng 2 là tuyển người không có tài đi mà vấn đề là cái người có tài đó phải đáp ứng được yêu cầu ngoại giao, trợ giúp… bla bla đã nêu ở trên!Học bổng tài năng/học bổng merit-based/học bổng tìm người tài (lắm tật^^!)Nguồn? Từ trường là đa số (hầu như trường nào cũng có nhé, chỉ có số lượng là nhiều hay ít thôi), từ chính phủ (khá hiếm), từ các tổ chức khác…Đặc điểm cơ bản? Xét hồ sơ, cho điểm, lấy từ cao xuống thấp. Ứng viên có thể thuộc bất kỳ ngành nào (hoặc 1 ngành cụ thể nào đó), từ bất kỳ nước nào (thực ra đa phần là từ các nước đang phát triển), làm ở đâu không quan trọng (tư nhân, nhà nước ok cả), thường không ràng buộc sau tốt nghiệp (viện trợ không hoàn lại và không điều kiện ^^)
Nói tóm lại cứ có tài là được!!! Đây là học bổng phù hợp cho các bạn làm ở khối tư nhân (thường rất khó xin học bổng dạng 2) hoặc làm trong các ngành ít được ưu tiên cho học bổng chính phủ (ưu tiên = khoa học cơ bản, y công cộng, xã hội, môi trường …)
Ví dụ? Erasmus Mundus của LM Châu Âu, Endeavour của Chính phủ Úc, học bổng Clarendon của Oxford, IPRS (International Postgraduate Research Scholarships) của Úc, OFID scholarship (học bổng từ tổ chức OFID hay OPEC Fund for International Development), Leiden University Excellence Scholarship programme (học bổng của trường Leiden ở Hà Lan………..Link đến list 25 học bổng dạng merit-based nổi tiếng nhấtHọc bổng ngoại giao, trợ giúp phát triển, đào tạo/nâng cao năng lực cán bộNguồn? Đa phần là từ chính phủ, 1 số từ các tổ chức hoạt động trong development sector (World Bank, Asian Development Bạnk – ADB) – cái này thì chỉ các bạn học khối ngành xã hội/phát triển mới biết.Đặc điểm cơ bản + ví dụ đại diện? Bạn phải đáp ứng được 1 số điều kiện tiên quyết (là mục tiêu chính của học bổng) trước khi xét đến cái đoạn có tài hay không! Ví dụ:
Là công dân 1 nước abc nào đó: yêu cầu cơ bản của các học bổng ngoại giao song phương. Ví dụ: học bổng song phương Việt Bỉ BTC, học bổng AAS (tên cũ là ADS) của Úc
Học bổng mà có quota riêng cho 1 nước nào đó (năm 20xx, AAS dành 150 suất học bổng Master cho Việt Nam) thì chắc chắn là học bổng ngoại giao!

Làm trong khối nhà nước: yêu cầu của vô số học bổng chính phủ với mục đích nâng cao năng lực cán bộ cho nước đối tác (ngoại giao). Ví dụ: học bổng Chevening của Anh, AAS của Úc, NFP của Hà Lan…
Làm trong 1 số ngành xyz gì đó (mà ngành đó đang được cần đào tạo thêm cán bộ). Ví dụ: VEF của Mỹ (cho công dân Việt Nam làm trong các ngành khoa học cơ bản toán lý hóa tin và y công cộng), SI của Thụy Điển, NFP (Netherlands Fellowship Program) của Hà Lan (cho khối ngành lâm/nông nghiệp, nước/thủy lợi, food security)…

Vậy là các bạn làm trong khối nhà nước, NGO và học 1 số ngành đặc biệt sẽ có lợi thế ở nhóm học bổng này. Và đã có lợi thế thì chả tội gì mà không nộp và xếp thứ hạng ưu tiên cao hơn để đầu tư thời gian/công sức!
Vậy đó, cũng không quá phức tạp, chỉ có vài dạng học bổng cơ bản thế thôi! Việc tiếp theo là xác định loại nào phù hợp với điều kiện (tài chính, ngành học, lực học) của bản thân để theo đuổi, “đeo bám” nữa thôi.Good luck everybody!—
There is no shame in falling down
The shame is not standing up again!

Tác giả: 5continents4oceans

Hướng dẫn apply vào trường đại học Mỹ từ A-Z

Tác giả: Lê Hoàng Nam
Cuộc sống đại học đầy súc vật khiến bây giờ mình mới có thời gian ngồi viết cái này. Có thể hơi muộn đối với 1518, nhưng với những khóa sau thì mình tin rằng những gì mình viết dưới đây sẽ rất có ích cho các em trước và trong quá trình apply. Trước khi đọc cái này, hãy đảm bảo bạn biết trong quá trình apply có những phần nào yếu tố nào, vì mình sẽ không liệt kê các bước với các loại bài thi các loại giấy tờ ra rồi giải trình quá trình app ở đây đâu ạ.

Mình cũng muốn nói luôn là nếu ai đó muốn hỏi mình cái gì về quá trình app thì hoàn toàn có thể ib, nhưng ít nhất hãy tìm hiểu trước xem trong quá trình này có những cái gì. Chứ ib rồi hỏi mình được “học bổng bao nhiêu %” là mình ghét đó.

Why study in the US?
Đầu tiên, mình muốn nói về mục đích của một bộ hồ sơ apply. Mục đích của nó là để phản ánh học sinh trên nhiều mặt (học tập, HĐNK, xã hội, cá nhân, sáng tạo,…) để qua đó xác định xem học sinh có phù hợp với trường hay không (Laura Clark, cựu nhân viên tuyển sinh tại Princeton, giám đốc tư vấn tuyển sinh tại Ethical Fieldston Culture School).
Trước khi mình đi vào nói về các phần trong quá trình app và bộ hồ sơ, mình muốn nhấn mạnh rằng đây là một quá trình đánh giá đa chiều. Nói cách khác, không một yếu tố nào có khả năng một mình quyết định bạn được nhận hay không. Nên là điểm SAT có kém thì cũng đừng có đến mức tuyệt vọng.
A. Thi chứng chỉ:
  1. IETLS/TOEFL:
Vai trò của IELTS và TOEFL được nói rất rõ trên gần như tất cả các websites trường mình lên: Proof of English Proficiency. Nói cách khác, nó chỉ có vai trò đảm bảo là sang đó bạn giao tiếp được với người ta và chấm hết. Điểm IELTS/TOEFL cao không thể gia tăng khả năng được nhận. Nó chỉ mang tính chất là điều kiện cần thôi. Ví dụ, nếu trên website trường nói là học sinh của họ thường được 100 TOEFL chẳng hạn, thì khi họ nhìn điểm TOEFL họ sẽ chỉ nhìn xem có mấy chữ số, và kết thúc ở đó. 101 và 111 chả khác gì nhau cả.
IELTS và TOEFL là English Proficiency Tests, tức là nó đánh giá khả năng sử dụng tiếng Anh của bạn. Mình rất không thích khái niệm “đi học TOEFL” hay “đi học IELTS” vì tất cả những thứ được đánh giá đều là kĩ năng. Học nghe là học cái mẹ gì? Vểnh tai lên mà nghe chứ có gì mà phải học. Thế nên, cách duy nhất và lí do duy nhất bạn có thể tiến bộ là do làm nhiều. Liên tục sử dụng tiếng Anh ở trong các ngữ cảnh khác nhau để làm quen với nó. Khi bạn đã thật sự thoải mái với cái ngôn ngữ rồi thì nói về thứ bạn thích trong vòng 45s chỉ như một cuộc nói chuyện thường ngày. Hơn nữa, khái niệm “đi học TOEFL” hay “đi học IELTS” còn khiến bạn học với tâm lý beat the test. Do đó, khả năng tiếng anh thật sự của bạn sẽ khó tiến bộ hơn vì bạn đã giới hạn sự tiến bộ của mình vào trong bài thi. Nói đơn giản là, nếu như bài đọc IELTS bạn đọc được mà bài đọc bình thường thì không, thì điều đó chả có ý nghĩa gì cả. Nói tóm lại, IELTS và TOEFL là cái tự học.
Vậy tự học như thế nào? Cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đều được xây dựng trên nền tảng ngữ pháp, nên điều quan trọng nhất là hãy đảm bảo ngữ pháp tiếng Anh của bạn chắc chắn. Nếu ngữ pháp chắc thì khi nghe bạn có thể nghe được cấu trúc câu và thì động từ được sử dụng, và như thế việc nghe hiểu sẽ dễ dàng hơn là đôi khi bắt được từ này từ kia mà không nghe được cấu trúc chung; khi đọc bạn có thể phân tích một câu rất phức tạp nhiều mệnh đề ra rõ ràng chủ vị chính ở đâu, mệnh đề nào bổ nghĩa cho cái gì, khiến việc đọc mượt hơn rất nhiều; khi viết thì rõ ràng là cần ngữ pháp rồi không phải giải thích; và khi nói thì bạn linh hoạt hơn rất nhiều trong cách sử dụng ngôn ngữ, và mình nghĩ rằng khi bạn có thể nói mà đúng ngữ pháp, bạn đã thật sự nắm rất chắc ngữ pháp rồi đó vì điều này yêu cầu xử lí ngữ pháp một cách tức thời và liên tục trong giao tiếp. Nói tóm lại, học ngữ pháp trước khi định đến TOEFL/IELTS hay bất kì loại chứng chỉ nào khác.
Có lẽ phần writing sẽ là cái mà mọi người lo nhất nếu như mọi người tự học như mình nói, và nỗi lo này hoàn toàn chính đáng. Với TOEFL, mình xin nói thẳng luôn writing TOEFL bạn chẳng cần cái gì ngoài việc đúng ngữ pháp cả. Template TOEFL rất đơn giản, đừng sai ngữ pháp và đừng dùng lặp từ/cấu trúc và 30/30 hoàn toàn trong tầm tay. IETLS writing thì khó hơn vì nó hàn lâm hơn và yêu cầu khả năng phân tích và phản biện ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, mọi thứ cũng sẽ rất dễ dàng khi bạn chắc ngữ pháp, và cá nhân mình thấy việc đi học viết IETLS cũng không cần thiết cho lắm vì ở nhiều nơi bạn sẽ dành tầm nửa khóa làm những tờ bài tập dạy bạn cách dùng however với therefore và những thứ tương tự. Template của IELTS hoàn toàn có thể tìm được trên mạng. Đọc vài bài mẫu và ghép chúng lại với nhau tự tạo template riêng của mình. Viết nhiều và nhờ ai đó đọc và sửa. Nếu bạn đã chắc ngữ pháp thì hoàn toàn có thể inbox mình, viết vài bài theo yêu cầu mình đưa ra, và mình có thể dạy bạn cách viết task 2 IELTS khá ổn chỉ trong một buổi tối (về lý thuyết là thế, nhưng thực ra sẽ là vài ngày vì mình cũng phải làm bài tập của mình huhu). Task 1 thì mechanical và analytical hơn, như kiểu đọc biểu đồ địa lý ý. Tập nhiều là ổn.
2. SAT (mình không thi ACT nên mình sẽ không đề cập đến nó):
Ở đây mình sẽ bàn đến reading là chính, vì mình không thi SAT mới nên mình không biết essay SAT mới như thế nào. Mình sẽ không bàn đến phần Toán vì là những Bsians chính hiệu tất cả chúng ta chỉ cần làm nhiều cho quen đề, chứ kiến thức thì không có gì quá tầm cả.
Vì một số lí do nhất định, hồi trước mình đã ngồi phân tích và giải thích key tầm gần 100 bài đọc SAT mới, nên mình nghĩ mình có thể bàn về nó. Điều đầu tiên là again, đây là đọc. Chúi mắt vào mà đọc chứ chả ai dạy được cả. Nên là làm nhiều vào nếu thấy mình kém.
Còn về cách làm bài đọc thì theo kinh nghiệm của mình thì thời gian đọc hiểu là chính trả lời câu hỏi là phụ. Hiểu rồi thì trả lời câu hỏi nhanh như bay. Lúc đọc thì xác định ý chính cả bài và ý chính từng đoạn là gì. Nhiều người không thích bị cái giọng đọc trong đầu nhưng mình nghĩ cái đó tốt vì khi làm thế có thể nhận ra tone và thái độ của tác giả luôn. Vừa đọc vừa phân tích trong đầu kiểu tác dụng của ví dụ này là gì thái độ câu này là gì. Lưu ý là mọi chi tiết đều dùng để làm rõ ý tác giả trong đoạn hoặc cả bài. Để ý những cái transitions. Một điều rất quan trọng mà mình để ý là reading SAT thì bất kể câu hỏi về ý chính hay về một chi tiết cụ thể thì đáp án cũng luôn hướng về main idea/main argument của cả bài hoặc đoạn. Nên là nghĩ rộng ra and look at the overall context.
Về cách học thì đương nhiên là làm hết đề thật trước. Tuy nhiên, vì đây là đọc, sát đề thật hay không cũng không quan trọng lắm trong quá trình luyện. Kiểu, lúc luyện bạn quen làm đề khó thì lúc làm đề thật dễ hơn thì mọi thứ sẽ suôn sẻ hơn rất nhiều. Cá nhân mình thấy reading SAT cũ khó hơn hẳn SAT mới, nên sau khi làm hết đề thật SAT mới có thể tìm đề SAT cũ làm để luyện. Và again, điều quan trọng nhất là: LÀM NHIỀU VÀO.
Mình định nói về SAT II nhưng mình thi mỗi Toán với Văn. Toán thì như đã nói chúng ta là Bsians chúng ta chỉ cần làm nhiều còn kiến thức hoàn toàn trong tầm. Văn thì về cơ bản chỉ là reading ở mức độ khó hơn rất nhiều và yêu cầu làm nhiều làm đi làm lại để tiến bộ.
B. “Học app”:
Học app là học cái mẹ gì? Quá trình app có gì cần học? GPA thì ở trên lớp, thi chứng chỉ đã nói ở trên, thông tin cá nhân về gia đình bản thân HĐNK trên CommonApp tự biết tự điền, thông tin tài chính chỉ quanh quẩn ISFAA, CSS, (2 cái y hệt nhau điền xong một cái chỉ việc ngồi chép sang cái còn lại), COF (1 phiên bản rút gọn của 2 cái kia). Nhờ bố mẹ đi lấy bank statements, employer’s statements hay bất kì giấy tờ gì chứng minh thu nhập và tài sản của gia đình và cứ thế điền vào ISFAA/CSS với scan rồi nộp cho trường. Ngồi một buổi tối với bố mẹ là xong hết. Vậy có gì cần giúp?
Essays.
Essays có 2 vai trò. 1 là để đánh giá khả năng viết của bạn. 2 là để tìm hiểu bạn trên những phương diện khác mà đống điểm chác hay cái list HĐNK không thể truyền tải. Thế nên, quyền hạn của 1 counselor đối với essays của học sinh là như sau (Do mình tổng hợp từ các email với các application counselors và admission officers ở Mỹ):
  1. Grammar check.
  2. Proofreading.
  3. Cutting (đây là mức độ edit trực tiếp lớn nhất mà một counselor được phép làm)
  4. Ngồi nói chuyện tìm hiểu và cãi nhau với học sinh để tìm hiểu và cùng nhau đưa ra những hướng tiếp cận và xử lí bài luận.
Vậy, một counselor tốt là một người không đi qua giới hạn trên, và làm được điều thứ 4 một cách kiên nhẫn, cầu tiến và năng suất. Cái này yêu cầu individual attention cực cao, thế nên mình không ủng hộ các trung tâm mà 1 counselor gánh quá nhiều học sinh (trên 10 là có vấn đề rồi).
Học app không hề rẻ, và trước khi nói gì tiếp thì mình nói thẳng luôn là mình chỉ ủng hộ duy nhất một trung tâm, và mình không khuyến khích việc học app. Đương nhiên mình sẽ không công khai nói đó là trung tâm nào ở đây. Nếu ai muốn biết có thể ib mình trực tiếp để hỏi. Các trung tâm còn lại thì hoặc là vì mình biết quá ít để có thể đưa ra nhận định, hoặc là mình thật sự phản đối.
Bản chất của trung tâm là một doanh nghiệp. Họ làm tiền từ việc giáo dục, và cân bằng giữa 2 cái này không phải dễ. Và rất nhiều khi, trung tâm đặt lợi nhuận lên trên lợi ích học sinh qua những hành động như ép học sinh app trường rank cao để PR, ép tăng mức contri, yêu cầu tài khoản và mật khẩu CommonApp để đôi khi vào nghịch, bẻ essays đi một tẹo hoặc nhiều tẹo,… Không chỉ vậy, rất nhiều trung tâm không dành thời gian tìm hiểu học sinh, thế nên những bài luận viết ra rất nông cạn. Mình nói thẳng luôn là trung tâm viết chưa chắc hay hơn học sinh. Mình đã đọc một essay có vẻ như là final draft của một người qua 1 trung tâm nhất định, và nó hoàn toàn nông cạn chẳng có một tí chất nào. Với tư cách người đọc, mình không thấy ấn tượng chút nào với người viết ra bài luận đó, và mình thấy bực với việc trung tâm có thể để cho người này submit bài này cho các trường. Mình sẽ nói sâu hơn về essays ở phần sau.
Vậy nên tìm kiếm thông tin và giúp đỡ ở đâu? Ôi mình thề mình đéo thể nào hiểu được tại sao ai cũng đến trung tâm với hội thảo các trung tâm để tìm hiểu, trong khi có con mẹ nó một cái TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO DỤC CỦA ĐẠI SỨ QUÁN MỸ được đặt trong Đại sứ quán Mỹ ở Ngọc Khánh, Giảng Võ. Cái nguồn khách quan và updated nhất thì không đến lại cứ đến cái chỗ con mẹ nào? Tên nó là EducationUSA: https://vn.usembassy.gov/education-… . Và trước khi ai đó thắc mắc gì thì mình hoàn toàn không được lợi gì từ việc PR cho EducationUSA, bởi vì đây là tổ chức phi lợi nhuận. Cũng chính vì là tổ chức phi lợi nhuận, mà họ giúp bạn app MIỄN PHÍ. Vâng miễn phí đó ạ! Họ tuân thủ đúng mọi quy tắc đạo đức hành nghề đặt ra bởi Bộ Ngoại giao Mỹ, và là nguồn thông tin khách quan, đầy đủ, updated nhất về các trường đại học Mỹ. Không chỉ vậy, cái thư viện của họ cũng cực kì nhiều tài liệu để bạn có thể ôn thi hay tìm hiểu các thứ.
C. Chọn trường:
Cho mình tầm 30p và mình có thể mổ xẻ và thuyết phục bạn tại sao US News’ College Rankings là một thứ chủ quan, thiên vị nhà giàu và nhiều khi rất vô lí với những tác động rất tiêu cực lên cách các trường đại học hoạt động. Tuy nhiên ở đây mình sẽ không làm điều đó, ai muốn nghe có thể ib mình.
Yếu tố phù hợp là rất quan trọng trong quá trình chọn trường. Mấy cái bạn có thể nghĩ là không quan trọng có khi lại có ảnh hưởng rất lớn. Ví dụ như bạn có thể nghĩ khí hậu không quan trọng lắm vì bạn có thể thích nghi, nhưng đến lúc bạn hắt hơi vì lạnh tụt l quanh năm suốt tháng thì bạn đéo có học hành gì nữa đâu mình thề luôn. Nên để chọn trường, đầu tiên hãy xác định những tiêu chí của bản thân, ví dụ như:
  1. NU hay LAC?
  2. Thành thị to to hay khỉ ho cò gáy?
  3. Nóng hay lạnh?
  4. Coed hay single-sex?
  5. Đông người Việt hay ít người Việt?
  6. Một số môn học hay ngành bạn muốn trường có?
  7. Double major không?
  8. Có cơ hội hay cơ sở vật chất cụ thể nào bạn muốn trường có (co-op, internship, study abroad,…)?
  9. Gần ai đó không?
…… Và rất nhiều thứ khác tùy theo nhu cầu cá nhân của mỗi người.
Điều quan trọng nhất là xác định cho bản thân một tư tưởng giáo dục. Bạn muốn nền giáo dục của mình tập trung vào cái gì? Vào việc học để đi làm kiếm tiền hay học vì học? Hãy xác định một tư tưởng giáo dục cho riêng mình, và đọc nghĩ kĩ về cái mission statement với vision trên website các trường. Điều này rất quan trọng vì cuộc sống đại học khá là vất, thế nên bạn cần phải yêu thích việc học của mình để có thể kéo bản thân qua những sự vất đó. Cho đến giờ mình thấy rất intellectually engaged với những gì mình đã và đang được học và đọc, dù mình ở đây mới được có một tuần.
Điều đó dẫn đến ý tiếp theo của mình: Mổ xẻ lật tung cày nát cái website trường ra, xem nó có thỏa mãn những cái nhu cầu của bạn hay không. Nói cách khác, lục tung cái website để xem bạn có phù hợp với chỗ đó hay không.
Again, “the fit” là một điều rất quan trọng, vì bạn sẽ rất khổ sở ở một nơi không phù hợp với mình. Không chỉ vậy, các trường khi chọn học sinh họ chọn những người họ thấy phù hợp nhất, những người mà có tiềm năng phát triển nhiều nhất ở trường của họ, thế nên việc bạn phù hợp với một trường và thể hiện được điều đó trong hồ sơ rất có lợi cho bạn trong quá trình app.
D. Phản đối US News Rankings hay PR cho Bennington College?
Ở đây mình sẽ không mổ xẻ US News như mình đã hứa ở trên, mà mình muốn nói về trường của mình, Bennington College, được xếp hạng 87 bởi US News trên bảng xếp hạng LACs. Từ khi đến đây, học ở đây 1 tuần, mình đã thấy được rất nhiều về giá trị của nơi này mà trước đây mình chưa hề biết đến.
Đầu tiên là những thứ mà có thể tìm hiểu được trên website. Hệ thống giáo dục của Bennington dựa trên 2 cột trụ chính: The Plan và Field Work Term.
  1. The Plan: Ở Bennington không có major. Trường mình có một đống areas of study, nhưng không có major. Học sinh không declare major của mình, mà nó là một quá trình. Khi ra trường sẽ nhận bằng Bachelor of Arts. The Plan Process là bạn sẽ tự chọn ra những gì mình muốn học, tự xây dựng quá trình học của mình trong suốt 4 năm để phù hợp nhất đối với những mong muốn và dự định của bản thân. Không có core curriculum, không có môn gi bắt buộc cả. Chẳng ai bắt bạn phải học hay làm gì cả, chỉ là bạn có dám học hay làm hay không thôi. Đây là điều rất quan trọng với mình khi đưa ra quyết định chọn Bennington: Tự do và tự chủ. Mức độ tự do của Bennington vượt lên trên mọi trường mình đã tìm hiểu, những nơi mà khoe về tự do trên websites nhưng vẫn giới hạn nó với những thứ như core curriculum hay một số khóa nhất định phải học để đạt major requirements. Sự tự do ở Bennington thể hiện dưới rất nhiều dạng, như việc reading room ở thư viện mở 24/7, hay việc học sinh có thể mượn chìa khóa vào các nơi như computer lab để có thể ngồi làm projects thâu đêm suốt sáng,… Mình cũng muốn nói là với mình tự do là điều rất quan trọng, thế nên mình thấy Bennington hợp với mình. Nếu bạn không muốn sự tự do mà, arguably, có thể hơi quá đà như vậy, thì Bennington có lẽ không dành cho bạn. Cách xây dựng The Plan đương nhiên không đơn giản như việc chỉ học mọi thứ bạn muốn. Xuyên suốt 4 năm bạn sẽ phải xây dựng và cải thiện Plan của mình liên tục, và phải thuyết trình và cãi nhau với 1 committee gồm 3 faculty advisors để bảo vệ/điều chỉnh Plan của mình. Như vậy, bạn có thể xây dựng được một kế hoạch thật sự fulfilling mà không thiếu phần challenging chút nào cả, và quan trọng hơn là bạn đảm bảo được là Plan của mình không như l và khi ra trường mình sẽ thật sự đã học được gì đó.
  2. Field Work Term (FWT): Tự do vãi l thế kia thì nhỡ đâu tốt nghiệp lại toàn học những cái ở đẩu ở đâu không dùng được trong thế giới đi làm thì sao? FWT là một điều duy nhất Bennington có. FWT không phải kì học, mà là kì làm. Học sinh bắt buộc apply đi làm ở bất kì đâu trên thế giới trong vòng 7 tuần trong năm học từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 2. Bất kì đâu, miễn là được nhận. Điều này cho phép học sinh có kinh nghiệm đi làm, học những kĩ năng trong thế giới đi làm, và đưa những kiến thức mình đã học vào thực tiễn. Nó còn giúp học sinh khám phá những lĩnh vực mới một cách thật và trực tiếp nhất. Không chỉ vậy, đây còn là cơ hội cực tốt để xây dựng mạng lưới quan hệ mà sẽ rất có lợi khi bạn tốt nghiệp và phải đi kiếm việc.
Sự kết hợp của The Plan và FWT cho học sinh một mức độ tự do cực lớn, nhưng cũng cho học sinh cơ hội để tự đánh giá những quyết định bản thân đưa ra với cái sự tự do đó. Họ trao cho bạn tự do và trao cho bạn khả năng để điều chỉnh mức độ tự do mình muốn thay vì bị cuốn đi. Họ không giới hạn tự do của bạn, mà để cho bạn tự làm điều đó nếu bạn thấy cần thiết. Đây là một sự kết hợp mà mình thấy rất tinh tế, vì việc trao quyền chủ động vào tay học sinh như vậy thật sự khiến học sinh phải có trách nhiệm với những quyết định của mình: Bạn có tự do quyết định, và bạn có trách nhiệm phải chịu những hậu quả do quyết định mình đưa ra. Đương nhiên, hậu quả ấy sẽ chỉ kéo dài 7 tuần, và trải nghiệm đó sẽ khiến bạn nghĩ lại về những quyết định của bản thân và điều chỉnh một cách hợp lí và cân bằng nhất. Những bài học ấy sẽ rất quan trọng sau khi tốt nghiệp, khi mà bạn thật sự tự chủ tự quyết và những quyết định của bạn có thể theo bạn cả đời.
Sự kết hợp này cũng là một sự đảm bảo rằng học sinh vừa học những gì mình muốn và vừa sẵn sàng cho thế giới sau tốt nghiệp (vì đôi khi những gì mình thích không phải là các ngành đang hot trong thị trường việc làm). Nó vừa tự do vừa đảm bảo, và điều tinh tế nhất đó là cả 2 mặt đó đều do bạn quyết định, chứ không ai khác.
Bây giờ đến những điều mà mình nhận thấy sau 1 tuần học. Từ khi thành lập, Bennington đã luôn là một trường rất progressive và rất đa dạng. Đọc commencement statement trên website là thấy. Phải tầm một nửa trường là LGBTQ+. Những nước mình chưa hề nghe tên đều có người ở đây. Tuy nhiên, trái với khái niệm diversity ở nhiều nơi, Bennington tiếp cận khái niệm này một cách rất khác.
Diversity agenda là cái mà các chiến binh công lý xã hội dựa vào để đưa mọi thứ lên một tầm cao mới. Khi mình mới gặp roommate, roommate (một người da đen) hỏi: “How’s your English?” Ở nhiều nơi, câu hỏi này sẽ được coi là microaggression, một khái niệm rất gây tranh cãi. Tuy nhiên, mình biết roommate không có ý xúc phạm mình hay phân biệt, mà đơn giản là nó không biết. Nó sống ở Mỹ còn mình ở Việt Nam. Làm sao nó biết được ở Việt Nam học sinh phải học tiếng Anh từ lớp 3? Diversity agenda là cái thứ mà các social justice warriors dựa vào để phê phán sự cultural ignorance như vậy và condemn nó as hatred, một điều mà thật sự rất vô lí và cực đoan.
Bài đọc đầu tiên của mình là một bài đọc cho First-year Forum với faculty advisor để hướng dẫn học sinh qua hệ thống giáo dục ở Bennington. Bài đọc đó về total institutions, những nơi mà có một tập thể gần như là cố định sinh hoạt cùng nhau cả ngày trong một thời gian dài. Những nơi như nhà tù, bệnh viện tâm thần, trại tập trung,… Lúc đầu, mình không hiểu mục đích cho lắm, nhưng rồi mình bật ra: “She probably wants us to compare a college campus, particularly Bennington, with a total institution.” Và đấy đúng là điều cô ý làm. Cô ý còn yêu cầu bọn mình phân loại các “wardens” trong “asylum” này và mối quan hệ của họ với “inmates”. Điều mình muốn nói là, cô ý đang khuyến khích bọn mình nhìn nơi này đa chiều hơn, như kiểu cô ý muốn nói “You chose this place, so I assume you must like it. But here, this place has its bad sides, and it may not be all that you think.”
Assignment thứ 2 của cô ý là muốn mình ngồi trong nhà ăn và ghi chú xem mọi người xung quanh làm gì, nói về cái gì, ngồi ở đâu với ai như thế nào. Điều này nói rất nhiều bởi nó cho thấy xã hội và cộng đồng ở đây được xây dựng và hoạt động như thế nào. Người như thế nào thì ngồi một mình? Khi ngồi một mình thì họ ngồi ở đâu? Người như thế nào thì ngồi theo nhóm? Và ở đâu? Lúc nào vắng lúc nào đông? Tóm lại, cô ý một lần nữa muốn bọn mình tìm hiểu thêm về cộng đồng này, về có thể thấy được những kiểu người nhất định, và có thể có một số kiểu có nhiều bạn bè hơn những kiểu khác.
Một lớp khác của mình cũng có một bài đọc mà trong đó tác giả ủng hộ việc miêu tả chân thực không giấu giếm không nói giảm nói tránh bạo lực để thật sự hiểu được nó, chứ không nên cấm kị điều đó. Vì có như thế thì mới giải quyết được bạo lực.
Cái điều mình muốn nói ở đây là trong 1 tuần qua, mình đã được khuyến khích đi tìm sự thật thông qua các bài đọc và bài tập. Mình hơi không muốn dùng từ “sự thật” vì sự thật và thực tại thay đổi liên tục và phụ thuộc vào góc nhìn, nhưng mình không tìm ra từ nào khác. Điều này liên quan mật thiết đến cái diversity agenda mình nói ở trên: They don’t play social justice here. Như việc mình với roommate: Mình khác nó và nó khác mình. Đó là sự thật. Không hiểu nhau là điều hoàn toàn dễ hiểu. Bennington hiểu rằng những sự thật đó cần được phơi bày và cần được hiểu trước khi công lý xã hội có thể trở nên hiệu quả. Thế nên ở đây, trong một bài báo mình đã đọc về Bennington, sự tự do được nâng lên một tầm mới: “Students can say whatever they want.” Và chính sự authentic freedom of expression đó khiến mọi người chọn từ ngữ cẩn thận hơn rất nhiều, vì nó khiến họ hiểu rằng có những sự khác biệt giữa mọi người với nhau, và tất cả đều hiểu rằng họ cần hiểu những những sự khác biệt đó trước bất cứ điều gì khác.
Sự tự do ở Bennington, dù có vẻ hơi quá đà, nhưng chính sự quá đà ấy lại giải quyết những vấn đề mà bản thân nó có thể gây ra. Chính vì những lí do này mà mình tin rằng Bennington thật sự là một hidden gem mà khó có thể thấy được trên bảng xếp hạng của US News, và mình chân thành khuyên và khuyến khích mọi người khi chọn trường hãy thật sự nghiên cứu và tìm hiểu trường, bởi lẽ một con số trên US News không thể nào phản ánh được tất cả các mặt của một ngôi trường.
E. Hoạt động ngoại khóa:
Hoạt động ngoại khóa có một số vai trò như sau. 1 là nó cho trường biết bạn thích gì, đam mê gì, quan tâm gì. 2 là nó cho trường biết bạn cống hiến bản thân đến đâu cho sở thích, đam mê, mối quan tâm đó. Thế nên, một danh sách hoạt động ngoại khóa có chất lượng là một danh sách thể hiện được những sở thích, đam mê, mối quan tâm và sự cống hiến của bạn dành cho chúng. Mình biết trên CommonApp có 10 dòng điền HĐNK, và điều này khiến học sinh cảm thấy áp lực phải điền hết, nhưng áp lực đó là một tưởng tượng.
Khi chọn học sinh, trường không muốn một học sinh toàn diện, mà họ muốn một khóa toàn diện, thế nên họ muốn mỗi học sinh có mặt mạnh khác nhau. Có người hát hay có người đá bóng giỏi, có người hoạt động xã hội có người bú mình trong phòng thí nghiệm,… Thế nên, một danh sách HĐNK mà bạn làm mọi thứ đi khắp nơi không phải là một danh sách tốt.
Thứ 1, HĐNK là tất cả những gì bạn làm ngoài phòng học. Viết blog, chơi guitar, đạp xe 10km chăm sóc cho người bà bị ốm hàng ngày,… Tất cả những cái đó là hoạt động ngoại khóa, chứ không chỉ những hoạt động hay sự kiện hay cuộc thi được tổ chức bởi một đơn vị nào đó. À đó, nhân tiện nói luôn là: Bỏ ngay cái tư tưởng tham gia HĐNK vì cert đi nhé. Mình không hô hào về sự nông cạn của việc này đâu, mà mình sẽ nói thẳng cho bạn về mặt thực tế là gửi cert cho trường là trường ghét cho đó nó đéo nhận đâu.
Thứ 2, chất lượng hơn số lượng. 3 năm gắn bó và cống hiến cho một tổ chức về môi trường tốt hơn là đi khắp một đống tổ chức về môi trường nhưng mỗi cái không quá được 1 năm.
Thứ 3, HĐNK ngoại khóa ấn tượng nhất khi bạn viết được hay về nó, và bạn chỉ có thể viết hay nếu như bạn thật sự yêu thích và thật sự đắm mình vào cái trải nghiệm đó để thật sự hiểu những bài học mình đã rút ra. Mình sẽ nói sâu hơn về việc viết ở phần sau. Ở đây, cái mình muốn nói là: Lãnh đạo hay không, có đi rừng núi hẻo lánh hay không quan trọng bằng việc có hiểu và trân trọng cái mình đang làm hay không.
F. Lãnh đạo:
Đây là một khái niệm rất được trọng vọng trong mắt nhiều học sinh khi apply. Mình thừa nhận, xã hội và giáo dục Mỹ rất coi trọng việc lãnh đạo, nhưng trong quá trình quyết định nhận hay loại thì khái niệm này hơi khác với cách hiểu thông thường của nhiều học sinh Việt Nam. Định nghĩa chính xác có 2 phần:
  • Lãnh đạo không phải là thành lập một tổ chức, làm (phó) tịch của một câu lạc bộ hay sáng lập một dự án.
  • Lãnh đạo là tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng xung quanh.
Điều quan trọng cần hiểu rằng, khi các trường nói rằng họ muốn tìm lãnh đạo, họ muốn tìm người khi tốt nghiệp có tố chất làm lãnh đạo, chứ không phải một người có một danh sách các chức danh. Vậy thì, để sau khi tốt nghiệp trở thành lãnh đạo cần có cái gì? 2 thứ: kĩ năng lãnh đạo – cái mà trường sẽ dạy bạn trong 4 năm, và một ước muốn thay đổi cộng đồng – cái mà trường muốn thấy trong hồ sơ.
Nói rộng ra, trường muốn thấy một đam mê từ phía bạn. Bạn có thể là một người chơi piano xuất sắc và về sau có thể bạn sẽ soạn ra những bản nhạc mang tính quyết định thời đại, nhưng ở tuổi 16 17 khi bạn vẫn đang hoàn thiện kĩ năng chơi piano của mình, việc bạn lãnh đạo một cái gì đó thật sự hơi không cần thiết.
G. Essays:
Mình sẽ copy lại cái vai trò của essays xuống đây. Essays có 2 vai trò. 1 là để đánh giá khả năng viết của bạn. 2 là để tìm hiểu bạn trên những phương diện khác mà đống điểm chác hay cái list HĐNK không thể truyền tải.
Một essay hay là một essay có chất. Một essay có chất là khi bạn thật sự hiểu mình đang viết cái gì, và vì bạn đang viết về bản thân, nó yêu cầu bạn hiểu bản thân và những trải nghiệm của bản thân. Thế nên mình mới nói một counselor thật sự kiên nhẫn và cố gắng tìm hiểu bạn là rất quan trọng, để từ đó bạn có thể đặt ra những câu hỏi từ từng bản draft bạn viết ra, qua đó cải thiện chiều sâu và cái chất của bài essay.
Sáng tạo? Đừng có cố phải viết ra cái gì mới lạ để wow người ta. Người ta đọc essays từ khắp nơi trên thế giới trong rất nhiều năm rồi, chả có gì người ta chưa đọc đâu, nên bạn không có cửa làm người ta bất ngờ đâu. Cố quá thành quá cố đó. Cái mình muốn nói về việc sáng tạo là ý tưởng nào cũng có thể viết được, miễn là bạn đủ hiểu nó, và tìm ra đúng cách để thể hiện nó. Hồi mình viết PS, mỗi lần viết mình thử đi thử lại những format những structure những phong cách viết khác nhau để xem cái nào phù hợp và hiệu quả nhất. Mình bị chị app dập liên tục trong khoảng 2 tháng, mỗi lần bị dập là mình xóa đi viết cái mới. Cho đến khi 2 tuần trước deadline 1/11 mình tìm ra được format hiệu quả (dù tận 1000 từ) và cũng là lần đầu chị ý nói đọc bài thấy thích. 1 tuần sau đó mình có PS chính thức hoàn chỉnh.
Một câu hỏi mình hay được nhận là có nên điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp với hình mẫu trường muốn không. Câu trả lời là không. Và mình sẽ không hô hào rằng bạn muốn được nhận vì chính con người mình hay blablabla,… mà mình sẽ trả lời một cách thực tế hơn. Mỗi trường đều có cái gọi là institutional need. Tức là họ muốn một khóa và một môi trường đa dạng, nên mỗi lúc họ muốn một kiểu học sinh. Hôm nay họ muốn thằng bú mình trong phòng nghiên cứu, ngày mai muốn con nhà thơ, ngày kia muốn thằng lập trình, ngày kìa muốn con hoạt động xã hội,… Cái institutional need này thay đổi liên tục và bạn không thể nào biết được lúc nào trường muốn học sinh kiểu gì. Thế nên cơ hội tốt nhất của bạn là phản ánh chân thực bản thân mình và mong rằng trường đang tìm kiếm một người như mình.
Không có công thức nào để viết essay hay đâu nha. Nếu bạn thật sự hiểu mình đang viết cái gì thì tự khắc nó sẽ hay thôi.
H. Những nguồn giúp đỡ:
EducationUSA là nguồn miễn phí và chính xác nhất bạn có thể kiếm được ở Việt Nam. Bên cạnh đó, hãy hỏi những người khóa trên đi trước, vì họ là một trong những người duy nhất không có động cơ cá nhân để trục lợi từ việc giúp đỡ bạn.
Và sau khi viết ra cái note dài vcl này, để thật sự take it all the way, thì mình muốn đưa bản thân ra giúp đỡ khóa sau. Trừ essay SAT mới với ACT ra nhé, còn lại essay IELTS, TOEFL, hay PS và supps, mình luôn sẵn sàng đọc và nhận xét (dù có thể không phải ngay lập tức). Nếu muốn và sẵn sàng chia sẻ bạn có thể ib mình và mình sẽ đọc và rep ngay khi có thể.
Không chỉ vậy, nếu cho đến bây giờ 1518 có ai không có ai giúp xuyên suốt cả quá trình thì có thể tìm đến mình. Cả các khóa sau 1518 nữa mình sẵn sàng giúp đỡ các khóa sau trong quá trình apply này. Đương nhiên là mình nghĩ các bạn nên đến EducationUSA trước, nhưng mình cũng lo là như vậy sẽ đặt gánh nặng lên vai những chuyên viên ở đó, nên nếu ai muốn mình giúp thì luôn có thể inbox và mình sẽ giúp hết sức có thể.
I. Vài lời cuối:
Quá trình apply đi Mỹ ở Việt Nam hiện giờ như một chiến trường và một cuộc đua, nhưng nó không cần thiết phải như vậy. Mọi người tập trung quá nhiều vào việc so đo mình với người khác trong khi quá trình này là về bản thân bạn, là về tìm được nơi phù hợp với bản thân bạn. Những quan niệm sai lầm về HĐNK, lãnh đạo, essays hay sự thần thánh hóa US News College Rankings khiến cho mọi người tự hại mình theo rất nhiều cách khác nhau. Và trên hết, nhiều người không có được nguồn giúp đỡ tử tế. Cho đến giờ mình đã dành tới 4h đồng hồ để viết ra cái note này với mục tiêu giải quyết phần nào những vấn đề đó. Nếu đọc được xin hãy share để cái note này có thể đến được với các khóa sau nữa mà mình không hề quen biết, nhưng có thể sẽ rất cần được đọc những gì mình viết ở đây.
Chúc 1518 một mùa app may mắn. Và từ 1619, mình mong là với cái note này, các em sẽ sẵn sàng hơn và vững tâm hơn cho những gì phía trước.

Hồ sơ du học – sai lầm nhỏ, hậu quả lớn

Một mùa apply mới lại đến, mở đầu bằng siêu học bổng phức tạp + cạnh tranh Erasmus Mundus. Hành trang mà mỗi “chiến binh” cần trang bị cho mình trong cuộc chiến săn học bổng đơn giản gói gọn vào 2 thứ: tinh thần và hồ sơ xin học.


***
Một bộ hồ sơ là tất cả những gì bạn có thể làm để “chào bán” bản thân đối với các trường đại học và ban xét duyệt học bổng. Thành hay bại đa phần từ nó mà ra và đôi khi chỉ một sai lầm nhỏ khi chuẩn bị có thể dẫn đến cay đắng rất lớn.
Hãy cùng điểm qua một số câu chuyện thực tế xoay quanh việc chuẩn bị và nộp hồ sơ để rút ra kinh nghiệm nhé.

Chuyện số 1:
Hồi còn la liếm trên ttvnol (tức là thớt học bổng nào cũng có mặt ý), mình để ý thấy có 1 số bạn không apply SI (học bổng của Thụy Điển) hoặc các học bổng trường của Úc với cùng 1 lý do là “phải nộp phí”. Đúng là số tiền không nhỏ, ~9triệu với SI (không hoàn lại dù kết quả thế nào) và 100-150 AUD đối với các trường ở Úc (hoàn lại nếu được học bổng). NHƯNG không lớn đến mức bỏ qua cả 1 cơ hội! Mình cho rằng suy nghĩ như thế là thiển cận. Có câu “bỏ con săn sắt bắt con cá rô”. Người ta cấp học bổng cả mấy chục ngàn euro, bạn bỏ ra vài trăm để nộp hồ sơ, quá rẻ nếu bạn được học bổng và cũng không quá đắt để “mua” 1 kinh nghiệm để đời dù bạn có chót trượt học bổng đó.
Kinh nghiệm rút ra: Đừng bỏ qua các loại học bổng bắt nộp phí xét tuyển! (nhưng cũng đừng có nhầm với cúng tiền cho các công ty tư vấn du học với lời hứa hẹn xin được học bổng đó nha).

Chuyện số 2:
Lại cũng bạn SI, nhưng có thể suy chung ra cho các loại học bổng bắt nộp hồ sơ qua đương bưu điện (vâng, mặc dù chúng ta đang sống trong thời đại số, mọi thứ đều online, vẫn có nơi đòi hỏi tréo nghoe thế đấy). Ngắn gọn là thế này: nộp hồ sơ (gửi chuyển phát ở bưu điện) khi hạn chót nộp đã cận kề –> hồ sơ thiếu 1 thứ giấy tờ nho nhỏ gì đó –> bị yêu cầu bổ sung –> phải gửi chuyển phát nhanh tốn rất nhiều tiền HOẶC lỡ mất cơ hội nộp học bổng. Dù là kết quả nào thì cũng đều chắc đẹp đẽ gì và hoàn toàn có thể tránh được.
Kinh nghiệm rút ra: Đối với các học bổng phải nộp hồ sơ giấy (không online), đừng bao giờ chờ đến sát hạn chót mới nộp.

Chuyện số 3:
Có kha khá học bổng yêu cầu phải xin giấy nhập học của trường trước, ví dụ như Chevening (Anh), EBF (Groningen, Hà Lan), SI (Thụy Điển), Endeavour (Úc) etc. Trường xét thì nhanh, các học bổng mới có quá trình xét lâu. Trường cũng cho nộp hồ sơ từ rất sớm và nộp lúc nào cũng được không như học bổng chỉ cho nộp trong 1 khoảng thời gian nhất định (1-2 tháng). Sai lầm khi chỉ xin giấy nhập học 1-2 tháng trước hạn chót của học bổng. Sẽ muộn và mất cơ hội (hoặc lợi thế) nộp học bổng nếu như không nhận được giấy nhập học đúng hạn, hoặc trường yêu cầu bổ sung giấy tờ etc.
Kinh nghiệm rút ra: (cũng giống như điểm 2) Xin giấy nhập học càng sớm càng tốt (>3 tháng trước hạn nộp học bổng), VÀ tránh các giai đoạn cao điểm (giai đoạn trường nghỉ giáng sinh cuối tháng 12, đầu tháng 1; lễ phục sinh vào tháng 4; nhiều hồ sơ như tháng 7, 8).

Chuyện số 4:
Thiếu cẩn thận khi làm hồ sơ nhiều khi là một lỗi chết người. Mình ngồi cùng phòng với ông tuyển sinh khóa thạc sĩ. Ổng rất hay đọc trích đoạn SoP của sinh viên lên và bình luận. Có lần thấy ổng đọc lên câu này từ SoP của ai đó “I am confident that I deserved to receive the xyz scholarship from you…” rồi ổng tiếp luôn “but you are applying for the master program in our institute… no sorry you do not deserve anything!”. Đó, khi mà ai đó phải đọc cả trăm cái hồ sơ, họ trở nên vô cùng nhạy cảm với những tiểu tiết nhỏ nhặt 😉
Kinh nghiệm rút ra: Kiểm tra, kiểm tra, kiểm tra kỹ tất cả các tình tiết trong hồ sơ của bạn, mọi thứ phải thật sự thống nhất từ CV, đến LoR, đến SoP. Đảm bảo tên trường, tên học bổng trùng khớp. Đảm bảo SoP viết đúng về cái ngành, trường đang xin. Râu ông nọ mà cắm cằm bà kia là thảm lắm đó 😀
Source: 5 continents 4 oceans

Mẫu thư từ chối offer – Tung Kelvin

TEMPLATE Kinh Điển
Dear Prof. XXX,

Sorry for my late reply to your offer letter of admission and financial support.

In cooperation with my teachers and my family, I carefully reviewed the gracious offer from you. Xxx is a famous university that we all admire, and I think your financial aid is sufficient enough for me to live an easy life in xxx. However, I regret to inform you that I can’t take this precious opportunity, because I have made my decision to accept another offer from a university. Hope my decision won’t cause too much trouble in your recruitment.

Additionally, I hope the admission office at your department could consider more applicants from Vietnam, especially those from Hanoi University of Technology. As far as I know, most of them are very talented and have strong research potential. Moreover, they are very fond of xxx.

Thank you again and wish you all the best in your work and life!

Regards,
xxx

TEMPLATE 1

Dear Prof. xxx:

Thank you very much for your kind reply. It’s my pleasure to hear
about this exciting news. I really believe the Ph.D. study in the
Department of Mechanical and Nuclear Engineering will be a matter
of extreme importance to my future academic career and I am also
confident that I will become a competent Ph.D. student in your
esteemed university. After carefully reviewing the web page about
you and your research activities for a long time, I found your
research activities really interestes me a lot. I am more than
happy to accept this offer. In fact, I declined an offer from another
university when I get this email message from you. However, before
I formally accept this offer of financial aid, I wish you could
extend the deadline for me for 2 weeks. I feel quite sorry and
nervous to pose you such a problem, but I sincerely wish you could
understand my feeling, because a professor of University of Michigan
told me that he would give me a final decision at that time, although
he can’t let me know how much my chance would be at this time.
Again, I should state that I do have strong interest in your graduate
program and I treat it a precious chance to join your research group.
I told you about all my situation because I don’t want to bring any
inconvenience to you later, if any. Sorry for this.
Thank you very much again. I am looking forward to your kind reply.

Sincerely,
XXX

TEMPLATE 2
Dear Prof. ***:

Thank you for your letter of Feb.28, in which you grant admission and
financial aid to me. I am sprry to inform you that I must decline your
gracious offer because, before receiving your letter, I had accepted a
similar offer of admission and financlal aid from another institution.

For this position, I can recommend Mr.*** who has applied to your deparnment.
In terms of scholastic capacity and work ability, he is also a strong
applicant. He, however, has not received notification of admission or
financial aid. I believe he will be delighted to accept your offer.

Please accept my deep appreciation for your very kind assistance to my
application.

Sincerely yours,
***

TEMPLATE 3
Dear Sir/Madam:
In cooperation with my advisor and classmates, I have completed
a review of your offer for admission to graduate study at the
University of XXXX.
I have carefully considered all of your admission materials,
and unfortunately your admission has not been accepted. Because
the resources provided by your offer is not sufficient to
accommodate the total demand for my graduate education, not
all of those who give me an offer can be accepted. There are
a great many excellent offers of admission & financial aids
come to me, and therefore the final decision was very difficult.

I sincerely regret that I am unable to accept your admission,
and hope that my decision will not dicourage you from offering
further academic education or professional development to
other students. Please accept my best wishes for success in
your future endeavors.

Sincerely yours,

TEMPLATE 4
Dear Dr. :

I have received letters of TA and chacellor fellowship offer from the
chair, and the I-20 form from graduate colledge. I got lots of help
from you during the whole process, Thank you very much.

However, I’m really sorry to tell you that I decided not to attend your
school. I have been hesitating among the 9 schools I received for a long
time, and it’s really hard to reach such a decision. My teachers and my
family were involved in the decision. I’m sorry I can’t inform you
earlier. I hope you can find another better student.

I enjoy our contacts and like your research very much. Also the
financial support from your school is fully adequate. You’re clearly an
outstanding advisor with bright future. It’s really a pity I can’t join
you this fall. May sometime in the future, we can meet in a meeting in
U.S.A.

My very best wishes to you.

Sincerely yours

TEMPLATE 5
Dear Prof. ***,

I have not contacted you for a long time. Because I am exhausted by
thinking over my application and camparing my offers with each other. I
was informed by another top University that I am awarded a RA(the stipend
is $17,460 per year and tuition waived). Because your
offer will give me a TA with waived tuition fee($1,425 per month for 9
months only if I get a mark more than 230 in TSE, otherwise, I can only
get $1,000 per month).

Some friends told me that it is almost impossible for a new Chinese
student to pass this test at the first year. It means I can only get
$9,000 first year. I think it may not cover my expense in OSU. So after
careful considerasion, I am very sorry to tell you that I am not able to
accept your offer, though I always regard your supervision as my first
choice and the key of my future achievement.

It is not easy for me to write this email. It was you who helped me
re-send my application stuff and get a special dealing, otherwise, I may
not get this offer from OSU. I really hope you will forgive me for
changing my mind, and I sincerely hope it will not cause too much
inconvenience to you. If I have the chance to meet you in US someday, I
will always regard you as my mentor.

It is hoped that this notification reach you early enough for a
rearrangement. Thank you again for all the assistance you have given to
me during my application.

Yours Sincerely,

TEMPLATE 6
Dear Prof. ***:

Thank you for your letter of Feb.28, in which you grant admission and
financial aid to me. I am sprry to inform you that I must decline your
gracious offer because, before receiving your letter, I had accepted a
similar offer of admission and financlal aid from another institution.

For this position, I can recommend Mr.*** who has applied to your deparnment.
In terms of scholastic capacity and work ability, he is also a strong
applicant. He, however, has not received notification of admission or
financial aid. I believe he will be delighted to accept your offer.

Please accept my deep appreciation for your very kind assistance to my
application.

Sincerely yours,
***

TEMPLATE 7
Dear Prof. ***:
With great regret I am afraid I will be unable to go to clemson this
fall. To tell the truth, I have another offer from Dept. of Chem. Eng of MSU
which has admitted me into their Ph.D program. This idea never comes to my
mind that I am admitted as a Master student, although I am very clear that
you will consider me as a Ph.d student and it is only based on the policy of
graduate school of clemson. But I am really worried that I will meet problems
when applying for the visa because I have heard many many examples in which
people fail to get their visa simply because they will pursue MS after they
have got MS in china. During these several days, I discussed this problem
with my parents, some teachers as well as some friends who ever experienced
this process. Most of them suggested that I choose MSU instead because it
would have not been a hinderance when applying for visa. I know it will cause
you inconvience because I change my mind, but I wish you could undstand my
delimma and forgive my behavior.
I really enjoy our contacts and like your research work very much. I even
declined the offer from uml three weeks ago since I think I definitely will
go to clemson at that time before I received the admission letter. Your are
clearly an outstanding advisor and your research work is very promising. It
is really a pity that I can not join you this fall. It is not easy for me to
write this email. It is you who give me so much help and suggestion on my
application and give me confidence in studying and conducting research in
USA. And I really very grateful to your help and consideration on my
application. If I have chance to meet you in USA, I will always regard you as
my mentor. I wish we could keep in touch in order that I could consult you
with academic problems after I go to USA.
Although it has been beyond Apr.15, I know the earlier I tell you my new
decision, the less trouble I cause to you. If necessary, I will forward you a
written letter to you asking for release of TA offer and also say sorry to
all the people who expeceted me. If you temporilly don’t have approprite
candidates for this TA offer, you may consider Mr. ***, who told me that he
also applied for clemson but for dept. of chem. eng. If you are interested in
his academic background and research experience, I may let him contact you
directly.
I sincerely applogize for any inconvenience that I bring you and deeply
regret that I am unable to join you this time. I believe that you could find
better student. Your kindness and enthusasim will be in my heart for ever.
Best regards

How to Write a Letter of Recommendation for Graduate School Admissions

How to Write a Letter of Recommendation for Graduate School Admissions

Indicate how long you have known the applicant and in what capacity. Graduate schools are primarily interested in recommendations that come from professors who know the applicant and his/her academic work as well as from employers. They are primarily interested in faculty members’ summary estimates of the candidate’s general promise as a graduate student. The more the recommendation reflects real knowledge of the applicant and his/her performance, the more useful the letter is to the graduate school admissions committees and thus to the applicant. The letter should address the following questions:

  • Intellectual characteristics: How do you rate the applicant in overall intelligence? How well does the applicant learn and retain information? What is your assessment of the applicant’s skill in analysis and logic? What is the applicant’s ability to deal with complex or abstract matters? Does the applicant show evidence of creativity? Has the applicant’s academic record been affected by special circumstances such as work, social or academic background?
  • Knowledge of field of study: What is the applicant’s depth and breadth of knowledge in the field? Does he/she know how to use the methods in the field of study or have the experience in research? Where applicable, does the applicant have the requisite laboratory techniques?
  • Ability to communicate: Is the applicant an effective writer? Does the written work submitted demonstrate a mastery of the convention of English? Is the written material clear, well-organized and forceful? Is the applicant articulate in oral expression?
  • Industry and self-discipline: To what extent is the applicant persistent, efficient and motivated? Is the applicant able to work independently? Is there any reason to doubt the applicant’s commitment to graduate study or diligence as a student?
  • Personal effectiveness: Does the applicant possess the qualities of maturity and personal adjustment requisite for graduate study? Would you choose the applicant for graduate study under your tutelage? Does the applicant enjoy the trust and respect of fellow students and peers?
  • Potential for graduate study: What is your prediction of the applicant’s probable performance in graduate school? Does he/she have any specialized skill or studies in the field? Does the applicant have an aptitude for the chosen field? How does this applicant rate with other candidates who have been evaluated?

Tips on Writing Letter of Recommendation

10 Tips for Recommenders to create an excellent letter

  1. Review a copy of the applicant’s personal statement or application essays so that your letter of recommendation can dovetail with–not conflict with or duplicate–the rest of the application.
  2. Ask the applicant to supply you with additional information like a résumé.
  3. Describe your qualifications for comparing the applicant to other applicants.

I have been teaching for twenty years and have advised approximately 450 students on independent research projects over the last five years.

I have personally supervised ten interns every summer for the last five years plus worked with over two hundred college graduates in my capacity as trainer for Big Bank Corp.

  1. Discuss how well you know the applicant.

I was able to get to know Mr. Doe because he made it a point to attend two of my sections every week when only one was required.

Ms. Smith reported directly to me for two years prior to her well-deserved promotion to the position of Senior in our Big Six Accounting Firm.

  1. Choose two to three qualities that you observed in the applicant.

Jane has a rare blend of top writing and interpersonal skills.

The combination of tenacity, analytical abilities, and good communications skills found in Mr. Doe is truly unique.

  1. In discussing those qualities, support your statements with specific instances in which he or she demonstrated those attributes. Be as concrete and detailed as possible.

He is the only student I ever had who came to all my office hours as part of a relentless, and ultimately successful, drive to master financial theory. He was one of just ten percent in the class to receive an A.

Because of Jane’s writing skills, I didn’t hesitate to ask her to write a report which was used by our PAC as the basis for a major policy statement. Congressman X eventually used the statement, based on Jane’s sophisticated 20-page analysis of Middle East politics, in lobbying for increased funding.

  1. Try to quantify the student’s strengths or rank him or her vis a vis other applicants that you have observed.

He was in the top 10% of his class.

She has the best analytical skills of any person her age that I have ever supervised.

  1. Avoid generalities and platitudes.
  2. Include some mild criticism, typically the flip-side of a strength.

The only fault I have encountered in him is his retiring nature. His modesty sometimes hides a young man of remarkable strength and broad interests.

Occasionally, her fortitude and persistence can turn into stubbornness, but usually her good nature and level-headedness prevail.

  1. Discuss the applicant’s potential in his or her chosen field.

I enthusiastically recommend Mr. Doe to your business school. This well-rounded student will be a fine businessperson.

With her exceptional leadership, writing, and quantitative skills, Ms. Smith will be an outstanding strategic consultant and a credit to the business school she attends.

[University Letter Head]
[Sender’s Name]
[Sender’s Address, Line 1]
[Sender’s Address, Line 2]
[Sender’s Phone Number]
[Sender’s Fax Number]
[Sender’s E-mail Address]

[Today’s Date]

[Recipient’s Name]
[Recipient’s Address, Line 1]
[Recipient’s Address, Line 2]

Dear [Recipient’s Name] or To Whom it May Concern,

It is my pleasure to recommend Jane Doe for admission to [name of program] at [name of university]. I am a fifth year Ph.D. student at the University of California, Berkeley. I came to know Jane when I was her Graduate Student Instructor for Philosophy 111: Ethical Relativism, taught by Professor John Doe. The course comprised [short description of course]. Jane distinguished herself by submitting an exceptionally well researched and interesting project on ethical practices in ancient Greece. I would rank her in the top 2% of students that I have taught in the past five years in respect of her writing ability and research skills.

Overall, Jane is highly intelligent and has good analytical skills. Her project on ethical practices in ancient Greece demonstrated her ability to come a detailed understanding of the ethical practices of another, very different culture, and to analyze the consequences of those practices for contemporary ethical theories. She gave a particularly interesting discussion of the difficult practice of infanticide, and showed both sensitivity and detachment when discussing its ethical consequences. Her overall intelligence is also reflected in her grades for the course, which were by far the best in the class.

Jane has excellent communication skills. Her written work is both clear and concise, and interesting to read. She demonstrated her oral articulateness in the discussion sections that were an integral part of the course. Each discussion section focused on a particular ethical dilemma. Students were required analyze morally problematic situations, and to develop and argue for their own ethical views with regard to the issue in question. Jane was highly proficient in applying the course material in analyzing the problem situations. She always explained her views very concisely and gave supporting arguments that were both clear and persuasive. Jane also demonstrated good team working skills in group assignments.

At a personal level, Jane is a well disciplined, industrious student with a pleasant personality. She went well beyond the course requirements in the quantity and quality of her project, putting in a lot of extra research and attending office hours every week. Throughout the course, Jane demonstrated great perseverance and initiative. She was not only interested in and motivated to learn the material, but put great work into assimilating it to her own experience and developing her own ideas about each ethical topic that we discussed.

Jane is unquestionably an exceptional candidate for graduate study in Ethics. Jane’s work in Philosophy 111 suggests that she would greatly benefit from the opportunities for intellectual development provided by a sustained period of graduate study. She has proven herself to have the perseverance and initiative, and the intellectual creativity necessary to complete an advanced graduate degree. I would therefore highly recommend Jane Doe. If her performance in my class is a good indication of how she would perform as a graduate student, she would be an extremely positive asset to your program.

If I can be of any further assistance, or provide you with any further information, please do not hesitate to contact me.

Yours Sincerely,

[Signature]
[Sender’s Name and Title]

General Outline of the Recommendation Letter

Recommendation letters are letters written by professors who know you, assessing you capacity to meet the requirements of a program you are applying for. They’re supposed to help decision-makers to get a better picture of your potential. Due to different reasons, if you are a student in Eastern Europe (including Russia) you will often find yourself in the position to write these letters yourself. The professor will, in this case, only proof-read and sign the text.

First Paragraph

Recommendation letter usually starts by stating the name of the professor who writes the letter and his/her title, together with the name of the student for whom the letter is written. The professor should also state since when has s/he known the students: year, class or other activity. It should in any case be clear that the professor had the opportunity to get to know the student well and assess his/her capabilities. If the person does research work under your guidance, indicate the type of research, the responsibilities of the student, and any significant projects undertaken by the individual. You may wish to include a sentence about the nature of your research group and its activities. Here, you can also give a one-sentence summary or overview of your opinion of the recommended individual.

Next 2-4 Paragraphs

The assessment of the student’s capabilities should be made from a multiple point of view over the next 3-4 paragraphs. From a professional point of view, it should give account of the student’s knowledge, interests and capabilities, activities and results, work capacity, etc. Personally, it should assess the student’s personal characteristics, character, social skills, his or her relations with the students and professors. Same as in other application documents, the direction should be from facts/experience to qualifications, and from those, to value judgments. Especially those skills relevant for the desired program should be outlined throughout the paper.

Concentrate on several different aspects of the person. Specifically identify his/her skills, attitudes, personal attributes, and growth, as well as his/her contributions to and performance within your organization. Also, if you do make negative comments, back them up with facts.

Beware of the power of words! Some words seem harmless in every day conversation, but carry positive or negative connotations to a prospective employer.
Avoid bland words such as:
nice, good, fairly, reasonable, decent, satisfactory, I hope, for sure
Use powerful words such as:
articulate, effective, sophisticated, intelligent, observant, significant, expressive, creative, efficient, cooperative, imaginative, assertive, dependable, mature, innovative

Some excellent points to address would be the following:
ability to communicate, intelligence, self-confidence, willingness to accept responsibility, initiative, leadership, energy level, imagination, flexibility, interpersonal skills, self-knowledge, ability to handle conflict, goal achievement, competitiveness, appropriate research skills, direction.

Final Paragraph

The final paragraph should provide an overall assessment of the student’s potential to fulfill the requirements of the program, even though partial judgments can and should be provided in the body of the letter. You can make a more broad characterization of the individual and his or her demeanor. Finally, indicate the degree to which you recommend the individual to the program she or he is seeking: recommend without reservation, strongly recommend, highly recommend, enthusiastically recommend.

Some Remarks

Most recommendation forms contain a certain number of fields, the multiple-choice kind, where the professor has to assess, by checking cells, your abilities. Make sure those fields are checked and insert the text in the place left for additional remarks. Do not leave blank that portion of the form, but use it instead as a self-standing recommendation letter.

Some of the graduate study programs supply you with forms for the recommendation letters that ask the professor to ask a number of specific questions about your skills and qualifications. Sometimes, space for the answer is allowed after each question, and there is where the answers should be written, rather than on a separate sheet of paper. Other times, the questions come as a block, an in this case you have the option to answer the question still in the form of a letter. Should you chose this option, make sure the letter answers clearly every single question, preferably in the order in which they are asked on the form.

Don’t forget to write the date and the name of the home university. The name of the program you are applying for should come out explicitly in the body of the text, in order to make clear that the letter has been written for that occasion.

Sample Outline of the Recommendation Letter

[Writer’s Name or Company Letterhead]
[Street • City • State • Zip Code]
[Phone # • Fax phone # • Messages phone # • Email]

[Date today]

[Recipient’s address block – optional]
[Address]
[Address]

Dear [Recipient’s name] or To Whom it May Concern:

[First and foremost, if you don’t feel comfortable writing a letter of recommendation, don’t. A vague or fabricated recommendation letter might do more harm than good. Start by identifying your relationship with the person for whom you’re writing the letter. Are you the person’s manager, co-worker or professor? How long have you known or worked with the person?]

[Picture the person in his or her job role. Point out a variety of positive traits while focusing on work ethics, accomplishments, skills, and significant contributions (use specific examples). If you draw a blank, ask the person to refresh your memory. If you have access to the person’s merit reviews, refer to them for hints. If for business reasons you’re sorry to see this person go, say so. Avoid vague, powerless words such as nice, good, fine and reasonable. Use words such as excellent, superior, instrumental, creative, innovative, efficient, dependable, articulate, meticulous, self-starter and confident.]

[Wrap it up with a recommendation to admit or hire. Close by offering to provide more information. Include your contact information if it’s not in the letterhead.]

Sincerely,

[Sign here]

[Your name]
[Your title]

Dos and Don’ts for Recommendation Letters

The following are lists of dos and don’ts to consider when writing personal statement. These lists are based on suggestions which I consider sensible and which are common to those providing guidance.

Do:

  • Make sure that the Letter of Recommendation does not conflict with or duplicate the rest of the application (Personal Statement, Transcripts, Resume, etc.)
  • Describe your qualifications for comparing the applicant to other applicants.
    “I have been teaching for twenty years and have advised approximately 450 students on independent research projects over the last five years. ”
    “I have personally supervised ten interns every summer for the last five years plus worked with over two hundred college graduates in my capacity as trainer for Company X “
  • Discuss how well you know the applicant.
    “I was able to get to know Mr. Doe because he made it a point to attend two of my sections every week when only one was required. “
  • Choose two or three (or more) qualities that you observed in the applicant.
    “The combination of tenacity, analytical abilities, and good communications skills found in Mr. Doe is truly unique.”
  • Support your statements with specific examples in which the applicant has demonstrated those attributes. Be as concrete and detailed as possible
    “He is the only student I ever had who came to all my office hours as part of a relentless, and ultimately successful, drive to master financial theory. He was one of just ten percent in the class to receive an A. “
  • Try to quantify the student’s strengths or rank him or her vis a vis other applicants that you have observed.
    “He was in the top 10% of his class.”
    “She has the best analytical skills of any person her age that I have ever supervised. “
  • Try to describe the student in terms that reflect that student’s distinctive or individual strengths. Whatever strengths strike you as particularly salient, be prepared to back up your judgment with concrete examples – papers, exams, class presentations, or performance in a laboratory.
  • Include some mild criticism, typically the flip-side of a strength.
    “The only fault I have encountered in him is his retiring nature. His modesty sometimes hides a young man of remarkable strength and broad interests.”
    “Occasionally, her fortitude and persistence can turn into stubbornness, but usually her good nature and level-headedness prevail.”
  • Discuss the applicant’s potential in his or her chosen field it may give the student the edge over other applicants, since most committees look not only for what the student has already done but what he or she has the potential to accomplish..
    “I enthusiastically recommend Mr. Doe to your business school. This well-rounded student will be a fine businessperson.”
    “With her exceptional leadership, writing, and quantitative skills, Ms. Smith will be an outstanding strategic consultant and a credit to the business school she attends.”
  • Waive your rights. You have the legal right to read the stuff colleges have in their files about you. Virtually all recommendation forms include a little box where you can waive this right by signing your name. By all means, waive the right. Colleges won’t pay attention to your recommendations if they think the people who wrote them were worried that you would be reading them. Sign the waiver before you give the forms to your teachers.

Don’t:

  • Use generalities and platitudes.
  • Reference characteristics that can be the basis of discrimination, such as race, color, nationality, gender, religion, age, appearance, any handicapping condition, marital or parental status, or political point of view.
  • Use the misconception that the more superlatives that you use, the stronger the letter. Heavy use of stock phrases or clichés in general is unhelpful. Your letter can only be effective if it contains substantive information about the student’s qualifications.
  • Use empty, vague, overly-used words like meaningful, beautiful, challenging, rewarding, etc.
  • Say “I hope”, instead say “I am confident…” or “I am sure…”

Questions and Answers for Recommendation Letters

What is the purpose of the Recommendation Letter?
Recommendation letters are letters written by professors who know you, assessing you capacity to meet the requirements of a program you are applying for. They’re supposed to help decision-makers to get a better picture of your potential. The most helpful letters come from teachers who have had considerable contact with you, especially in non-classroom setting such as research labs.

What information should be included in the Recommendation Letter?
A letter of recommendation is a detailed discussion, from a faculty member, of the personal qualities, accomplishments, and experiences that make you unique and perfect for the programs to which you’ve applied. A well written letter of recommendation provides admissions committees with information that isn’t found elsewhere in the application. It should be written with the understanding that what makes a student’s application packet stand out from the others is not only grades and accomplishments, but the specifics of what the student did and how he or she went about it. Selection committees normally weed out mediocre application packets before focusing on the excellent ones. This means that a brief letter with phrases like “good student” and “hard worker” that aren’t substantiated with examples will get tossed aside in favor of the detailed letter that doesn’t just tell but shows how qualified the student is.

Most committees look not only for what the student has already done but what he or she has the potential to accomplish. Addressing potential may take a little more time than discussing past deeds, but it may give the student the edge over other applicants.
See General Outline of the Recommendation Letter for more details.

Who should I ask for the Letter of Recommendation?
The best kind of letter is from someone who has been involved with you professionally. This person should know you and your work well and have a high opinion of you.
Good choices include:
* The person who is supervising research on your part, such as your current or former scientific advisor (“nauchnii rukovoditel”)
* Your colleague from the lab with at least PhD (= “kandidat nauk”)
* Your “seminarist” (and possibly also lecturer) with whom you have/had frequent interactions
* The Dean or the Vice-dean of your department

A letter from an employer can be useful if the job was related to the field to which you are applying, and the letter comments on your accomplishments of specific duties, your aptitude for this type of work and so on. Otherwise, such letters are usually not helpful.

Is it important for my recommender to be well-known person?
It is much to your advantage if your recommender is a well-known person in his field especially if members of the admission committee know his name. Just remember the general letter from the famous person who had little interaction with you and can just say that you are a good student but give no specifics of your joint research or other activities is no good. In this case you’d better off with the recommendation from somebody less famous but well acquainted with your research and personality and ready to write absolutely positively about you.

How many Letters of Recommendation do I need?
Most universities will ask you for 3 Recommendation Letters, rarely 2 or 4. Check with the particular department for details. As a rule you can submit 3 Recommendation Letters to all the programs.

How long should the Letter of Recommendation be?
The optimum length is between 2/3 of a page and one page. If the Recommendation Letter is shorter the admission committee might assume that recommender lacks enthusiasm.

Do I write the letter myself or do I ask the professor to do that?
In Russia most students write their Letters of Recommendation themselves. This is mostly due to fact that the recommenders don’t know English well enough to write recommendation and do not know the format in which they are expected to write recommendation (They are used to writing “harakteristiki”, which are quite different from Letters of Recommendation). Some recommenders would choose to write in Russian and ask you to translate it in the appropriate form in English. The only exceptions I know when the recommenders chose to write recommendations on their own were when either recommenders were Americans or Europeans or they were Russians closely affiliated with American research institutions.

Some advice on Writing your own Recommendation Letter.

Is it possible that the admission committee will contact the recommender?
It is possible but quite unlikely situation. The only cases I know when the recommenders were contacted is when the recommenders were quite famous people and their recommendations were too good to be true. In this case the admission committee might send the letter or e-mail or call (whichever information is provided on the recommendation) asking whether this person really gave this recommendation. Also, there is no need to provide the e-mail address on the recommendation letter if you don’t want to. In my case, my recommenders have been contacted only ones by MIT (after I have been admitted) with the thank you letter for providing useful information.

Useful Phrases for Recommendation Letters

If you want to see other examples check out Sample Letters of Reference

Good Introductions

First, you need to express your positive feeling about writing the letter. Then explain how long you have known the person and what your relationship has been (supervisor, teacher, co-worker).

Sentences:

I am delighted to be called upon as a reference for John Smart. I first became acquainted with Mr. Smart in 1992, when he joined the…

Mr. Smart has asked me to write a letter of recommendation to accompany his application for PhD program in Physics at MIT. I am very pleased to do so.

It has been a pleasure to be Mr. Smart’s supervisor since 1990.

I am happy to write this letter of recommendation for Steven Smart. In this letter I would like to express my respect and appreciation for this bright young person, who brought outstanding contribution to the work of my group.

I have no hesitancy in writing a letter of recommendation for Mr. Smart.

It is a pleasure to write a letter of recommendation for as Ms. Smart.

I have known Ms. Smart since 1993, when she enrolled in my accounting class.

I was Mr. Smart’s teacher in two advanced quantum mechanics classes during winter semester, 1995.

Phrases:

am honored to support him as a candidate
am pleased to provide a reference for
am delighted to be called upon
am happy to recommend
am pleased to comment on
can offer only the highest recommendation for
first became acquainted with
first came to my attention when
has worked directly under my supervision
has been a pleasure to supervise
have known Ms. Doe for
have no hesitation in recommending
have been his supervisor since
her performance as a
his qualifications and performance
have had the opportunity to
in the past two years
is a pleasure to recommend
was a student in two of my classes

Describing Person’s Qualifications

Discuss the person’s qualifications for the graduate study in the chosen field. Statements of past performance, accomplishments, and contributions are helpful. The more relevant the items mentioned, and the greater the detail, the better your letter will communicate your positive recommendation. General comments provide a neutral recommendation or suggest that you do not really recommend the person highly.

Sentences:
Since the beginning of our collaboration I know him as an energetic and goal-oriented person.

Some of the main Irina’s attributes are her persistence and diligence sometimes even ranging with obsession with work.

He grasps new concepts quickly and accepts constructive criticism and instruction concerning his work.

While she was with us she supervised the maintenance of all computer networks. This responsibility involved working with 42 separate offices.

He has proactively joined research at our institute.

I would like to mention here, that John is accurate and thorough in his research, pays attention to details and has no dread of routine work.

His extraordinary ability to analyze problems and outline necessary courses of action was invaluable.

In a class of thirty, he completed the course with the second highest grade.

That was mostly due to her assiduity and devotion to work that she was soon able to proceed with actual experiments.

I would like to say that it is pleasant to work with Michael, he is reliable and intelligent person with good sense of humor.

Her greatest talent is in developing innovations for new products.

John always takes an active part in scientific discussions, demonstrating maturity, strong ability to defend his ideas while paying careful attention to opponent’s remarks.

She finishes her work on schedule. When she has a concern or question about an assignment, she speaks her mind clearly and directly, giving voice to what others may feel but cannot or will not say.

From our collaboration I can conclude that George has a strong motivation for scientific work. He is a focused and determined person.

Phrases:
a creative problem-solver
always cheerful and dependable
always behaves professionally
broad range of skills
can attest to his integrity
careful attention to detail
comments are well thought out and clearly articulated
communicates her ideas clearly
communicates effectively in writing
completely loyal and trustworthy
demonstrated particular strengths in
follows tasks through to completion
gets along well with others
handles responsibility well
has a take-charge personality
has a flair for organization
her sensitivity and concern for others
is innovative and creative
is a tireless worker
is mature beyond her years
is intelligent and ambitious
is personable and easy to work with
keeps calm under pressure
meticulous attention to detail
one of our finest, most well-rounded undergraduates
outstanding leadership abilities
punctual and hard working
self-motivated individual
wide-range knowledge of
willing to go beyond what is required
willing to take on new responsibilities
works efficiently and effectively
works independently and effectively
works well with little supervision

Good Endings

Close with a clear statement of your recommendation and a willingness to cooperate further.

Sentences:
Mr. Bright will be a great addition to your program. If I can further assist, please e-mail or call me.

Jane Bright has my strong recommendation. She will be a credit to your program.

I am confident that Mr. Bright will continue to be very productive. He has my highest recommendation.

I give her my highest recommendation, without reservation. Please send e-mail or call me if you have further questions.

I believe in John’s outstanding abilities for scientific work and strongly recommend him for further education at your university, where he can develop and apply his bright talents.

It is satisfying to be able to give him my highest recommendation. I hope this information proves helpful.

I enthusiastically recommend Mr. Bright as a promising candidate.

Seldom have I been able to recommend someone without reservation. It is a pleasure to do so in the case of John Bright.

I will be pleased to answer any additional questions you may have.

I am very interested in Mr. Bright’s application and will be happy to provide further information.

Phrases:
every confidence in her ability to
give my unqualified recommendation
has always proved satisfactory
has my highest recommendation
have admiration and respect for
have no reservations in
hope this information proves helpful
if I can further assist
if you have further questions
if you need additional information
if you would like more information
recommend without reservation
recommend her very highly
request your favorable consideration of
should be given serious consideration
should you have any questions
will meet your expectations
will be successful in any enterprise he undertakes
will be a credit to your
will measure up to your high standards
will be a great addition to
would be an asset to your program
would be a valuable addition to

Words to Avoid

Do not include comments about race, color, religion, handicap, sex, national origin, marital status, or parental status.

Writing Your Own Letter of Recommendation

Balance praise with candidness. Many people feel uncomfortable praising themselves. If you are the shy type, cast aside your timidity and try to be objective about your accomplishments. Letters of recommendation are, by definition, laudatory: so grab a sheet of paper and make a list of your good qualities. On the other hand, don’t completely discard modesty and err on the side of pure, distilled self-praise: your supervisor might not agree that you are indeed “superhumanly brilliant”, and anyway admissions readers are much keener on candid, well-balanced letters than ones rife with superlatives.

Pick wisely and discard the fluff. Writing your own letter of recommendation is not unlike putting together your resume: you must choose your accomplishments carefully. A letter that highlights two or three specific qualities, accomplishments, and achievements is far stronger than one that covers all your positive traits. If you are having trouble paring down the content, ask a friend or colleague to look over the text and pick out the most impressive points.

Maintain credibility. Concentrate on making the letter believable. This doesn’t mean just sticking with the facts; it means finding a voice that accurately portrays you from the recommendation writer’s perspective. Remember that the letter must be stylistically different from your other submitted written work. Vary your vocabulary, adapt expressions, and generally avoid phrasing things exactly as you did, say, in your personal statement or cover letter.

Avoid redundancy. Don’t repeat accomplishments that have been described in detail elsewhere in your application. The letter should support your main accomplishments rather than merely rehash your resume. Write about these accomplishments in a new light, expanding on areas where you did not have the opportunity to elaborate on elsewhere in the application or cover letter .

Thư xác nhận tốt nghiệp đúng hạn

Khi apply xin admission của các trường cũng như xin học bổng, thường thì họ hay yêu cầu bằng tốt nghiệp đại học của mình. Tuy nhiên trên thực tế thì những bạn đang học năm cuối đại học vẫn có thể apply, và nếu được học bổng thì khi tốt nghiệp có thể đi học tiếp luôn. Như thế thì khi apply sẽ phải cần thư chứng nhận này để thay thế cho bằng tốt nghiệp:

Date

To whom it may concern:

This is to certify that XXX (passport number:XXX) is studying for the Bachelor Degree in XXX in School of XXX in XXX University.He started studying from XXX and will graduate in XXX. Please accord him with any assistance.

XXX University
(Signed and Stamped)

 

 

Nguồn: Tùng Kelvin

Thư xác nhận các khóa học được giảng dạy bằng tiếng Anh

Như các bạn biết, khi xin học bổng sang các nước nói tiếng Anh, đa phần họ đều yêu cầu thí sinh phải có chứng chỉ Anh ngữ hoặc là TOEFL hay là IELTS. Tuy nhiên, có một số trường lại cho miễn chứng chỉ này nếu ứng viên có bằng đại học hoặc cao học ở một nước nói tiếng Anh hoặc khóa học của ứng viên được giảng dạy bằng tiếng Anh. Do vậy, để chứng minh rằng khóa học Đại học/ Cao học của mình được giảng dạy bằng tiếng Anh thì bạn cần phải có giấy/ thư xác nhận các khóa học bạn theo học được giảng dạy bằng tiếng Anh. Dưới đây là mẫu thư để các bạn tham khảo nhé.

 

 

School’s letterhead

TO WHOM IT MAY CONCERN

This is to certify that Thinh Ngoc Tran has completed his Master of Public Affairs from University of Missouri during 2009-2011. He was awarded the degree by the University on May 13th, 2011.

The medium of instruction for the above mentioned program was in English for the entire 2 years duration both written and spoken.

I the undersigned confirm that the above facts are true and correct to the best of my knowledge and belief.

Director of Truman School of Public Affairs

Dr. Lael Kaiser

Thư giải thích hệ thống bảng điểm Việt Nam

Đối với các bạn Việt Nam khi xin học bổng du học ở các trường Phương Tây, họ thường yêu cầu có một cái thư giải thích hệ thống bảng điểm bởi vì Việt Nam chúng ta dùng hệ điểm 10 là tối đa. Tron gkhi đó các nước phương Tây họ lại phổ biến dùng điểm hệ 4.0 do vậy để họ hiểu một sinh viên việt nam được 8.0/10.0 thì sẽ tương đương với bao nhiêu chấm hệ 4.0 của họ thì chúng ta cần phải có một thư giải thích hệ thống điểm. Thư này thì mình chủ động soạn và lên trường xin chữ ký xác nhận và đóng dấu. Dưới đây là một mẫu thư giải thích bảng điểm của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các bạn dựa trên mẫu này mà thay đổi tên trường mình vào nhé. Chúc các bạn thành công!

 

explanationofgradinghut

Cái giá của việc du học bậc cao học – Long D Hoang

“Lợi thì có lợi nhưng răng không còn”.

Du học cao học đương nhiên không phải du lịch kiến thức đến xứ thiên đường. Ở bài trước, tôi đã liệt kê ra một số lợi ích của việc du học. Bài này sẽ bao gồm một số cái giá phải trả khi du học cao học.

Chú ý: tôi sẽ không nói về cái giá về sức khỏe và thời gian cho chính việc học. Tôi đã nói khá kĩ về việc này ở trong một bài viết khác. Các bạn có thể xem ở: https://goo.gl/b9Sg54 [1]

Những gì tôi viết trong bài đó chỉ đúng trong trường hợp người ta thực sự đi học ở một trường nghiêm túc về học thuật hàn lâm với mục tiêu phát triển tư duy phản biện và khoa học lẫn kĩ năng nghề nghiệp. Nó sẽ không đúng với trường hợp chỉ đi học để lấy các kĩ năng nghề nghiệp thực tế, hoặc đi học để trải nghiệm cho biết.

1.  Học phí và sinh hoạt phí

Trước hết, học phí ở các trường đại học tốt ở các nước nói tiếng Anh như Vương quốc Anh, Mỹ, Úc rất cao.

Các khóa học ở các trường đại học TỐT (Ví dụ như các trường trong Russell Group) ở Vương quốc Anh thường có học phí ngưỡng dưới khoảng trên dưới 18,000 – 25,000 bảng ở các ngành phổ biến như kinh doanh, marketing, truyền thông. Ở các ngành thuộc khối STEM (Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật, Toán học), học phí ngưỡng dưới có thể thấp hơn thế một chút. Còn với các khóa học thực sự hot như MBA và ở các trường tốt, học phí loanh quanh 40,000, thậm chí lên tới trên 50,000 bảng cũng là chuyện bình thường.

Sinh hoạt phí thay đổi theo từng thành phố và từng nước. Sau đây là học phí hàng năm (chung tất cả các bậc) và sinh hoạt phí hàng năm cho sinh viên Việt Nam, chia theo từng nước. Đây chỉ là thông tin mang tính tham khảo để định hướng ban đầu và hình dung được chi phí du học có thể lớn tới mức nào [2] [3] [4] [5] [6]. Các phí này không bao gồm phí vé máy bay, phí visa, và phí cho những người phụ thuộc.

Chú ý:

  • Ở các ô có 1 loại học phí, đây là phí trung bình cho tất cả các bậc học
  • Ở các ô có 2-3 loại học phí, học phí được xếp theo thứ tự đại học, cao học, tiến sĩ.
  • Học phí ở Pháp là học phí trung bình của các trường công.
Quốc gia Học phí cho sinh viên quốc tế (USD) Sinh hoạt phí (USD)
Anh (Vương quốc) 12300 – 4306011930 – 51700 14800 (ngoài London)18700 (trong London)
Áo 780 11000 – 13000
Ai-len 1080010500 – 11400 7500 – 12870
Bỉ 960 – 4820 11050 – 12300
Ca-na-đa 2054013250 12000
Đan Mạch 6500 – 17350 12200
Đức Miễn phí10,800 8700
Hà Lan 6500 – 13008670 – 21660 10400 – 14300
Mỹ 33215
Na Uy Miễn phí cho các trường công, ngoại trừ chương trình đặc biệt 13600
Nga 3900 – 7700 7920 – 9120
Thụy Điển 10500 – 17500 11200
Thụy Sĩ 49098 17750 – 27600
Tây Ban Nha 797 – 15001430 – 1620 11800 – 14400
Phần Lan Tối thiểu $1600 10400
Pháp 200280

425

10500
Úc 23400 cho bậc đại học16000 – 29600 cho bậc cao học

11200 – 29600 cho bậc tiến sĩ

15820
Ý 920 – 11001600 17300

Riêng ở Mỹ, chi phí thay đổi rất nhiều theo từng nơi học. Theo College Board, tổng học phí và sinh hoạt phí một năm ở bậc đại học như sau:

  • Community college: $17000
  • Trường công 4 năm và sinh viên không phải người cư trú vĩnh viễn trong bang: $39890
  • Trường tư 4 năm: $49320

Riêng ở các trường thuộc nhóm đầu (top-tier), tổng chi phí một năm sẽ loanh quanh 60 nghìn – 65 nghìn USD. Tức là đâu đó 1 tỷ 200 triệu đồng, hoặc 1 tỷ 300 triệu đồng.

2.  Chi phí cơ hội: Thời gian và kiến thức

Tiền – thời gian – sức khỏe. Tài nguyên chính của chúng ta nhìn chung xoay quanh và luận chuyển ở 3 dạng này.

Ngoại trừ các bạn có “học bổng toàn phần” utachi-batacho, sẽ có mấy hình thức sau để trang trải chi phí du học:

Vay nợ: vay rồi học xong thì trả nợ cả vốn lẫn lãi. Đương nhiên cách này đồng nghĩa với việc bạn phải chịu một sức ép tài chính và tinh thần từ khoản nợ khổng lồ. Bạn sẽ không có nhiều lựa chọn sau khi về nước ngoài việc lao vào làm mà trả nợ trong khoảng 3 năm, 5 năm, hoặc lâu hơn tùy khoản nợ. Trong trường hợp này: tài chính ở dạng số âm, nhưng có thời gian và sức khỏe cho việc học và khám phá tất cả những gì hay nhất của trường học. Nên nhớ rằng giá trị lớn nhất của trường học là các kĩ năng tư duy và áp dụng lý thuyết dài hạn, các môn học khai sáng bản thân, chứ không phải kĩ năng thực hành. Nhưng cần nhiều thời gian mới hấp thụ được các lợi ích này.

Vừa học vừa làm: Cách này nhìn chung chỉ khả thi ở các nước có chính sách miễn học phí hoặc học phí vô cùng thấp cho sinh viên quốc tế như Pháp hay Đức. Tuy nhiên sinh viên BUỘC phải biết tiếng bản địa để có thể được hưởng chính sách này. Thông thạo tiếng bản địa cũng là điều kiện đầu tiên để có thể có việc làm thêm. Việc làm thêm đủ để trang trải sinh hoạt phí cũng ngốn của bạn kha khá thời gian. Sinh viên sẽ khó có đủ thời gian và sức khỏe để học cho tốt và lấy bằng xuất sắc (cái này gần như là chắc chắn nếu như bạn đang học ở một trường tốt). Tiền có – thời gian ít – sức khỏe âm. Thời gian và sức khỏe để hoàn thành nội dung khóa học còn thiếu, chứ đừng nói đến tìm hiểu các môn rất hay khác, như Luật, Nhân quyền, hoặc đơn giản như môn Viết chẳng hạn.

Học bổng một phần, vừa học vừa làm: Lựa chọn này thực ra cũng chả hơn lựa chọn trên là mấy nếu như người học chọn một trường có học phí cao. Thường mọi người sẽ kết hợp với vay nợ hoặc tài chính gia đình để chi trả phần học phí còn lại, và đi làm thêm để có sinh hoạt phí Tuy nhiên có một ưu điểm là người học có thể học ở nước nói tiếng Anh và dễ kiếm việc làm hơn. Tất nhiên việc làm thêm để trang trải sinh hoạt phí cũng chẳng dễ dàng gì và kết quả cũng y hệt như trên. Tiền có – thời gian ít – sức khỏe âm.

Học bổng toàn phần: Lựa chọn này là tối ưu cho những người may mắn. Lợi ích của nó thì không cần nói nhiều: có nhiều lựa chọn cho việc sử dụng thời gian hơn hẳn các trường hợp kia.

Nhưng, để được một học bổng toàn phần không hề dễ dàng. Lao tâm khổ tứ và cần may mắn, hoặc rất nhiều may mắn.

3.  Chi phí cơ hội: Sự nghiệp

Lúc người ta cảm thấy ý chí và kiến thức của mình phù hợp nhất để du học cao học, cũng là lúc sự nghiệp của họ đã có thành tựu nhất định. Ít ra người ta đã có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên.

Đi du học lúc này chính là chấp nhận chi phí cơ hội: từ bỏ vị trí, lương bổng, cơ hội thăng tiến suốt những năm trước đã cố gắng gây dựng. Ngoài nước Anh, các chương trình cao học ở các nước khác yêu cầu khoảng 2 năm. Trong 2 năm đó, những người cạnh tranh với chúng ta ở Việt Nam có thể đã đi được những bước khá dài về sự nghiệp. Họ ở vị trí khác, lương bổng khác, triển vọng khác, thậm chí tư duy ở tầm cũng khác. Chí ít họ cũng tích lũy được hơn người đi học 2 năm kinh nghiệm.

Một số người lập được những cam kết với công ty hoặc cơ quan để đảm bảo khi quay về Việt Nam vẫn có nơi làm việc, nhưng số này không nhiều và họ cũng vẫn phải chấp nhận từ bỏ các cơ hội khác. Tất nhiên nếu bạn nào đó luôn có những mối quan hệ (gia đình) tốt sẵn để không phải lo công ăn, việc làm khi trở về, thì họ gần như chẳng phải đánh đổi gì về sự nghiệp cả. Số này đương nhiên là hiếm.

4.  Chi phí cơ hội: Nguy cơ học không đúng thứ cần học

Không phải ai cũng chọn được thời điểm phù hợp để du học. Tôi nhận được khá nhiều tin nhắn nhờ tư vấn cách chọn trường, cách săn học bổng từ những bạn còn chưa biết tại sao mình cần đi học. Rất tréo ngoe ở chỗ, các bạn ấy quá chắc chắn và nhiệt huyết với lựa chọn du học của mình, trong khi biết rất ít về du học, thậm chí biết rất ít về việc học. Cuối cùng các bạn đi du học về mà không áp dụng được kiến thức gì đã học. Các bạn trở về Việt Nam bắt đầu từ số 0 trong khi bạn bè cùng trang lứa đã có 2 năm kinh nghiệm.

Nguyên nhân đầu tiên của việc này là vấn đề hướng nghiệp ngay từ bậc phổ thông rất kém.

Nguyên nhân thứ hai là thông tin đa dạng nhưng không đa chiều. Thông tin đa số bị thao túng bởi lợi ích. Mà việc các bạn lựa chọn du học có vẻ đem lại nhiều lợi ích hơn cho người cấp tin.

Nguyên nhân thứ ba là các bạn muốn du học mà không chuẩn bị các kĩ năng có giá trị dài hạn cho việc học và sinh sống ở nước ngoài như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nghiên cứu và viết hàn lâm (hàn lâm, không phải IELTS), kĩ năng tư duy phản biện, kĩ năng ngôn ngữ.

Nguyên nhân thứ tư là các bạn không tìm hiểu bản thân lẫn thử qua các công việc kĩ càng trước khi quyết định. Lý do đi du học các bạn thường đưa ra là:

  • Lấy bằng cấp (thậm chí lên PhD) cho xong một thể kẻo sau này già rồi quên mất, ngại học lắm => Ơ thế đi học lấy kiến thức và kĩ năng hay đi học để lấy cái bằng thạc sỹ về làm đồ trang sức thế? Đi học PhD để làm nghiên cứu hay làm tư vấn hoặc R&D chuyên sâu, hay là mang cái danh PhD cho oai thế?
  • Lấy bằng cấp cho xong kẻo sau này vướng bận vợ chồng con, không có cơ hội đi học => Nghe có vẻ có lý, nhưng thực ra cũng là ngụy biện, vì mục đích cơ bản của việc đi học như này vẫn là lấy cái bằng cấp cho xong để khoe cho oai. Chẳng qua là muốn lấy sớm cho dễ lấy.
  • Du học để trải nghiệm => nếu các bạn chấp nhận được việc không biết cách học cho hiệu quả, học xong không biết dùng kiến thức và kĩ năng để làm gì, thì du học để trải nghiệm cũng là ý kiến không tồi.

Các bạn mà mình khuyến khích du học ngay sau khi tốt nghiệp là những bạn thật sự đã có kinh nghiệm nghiên cứu và đam mê nghiên cứu. Môi trường đại học ở Việt Nam đủ để cho các bạn thử nghiên cứu và đưa ra quyết định du học thạc sỹ chuyên về nghiên cứu hàn lâm.

Còn các trường hợp khác, lời khuyên của mình là cứ đi du học nếu chấp nhận được nguy cơ (gần như chắc chắn) học không đúng thứ cần học, không đủ kĩ năng để tận dụng lợi ích của khóa học, hoặc tệ hơn là học một khóa hoàn toàn không phù hợp với ngành mình muốn làm sau này.

Rất tiếc, trong hầu hết các trường hợp người ta có lựa chọn ít hiểu biết (ill-informed choice) như vậy, mọi nỗ lực khuyên bảo của mình không có tác dụng.

5.  Sốc văn hóa ngược và những nguy cơ bất định

Việc du học mà học không đúng thứ cần học như trên dễ dàng dẫn đến việc thất nghiệp hoặc học xong ở nước ngoài rồi vẫn đi làm nghề không phù hợp ngành học. Kết quả là không áp dụng bao nhiêu công sức và kĩ năng cứng học được ở nước ngoài. May mắn là sẽ vẫn áp dụng được các kĩ năng mềm đã học hoặc phát triển được, nếu như khóa học và bản thân người học tạo điều kiện phát triển các kĩ năng này. (Nếu người học không học thì đương nhiên chỉ còn cách ngửa mặt lên trời mà cười nhá 😊 )

Một vấn đề nữa khiến cho các tân thạc sỹ thất nghiệp là bằng cấp “cao không tới, thấp không thông”. Không phải công việc nào cũng cần tới bằng thạc sỹ để làm tốt. Nhiều công việc chỉ cần kiến thức ở bậc đại học và kinh nghiệm 2 năm để làm được. Chưa kể, cái mác thạc sỹ thường gắn liền với ấn tượng không hay về mức lương mong muốn. Qualified là tốt, underqualified hay overqualified đều là không tốt. Lúc này, câu chuyện lại quay về kĩ năng giao tiếp và “bán thân” (selling one’s self) có tốt không, có biết cách thương lượng không. Nếu tính toán kĩ và xa hơn, du học sinh thực ra đã phải hiểu rõ thị trường lao động trong ngành mình muốn làm việc sau này rồi mới đi học. Có như vậy mới tránh được những nguy cơ bất định như thế này.

Vấn đề thứ ba là sốc văn hóa ngược. Từ hồi về nước, mình đi xe máy chậm, cẩn thận và tập trung hơn trước rất nhiều. Ở Anh giao thông rất an toàn và mọi người đi rất đúng luật, nên khi về Việt Nam mình không thể quen được với cách đi của dân mình và lúc nào cũng trong trạng thái tập trung.

Đó mới là việc nhỏ. Việc to là mình không thể quen lại được cách làm việc của cơ quan cũ, một viện nghiên cứu thuộc Bộ Xây dựng. Chưa kể là câu chuyện nhân sự. Những người thuộc nhóm trí thức trẻ, hay ủng hộ mình hoặc ít ra trung lập, đều đã chuyển công tác hết. Sau một thời gian mình chính thức ngừng công việc ở đó và tiếp tục công việc nghiên cứu kiến trúc với tư cách độc lập và tự do 😊(Mặc dù lúc đề tên ở cái publication vẫn đề tên cơ quan vào chứ không để trống, cảm giác như thế thì nó “ăn cây nào rào cây nấy” hơn)

6.  Cái giá của thời gian và công sức chuẩn bị

Để đi du học được, cần phải chuẩn bị rất nhiều kiến thức và kĩ năng mềm mà nhiều người không nói cho du học sinh (hoặc bố mẹ của du học sinh). Chưa kể có những người phải chuẩn bị hồ sơ để xin học bổng toàn phần nữa. Thời gian chuẩn bị những thứ đó ít thì 5-7 năm, còn nhiều thì không bao giờ là đủ. Nếu nói chân tình rằng nên chuẩn bị du học từ lúc nào, tôi sẽ nói là ngay từ bây giờ.

Bạn bè tôi và tôi nhiều người chưa bao giờ đi ra khỏi Việt Nam, sao lại không có một chút xíu e ngại nào khi bước chân lên đất Anh?

Tại sao có người không được học viết luận cũng không làm luận văn ở đại học, mà sang Anh chưa bao giờ ngán ngại các môn phải viết nhiều?

Tôi bắt đầu học nói tiếng Anh lúc 15 tuổi, mà trước lúc sang Anh đã có thể nói với giọng rất giống người Anh? (Bây giờ thì đang cố tình nói không giống người Anh 😊))

Tất cả những thứ đó nằm xa hơn mấy câu chuyện ngoại ngữ hay điều kiện kinh nghiệm rất nhiều, và cái giá cho nó cũng không ít.

Muốn biết thì hãy … đọc phần tiếp theo.

Tài liệu tham khảo

[1] L. Hoang, “My UK Episode 3: “No pain, no gain”,” 2017. [Online]. Available: https://goo.gl/b9Sg54.
[2] L. Bridgestock, “How Much Does it Cost to Study in the US?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-us.
[3] S. Collier, “How Much Does it Cost to Study in Canada?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-canada.
[4] S. Collier, “How Much Does it Cost to Study in Europe?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-europe.
[5] J. Playdon, “How Much Does it Cost to Study in Australia?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-australia.
[6] J. Playdon, “How Much Does it Cost to Study in the UK?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-uk.

 

Chuẩn bị thái độ cho việc du học – Long D Hoang

Nghĩ đi nghĩ lại mới dám viết cái này. Mấy năm nay, đứng giữa và chứng kiến nỗi khổ của cả hai bên “xin” và “cho” học bổng thạc sỹ toàn phần, tôi thấy có những thứ không nói ra thì rất bức bối.

Bài viết này dành cho các ứng viên chưa nộp hồ sơ (nhưng rồi sẽ nộp) xin học bổng, đã xin học bổng (nhưng sẽ không thành công), và (sắp) xin được học bổng.

Nói trước:

Thứ nhất, đây là tôi viết dành cho đa số. Bạn nào có ý định phản biện kiểu “nhưng có đứa bạn tôi thế này thế kia mà vẫn được” thì trước hết hãy nghĩ mình nhìn được vấn đề từ mấy chiều và trên bao nhiêu trường hợp.

Thứ hai, câu chuyện ngôn từ trong này sẽ không dễ chịu. Có câu sẽ như vỗ thẳng vào mặt. Quan niệm của tôi về coaching – mentoring là: để sự thât đập vào mặt thật đau rồi vượt qua nó. Chứ không phải cố gắng né tránh hay trì hoãn nó.

Thứ ba, tôi có bằng chứng cho những phát ngôn ở đây. Để tốt cho nhiều người, tôi sẽ không công khai.

Ở Việt Nam, tính đến năm 2016, có 360 người từng được học bổng toàn phần Chevening. 180 người trong số đó đến từ Hà Nội. Không ít người sẽ nghĩ sự thiên vị nào đó.

Thực ra lời giải thích (từ một nguồn đáng tin cậy) khá ngắn gọn: “Có lẽ ứng viên từ Hà Nội chuẩn bị tốt hơn.”

Chữ “chuẩn bị” được dùng ở đây cực kì chính xác. Sau khi đọc hàng trăm bộ hồ sơ cho các học bổng khác nhau, tôi phải nói thật, đa số các ứng viên từ lúc chưa apply đến lúc đã apply đều chuẩn bị thái độ như … thôi mượn lời bà chị đồng nghiệp của tôi: “Giá có cái siêu năng lực invisible punch để đấm vào mặt đứa viết ra cái này”.

  1. Thái độ với kiến thức và thông tin

Cái tôi thấy kì cục nhất là lúc nào các ứng viên cũng “tưởng”. Tưởng mình hiểu về bản thân rồi. Tưởng mình hiểu về ngành mình rồi. Tưởng mình hiểu về công việc sẽ làm sau khi học thạc sỹ rồi K Hoặc tệ hơn thì CỨ APPLY ĐÃ RỒI NGHĨ SAU

  • Kiến thức về công việc mình đang làm

Ứng viên đều có các kinh nghiệm hay thông tin nhất định rút ra được từ công việc mình đang làm nhưng lại không đối chiếu nó với nguyên lý để rút ra kiến thức.

Mô hình giáo dục ở Việt Nam có thể khiến mọi người coi thường lý thuyết và nghiên cứu. Nhưng thật ra chỉ có nghiên cứu (ở mức đơn giản là đối chiếu thực tế với lý thuyết) mới biết được mình cần học cái gì, hay tại sao lại phải học nó ở bậc thạc sỹ. Chuyện này thuộc chuyên môn mỗi người, tôi không bàn sâu.

Quan trọng là việc này phải được thực hiện thường xuyên liên tục trong nhiều năm. Chứ không phải đến lúc chán làm rồi mới nghĩ đến việc đi du học và xin học bổng, rồi đến trước deadline 2 tháng mới nghĩ xem tại sao mình cần đi học.

  • Thông tin về trường và khóa học sẽ học

Nếu không có người chỉ dẫn, hầu hết các ứng viên sẽ điều tra thông tin về khóa học một cách hời hợt, kiểu “Em chỉ nghĩ được đến thế”, hoặc “Trường nó chỉ cho thông tin đến thế”. Cuối cùng thông tin về trường chỉ dừng lại ở mỗi cái ranking, trường nằm ở London phồn hoa, trường có bề dày lịch sử – toàn những thông tin phụ.

Ít ra cũng phải tìm hiểu xem: Ai dạy ở khóa học đó? Research focus của giáo viên đó là gì? Có các tiết học nào? Chủ đề học nào? Bao nhiêu % thực hành? Bao nhiêu % lý thuyết và thảo luận? Cách học có phù hợp với mình không? Cựu sinh viên (người Việt) học xong khóa học đó giờ đang làm công việc gì? Họ thấy khóa học có ích thế nào?

Có các thông tin khác biệt một chút như vậy thì mới xin được học bổng chứ!

  • Thông tin về công việc tương lai

Rất nhiều ứng viên viết trong hồ sơ những tuyên bố không thể nhàm chán hơn như: “Đi học, (sau đó học PhD tiếp) về nước thực hành, một thời gian sau đi vào trường đại học làm giảng viên.”

Ý tưởng này có thể xuất phát từ việc các ứng viên đã đi làm thực tế, nhận thấy những kiến thức sách vở đang được người ta dạy ở trường đại học là không phù hợp. Sau đó cho rằng phải có “kiến thức” thực tế như ứng viên ấy đang có, cộng thêm trang bị bằng cấp từ nước tiên tiến, mới làm giảng viên được.

Nhưng tôi luôn đặt câu hỏi với những ứng viên đó như thế này: “Em có hiểu giảng viên (và PhD) đúng nghĩa là phải làm gì không?”

Khi học càng cao, từ bậc thạc sỹ rồi sau đó là tiến sĩ và sau tiến sĩ, hàm lượng kiến thức và kĩ năng tự nghiên cứu càng lúc càng nhiều. Bậc của bằng cấp càng cao, khả năng tự tạo ra kiến thức chuyên sâu càng tốt.

Điều đó có nghĩa là gì? Nghĩa là nếu không xác định sẽ phải tự làm các nghiên cứu to nhỏ song song với thực hành trong suốt quãng đời còn lại, thì các bạn đừng xin học bổng đi học master ở nước ngoài làm gì.

Giảng viên đại học không chỉ biết giảng dạy mà còn phải biết chuyển đổi thông tin thực tế thành kiến thức và ngược lại. Cái nhiều bạn gọi là “kiến thức thực tế” mới chỉ là thông tin thôi. Để trở thành kiến thức, nó cần có sự nghiên cứu với trình độ nhất định. Không chỉ có thế, còn phải nghiên cứu cả đời. Nhiều người cả đời còn chưa làm nổi literature review ra hồn để viết một bài luận, chứ chưa nói đến việc tham gia vào việc nghiên cứu.

“Thì thế nên tôi mới phải đi học để có khả năng nghiên cứu”. Dạ xin thưa, nếu bạn chưa bao giờ làm việc gì đến gần mức chuyên nghiệp nhất định, làm sao bạn biết mình có đủ sức và đủ đam mê với nó không? Có ai muốn cấp học bổng toàn phần cho người không biết chắc về đam mê và/hoặc (chí ít) sở trường của mình không?

Thái độ đúng:

Thứ nhất, không được quyết định khi chưa có thông tin. Trước khi làm hồ sơ khoảng 1-2 năm, tự tìm hiểu thông tin, tự nghiên cứu rồi trả lời các câu hỏi phía trên. Tự trả lời được hết thì tức là đã có thông tin và kiến thức tàm tạm. Lúc này hẵng tìm hiểu thông tin về học bổng. Có thêm thông tin về học bổng rồi mới quyết xem có đầu tư thời gian, công sức, và tiền bạc cho học bổng không.

Thứ hai, lúc nào cũng phải nhắc nhở bản thân: “Mình biết chưa đủ.” Các ứng viên càng care-free thì hồ sơ của các ứng viên có chất lượng càng thấp, và đi phỏng vấn người ta càng không thích. Học bổng hỗ trợ phát triển (cái mà các ứng viên sẽ ngắm đến nhiều nhất) nhắm tới mục đích hết sức nghiêm túc và thực tế: sinh lợi cho nước cấp học bổng. Càng “mindful” về các lợi ích này càng tốt.

  1. Thái độ đối với kĩ năng tư duy và ngôn ngữ

Ưu điểm của các ứng viên là luôn nghĩ được rằng mình tư duy còn non nớt, diễn đạt bằng tiếng Anh còn chưa ổn.

Nhược điểm là sự nóng vội: chả bao giờ chờ được đến khi mình hoàn thiện được kĩ năng, mà cứ phải mau mau chóng chóng làm hồ sơ.

Điều này dẫn đến sự quanh co tù mù từ hiểu đến diễn đạt như ở dưới đây.

Ví dụ: Yêu cầu là “Outline why you have selected your chosen three university courses, and explain how this relates to your previous academic or professional experience and your plans for the future”

Rất thường xuyên, người viết kể lể ra một lô một lốc tình hình Việt Nam đang ra sao, mất tầm 150 từ. Sau đó các ứng viên kể lể cái ngành chung chung mình học là cái chung chung gì, mất thêm 150 từ. Sau đó kể nốt tôi học ngành đó để rồi tôi làm ra cái gì, mất nốt 150 từ. Mà bài luận giới hạn 500 từ. Cuối cùng còn chả nhắc nổi cái tên khóa học với tên trường cho ra hồn. Ý chính người ta hỏi là: Tại sao phải là trường đó mà không phải trường khác? Tại sao phải là khóa học đó mà không phải khóa học khác? Nó liên quan thế nào đến cái mình đã biết và cái mình sẽ làm? Thế cơ mà!

Một câu hỏi khác “Why are the skills and knowledge you have described important to your country’s development?”

Tương tự như trên, các ứng viên ấy sẽ liệt kê ra tình hình VN ra sao blah blah. Sau đó nói rằng nhất quyết phải giải quyết vấn đề to to này này. Xong rồi tôi học cái này này. Xong rồi … hết.

Muốn giải thích tại sao cái gì đó quan trọng, thì phải chứng minh nó khó có thể được thay thế bởi một thứ khác (How irreplaceable it is) và kết quả nó có thể mang lại/vấn đề nó có thể giải quyết. Nêu ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề mới chỉ là một phần của mệnh đề thôi. Phần còn lại là giải pháp. Giữa một đống giải pháp, tại sao chỉ có giải pháp của ứng viên là quan trọng nhất, là không thể thay thế được?

Thứ hai, kĩ năng diễn đạt bằng tiếng Anh của các ứng viên rất chán. Mất mấy tháng cho cái IELTS 6.5 vớ vẩn, trong khi đáng ra apply học bổng là phải thoải. Đi phỏng vấn xin một cái học bổng cả tỷ đồng mà run lập cập, hoặc không thì nói năng như con robot. Thái độ phỏng vấn thì đơ như *poker face* hoặc ỉu xìu. Nội dung thì quanh co lòng vòng, hoặc tìm mãi không biết dùng từ nào để diễn đạt. Ban phỏng vấn phải “kêu dời kêu đất” vì hỏi một đằng các ứng viên trả lời một nẻo, hoặc trả lời quanh co không vào trọng tâm vấn đề, hoặc bị “vặn” thì “đánh trống lảng”.

Thái độ đúng: Nghĩ xem mình đã đạt được những thứ dưới đây chưa:

  • Viết được academic essay dài tầm 3000 từ. Sang nước ngoài học, viết mấy cái bài luận kiểu này là chuyện rất bình thường. Nếu ứng viên không chuẩn bị trước thì không thể đủ kĩ năng để đi học cao học ở nước ngoài được chứ chưa nói đến xin học bổng.
  • Ngôn ngữ phải ngắn gọn, chính xác. Học ngoại ngữ đừng có chăm chăm mấy cái IELTS hay TOEFL. Không có chuyện học IELTS càng sớm càng tốt mới xin được học bổng. Cái IELTS nó chỉ là cái hình thức (form) thôi. Cái ứng viên cần là khả năng tạo ra ý tưởng mạch lạc, chính xác. Sau đó là hình thức ngắn gọn, chính xác (cả về viết và nói) bằng tiếng Anh. Đạt đến trình độ đó mới chắc tay vào phỏng vấn được. Mà đã đạt đến mức đó thì IELTS 6.5 là “muỗi”.
  • Từ thái độ đến giọng nói phải tích cực và truyền cảm. Có những người bạn của tôi, tuy sống rất hướng nội, nhưng vào phòng phỏng vấn mà được đụng chạm đến đúng công việc họ mê là họ “tả xung hữu đột” nói hăng say như lên đồng. Thái độ hay biểu cảm đó đến tự tinh thần thực sự học hỏi liên tục, đam mê, và sự tích lũy kiến thức thật. Chứ không phải đến tận lúc nghĩ tới học bổng mới lôi sách vở ra. Ngoài ra phải luyện tập điều khiển giọng nói của mình mỗi ngày, để lúc cần là nói ra được theo đúng ý. “Di sản” từ tiếng Việt có thể khiến giọng các ứng viên không có stress & intonation. Nhưng khi nói chuyện với người Anh, người Mỹ thì đó là những thứ tối quan trọng. Muốn có cái đó phải chăm chỉ chứ không có chuyện “một bước lên dời”.

Chưa đạt được điều gì thì dành thời gian mà học cho được đi rồi hãy nộp hồ sơ xin học bổng toàn phần.

  1. Thái độ với việc lên kế hoạch

Tất cả những thái độ thiếu nghiêm túc với kiến thức và kĩ năng dẫn đến việc các ứng viên không nghiêm túc với kế hoạch cá nhân. Thường thì các ứng viên chả có kế hoạch ngắn hạn nào.

Thái độ đúng: Sử dụng backward mapping

Đó là phương pháp lập kế hoạch: đặt ra mục tiêu cuối cùng trước, sau đó mới lập ra các mốc thời gian và công việc cần làm để đạt được nó. Áp dụng vào việc săn học bổng, nó sẽ thế này:

  • Mục tiêu cuối cùng là đạt học bổng. Trước khi học bổng mở khoảng 6 tháng đã phải dần dần lên ý tưởng. Lúc đó khả năng brainstorm, viết luận và trả lời phỏng vấn bằng tiếng Anh đã phải rất “cứng”.
  • Muốn có ý tưởng và khả năng viết thư xin học bổng, phải có kiến thức về nghề nghiệp sẽ làm và phải đi học viết. Tính ngược lại, trước lúc bắt đầu lên ý tưởng khoảng 2 năm đã phải đi làm ở một nghề nghiệp cố định, và gắn bó với nó trong ít nhất 2 năm. Như vậy mới có tạm đủ thông tin để tìm ý tưởng mà viết (trong đó có thông tin về công việc sẽ làm sau khi du học). Bắt đầu học viết luận cho ra hồn từ khoảng thời gian này cũng là vừa.
  • Tính ngược lại xa hơn nữa, trước lúc bắt đầu học viết luận 3 – 5 năm, phải bắt đầu học tiếng Anh nghiêm túc và kiên trì gắn bó với nó trong suốt thời gian đó. Như vậy mới đảm bảo khả năng giao tiếp bằng cả văn bản lẫn lời nói bằng tiếng Anh.

Tóm lại mất khoảng 5-7 năm để thật sự “cứng cáp” cho việc xin học bổng. Còn nếu không chuẩn bị kịp, đơn giản hãy dừng việc xin học bổng lại và bắt đầu kế hoạch cho thật chắc chắn.

Đừng tự tạo cho mình sức ép kiểu “em chán lắm rồi, em muốn phải được đi du học ngay”. “Good things come to those who wait” – Sự tự tin của tôi ngày xưa khi apply Chevening không đến từ không khí. Ngày đó tôi chờ đợi cơ hội, mài miết kĩ năng viết lách và tiếng Anh cho thật kĩ. Đến khi tung hồ sơ ra là phải chắc chắn 99% ở cùng ngành không ai cạnh tranh (được) với mình trong thời điểm đó.

  1. Thái độ quyết định kết quả ra sao?

Thái độ kém thường sẽ dẫn đến mấy hồ sơ dạng này:

Tiếng Anh trên giấy thì có vẻ đẹp đẽ nhưng hóa ra đến khi phỏng vấn mới vỡ lẽ. Câu cú lủng củng sai lên sai xuống. Có mỗi cái IELTS 6.5 mà chật vật ôn thi mất cả tháng hoặc hơn.

Ngành học giúp giải quyết vấn đề cụ thể nào cũng không biết. Thông tin về trường quanh đi quẩn lại chỉ nằm trong mấy cái ranking.

Bài luận trình bày dài dòng, không biết cách ngắt câu ngắn đoạn cho rành mạch. Một đoạn văn có khi dài tới 300 – 400 từ (???). Nhiều lúc tôi còn phải dở khóc dở cười khi đọc phải mấy hồ sơ “xin” luôn template rồi thậm chí ngôn từ trong bài luận của chính tôi. Mà trong các trường hợp đó có cả hồ sơ được học bổng toàn phần to đùng của nước nọ chứ.

Các ứng viên không hề biết rằng những hồ sơ như vậy khiến cho những người xét duyệt hồ sơ căng thẳng như thế nào. Câu chuyện nào chỉ đơn giản là lấy theo điểm số từ cao xuống thấp.

Trong khi các ứng viên chỉ phải thấp thỏm nghĩ đến hồ sơ hay màn phỏng vấn của mình, thì ban xét duyệt đang rơi vào hàng trăm thứ sức ép. Bao nhiêu công sức làm truyền thông, mang các thông tin học bổng rất tốt đến cho các ứng viên mà lượng hồ sơ quá hẻo. Sang năm giải trình với chính phủ người ta để xin kinh phí promote tiếp thế nào đây?

Tiếp đến là chuyện “so bó đũa, chọn cột cờ”: vừa phải đảm bảo chất lượng finalists, vừa phải duy trì được số lượng suất học bổng nhất định để đem lại lợi ích tốt nhất cho cả nước cấp học bổng và Việt Nam.

Rồi thì cân nhắc ứng viên bại hết cả não. Người chuyên môn tốt thì chỉ lại tốt … mỗi chuyên môn, không năng động. Người tự tin năng động thì tư duy lại quá hời hợt, ngây ngô. Người vừa có kiến thức chuyên môn ổn, vừa năng động, vừa có tư duy tốt, thì lại … “xôi thịt”, chả có ý thức hành động vì cộng đồng mà chỉ lấy học bổng làm bàn đạp cho mục đích cá nhân. Chuyện phải linh hoạt để “vớt vát” không hề hiếm.

Quyết định xong cũng đâu đã xong. Trao học bổng cho ứng viên rồi, nó lại bỏ để chạy sang học bổng khác. Thậm chí có khi đến đứa ở trong danh sách dự bị, đôn nó lên danh sách chính mà nó vẫn bỏ. Coi như công sức cân nhắc vớt vát nó đổ sông đổ bể.

“Sức ép không tự dưng sinh ra hay mất đi, nó chỉ chuyển từ người này sang người khác”. Ứng viên càng hồn nhiên phơi phới với cái hồ sơ của mình, thì sức ép tiêu cực ứng viên chuyển cho ban xét duyệt càng lớn. Mà phàm là con người chẳng ai thích đứa nào cho mình thêm sức ép tiêu cực cả. Ứng viên bớt đi cho ban xét duyệt một chuyện để nghĩ, thì cơ hội của ứng viên lại cao lên một nấc.

Tóm lại, thái độ nghiêm túc thể hiện thế nào?

Trước khi đợt nhận hồ sơ bắt đầu, đã phải chuẩn bị trước các kĩ năng và kiến thức cần thiết như tôi đã nêu trên.

  • Khi người ta bắt đầu cung cấp thông tin về yêu cầu hồ sơ, đề bài luận xin học bổng, thì phải bắt đầu ngay vào tìm ý tưởng và viết những dòng đầu tiên.
  • Tìm một người làm mentor giúp mình nhận xét, chỉnh sửa ý tưởng và viết lại mỗi tuần.
  • Không bao giờ được cho rằng hồ sơ của mình đã đủ tốt. Phải sửa đến sát ngày cuối cùng.
  • Trước khi phỏng vấn phải học cách chuẩn bị câu trả lời và kĩ năng phỏng vấn sao cho mọi thứ súc tích, chính xác, logic. Ứng viên có 1-2 phút cho mỗi câu trả lời, tương đương với 60 – 180 từ. Làm sao để nói thẳng vào vấn đề và gắn chặt với vấn đề.
  • Phải làm mock-interview với người có kinh nghiệm phỏng vấn và trả lời phỏng vấn.
  • Sau khi hết đợt học bổng, dù được học bổng hay không, cũng phải phân tích cho khách quan và kỹ càng tại sao mình được hoặc không được học bổng. Để sau đó rút ra đúng thứ mình và người khác cần.
  • Phải khiêm tốn. Khiêm tốn không phải thể hiện bằng mồm, kiểu lúc nào cũng oang oang “Tôi chưa bao giờ cho rằng tôi giỏi.” Khiêm tốn phải bằng hành động. Thật sự thấy mình chưa giỏi thì phải ưu tiên thời gian cho việc học. “Không có thời gian” là một “lame excuse”.

Chuẩn bị chắc chắn được bước nào, ứng viên càng ít phải lệ thuộc vào may mắn bước đó. Làm được tất cả những điều trên, ứng viên chỉ cần thần may mắn mỉm cười là được học bổng. Còn không thì các ứng viên sẽ cần thần may mắn bắt tay, ôm hôn, hoặc thậm chí nhận làm họ hàng mới vớ được học bổng -_-

Tái bút: Nhớ rằng mình đang xin một khoản đầu tư rủi ro trị giá 1 – 2 tỷ. Không nghiêm túc thì đứa nghiêm túc hơn mình nó sẽ giành mất.

University Ranking – Bảng xếp hạng đại học – Long D Hoang

Tôi đích thị là một đứa ưa danh vọng phù phiếm. Thế nên khi Archdaily đăng lại Bảng xếp hạng 100 trường kiến trúc tốt nhất thế giới của Quacquarelli Symonds, tôi phải cắm đầu vào ngay xem Đại học Nottingham đứng ở đâu.

Ơ kìa cái gì mà No. 80, tụt hạng à?

Tụt hạng là đúng rồi còn gì nữa? University of Nottingham được mấy ai biết, làm sao so với Columbia University hay Stanford University chễm chệ ở vị trí 12 với 23. Dưới Top 50 còn đó New York University hơn trường Nottingham cả chục bậc. New York nổi tiếng hơn Nottingham, cự cãi gì?

Nhưng sự thật nó không như vậy :v

Cả Columbia University, Stanford University, và NYU đều không có School of Architecture. Columbia không có khóa học kiến trúc bậc cử nhân, chỉ có Thạc sỹ Kiến trúc. NYU cũng chỉ có duy nhất 1 khóa dính dáng đến kiến trúc là Thạc sỹ Thiết kế Đô thị và Nghiên cứu Kiến trúc. Bi hài nhất, ở Stanford, chương trình duy nhất có liên quan đến kiến trúc là Bachelor of Science in Engineering with a specialization in Architectural Design.

Chuyện gì đã xảy ra với QS rankings?

Theo Telegraph, 3 bảng xếp hạng trường đại học thế giới được nhiều lượt theo dõi nhất là QS World University Rankings (QS), THE World University Rankings (THE), và Academic Ranking of World Universities (ARWU). 3 bảng này có phương pháp thu thập dữ liệu và đánh giá rất khác nhau. [1]

Về dữ liệu:

  • QS và THE đều thu thập thông tin về đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu, cơ sở vật chất, số lần được trích dẫn nghiên cứu, v.v. do các trường cung cấp, cùng với dữ liệu từ các cuộc khảo sát uy tín (reputation survey) với người tham gia khảo sát là các học giả và nhà tuyển dụng.
  • ARWU chỉ thu thập các dữ liệu liên quan đến thành tích nghiên cứu như: số lượng cựu sinh viên được giải Nobel và Fields, số lượng giải Nobel và Fields của trường, số lượng nhà nghiên cứu thường xuyên được trích dẫn, số lượng bài báo khoa học được đăng trên Nature và Science, chỉ số bài báo khoa học, v.v.

QS và THE thường được quan tâm hơn hẳn ARWU. Nguyên nhân rất dễ hiểu: việc nghiên cứu không phải là ưu tiên hàng đầu của tất cả các sinh viên. Mục tiêu quan trọng nhất của nhiều người vẫn là thu thập kiến thức và kĩ năng để đầu quân trong công nghiệp.

Về trọng số trong đánh giá:

  • QS ưu tiên uy tín của trường. Uy tín đối với giới học thuật và nhà tuyển dụng chiếm tới 50% trọng số khi xếp hạng. [2]
  • THE ưu tiên khả năng giảng dạy và nghiên cứu được đánh giá qua thông tin trường cung cấp. Các chỉ số như số lượng trích dẫn nghiên cứu, thu nhập từ nghiên cứu, hoặc số lượng nghiên cứu được công bố tính trung bình trên mỗi thành viên của khoa, chiếm tới 57% trọng số. [3]
  • ARWU chia khá đều trọng số cho các tiêu chí, nhưng tóm lại đều chỉ xoay quanh khả năng nghiên cứu. [4]

Như vậy, THE có vẻ sẽ đưa ra kết quả chính xác hơn về mặt khả năng truyền đạt kiến thức và nghiên cứu. Trong khi đó QS thể hiện được chính xác hơn “sức nặng” của một cơ sở đào tạo trong mắt nhà tuyển dụng và cơ sở đào tạo khác. Còn ARWU chỉ hoàn toàn thể hiện sức mạnh nghiên cứu của các trường trong mối tương quan so sánh. Sự khác biệt này là rất cần thiết vì tiêu chí chọn trường và ưu tiên của sinh viên rất khác nhau.

Các ưu điểm ngoài hệ thống xếp hạng chính:

  • QS có các bảng xếp hạng riêng lẻ theo 42 bộ môn (subject), 5 khoa (faculty), vùng (region), và khả năng được tuyển dụng (employability). Vì vậy việc tra cứu phục vụ nghiên cứu ngành hẹp hoặc tìm cơ hội việc làm rất tiện.
  • THE cũng có bảng tra theo bộ môn nhưng chỉ là đưa bộ môn thành một filter trong bảng xếp hạng chung, chứ không xếp hạng theo chất lượng đào tạo bộ môn đó.
  • THE cũng đưa ra các bảng xếp hạng chi tiết như xếp hạng khả năng được tuyển dụng, hoặc Alma Mater Index, tuy số lượng trường được đưa vào bảng khá hạn chế (khoảng 150 trường).

Hạn chế:

  • QS dựa trên kết quả khảo sát uy tín. Mà khảo sát uy tín dựa trên hiểu biết và cảm tính của người được hỏi. Sai sót từ đó mà phát sinh (như đã thấy ở trên) [5]
  • THE cũng có khả năng sai sót tương tự QS vì 33% trọng số nằm ở kết quả khảo sát uy tín.
  • Các trường chỉ chuyên về 1 lĩnh vực lớn sẽ không được xét ở QS. QS chỉ đánh giá các trường cung cấp khóa học ở cả bậc đại học và sau đại học, và giảng dạy ít nhất 2 trong số 5 lĩnh vực lớn: nghệ thuật và nhân văn, kĩ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và quản lý, khoa học tự nhiên, khoa học sự sống và y học. Nếu chỉ dựa vào QS, sinh viên hoàn toàn có khả năng bỏ qua những trường rất tốt và phù hợp. Ví dụ: Architectural Association School of Architecture là trường kiến trúc tốt nhất thế giới nhưng sẽ không bao giờ nằm trong xếp hạng của QS hay THE.
  • Các trường chỉ đào tạo bậc cao học hoặc tập trung vào đào tạo kĩ năng nghề nghiệp sẽ không được liệt kê trong THE. Lý do: THE không đánh giá các trường không dạy bậc đại học. Các trường không cho ra lò đủ lượng nghiên cứu nhất định cũng sẽ không được xếp hạng. BPP University là một ví dụ.
  • QS và THE có thể khiến người tra cứu hiểu sai về khả năng giảng dạy và nghiên cứu của các trường đại học nhỏ và trẻ. “Các trường đại học có quy mô nhỏ thường là các trường đại học trẻ”, có thể có đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu tốt, nhưng không thể tích lũy được lượng bài báo khoa học và trích dẫn nghiên cứu nhiều như các trường đại học lâu đời.[5] Mà trọng số của hai tiêu chí này lên tới 36% ở THE. Hạn chế này cũng xuất hiện ở QS nhưng ít nghiêm trọng vì trọng số của 2 tiêu chí chỉ là 20%.
  • Khả năng truyền đạt kiến thức hoàn toàn bị bỏ qua ở ARWU. Chỉ báo của ARWU cũng có phần cực đoan. Nobel và Fields là những giải thưởng danh giá bậc nhất, với số lượng người nhận giải rất ít so với tổng số hơn 16,000 trường đại học trên thế giới [5]. Nếu chỉ dựa vào các giải thưởng này để so sánh, sự phân hóa khả năng nghiên cứu của mỗi trường sẽ không rõ ràng. Các trường đại học trẻ cũng ít có cơ hội được đánh giá đúng.

Như vậy, các điểm cần lưu ý khi tra cứu bảng xếp hạng là:

  1. Bộ tiêu chí đánh giá của các bảng xếp hạng rất khác nhau. Rất thường xuyên, bộ tiêu chí đó không trùng với nhu cầu và ưu tiên của người tra cứu.
  2. Các bảng xếp hạng đưa ra được so sánh tương quan giữa các trường theo tiêu chí chung và riêng, chứ không thể chỉ ra rằng trường nào tốt hay phù hợp. Ví dụ, theo QS, Đại học Edinburgh (phát âm là /ˈɛdɪnbərə/ “E-đưn-b(ờ)-rờ” nhé) có uy tín hơn Johns Hopkins trong mắt nhà tuyển dụng (95 so với 64.7), nhưng lại có số lượng trích dẫn khoa học tính theo trung bình bộ môn thấp hơn Johns Hopkins (61.7 so với 81.8). Thực ra 2 trường này đều có chất lượng nghiên cứu và học thuật rất tốt và không thể chỉ dựa vào QS hay THE để lựa chọn.

Cách sử dụng bảng xếp hạng hiệu quả:

  1. Hiểu rõ nhu cầu, ưu tiên, và khả năng của mình khi chọn trường. Thường trên facebook group “Hội những người sắp đi UK”, mọi người sẽ hỏi nhau: “Mọi người ơi em đang tìm trường nào rank cũng được, không thấp quá nhưng cũng không cao quá để học không vất vả, còn dành thời gian đi làm thêm (thường là các công việc vặt như rửa bát, phục vụ) và du lịch.” Rõ ràng họ có nhu cầu nhưng không biết sắp xếp ưu tiên. Ưu tiên đi chơi cũng được, đi học cũng được, nhưng phải xác định ưu tiên cái này thì buông cái khác.

“At college (university) there are social life, sleep, good grades. Choose two.”

  1. Có hiểu biết đủ sâu về một trường nào đó để lấy đó làm điểm tham chiếu

Đơn giản nhất là hỏi đứa bạn nào đó có background gần giống mình và đã học ở trường đó xem học hành có thuận lợi và khó khăn gì.

Ngoài ra, cần tìm hiểu thông qua các giáo sư và cựu sinh viên. Chỉ cần gửi mail và biết cách hỏi đúng cái cần hỏi :v (hỏi cái gì thì quay lại mục 1 – biết nhu cầu, khả năng, và ưu tiên của mình)

Để tìm hiểu về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất, cách chính xác nhất đương nhiên là đến tận nơi tìm hiểu, quan sát, nói chuyện với giáo viên, hoặc đi nghe thuyết trình về các chương trình học, thậm chí xin tham gia các summer workshop. Cách này chính xác nhưng tốn kém.

  1. Chỉ sử dụng bảng xếp hạng để “khoanh vùng” lựa chọn.

Hồi tìm trường ở Anh, tôi khoanh vùng các trường cùng lúc nằm trong top 100 của QS, top 200 của THE, và top 100 của QS by subject. Sau đó tìm các trường có khóa học đúng chuyên ngành mình cần, và thấy được mấy trường UCL, University of Edinburgh, University of Liverpool, University of Nottingham, và University of Manchester. Vì Chevening cho phép chọn tối đa 3 trường nên tôi chọn Edinburgh, Nottingham, và Liverpool.

  1. Tránh mấy lỗi dưới đây.

Các lỗi thường gặp khi sử dụng các bảng xếp hạng để chọn trường: [6]

  1. Sử dụng bảng xếp hạng như thể nó phản ánh chính xác và toàn diện tình hình tương quan giữa các trường.

Bảng xếp hạng nào cũng có hạn chế đáng kể (như đã nói ở trên). Dựa vào thứ tự xếp hạng để ra quyết định cuối cùng là không hề khôn ngoan. Các thông tin từ giáo sư và cựu sinh viên đáng để tham khảo hơn nhiều.

  1. Quá chú trọng vào chênh lệch thứ hạng mà quên đi chênh lệch về điểm.

Trên thực tế, nhiều trường có thể chênh nhau một vài bậc trên bảng xếp hạng, nhưng khoảng cách về khả năng giảng dạy và nghiên cứu là không lớn (phản ánh qua điểm đánh giá). Thứ hạng của mỗi trường có thể lên hoặc xuống 3 – 5 bậc mỗi năm là chuyện rất bình thường. Không nên vì chênh lệch vài bậc giữa trường A và trường B mà ưu tiên trường có thứ hạng cao hơn.

  1. Cho rằng phương pháp xếp hạng đương nhiên phù hợp với ưu tiên và nhu cầu của bản thân

Như đã nói, mỗi bảng xếp hạng có tiêu chí và ưu tiên riêng. Việc đầu tiên khi xem bảng xếp hạng là đọc phương pháp (methodology) của nó.

  1. Cảm thấy thất vọng khi không thể vào/tìm được trường trong top 10/top 20 phù hợp với mình

Hiển nhiên, có nhiều trường đại học danh tiếng, có tài nguyên con người và cơ sở vật chất rất tốt, mặc dù đứng dưới top 100, thậm chí 200. Những trường top 10 chưa hẳn đã lựa chọn phù hợp nhất. Vì thế đừng tự đóng cơ hội của mình chỉ vì danh tiếng hay danh giá.

  1. Bỏ qua bảng xếp hạng theo bộ môn (miễn bình luận)

Tóm lại, bảng xếp hạng các trường đại học không phản ánh bức tranh toàn cảnh thế giới học thuật, càng không phải la bàn để định hướng chọn trường. Đừng để mình “tuyệt vọng” đến mức phải đưa thứ hạng của trường vào Statement of Purpose như một lý do chọn trường. That doesn’t help.

(This post is to be updated with FAQs. I would appreciate any question on this issue so please feel free to leave your comments)

Tài liệu tham khảo

[1] A. Marszal, “University rankings: which world university rankings should we trust?,” 4 October 2012. [Online]. Available: http://www.telegraph.co.uk/education/universityeducation/9584155/University-rankings-which-world-university-rankings-should-we-trust.html. [Accessed December 2016].

[2] QS Staff Writer, “QS World University Rankings Methodology,” Quacquarelli Symonds Ltd., September 2016. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/qs-world-university-rankings/methodology. [Accessed December 2016].

[3] Times Higher Education, “World University Rankings 2016-2017 methodology,” Times Higher Education, September 2016. [Online]. Available:
https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/methodology-world-university-rankings-2016-2017. [Accessed December 2016].

[4] L. Bridgestock, “World University Ranking Methodologies Compared,” Quacquarelli Symonds, September 2016. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/university-rankings-articles/world-university-rankings/world-university-ranking-methodologies-compared. [Accessed December 2016].

[5] M. B. Gokcen Arkali Olcay, “Is measuring the knowledge creation of universities possible?: A review of university rankings,” Technological Forecasting & Social Change, 2016.

[6] M. Frot, “5 Common Mistakes to Avoid When Using University Rankings,” Quacquarelli Symonds Ltd., August 2016. [Online]. Available:
http://www.topuniversities.com/blog/5-common-mistakes-avoid-when-using-university-rankings. [Accessed December 2016].

Các “cách” làm giảm cơ hội được học bổng – Long D Hoang

* Cảnh báo:

Bài này tiếp tục nói về thái độ trước, trong, và sau khi săn học bổng. Người viết sẽ nói thẳng. Mọi người cân nhắc trước khi đọc. Người viết không chịu trách nhiệm về việc có ai đó đọc xong rồi cảm thấy khó chịu.

* Chú ý:

  • Quan điểm của người viết: Không làm bất cứ việc gì với thái độ “liều ăn nhiều” – cầu may mắn. Không ai muốn trao cơ hội cho người không đủ nghiêm túc như vậy cả.
  • Bài viết dựa trên kinh nghiệm đọc và phản biện cho hàng trăm hồ sơ xin học bổng (cả đạt và không đạt). Khi tôi viết “nhiều người”, ý là nhiều người mà tôi đã được biết qua các hồ sơ trên.
  • Bài mang thể hiện quan điểm và bức xúc cá nhân.

Ai không đồng ý với những điều trên này hoàn toàn có thể dừng đọc tại đây.


Ở bài trước, tôi đã nói về cách tính toán cơ hội khi săn học bổng. Bài này sẽ dành cho những trường hợp tạm gọi là “thiếu hụt về nhận thức” khiến cho cơ hội đạt học bổng giảm đi. Thực ra đây chỉ là việc tổng kết và nhắc lại những gì mình đã nói (nhiều nội dung trùng với phần 2). Tuy nhiên tôi nhận thấy mình cần nói lại để đập tan nhiều ảo tưởng kì cục của nhiều người.

Chú ý: ngay cả khi mắc tất cả các lỗi này, người ta vẫn hoàn toàn có khả năng lấy được học bổng. Tuy nhiên khả năng đó rất thấp, và khi đó việc được học bổng hoàn toàn do may mắn.

1.   Du học khi kinh nghiệm chưa đủ về chất và lượng

Những người chưa đủ kinh nghiệm rất khó xin được học bổng. Bởi vì không có kinh nghiêm thì không thể biết được mình cần kiến thức gì, cần chọn khóa học nào cho chính xác. Mà khi chính mình còn không biết thì làm sao thuyết phục được ban xét duyệt học bổng.

Một số trường hợp dạng này:

Du học khi kinh nghiệm chưa đủ lượng

Một điều thường thấy: các bạn muốn du học thạc sỹ ngay sau khi tốt nghiệp đại học mà lại muốn có cả học bổng toàn phần nữa. Những trường hợp này đương nhiên không có chút kinh nghiệm làm việc nào nên không biết chọn khóa học phù hợp.

Những ứng viên có thể chọn được khóa học phù hợp để học tiếp luôn bậc thạc sỹ hầu như đều theo hướng nghiên cứu khoa học chứ không phải thực hành. Họ đã có kinh nghiệm cộng tác nghiên cứu hoặc tự nghiên cứu ở bậc đại học, nên nắm rõ ngành mà họ muốn tiếp tục nghiên cứu ở bậc cao hơn. Hầu hết những học bổng thạc sỹ không yêu cầu kinh nghiệm làm việc toàn thời gian (full-time) cũng dành cho những ứng viên như vậy.

Du học khi kinh nghiệm chưa đủ chất

Những người này thường có khoảng 1-3 năm kinh nghiệm, nhưng chỉ có 1 năm kinh nghiệm liên quan đến ngành dự định học. Hoặc có nhiều hơn 1 năm kinh nghiệm nhưng vị trí làm việc chỉ là thực tập sinh, hoặc tình nguyện viên bán thời gian.

Với kinh nghiệm như vậy, khả năng ứng viên xác định được một khóa học phù hợp, hoặc xây dựng được một kế hoạch làm việc hợp lý sau khi kết thúc khóa học là rất thấp. 1 năm kinh nghiệm không đủ để đảm bảo ứng viên sẽ tiếp tục được với ngành đã chọn. Vị trí thực tập sinh cũng có áp lực trách nhiệm và mức độ đóng góp khác hẳn, không thể so với những người làm việc chính thức toàn thời gian. Mà ban xét duyệt là những người phỏng vấn rất sắc sảo. Họ dễ dàng khai thác những điểm không chắc chắn ở ứng viên.

Tóm lại: Nếu ứng viên không có định hướng nghiên cứu, cũng chẳng phải người có nhận thức thiên tài, thì cứ đi làm trong một ngành suốt 2 năm, ở vị trí toàn thời gian đã, rồi hãy tính đến xin học bổng toàn phần. Ứng tuyển học bổng ở trạng thái kinh nghiệm chưa đủ chất hay lượng là một trong những hành động ngớ ngẩn, phí phạm thời gian nhất của người đi học.

2.   Không chuẩn bị kĩ càng

Không lên kế hoạch từ trước

Một kế hoạch săn học bổng hoàn chỉ thường được thực hiện trong tầm 5 – 7 năm mới có thể tạm đảm bảo sức cạnh tranh tối đa. Thời gian này bao gồm 2 – 4 năm học tiếng Anh, 2 năm vừa học tư duy và viết luận, vừa suy nghĩ thật kĩ về công việc mình muốn theo đuổi trong tương lai, 1 năm làm hồ sơ.

Việc lên kế hoạch này đảm bảo được 3 yếu tố:

  • Ngay cả khi không dành được học bổng, ứng viên vẫn có những kĩ năng có giá trị dài hạn, có thể áp dụng vào nhiều công việc khác nhau.
  • Ứng viên có đủ thời gian để hoàn thiện từng phần của bộ hồ sơ với chất lượng tốt, tránh tình trạng phải học tiếng Anh, thi chứng chỉ, làm giấy tờ bổ sung cùng lúc.
  • Dành được trọn vẹn thời gian từ khi cổng ứng tuyển mở cho đến hạn đóng hồ sơ để tập trung vào việc viết bài luận. Đây là phần quan trọng nhất khiến hồ sơ xin học bổng trở nên khác biệt, nhưng lại chỉ có thể bắt đầu khi cổng ứng tuyển mở.

Không chuẩn bị tốt kĩ năng ngôn ngữ

Để có thể viết được một hồ sơ xin học bổng tốt tốt, và học tập tốt ở nước ngoài, ứng viên cần khả năng sử dụng tiếng Anh ở mức độ C1 trong khung tham chiếu CEFR. Vì vậy, hãy đọc can-do statement của trình độ C1 trong khung tham chiếu CEFR và đối chiếu xem mình đã đạt C1 chưa. Nếu chưa đạt thì nhất quyết phải cố học thật sự cho đạt.

Hiểu sai về yêu cầu ngôn ngữ

  • Coi điểm IELTS là thang đánh giá chính xác khả năng sử dụng tiếng Anh của mình. Rất tiếc, điều này không chính xác. Điểm IELTS sẽ phản ánh đúng khả năng sử dụng tiếng Anh chỉ trong điều kiện người đi thi chỉ cần làm thử vài bài để quen với quy cách và dạng bài của IELTS. Bài thi này sẽ không phản ánh đúng khả năng sử dụng tiếng Anh nếu như ứng viên dành vài tháng luyện thi, ứng viên phải dùng các mẹo làm bài, hoặc ứng viên chỉ cố gắng dùng các từ ngữ hoặc cách diễn đạt học thuật để ăn điểm mà không thực sự hiểu chúng. Tôi sẽ nói kĩ hơn về vấn đề này ở một bài khác với các chứng cứ khoa học phù hợp.
  • Coi ngôn ngữ như điều kiện cần chứ không quan trọng. Nhiều ứng viên chỉ cố mau mau chóng chóng thi được IELTS 6.5, đạt điều kiện cần là xong. Đáng ra các ứng viên phải hiểu rõ mình làm sẽ làm được gì với trình độ ngôn ngữ đang có, chứ không nên dựa vào điểm số. Thực tế là đầy người đã xin được học bổng rồi vẫn còn chật vật với giao tiếp hàng ngày và viết luận ở các nước nói tiếng Anh, cho nên đừng tưởng bở.

Không chuẩn bị kĩ năng tư duy và diễn đạt

Việc không rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện và kĩ năng diễn đạt (nói và viết) sẽ dẫn đến 3 vấn đề:

  • Bài luận xin học bổng có chất lượng rất thấp.
  • Khi đi phỏng vấn không hiểu câu hỏi và không diễn đạt sao cho thuyết phục. Ban phỏng vấn luôn là những người rất sắc sảo. Họ sẽ hỏi những câu ứng viên không bao giờ nghĩ ra nổi. Chỉ có tư duy tốt và khả năng làm chủ diễn đạt mới có thể giúp ứng viên tự quyết định được số phận.
  • Được học bổng nhưng khi đi học kết quả không tốt. Đơn giản là: không có tư duy phản biện tốt và khả năng viết thật tốt thì làm sao viết nổi những bài luận 3000 – 5000 từ. Chuyện ứng viên được học bổng chính phủ hẳn hoi mà vẫn diễn đạt kì cục không phải chuyện hiếm (tôi không tiện nói ra, ai đọc được thì tự biết mà sửa).

3.   Kĩ năng thu nhập thông tin kém

Có 3 kĩ năng thu thập thông tin quan trọng gồm: literacy, computer literacy, và Internet literacy.

Khi ứng viên đọc không kĩ và hiểu không trong sáng, thì sẽ suy diễn ra thông tin không có thật. Ví dụ như rất nhiều người cho rằng Chevening luôn ưu tiên người đang làm cho khối nhà nước và cũng không thèm đọc quy định của Chevening để kiểm tra lại. Hoặc một số người đến giờ vẫn cho rằng Chevening có các ngành ưu tiên, trong khi quy định này đã bị gỡ bỏ từ năm 2015.

Bên cạnh đó, sự thụ động trong việc tìm kiếm thông tin sẽ giới hạn nhận thức và hiểu biết của ứng viên về các loại học bổng. Thực ra thông tin về học bổng hiện nay rất nhiều và rất kỹ (Ví dụ như blog này). Các ứng viên chỉ cần đọc các blog và đọc kỹ các thông tin trên trang chính thức của học bổng là đã đủ thông tin về điều kiện cần và đủ của học bổng rồi.

Còn sự yếu kém trong sử dụng máy tính và Internet để thu thập thông tin sẽ dẫn đến việc thông tin ứng viên tìm được chẳng có gì khác biệt cả. Mà nếu thế thì làm sao thuyết phục được ban xét duyệt rằng lý do lựa chọn khóa học của mình chân thật và thật sự khác biệt?

Đi đánh trận, không hiểu rõ về đối phương mà cứ xông lên, thì dù thắng hay thua cũng đều dở cả. Thắng cũng không biết tại sao mà thua cũng không biết vì sao.

4.   Chọn trường một cách hời hợt

Một lỗi cơ bản của các ứng viên khi nói lý do chọn trường: chọn trường vì thành tích của trường. Ví dụ: tôi chọn trường này vì trường có ranking cao, có mấy giải Nobel, có bao nhiêu công trình nghiên cứu trên Nature hoặc Science.

Những thành tích đó không hề đảm bảo việc khóa học sẽ đem lại những kiến thức hay kĩ năng có ích. Và “có ích” hay không, nó phải liên quan chặt chẽ tới lý do đi học và kế hoạch sau khi học. Rất nhiều hồ sơ không thể hiện được các mối liên quan chặt chẽ và riêng biệt này. Hoặc hồ sơ sẽ chỉ giải thích tại sao muốn đi học, hoặc sẽ chỉ giải thích tại sao chọn trường học đó với các lý do hời hợt.

5.   Viết bài luận kém

Lỗi cơ bản của người Việt Nam là dài dòng. Trích một phần Long đã nói về lỗi này trong Phần 2:

Ví dụ: Yêu cầu là “Outline why you have selected your chosen three university courses, and explain how this relates to your previous academic or professional experience and your plans for the future”

Rất thường xuyên, người viết kể lể ra một lô một lốc tình hình Việt Nam đang ra sao, mất tầm 150 từ. Sau đó các ứng viên kể lể cái ngành chung chung mình học là cái chung chung gì, mất thêm 150 từ. Sau đó kể nốt tôi học ngành đó để rồi tôi làm ra cái gì, mất nốt 150 từ. Mà bài luận giới hạn 500 từ. Cuối cùng còn chả nhắc nổi cái tên khóa học với tên trường cho ra hồn.

Lỗi thứ 2 là thích dùng từ “đao to búa lớn” và học thuật. Đây thực ra là điều tối kỵ trong viết, thậm chí với viết học thuật. Mục tiêu quan trọng nhất của việc viết là khiến người đọc hiểu đúng điều mình muốn họ hiểu. Và để đạt được mục tiêu đó, từ ngữ CÀNG THÔNG DỤNG VÀ GIẢN DỊ CÀNG TỐT.

Lỗi thứ ba là hay sử dụng tính từ để nói về mình hoặc sản phẩm của mình. Đây cũng là điều tối kỵ trong viết hồ sơ xin học bổng. Bởi vì đó là cách viết khoe khoang, dùng cảm giác chủ quan của mình để “nhét chữ vào mồm người đọc”. Một bài viết tốt và khách quan sẽ sử dụng nhiều động từ để mô tả những gì mình đã làm, còn người đọc sẽ tự đánh giá tố chất của ứng viên.

6. Không biết cách tham khảo ý kiến

Về mặt này, ứng viên thường hay mắc 2 lỗi: không tham khảo ý kiến, hoặc tham khảo ý kiến không đúng người đúng việc.

Không tham khảo ý kiến (sớm)

Lỗi này thì … chả còn gì để nói. Bây giờ thông tin rất dễ tìm. Ứng viên có thể liên lạc với các alumni dễ dàng thông qua mạng facebook. Vậy thì tại sao không tham khảo ý kiến của họ trước khi apply học bổng một vài tháng? Tôi ước tính 50 – 80% học giả mới của các học bổng chính phủ đều tham khảo ý kiến của alumni đấy.

Tham khảo ý kiến không đúng người, đúng việc

Thứ nhất, đa số alumni chỉ giải đáp được thông tin về điều kiện cần để duyệt học bổng và thông tin phụ khác như học tập, sinh hoạt, ăn ở. Còn các tiêu chí đủ thì … nói thật chứ nhiều khi chính họ còn chả biết tại sao họ đạt thì ai mà dám nói chắc cho ứng viên được. Nếu muốn biết tiêu chí học bổng ra sao, phải xem alumni là người thế nào, chứ đừng nghe những cái alumni tự nói.

Thữ nữa, đừng mặc định là alumni nào cũng sắc sảo trong tư duy và viết luận xin học bổng (hai kĩ năng này liên quan chặt chẽ với nhau). Thậm chí rất ít người giỏi kĩ năng này. Cho nên đừng trông mong rằng họ sẽ cho ứng viên thông tin đặc biệt giá trị nào về cách viết luận hay phản biện được bài luận cho bạn. Hãy tham khảo thông tin từ chỉ 1, cùng lắm là 2 người mà ứng viên thấy thực sự có tư duy phản biện tốt. Tôi đã có những trải nghiệm với những người tự xưng mình vừa là thầy, vừa là alumni nhưng kĩ năng viết và tư duy rất kém, tư cách lại còn … (mời đọc post trước để biết thêm chi tiết)

7.   Không nghiêm khắc với bản thân

Thái độ này mới chính là nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề kể trên.

Không khiêm tốn

Bệnh chung của rất nhiều người chưa hoặc đã đạt học bổng là “bệnh tưởng”.

Tưởng mình đã dùng tiếng Anh tốt lắm, tỉ mỉ cẩn thận trong câu từ lắm. Nói thật, xưa nay tôi chỉ thấy nhóm các bạn học ngành luật mới thật sự đáng được gọi là chính xác tỉ mỉ về câu từ tiếng Anh. Còn lại, hiếm vô cùng.

Tưởng mình đã điều tra được nhiều thông tin tốt lắm. Thực ra, phàm cái gì có sẵn trên mạng, mình tìm ra thì người ta cũng tìm ra.

Tưởng mình đã có động lực và kế hoạch đủ tỉ mỉ. Kiểm tra cái kế hoạch này thực ra khá dễ, cứ dùng tiêu chuẩn SMART mà xét.

Bonus: Một số người tưởng học bổng là cái chứng nhận tài năng cá nhân. Rồi được học bổng xong không thèm cảm ơn người đã tận tình hướng dẫn mình (cái này bạn tôi đã bị chứ tôi thì chưa, may quá). Thực tế là: cái học bổng phần nhiều chứng nhận mình may mắn hơn vài trăm người khác, chứ không chứng nhận cho những gì mình đóng góp được cho cộng đồng. Còn người hướng dẫn mình dù sao cũng là senior fellow của mình, còn gặp nhau dài dài thì nên khiêm tốn biết cách cư xử với nhau.

Liều ăn nhiều

Cứ nộp hồ sơ, thậm chí nộp hồ sơ nhiều lần trong khi biết rõ rằng kinh nghiệm mình chưa đủ. Hoặc biết trình độ ngôn ngữ của mình tầm thường, kĩ năng tư duy, động lực và kế hoạch của mình cũng chẳng có gì vượt trội mà vẫn tặc lưỡi “thôi kệ cứ nộp, liều ăn nhiều”.

Vấn đề là, với thái độ và cách chuẩn bị như vậy, việc đạt được học bổng hoàn toàn dựa vào may mắn. Ngay cả khi được học bổng, việc “cố đấm ăn xôi” như vậy không thể gọi là “hard work pays off” hay “resilience” được. Về lâu dài, thái độ như vậy cũng không thể khiến một người đi xa được, và anh ta sẽ nhanh chóng phí phạm cơ hội mà thôi.

Lười và thụ động

Lỗi này là bệnh chung của người Việt Nam rồi. Biết bao nhiêu thứ cần chuẩn bị như ở trên kia tôi đã nói, nhưng không đủ quyết tâm để làm.

Ban xét duyệt đủ sắc sảo để phát hiện ra tất cả những thái độ trên. Hiển nhiên là bất đắc dĩ lắm họ mới phải trao học bổng cho các trường hợp như vậy.

 8.  Hậu quả

Tự tạo cho ban xét duyệt cơ hội từ chối mình

  • Đã xin học ngành không liên quan chút nào đến ngành học ở bậc đại học, mà lại không có kinh nghiệm phù hợp thì tại sao chúng tôi (ban xét duyệt) không chọn người có kinh nghiệm phù hợp hơn?
  • Kinh nghiệm làm việc của bạn không đủ chất và lượng thì tại sao chúng tôi không chọn người có kinh nghiệm tốt hơn?
  • Tiếng Anh của bạn còn non kém, tại sao chúng tôi không chọn người cùng ngành, cùng kế hoạch và động lực làm việc, nhưng tiếng Anh tốt hơn bạn? Với tiếng Anh tốt hơn, họ rõ ràng dễ thành công trong khóa học sắp tới hơn bạn mà.
  • Bài luận của bạn còn hời hợt, tại sao chúng tôi không chọn người có tư duy và chuẩn bị kĩ càng hơn bạn?
  • Đam mê và động lực của bạn cũng chân thật đấy, nhưng người khác cũng chả kém hơn bạn đâu. Sao tôi phải chọn bạn?
  • Bạn không nói được rằng mình sẽ đem lại lợi ích gì cho chúng tôi, vậy tại sao chúng tôi không chọn người đem lại nhiều lợi ích cho chúng tôi hơn bạn.

Những thứ trên không thể bù trừ cho nhau. Bởi vì, làm sao có thể nói một người có kinh nghiệm tốt đáng được học bổng hơn một người có đam mê lớn? Hơn nữa, trong hàng trăm hàng nghìn hồ sơ ứng tuyển, sẽ chẳng thiếu gì những hồ sơ tốt trên tất cả các mặt: bằng cấp, kinh nghiệm, tư duy, động lực, kế hoạch. Hiển nhiên, bằng cấp không bằng người, kinh nghiệm cũng ngắn ngủi không chất lượng bằng người, chỉ có đam mê nhưng lại là thứ chả so sánh hơn kém được, thì chỉ có trông vào may mắn mới được học bổng chứ sao nữa.

Tự giới hạn khả năng phát triển kiến thức và kĩ năng

Nhìn thẳng vào vấn đề: với kĩ năng tiếng Anh chỉ ở dạng vừa đủ, tư duy phản biện kém, khả năng viết luận kém, thì liệu ứng viên (ngay cả khi đã có học bổng) tận dụng được các tài nguyên con người, vật chất và phi vật chất ở khóa học thạc sỹ sắp tới như thế nào? Chuyện ứng viên học hành lớt phớt không phải chuyện hiếm. Những ai đã từng đi Úc theo học bổng AAS đều biết cộng đồng sinh viên ở Úc (bao gồm cả học giả AAS) phân chia rất rõ ràng. Một nhóm những sinh viên chăm chỉ và chuẩn bị tốt sẽ dành nhiều thời gian cho việc học và đạt được kết quả rất tốt (hầu như High Distinction). Nhóm còn lại là những người trình độ tự học và nghiên cứu thấp, tiếng Anh yếu, dù có học bổng cũng chỉ đi học để lấy điểm Pass rồi dành thời gian còn lại đi … làm thêm. Tôi không nói đâu là sai hay đúng, nhưng con đường nào tạo được lợi ích dài hạn hơn cho họ thì hẳn mọi người thấy rõ.

9. Làm sao để nổi bật giữa hàng trăm hàng nghìn bộ hồ sơ?

Dễ lắm. Làm sao để ban xét duyệt không có cơ hội từ chối mình. Là loại bỏ tất cả những lỗi trên

Một bộ hồ sơ tốt cần phải hội tụ tất cả mọi yếu tố thì người ta mới không có cơ hội từ chối mình. Năm ngoái tôi có hướng dẫn cho 12 bộ hồ sơ khác nhau cho nhiều học bổng hỗ trợ phát triển dành cho Việt Nam, trong đó có 7 bộ hồ sơ thành công. Trong những hồ sơ thành công đó, những bộ nào không cực kì may mắn thì lại có sự chuẩn bị rất kĩ lưỡng và đầy đủ, từ kinh nghiệm, kĩ năng cho đến thái độ.

Dĩ nhiên, chọn chuẩn bị hay trông vào may mắn thì tùy từng người. Nhưng sự “ngây thơ” và thái độ hời hợt không giúp ai tiến xa được đâu, chứ đừng nói làm ra được sản phẩm gì giúp đỡ người khác.

Lợi ích của việc du học bậc cao học – Long D Hoang

Du học bậc cao học không giống như bậc đại học. Đại học là một bước nền tảng mà đa số mọi người (ít nhất là ở Việt Nam) sẽ trải qua. Hoặc nếu không học đại học mà đi làm, đa số người ta cũng sẽ … quay lại học đại học sau một thời gian.

Còn cao học không như thế. Bước tiếp thêm 1-2 năm nữa là một ván cược lớn hơn, bởi vì người ta phải chấp nhận bỏ dở những gì đã xây dựng được trong những năm làm việc trước đó. Hoặc nếu đi du học khi chưa có kinh nghiệm làm việc, xác suất chọn ngành không phù hợp là rất cao.

Tréo ngoe thay là rất nhiều người khi được hỏi tại sao lại chọn khóa học đó lại đưa lại rất nhiều câu trả lời hồn nhiên.

Thực ra chọn học cao học (hay bất cứ khóa học nào cũng thế thôi), người ta sẽ phải trải qua mấy bước:

  1. Biết mục đích và nguyện vọng của mình.
  2. Biết khóa học đem lại lợi ích gì.
  3. So sánh xem mục đích và lợi ích có khớp nhau không.
  4. Đánh giá mình có đủ khả năng để thu nhận và phát huy hết những lợi ích đó không. Nếu chưa đủ thì cần làm gì, bỏ ra bao nhiêu nữa để có đủ khả năng.
  5. Dựa trên phân tích chi phí – lợi ích rồi mới quyết định đi học.

Phần 5 của loạt bài về du học này sẽ được viết thành 3 phần nhỏ (hoặc có thể mình sẽ viết 2 phần tiếp theo thành phần 6 và phần 7): lợi ích của việc du học bậc cao học, một số mục đích phổ biến khi du học và so sánh chúng với lợi ích, và một số việc cần chuẩn bị để đảm bảo tận dụng được khóa học tốt.

Chú ý: Bài viết này chỉ dành cho những bạn đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam.

Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu

Một môn cực kì phổ biến mà gần như ai học cao học ở Anh cũng phải động vào đó là (Advanced) Research Methods. Nếu như ở Việt Nam, môn này được nhiều bạn học cho qua, thì ở Anh đó là môn phải học nếu muốn tốt nghiệp. Hồi học kì 1 ở University of Nottingham, mình được một giáo sư “cứng” về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội đứng lớp (sau cùng thì người ta vẫn xếp kiến trúc vào khoa học xã hội). Phương pháp của bà là 50% bài giảng, 50% workshop. Sau 10 tuần, sinh viên sẽ từng bước thực hành xây dựng đề cương nghiên cứu. Bài tập hết môn là viết một cái đề cương nghiên cứu dài 3,500 từ (hơi ít).

Đến kì 2, sinh viên sẽ ngay lập tức được áp dụng phương pháp lẫn kiến thức nguyên lý, chỉ số, chỉ báo vào môn Case Study. Tức là sẽ chủ động tự làm tất tần tật các công đoạn của một nghiên cứu nhỏ: lập đề cương và kế hoạch, đem dụng cụ và bảng hỏi ra thực địa để khảo sát, tổng hợp và phân tích thông tin, báo cáo định kì. Kết thúc là một cái báo cáo nghiên cứu viết theo format của một bài báo nghiên cứu khoa học.

Sang kì 3, sinh viên sẽ được tống vào mặt nhiệm vụ: nghiên cứu và viết một luận văn (ở Anh gọi là dissertation) dài 20,000 từ trong vòng hơn 3 tháng. Mục đích cuối cùng của Case Study và Dissertation không phải là để cho có, mà còn nhắm đến việc công bố ở dạng các bài báo nghiên cứu khoa học.

Cần chú ý một chút: các khóa thạc sỹ ở Anh thường xuyên hướng tới các môn dạy tư duy-phương pháp nghiên cứu và các môn khai phóng hàn lâm. Còn các khóa học thạc sỹ ở Mỹ lại hướng tới các kiến thức và kĩ năng để giữ các vị trí công việc chuyên nghiệp hơn.

Xây dựng mối quan hệ

Việc xây dựng mối quan hệ tốt với các giáo sư thông qua công việc trong chính chuyên ngành của họ thường ít được sinh viên đại học ở Việt Nam chú ý. Các bạn sinh viên học khoa học tự nhiên có vẻ khá hơn chút, chịu khó làm trợ lý nghiên cứu cho các thầy. Còn lại nhìn chung việc này không quá phổ biến.

Học cao học ở nước ngoài là cơ hội để các bạn … sửa sai, nhất là những bạn muốn làm nghiên cứu. Chỉ cần các bạn nhiệt tình, giáo sư sẽ hỗ trợ tận răng cho việc nghiên cứu của bạn. Sinh viên ở khóa mình thường xuyên được giáo sư hỗ trợ chuyển luận văn và case study thành các bài báo nghiên cứu. Hồi mình mới về Việt Nam, thầy chủ động nhắn mình gửi abstract cho hội nghị khoa học PLEA 2017. Sau đó suốt mấy tháng, trò viết, thầy duyệt, đi đi lại lại nhiều lần. Thầy sửa từ ý tưởng đến cả câu từ. Ai đã quen Long đủ lâu sẽ biết trình tiếng Anh và độ kĩ tính của Long gớm ghiếc thế nào. Thế mà thầy còn sửa cho đỏ toẹt cả bài. Lại có thêm một bài học nữa về chuyện “Know your audience”.

Xong nhiều lúc làm việc với bên hội đồng khoa học của hội thảo mà chỉ muốn … bóp cổ cái đứa đang viết email trả lời mình. Nhưng do thầy nhiệt tình quá nên mình lại bấm bụng. Cuối cùng cũng đăng được bài báo khoa học trên Kỷ yếu hội nghị.

Trường hợp như mình không hề hiếm. Tính đến nay đã có tầm 20 người được thầy cô mình hướng dẫn như vậy rồi. Có người tốt nghiệp xong 1 năm đã có bài nghiên cứu đăng trên Springer. Học trò đều là first author hẳn hoi, các thầy cô chỉ là second & third authors thôi.

Không chỉ trong nghiên cứu, các thầy cô còn sẵn sàng giới thiệu mình với các đơn vị hành nghề hay các cơ hội học tập khác. Việc các sinh viên đứng đầu khóa được các công ty kiến trúc tuyển dụng và bảo lãnh visa cho ở lại Anh là việc thường xuyên, gần như năm nào cũng có ở khóa mình. Còn sinh viên đi học PhD cũng không phải khó (nói thật, trong mắt mình là dễ) khi đã có mối quan hệ và các công bố khoa học như trên.

Thử sức trong phạm vi trường học

Các cơ hội để thử sức có thể đến từ bất cứ đâu. Bạn có thể tham gia các cuộc thi chuyên ngành, tham gia các câu lạc bộ (club hoặc society) của sinh viên, hoặc thử sức ở các vị trí làm việc cho trường. Nhiều bạn bè của mình trong lẫn ngoài cộng đồng Chevening đã làm trưởng khóa, tình nguyện viên, hoặc đại sứ sinh viên quốc tế cho trường.

Cái hay ở chỗ: các thầy cô hết sức hỗ trợ. Cô giáo môn Project 2 của mình thậm chí còn lấy chính đề bài của một cuộc thi kiến trúc quốc tế làm 1 trong 3 đề bài của môn học. Sinh viên nào chọn đề bài đó sẽ được hỗ trợ để chuyển đồ án thành một poster gửi đi dự thi luôn.

Hồi đó đội mình giành được giải nhất toàn UK (thực ra là vì chả có đứa nào thèm gửi bài dự thi thôi, mình đoán thế). Đội mình, cùng đội giải nhì được đi tham gia vòng chung kết ở Belarus. Không phải chuyện đi thi được giải hay không, mà là lần đầu tiên mình được đến khu vực các nước Liên Xô Cũ.

Mình được nói chuyện với những người mà cái gì cũng chỉ quy ra được Ruble hoặc US Dollar, thậm chí ít người trong số họ nói tiếng Anh giỏi. Họ không hề nghèo, thậm chí rất giàu. Nhưng họ nghèo cái khác.

Rồi mình được học hỏi những cách làm đồ án rất giàu cảm hứng. Họ thể hiện đồ án tốt đến nỗi mà thầy dẫn đoàn phải bảo “Tao tưởng như mình ngửi được không gian chúng nó vẽ ra”. Đó là cái mà mấy đứa học ở UK thiếu.

Cuối cùng là nhận ra tại sao hình như chả sinh viên kiến trúc nào ở mấy trường tốt ở Anh đi thi. Mà rộng hơn ra thì, có vẻ như chỉ có sinh viên Việt Nam hay các nước còn ở vùng trũng về học thuật mới vui vầy với nhau trong các cuộc thi quốc tế.

… và ngoài trường học

Đến Belarus là lần đầu tiên mình biết được dân Kazakhstan toàn người lai Á-Âu. Có những trường hợp đặc biệt như kiểu bố người Hàn Quốc, mẹ người Nga, và giờ cả nhà ở Kazakhstan :)) Và vì là con lai nên họ rất đẹp. Chỉ kì cục là riêng đám con trai Kazakh lại hơi bị … khiêm tốn về ngoại hình.

Đó cũng là lần đầu tiên được ờ trong khách sạn Marriott ở Minsk trong 3 ngày, ăn uống party bằng voucher của khách sạn hoặc được ban tổ chức chiêu đãi. Ai muốn đi chơi sẽ có xe đón rước đến tận trung tâm thành phố.

Hay ho hơn, một số bạn may mắn có cơ hội thực tập hay làm việc bán thời gian ở các vị trí phù hợp với ngành học. Một người bạn của mình đã từng thực tập marketing ở International Students House tại London. Các sinh viên ngành Environmental Design của mình cũng được giới thiệu cho nhiều công việc cộng tác với các công ty trong ngành trong các dự án rất thú vị, như tái sinh một khu ở đã bị bỏ hoang chẳng hạn. Sau các kinh nghiệm như vậy, khả năng được các công ty tuyển dụng đương nhiên rất cao.

Quan trọng hơn cả: những cơ hội này rất phù hợp với mục tiêu học hỏi chuyên ngành, và nó sẽ đến với những người chịu bỏ công sức làm việc nghiêm túc.

Chuẩn hóa kiến thức và bằng cấp

Nói gì thì nói, một lợi ích hết sức thực tế của việc đi học nước ngoài là lấy một bằng cấp được thế giới công nhận.

Ở Anh, có 24 trường nằm trong một nhóm gọi là Russell Group, gồm các trường đại học dẫn đầu UK luôn đảm bảo duy trì chất lượng nghiên cứu tốt nhất và dạy-học vượt trội, cùng với các mối liên kết mạnh với khu vực công và hành nghề tư nhân. Hầu hết các trường này nằm trong top 100 hoặc 150 của các bảng xếp hạng QS và THE. Rất nhiều học giả Chevening đã chọn học tại các trường này. Đặc biệt UCL và LSE – các trường hàng đầu về khoa học xã hội, kinh tế học, luật, đều có tới cả trăm Chevener theo học mỗi năm.

Từ chỗ tốt nghiệp ở các trường thậm chí còn chả được xếp hạng, đến chỗ được vào top 100 hoặc thậm chí top 10, là một bước nhảy vọt rõ ràng.

Hơn nữa, một bộ kiến thức vững vàng là hành trang … xóa mù dài hạn. Điểm mạnh của kiến thức này không phải là nó có tính thực dụng cao, học xong là áp dụng được ngay. Điểm mạnh của nó là những người thực sự hiểu và biết cách tư duy sẽ vận dụng nó vào được mọi vấn đề. Phương pháp tư duy nghiên cứu khoa học xã hội mà tôi được học là một trong những thứ như vậy.

Tự do để học, học để tự do

Việt Nam chưa có đủ tài nguyên để sinh viên được có tự do học thuật. Cách tổ chức và quy định chương trình không cho phép sinh viên khám phá nhiều môn tự chọn. Và ngay cả khi có cơ hội, sinh viên cũng không được chọn những môn có tính khai phá tư duy như nhân quyền hay nhân chủng học. Chưa kể là cơ sở vật chất và con người còn hạn chế.

Còn ở Anh, nhiều chương trình thạc sỹ có các môn tự chọn để sinh viên thoải mái chọn theo hướng nghiên cứu hoặc phát triển nghề nghiệp của họ. Ví dụ như một người học về Educational Leadership & Management ở UCL hoàn toàn có thể chọn môn “vĩ mô” như Values, Vision and Moral Purpose hoặc môn “vi mô” như Developing Personal Leadership Skills.

Sinh viên cũng có quyền hẹn gặp với bất cứ giáo sư nào trong các khung giờ giáo sư tiếp sinh viên. Chỉ cần đến phòng của giáo sư và điền tên mình vào khung giờ đó. Việc tiếp và giải đáp thắc mắc của sinh viên là trách nhiệm của các giáo sư.

Trường cũng cung cấp một loạt khóa học ngắn hạn miễn phí gọi là in-sessional courses. Rất nhiều khóa học trong đó hỗ trợ phát triển các kĩ năng mềm thực dụng như: tiếng Anh (yeah, lại tiếng Anh), viết luận văn, viết luận. Mình cũng đã tham gia hai khóa học về presentation và dissertation writing như vậy.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu ở các đại học tốt thì phong phú khỏi phải nói. Sinh viên có thể sử dụng tài khoản sinh viên để truy cập vào hầu hết các kho bài nghiên cứu khoa học trên thế giới, đọc và download hoàn toàn miễn phí. Thư viện có hàng chục nghìn đầu sách với đủ kiểu vị trí ngồi học. Bạn được quyền ồn ào ở chỗ học nhóm. Còn ở khu đọc chuyên ngành hoặc phòng đọc riêng, người ta giữ yên lặng đến mức nghe thấy tiếng thẻ rơi trên thảm.

Và nếu bạn chọn một trường thuộc “nhóm tốt”, bạn sẽ thấy chương trình của họ tập trung nhiều vào việc phát triển con người có tư duy độc lập và phản biện, để nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và tự do hơn. Họ không muốn tạo ra các nô lệ cho công việc chỉ đi học để lấy công cụ thực dụng làm việc. Cái gọi là môi trường học thuật mà người ta ca ngợi ở các nền giáo dục tiên tiến, thực chất là từ mục tiêu tạo ra con người biết cách suy nghĩ, khám phá, phát triển và thuần thục chính bản thân.

Tóm lại, các lợi ích của việc du học bậc cao học ở Anh (và có thể ở các nước phát triển khác) là:

  • Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu.
  • Xây dựng các mối quan hệ.
  • Thử sức để học hỏi trong và ngoài trường học.
  • Nâng cao và chuẩn hóa kiến thức lẫn bằng cấp.
  • Học để tự do.

Hi vọng các bạn cảm thấy phần này bổ ích mặc dù nó hơi dài. Hẹn gặp lại ở phần tiếp theo, liên quan chặt chẽ tới phần này 😀

Tính toán cơ hội khi xin học bổng – Reckoning the odds – Long D Hoang

Bài này sẽ chỉ ra các nguyên tắc cơ bản cần xem xét trước khi xây dựng chiến lược săn học bổng.

*Chú ý: Đây là những phân tích để cung cấp góc nhìn rất thực tế về việc săn học bổng, chứ không phải để ngăn cản hay làm nhụt chí các bạn. Ngôn từ và quan điểm tôi viết ra sẽ đi ngược lại ý thích hay quan điểm của nhiều người. Nhưng mọi câu chuyện tôi nói đều là có thực.

Người chưa được học bổng nên đọc để hiểu hơn về cơ hội và khả năng của mình.

Người vừa mới được học bổng cũng nên đọc để hiểu hơn tại sao mình đạt học bổng, tránh việc đưa ra những thông tin hay quan điểm thiếu cơ sở khiến cho nhiều người khác tốn công sức vô ích.

*Các học bổng được nhắc đến ở đây là học bổng bậc thạc sỹ do các chính phủ hoặc quỹ đa chính phủ cấp.

Nguyên tắc 1: Mỗi học bổng có một bộ tiêu chí riêng

Các tiêu chí năng lực bên trong: là các yếu tố bên trong mà ứng viên hoàn toàn có thể trau dồi và thay đổi để đạt các tiêu chí này

  • Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn
  • Nền tảng kiến thức và khả năng nghiên cứu (ở ngành ứng tuyển)
  • Khả năng tư duy và giao tiếp
  • Các kĩ năng, phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu. Ví dụ: động lực cá nhân, khả năng lãnh đạo, kĩ năng tạo mối quan hệ, khả năng làm đại sứ văn hóa.

Trong đó, 3 yếu tố chuyên môn, học thuật, và tư duy là có thể so sánh được tương đối rõ ràng giữa ứng viên này với ứng viên khác dựa trên số năm kinh nghiệm, thành tích học và ngành học, và các bài luận xin học bổng. Tuy nhiên, nếu các ứng viên có ngành ứng tuyển khác nhau, việc so sánh cũng tương đối khó.

2 yếu tố động lực và phẩm chất cá nhân rất khó có thể so sánh và hoàn toàn dựa trên đánh giá cảm tính.

Các tiêu chí bên ngoài: là các yếu tố bên ngoài được mặc định từ khi sinh ra hoặc ứng viên ít có khả năng thay đổi.

  • Đa dạng quốc tịch, đa dạng văn hóa, đa dạng miền địa lý (3 tiêu chí): nhiều chương trình học bổng không công khai điều này, nhưng chắc chắn họ luôn hướng tới sự đa dạng quốc tịch, đa dạng văn hóa, và đa dạng về miền địa lý. Erasmus Mundus là một trong những chương trình hiếm công khai việc họ sắp xếp các geographical windows (các suất học bổng cố định cho các vùng địa lý ngay cả khi ứng viên không hoàn toàn đạt yêu cầu về học thuật)
  • Quan hệ ngoại giao giữa các nước: các học bổng cho phép ứng viên quốc tế, bất kể quốc tịch, ứng tuyển đều có tính chất ngoại giao nhất định. Ví dụ: trong suốt 10 năm từ 2006 đến 2015, người Việt Nam luôn nằm trong nhóm 2 nước được nhiều học bổng Endeavour nhất, thậm chí còn thường xuyên giành nhiều nhất. Nếu chỉ xét các yếu tố chủ quan, thì không thể nào người Việt Nam có nhiều suất như vậy. Chúng ta chắc chắn không thể giỏi tiếng Anh hay có trình độ học thuật tốt hơn ứng viên Ấn Độ được.
  • Ưu tiên cho các vùng khó khăn. Ví dụ: Việt Nam là một “vùng trũng” của thế giới về học thuật. Vì thế các sinh viên Việt Nam chắc chắn luôn được ưu tiên một số suất nhất định trong học bổng Erasmus Mundus (tôn chỉ của Erasmus Mundus là trao đổi học thuật, đặc biệt là đào tạo học giả cho các vùng còn đang kém phát triển).
  • Ưu tiên ngành. Ví dụ: học bổng BBS ưu tiên ứng viên học ngành quản lý và xử lý nước. Ứng viên có thể không hẳn giỏi chuyên môn hay tư duy tốt hơn ứng viên ngành khác, nhưng anh ta là ứng viên khá nhất dự định học ngành xử lý nước, vậy thì anh ta phải được học bổng thôi.
  • Các tiêu chí ưu tiên khác về profile: là người khuyết tật, đang làm việc cho cơ quan nhà nước cấp Bộ, đang hoặc sẽ làm việc cho NGO, người thân làm chính trị – ngoại giao.
  • May mắn.

Mỗi học bổng có một cách quy định riêng biệt về trọng số của các tiêu chí trên. Ví dụ: Chevening coi trọng tiêu chí lãnh đạo, Fulbright coi trọng tiêu chí đại sứ văn hóa, AAS coi trọng profile và triển vọng đóng góp cho nhà nước, Erasmus Mundus coi trọng khả năng học thuật, Endeavour lại có tính ngoại giao cực mạnh. Đặc biệt, không phải lúc nào tiêu chí năng lực cũng là tiêu chí quan trọng nhất.

Muốn xin học bổng, trước hết phải tìm hiểu được chính xác bộ tiêu chí của học bổng.

Nguyên tắc 2: Người được học bổng là người phù hợp nhất, chứ không phải người giỏi nhất

Chính xác hơn, người được học bổng là người thể hiện được rằng họ là lựa chọn phù hợp nhất với học bổng.

Phù hợp nhất tức là sao? Ví dụ nhé:

  • Là ứng viên giỏi lãnh đạo nhất cho học bổng ưu tiên lãnh đạo tương lai.
  • Là ứng viên “naïve” nhất cho học bổng ưu tiên các đại sứ văn hóa.
  • Là ứng viên khá khẩm nhất đến từ vùng Đông Nam Á.
  • Là ứng viên DUY NHẤT ứng tuyển một chương trình thuộc Erasmus Mundus mà đến từ Châu Á.

Có nghĩa là họ KHÔNG NHẤT THIẾT phải người giỏi nhất về chuyên môn, hay học giỏi nhất, hay có động lực lớn nhất, hay giỏi lãnh đạo nhất.

Ví dụ:

  • Đỗ Hữu Chí được học bổng Fulbright với GPA vừa đủ điểm tốt nghiệp.
  • Một số học giả Chevening năm 2015 được học bổng với điểm loanh quanh 7.0 – 7.6
  • Một bạn được học bổng Erasmus Mundus ngành lâm nghiệp, mặc dù ngành học và kinh nghiệm làm việc chẳng liên quan gì đến lâm nghiệp.

Chúng ta thường tìm hiểu học bổng thông qua profile, hoặc may mắn hơn là bài luận của những người đã dành được học bổng. Nhưng những việc đó sẽ không giúp ích được nhiều cho việc chuẩn bị hồ sơ, nếu như chúng ta không biết được TẠI SAO họ giành được học bổng (hay họ được chọn do đáp ứng được tiêu chí nào), và NHỮNG ỨNG VIÊN CẠNH TRANH là ai để so sánh hồ sơ dựa trên hệ quy chiếu của học bổng.

Tóm lại, mục đích của việc tìm hiểu hồ sơ thành công là xem người ta có gì phù hợp với tiêu chí, có gì vượt trội so với những người cạnh tranh, chứ không phải xem người ta giỏi như thế nào. Nói cách khác, “giỏi” là phải được so sánh với đúng hệ quy chiếu của học bổng, chứ không phải “giỏi” vì anh ta được học bổng.

Nguyên tắc 3: Muốn thành công cần cả năng lực và rất nhiều may mắn

3 yếu tố năng lực, tiêu chí học bổng, và may mắn có vai trò rất khác nhau trong mỗi trường hợp săn học bổng thành công (hoặc không thành công). Sẽ rất hàm hồ khi dựa vào việc một người được học bổng mà khái quát ra quy luật, kiểu như: Anh ta được học bổng toàn phần vì anh ta năng lực và phẩm chất cá nhân tốt, hay coi nhẹ vai trò của may mắn trong học bổng.

Để hiểu hơn về vai trò của các yếu tố này, hãy xét các trường hợp sau.

Giả sử phổ năng lực của các ứng viên cho một học bổng tuân theo đúng quy luật phân bố 5% thực sự kém – 90% năng lực trung bình sàn sàn như nhau – 5% vượt trội hẳn, xuất sắc.

Trường hợp 1: số suất học bổng vừa đúng bằng số lượng 5% ứng viên. Nếu tiêu chí chủ yếu của học bổng là năng lực, công việc lựa chọn sẽ rất đơn giản: trao học bổng cho đúng 5% xuất sắc. Ví dụ: có 200 hồ sơ và sau 3 vòng xét tuyển người ta lọc ra được 10 người thực sự vượt trội hơn hẳn 190 người còn lại về nền tảng kiến thức, kinh nghiệm, tư duy, và phẩm chất cá nhân. Số học bổng là 10 suất => lấy đúng 10 người đó.

Trường hợp 2: số suất học bổng nhiều hơn 5% ứng viên. Ngay cả khi tiêu chí chủ yếu là năng lực, ban xét duyệt vẫn không thể chọn ra đủ số người để trao học bổng. Khi đó họ chỉ có lựa chọn: chọn thêm từ những người không thực sự đạt yêu cầu dựa trên các yếu tố ưu tiên bên ngoài hoặc bốc thăm ngẫu nhiên. Ví dụ, có 300 hồ sơ ứng tuyển, 15 người thực sự xuất sắc đạt yêu cầu, còn hơn 200 người còn lại chỉ sàn sàn như nhau. Số suất học bổng là 30. Vậy 15 người còn lại sẽ được chọn do may mắn chứ không hẳn do năng lực tốt.

Trường hợp 3: Số suất học bổng ít hơn nhiều so với 5% ứng viên. Khi đó họ buộc phải lựa chọn trên yêu tố ưu tiên bên ngoài hoặc bốc thăm ngẫu nhiên trong số 5% đó để chọn ra người được học bổng. Ví dụ, có 10,000 hồ sơ ứng tuyển mà chỉ có 10 suất học bổng. Vậy thì trong 500 người ổn nhất, vẫn phải bốc thăm ra 10 người may mắn. Hoặc, người ta phải dùng một tiêu chí không liên quan đến năng lực để lọc ứng viên ngay từ những vòng đầu tiên.

Các trường hợp trên mới chỉ xét các học bổng coi tiêu chí năng lực là quan trọng nhất. Thực tế, không phải khi nào học bổng nào cũng coi tiêu chí năng lực là quan trọng nhất, như trường hợp dưới đây.

Trường hợp 4:

Một ứng viên không học và làm gì liên quan đến lâm nghiệp được học bổng EM ngành lâm nghiệp.

Bất kể bạn này có động lực hay tầm nhìn đến mấy, chắc chắn trong hàng nghìn hồ sơ phải có hàng chục người khác có kiến thức, có kinh nghiệm nhiều hơn và cũng có động lực và tầm nhìn tốt. Vậy câu trả lời ở đây chỉ có thể là: không phải lúc nào năng lực cũng là yếu tố quyết định. Chuyện này xảy ra không chỉ với EM đâu, mà còn với nhiều học bổng quốc tế khác với số lượng hồ sơ lên tới hàng chục nghìn.

Nguyên tắc 4: Biết ưu tiên học bổng dựa trên điều kiện thực tế

Có một sai lầm rất kì cục và phổ biến: săn học bổng mà không có sự ưu tiên.

  • Viết một bộ hồ sơ chung để ứng tuyển cho tất cả các học bổng, không quan tâm mấy đến sự khác nhau về tiêu chí => không biết ưu tiên công sức và thời gian cho đúng học bổng phù hợp với mình, cũng không biết ưu tiên thể hiện tố chất nào cho học bổng nào.
  • Dành nhiều hi vọng cho các học bổng như nhau => không biết ưu tiên tâm trí cho đúng học bổng, để đến khi trượt cái học bổng không phù hợp với mình thì lại thất vọng tràn trề.

Việc ưu tiên phải dựa trên (1) sự phù hợp của tiêu chí học bổng đối với năng lực cá nhân, và (2) tỉ lệ giữa số suất học bổng và số lượng hồ sơ.

Ưu tiên thế nào?

  • Ưu tiên số 1: học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp với năng lực cá nhân, số suất học bổng nhiều hơn 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: với những học bổng này, khi có năng lực thực sự vượt trội (thuộc nhóm 5%), bạn chắc chắn sẽ được học bổng.

Nhược điểm: phải nằm trong số 5% mới tự quyết định được số phận, không thì hoàn toàn chỉ cầu may.

  • Ưu tiên số 2: học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp năng lực cá nhân, số suất học bổng xấp xỉ 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: với những học bổng này, khi có năng lực thực sự vượt trội (thuộc nhóm 5%), bạn chắc chắn sẽ được học bổng.

Nhược điểm: phải nằm trong số 5% mới được học bổng.

  • Ưu tiên số 3: các học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp năng lực cá nhân, số suất học bổng nhiều hơn 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: không cần quá giỏi, may mắn hơn người khác một chút nữa là được học bổng.

Nhược điểm: không tự quyết định được số phận, đỗ cũng chẳng biết tại sao mình đỗ.

  • Không ưu tiên: các học bổng có số suất học bổng ít hơn nhiều so với 5% tổng số hồ sơ, các học bổng không đặt tiêu chí năng lực lên hàng đầu. Lý do không ưu tiên: giỏi đến mấy cũng chỉ kiểm soát được 30% cơ hội (thông qua viết hồ sơ và bài luận), phần còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào sự may mắn (ứng viên cạnh tranh có xuất sắc không, ban xét duyệt bốc trúng mình không, có ai cạnh tranh cùng vùng miền không)

Kết luận: Săn học bổng đòi hỏi những tìm hiểu và tính toán chiến lược, cơ hội kĩ lưỡng dựa trên thông tin thật chứ không phải quan điểm kiểu: “Tôi cho rằng/Tôi nghĩ rằng…”. Tức là phải tìm hiểu rất nhiều trường hợp khác nhau, nhất là những trường hợp trượt học bổng, chứ không phải cứ nhìn vào những trường hợp thành công. Không kém phần quan trọng: cần liên tục nâng cao năng lực của bản thân để vào nhóm 5%, thậm chí 2%. Càng có kiến thức nền tảng tốt, kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu dày dạn, tư duy và khả năng đặc biệt tốt, càng có nhiều khả năng quyết định số phận hồ sơ. Ngược lại, thiếu đi một thứ trong những thứ trên, phần trăm may mắn cần thiết sẽ lại phải tăng lên một phần.

Trước khi ứng tuyển, hãy tự hỏi mình có kiến thức chuyên ngành phù hợp không (không nhất thiết phải có bằng cấp)? Có kinh nghiệm phù hợp không? Tư duy đã ở trong nhóm 5% chưa hay vẫn mù mờ cảm tính, thiếu phản biện như hàng triệu người Việt Nam khác?

Trả lời được các câu trên, các bạn sẽ có cái nhìn thực tế hơn về bản thân và cơ hội của bản thân, bất kể đã được học bổng hay chưa.

Bonus: hồi tôi làm hồ sơ ứng tuyển Chevening, tôi tính toán thế này:

  • Background: bằng đại học về kiến trúc, phù hợp với ngành Environmental Design định ứng tuyển.
  • Kinh nghiệm và năng lực công việc: 3 năm, đã có kinh nghiệm thiết kế công trình nhỏ lẫn thi công công trình siêu cao tầng.
  • Tư duy và khả năng trình bày bằng tiếng Anh (viết và nói): ổn, tự tin không mấy người cùng ngành có thể cạnh tranh.
  • Khả năng lãnh đạo: lãnh đạo được cái đời mình *kidding* suốt 2 năm làm giám sát liên tục phải “huých” các đội nhà thầu đảm bảo chất lượng, giữ tinh thần trách nhiệm trong công việc.
  • Số lượng hồ sơ và số suất học bổng Chevening: vô tình tìm được ở đâu đó số lượng hồ sơ xấp xỉ 200, mà số lượng suất học bổng sẽ khoảng 30.

Kết luận: hoàn toàn có quyền tự quyết định số phận :v

Kinh nghiệm phỏng vấn du học Úc

Nên chuẩn bị những gì cho buổi phỏng vấn xin học bổng quan trọng này?Dưới đây là một số lời khuyên của chúng tôi cho những bạn chuẩn bị xin học bổng du học

– Hãy trang bị cho mình đầy đủ thông tin về học bổng, về chương trình mà bạn đang nộp hồ sơ. Đọc đi đọc lại toàn bộ các thông báo về nội dung, đối tượng, thời gian, lĩnh vực… mà chương trình có đề cập đến.

– Câu hỏi thường gặp nhất vẫn là: “Vì sao bạn nghĩ bạn là người thích hợp với học bổng này?” Hãy đưa ra một câu trả lời gắn gọn nhưng đủ sức thuyết phục họ rằng: Bạn là người phù hợp nhất, họ sẽ không sai lầm khi chọn bạn!

– Hãy tập luyện khả năng diễn đạt của mình để có thể trình bày quan điểm, ý tưởng một cách gãy gọn, trôi chảy. Giữ trạng thái tâm lý vững vàng, ổn định, thoải mái cũng là điều rất cần thiết. Có một tâm lý tốt bạn mới có thể tập trung tư tưởng để lắng nghe và trả lời đúng trọng tâm từng câu hỏi. Vì dù cho bạn có thông minh đến đâu đi nữa nhưng nếu thiếu bình tĩnh, tự tin, trả lời phỏng vấn lúng túng, không rõ ràng sẽ vô tình tạo ra sự nghi ngờ, không đáng tin cậy.

– Bên cạnh đó, ngôn ngữ cơ thể cũng là điều đáng để bạn quan tâm trước khi bước vào phòng phỏng vấn. Ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, phong cách nhấn mạnh từ ngữ, luận điểm quan trọng sẽ làm cho người nghe dễ tiếp cận với câu trả lời hơn là việc “thao thao bất tuyệt”, nói từ đầu đến cuối những gì có trong đầu bạn, không cần biết nhìn, không cần biết người đối diện có muốn nghe nữa hay không.

– Một điều tối kị là đến muộn vào buổi phỏng vấn. Dù cho bạn có bất cứ lý do chính đáng nào đi nữa thì người phỏng vấn cũng có cảm giác khó chịu và cho rằng bạn không có ý định nghiêm túc trong việc xin học bổng.

– Một bộ quần áo đơn giản, lịch sự, gọn gàng bao giờ cũng là sự lựa chọn tốt nhất vào ngày bạn đi phỏng vấn. Và một điều nho nhỏ nhưng bạn cố gắng đừng vì quá lo lắng mà quên mất – đó là lời “cảm ơn” và “chào tạm biệt” sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc.

Những câu hỏi thường gặp trong buổi phỏng vấn xin học bổng?

Tư vấn của tư vấn viên du học Úc.

– Hãy giới thiệu về bản thân và cho biết những điểm mạnh, điểm yếu của bạn?

–Tại sao bạn lại quan tâm đến học bổng này?

– Tại sao bạn nghĩ là bạn thích hợp với học bổng này?

– Bạn có thể kể những thành tích nổi bật trong lĩnh vực bạn đang theo đuổi được không?

– Bạn sẽ sử dụng những kiến thức học được như thế nào trong tương lai?

– Bạn có kế hoạch sẽ sử dụng nguồn học bổng này như thế nào cho hiệu quả?

– Hãy cho chúng tôi một ví dụ để chứng minh bạn là một người có đầu óc quản lý, có khả năng lãnh đạo hoặc một người có nhiều ý tưởng?

Các loại học bổng từ chính phủ Úc

Ba chương trình học bổng lớn nhất từ Chính Phủ Úc là học bổng phát triển Úc (Australian Development Scholarship-ADS), học bổng năng lực lãnh đạo Úc (Australian Leadership Awards -ALA) do Cơ quan Phát triển quốc tế Úc (AusAID) quản lý và học bổng Endeavour (The Endeavour Programme -EP) do Bộ GD-KH-ĐT Úc có văn phòng đại diện tại VN là Cơ quan Giáo dục quốc tế Úc (AEI) quản lý.

Học bổng ALA cũng cấp học bổng để học viên theo học thạc sĩ và tiến sĩ tại Úc.

Học bổng Endeavour cấp cho nhiều bậc học hơn gồm: sau ĐH, sau tiến sĩ, quản lý, cao đẳng, nghiên cứu ngắn hạn và các chương trình trao đổi sinh viên. Trong đó, học bổng Endeavour sau ĐH và sau tiến sĩ cung cấp các hạng mục học bổng khác nhau để theo học từ bốn tháng đến ba năm.

Học bổng ADS dành ưu tiên cho khối cơ quan nhà nước, các đơn vị bộ, ngành. Học bổng ADS khuyến khích các ứng viên từ các vùng miền xa xôi nộp hồ sơ.

Những học bổng này đều nhằm mục tiêu:

– Nhằm cung cấp những cơ hội phát triển chuyên nghiệp ( chẳng hạn như đào tạo quản lý, đào tạo ngắn hạn, đào tạo quản lý cao cấp hoặc lãnh đạo) cho những người thành công trong công việc kinh doanh¸công nghiệp, giáo dục hoặc chính quyền từ những nước tham gia.

-Đạt được những thành công cao nhằm phát triển những kỹ năng và tri thức

-Phát triển sụ hiểu biết lẫn nhau giữa người dân Úc và người dân từ các quốc gia khác

-Xây dựng mối quan hệ và mạng lưới giao thiệp giữa Úc và các quốc gia khác

-Cho phép ứng viên sau khi học tại Úc trở về đất nước họ để chia sẽ những tri thức đã tiếp thu tại Úc nhằm góp phần xây dựng đất nước mình.

Trình độ tiếng Anh đóng vai trò rất quan trọng trong việc xin học bổng. Yêu cầu về trình độ tiếng Anh có sự khác nhau ở mỗi học bổng. Đối với học bổng ADS, điểm tiếng Anh yêu cầu thấp hơn so với học bổng ALA và học bổng Endeavour vì học bổng ADS có tổ chức đào tạo tiếng Anh ở VN trước khi ứng viên đạt điểm tiếng Anh yêu cầu sang Úc học tập. Điểm yêu cầu tiếng Anh tối thiểu của học bổng ALA và học bổng Endeavour là IELTS 6,5, trong đó không điểm kỹ năng nào dưới 6,0

Tham khảo thêm Một số câu hỏi “tủ” khi phỏng vấn xin học bổng

 

 Sau vòng xét hồ sơ, phỏng vấn là cơ hội duy nhất để bạn trực tiếp lăng-xê bản thân và chia sẻ nguyện vọng nhận học bổng của mình. Dưới đây là danh sách những câu hỏi bạn có thể phải đối mặt khi đi phỏng vấn xin học bổng.

Thông thường các buổi phỏng vấn sẽ bắt đầu với việc giới thiệu bản thân (dù người phỏng vấn chắc chắn đã đọc qua hồ sơ của bạn). Trong lúc giới thiệu, có hai điều bạn nên nhắc đến đó là nguyện vọng được học tập tại ngôi trường này và “nhắc khéo” chi tiết bạn không có một hoàn cảnh tài chỉnh vững chắc để có thể theo học (mà không có sự trợ giúp của học bổng). Tuy nhiên, bạn cũng nên lưu ý không nên “làm quá” với cảm xúc của mình mà hãy bình tĩnh chia sẻ số tiền ba mẹ bạn kiếm được, cùng những mối bận tâm khác trong gia đình (chẳng hạn việc chu cấp việc học cho em bạn). Đây là một lí do chính đáng – nguyên do khiến bạn phải đăng kí xin học bổng này.

Phần thứ hai sẽ liên quan đến ngôi trường mà bạn đang nhắm tới. Hãy cố gắng thể hiện nhiệt huyết của bạn qua giọng nói khi nhắc tới quyết tâm học tập và những dự định tương lai.

Tiếp đó, người phỏng vấn sẽ ít nhiều nhắc tới học bổng và có thể sẽ hỏi đến việc bạn sử dụng chúng. Cách tốt nhất để đối phó với câu hỏi này lại bạn hãy thật thà trả lời rằng mình đã lên kế hoạch sử dụng chúng vào việc gì: sách vở dụng cụ học tập, phương tiện di chuyển, tiền nhà và ăn ở… Nếu có thể, hãy đưa một con số cụ thể vì điều này thể hiện rằng bạn quan tâm trong việc tìm hiểu, vạch ra kế hoạch của mình.

Cuối cùng, một câu hỏi cũng khá quan trọng để quyết định việc cấp học bổng đó là “Bạn có kế hoạch giúp đỡ gì cho trường cũ?” Thông thường, những người làm trong ngành giáo dục vẫn thích những ai sống “có trước có sau” hơn. Đối với dạng câu hỏi này, cách làm thông minh duy nhất là câu trả lời “Có”. Để thuyết phục hơn, bạn nên đưa ra một kế hoạch chi tiết hơn (ví dụ bạn sẽ tham gia vào diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm du học cho sinh viên trong trường hay xa hơn là lập quỹ học bổng…) Tất nhiên, chân thành và thật thà phải luôn là hai “từ khóa” bạn luôn phải tuân thủ trong khi trả lời vì đây là hai điều có thể nhận thấy được đối với những người đã có nhiều kinh nghiệm phỏng vấn.

Hotcourses xin chia sẻ với bạn một số câu hỏi thông thường trong khi phỏng vấn du học

Câu hỏi giới thiệu bản thân

  • Mời bạn giới thiệu về bản thân
  • Tính từ nào thích hợp nhất để giới thiệu về bản thân
  • Những điểm mạnh và hạn chế của bạn là gì?
  • Bạn có nghĩ mình sẽ sửa đổi được những hạn chế đó không?
  • Bạn đã từng nắm vai trò lãnh đạo bao giờ chưa (cả trong học tập lẫn đời sống).
  • Điều khiến bạn tự hào nhất về bản thân là gì?

Câu hỏi chung về bản thân và kế hoạch tương lai

  • Hãy giới thiệu về bạn và trình độ chuyên môn
  • Hãy kể ra hai người (một người bình thường và một người trong lĩnh vực) đã có tác động đến quyết định bạn gắn bó với lĩnh vực này
  • Tại sao bạn lại quyết định chọn ngành học này? Điều gì đã ảnh hướng đến quyết định đó?
  • Bạn đã từng đi nước ngoài chưa? Nếu có thì bạn đã đi đâu?
  • Bạn đã học được gì từ những chuyến đi đó?
  • Mục đích nghề nghiệp trong tương lai của bạn là gì?
  • Nếu không nhận được học bổng này, bạn sẽ làm gì?
  • Bạn sẽ trở thành người như thế nào trong 5 hay 10 năm nữa?
  • Học bổng này có ý nghĩa như thế nào với con đường sự nghiệp của bạn?

Câu hỏi liên quan đến hồ sơ đăng kí

  • Bạn trông rất hiểu biết nhưng tại sao điểm số của bạn trong học bạ chỉ toàn Trung bình/Khá? Bạn có giải thích nào cho việc này không?
  • Bạn viết trong lí lịch rằng bạn thích đọc sách văn học cổ điển thế giới. Vậy tác phẩm nào là tác phẩm tâm đắc nhất của bạn?
  • Trong bản đăng kí, bạn có nói từng tham gia các hoạt động tình nguyện quốc tế. Đâu là hoạt động gần nhất bạn đã tham gia?
  • Bạn có viết bạn rất thành thạo tiếng Tây Ban Nha. Hãy giúp tôi dịch đoạn hội thoại này.
  • Bạn có thể kể về tiểu sử tóm tắt của người đã lập nên học bổng này không?

Câu hỏi về kinh nghiệm học tập (nếu có) và đề tài nghiên cứu

  • Bạn đã từng theo học bậc cử nhân ở đâu (nếu có)?
  • Trường cũ của bạn có những lợi thế và hạn chế nào trong giảng dạy?
  • Bạn có viết rằng bạn mong muốn thực hiện đề tài _______. Liệu bạn có thể giới thiệu đôi nét về đề tài đó không?
  • Bạn có thể giải thích rõ hơn về những phương pháp bạn dự định sẽ sử dụng để thực hiện đề tài đó?
  • Theo bạn đâu là khó khăn lớn nhất trong quá trình thực hiện đề tài này?

Câu hỏi về các vấn đề thời sự

  • Tôi vừa đọc được tin tức về ________. Bạn có bình luận gì về vấn đề này không?
  • Bạn nghĩ cuộc khủng hoảng hiện tại sẽ được giải quyết trong bao lâu nữa?
  • Bạn nghĩ gì về “chủ nghĩa can thiệp” của Hoa Kỳ vào các vấn đề trên thế giới?
  • Bạn nghĩ gì về chủ nghĩa khủng bố?
  • Theo bạn, năm thành tựu khoa học lớn nhất trong thập kỷ qua là gì?
  • Bạn có thể nêu định nghĩa vắn tắt về toàn cầu hóa?

Câu hỏi về cá nhân và sở thích

  • Trong lúc học tập, bạn thường làm gì để giải trí?
  • Trong “cuộc đời tình nguyện” của bạn, dự án nào để lại cho bạn nhiều ấn tượng nhất và tại sao?
  • Bạn nghe thể loại nhạc gì?
  • Trong bản đăng kí bạn nói rất quan tâm đến mỹ thuật. Bạn ấn tượng nhất trào lưu hội họa nào?
  • Cuốn sách gần nhất mà bạn đọc là gì?
  • Bạn có nhớ tên của đạo diễn của bộ phim gần nhất mà bạn xem không?
  • Nếu trúng xổ số và bỗng chốc trở thành triệu phú, bạn sẽ làm gì?

Con đường đến với nước Mỹ – Xin tiền tư bản đi học!

Tháng 7 này, người lữ hành là tôi sẽ khăn gói quả mướp đến xứ sở của những cây xương rồng cao hơn đầu người, xứ sở của giống mèo Bob cat hoang dại có năng lực siêu nhiên trèo được lên ngọn cây xương rồng đầy gai để tránh kẻ thù, xứ sở của sa mạc, của cát, của Grand Canyon. Tôi sẽ đến Arizona làm nghiên cứu sinh ngành Government and Public Policy, tại trường University of Arizona. Vì gần đây có nhiều bạn hỏi tôi về cách thức xin học bổng tiến sỹ, tôi mạo muội viết bài này để kể về quá trình gian nan của mình. Tôi hi vọng sẽ phần nào giúp ích được cho những bạn đang khao khát nuôi giấc mơ Mỹ 🙂

Để xin được một suất học bổng tiến sỹ ở Mỹ, đặc biệt là các ngành xã hội, bạn phải chiến đấu với nhiều ứng viên nặng ký ở khắp nơi trên thế giới. Đây thực sự là một quá trình rất cạnh tranh. Theo như tôi tìm hiểu, thường 1 trường không bao giờ nhận quá 10% số ứng viên nộp hồ sơ. Đối với 1 số ngành như kinh tế, sự cạnh tranh còn cao hơn nữa. Nhiều bạn hỏi mình có bí kíp thần kỳ nào để vượt qua được bao nhiêu hồ sơ như vậy. Bí quyết của tôi là SỰ CHÂN THÀNH + SỰ QUYẾT TÂM + MỘT KẾ HOẠCH CỤ THỂTôi xin chia sẻ kế hoạch và từng bước apply. Lưu ý bài viết này phù hợp nhất cho những bạn đang nung nấu ý định xin tiến sỹ ngành xã hội mà đặc biệt là political science hoặc/và public policy. Tôi không rõ về quy trình apply ngành kỹ thuật nên tôi không chắc bài viết có thể phù hợp.

Thời gian chuẩn bị:   8– 12 tháng. Deadline các trường thường là tháng 12- tháng 1. Mình bắt đầu rục rịch chuẩn bị từ tháng 4, tháng 5.

Số trường cần nộp: Để chắc chắn bạn nên nộp khoảng 5-8 trường. Tôi nộp 7 trường và hiện đã được nhận 4 trường, còn 1 trường chưa có kết quả.

Tài chính: 1500-2000 USD. Mỗi tháng tôi trích 1 ít tiền lương để vào 1 tài khoản riêng để khi nộp đơn khỏi sốt ruột hehe. Chi phí bao gồm lệ phí của các trường, thi các thể loại GRE, Tiếng Anh, nộp bảng điểm, nộp điểm GRE, điểm tiếng Anh.

Hồ sơ tiến sỹ gồm những gì và chuẩn bị ra sao:

Các thể loại statements (bài luận):

Đây có thể được coi là phần quan trọng nhất trong hồ sơ của bạn. Đây là cơ hội duy nhất dể bạn thể hiện bản thân bạn trước hội đồng tuyển sinh. Tuỳ từng trường, bạn có thể sẽ phải viết academic statement of purpose, personal statement và diversity statement. Nếu trường nào yêu cầu bạn chỉ viết một bài luận là personal statement, thì mặc định đó là statement of purpose. Vậy sự khác nhau giữa các bài viết này là gì?

Statement of purpose:  Đây là nơi bạn phải trả lời được cách câu hỏi sau: Lĩnh vực nghiên cứu bạn quan tâm là gì (Viết phần này có lẽ là khó nhất vì bạn phải thể hiện là mình có một kiến thức nhất định về lĩnh vực mình muốn theo đuổi, làm sao viết một cách cụ thể, nhưng không cụ thể đến mức khiến người ta nghĩ bạn không cởi mở cho những ý tưởng mới). Định hướng nghề nghiệp trong tương lai của bạn là gì? Vì sao việc học tiến sỹ lại giúp bạn đi theo con đường này? Bạn đã chuẩn bị cho con đường này như thế nào (các nghiên cứu bạn đã từng tham gia trước đây, bài viết đc đăng, vì sao bạn phải chọn trường này mà không phải trường khác, etc?). Khác với statement of purpose khi bạn nộp hồ sơ học master, đây gần như là letter bạn viết để apply cho 1 vị trí nghiên cứu chuyên nghiệp.

Personal statement/diversity statement:  Đây là cơ hội để bạn chia sẻ những kinh nghiệm, trải nghiệm của bản thân, background ( văn hoá, gia đình, giáo dục, etc.) đã hình thành nên con người bạn hiện nay như thế nào? Con người bạn sẽ đóng góp thế nào vào sự đa dạng của trường? Những trải nghiệm trong cuộc sống của bạn (học thuật, hoặc không liên quan đến học thuật) ảnh hưởng thế nào đến quyết định bạn đi học tiến sỹ.

Độ dài tuỳ của mỗi bài luận tuỳ thuộc từng trường nhưng giao động khoáng 2-5 trang.

Khi tôi bắt tay vào viết các bài luận này, tôi đã lên mạng tìm nhiều các bài mẫu để tham khảo. Tôi đã đọc rất nhiều profile đẹp, tôi còn nghĩ ” trời, profile họ đẹp thế này, làm sao để mình cạnh tranh được đây”. Tôi hoang mang lắm khi nghĩ đến tỷ lệ nhận của trường thấp và đọc các bài viết hay. Đọc hết forum này đến forum khác, đọc tips này đến tips khác, đầu óc tôi trở nên mụ mị và mất tự tin. Nhưng rồi đến một ngày, tôi tĩnh tâm lại và nhớ tới lời động viên của thầy supervisor ở Anh, thầy đã nói với tôi “Thầy tin em có khả năng, và em sẽ đỗ những trường em muốn”, thầy còn nói “write something that makes you unique”. Nhớ đến lời thầy, tôi không đọc nữa. Và tôi đã tìm thấy một thứ gia vị cho bài viết của mình, đó là SỰ CHÂN THÀNH. Một người chị mà tôi vô cùng ngưỡng mộ cũng thường hay bảo tôi rằng không có gì đáng giá hơn sự chân thành. Và thế là câu chữ cứ tuôn ra. Trong bài personal statement, tôi viết về passion của mình đối với việc làm research, việc được đi, quan sát và viết. Tôi kể về những cảm xúc của mình khi lần đầu được tiếp xúc với những thông tin khác với những gì tôi được biết, được dạy. Tôi đã rất buồn, mất niềm tin, thậm chí đã khóc, nhưng nỗi buồn dần bị thay thế bởi sự phấn khởi được học cái mới, được nhìn thế giới bằng một góc khác đi- sinh động hơn, đa chiều hơn và khách quan hơn. Tôi tâm sự trong bài rằng những trải nghiệm ấy khiến tôi không còn là một con người bướng bỉnh chỉ tin rằng trắng-đen, tốt-xấu là rõ ràng. Nó cũng khiến tôi bớt phán xét hơn, và bao dung hơn với mọi người. Cuốn tiểu thuyết 1984 của George Orwell có tác động rất mạnh đến suy nghĩ của tôi, và tôi đã chia sẻ điều ấy trong bài. George Orwell viết một câu thực sự rất ám ảnh, đó là “Who controls the past, controls the future. Who controls the present controls the past”. Tôi chia sẻ rằng “I feel this sentence whenever I think about….”. Một bạn đã khuyên tôi nên dùng động từ khác vì “feel” nghe mạnh quá, nhưng tôi vẫn quyết định giữ vì tôi biết đó mới thật sự là tôi. Tôi viết về niềm vui, cảm xúc khi được đến thăm The Little Sai Gon và quan sát cuộc sống của người Việt Nam ở đó.

Nhiều bạn đang muốn apply đi học hỏi tôi nên viết statments thế nào, tôi chỉ có một lời khuyên như thầy tôi đã khuyên tôi: Viết về những gì khiến bạn là bạn của ngày hôm nay với tất cả sự chân thành. Có bạn bảo tôi nhưng bạn không có câu chuyện gì đặc biệt cả. Tôi không tin! Đằng sau mỗi con người là một câu chuyện, một trải nghiệm không ai giống ai, hãy KỂ CÂU CHUYỆN CỦA BẠN.

Letter of recommendation (thư giới thiệu): Thư giới thiệu là một phần CỰC KỲ quan trọng của hồ sơ. Thông thường, các trường yêu cầu 3 thư giới thiệu đối với hồ sơ tiến sỹ. Hãy chọn 3 người hiểu bạn, đánh giá cao bạn và nhờ họ viết thư. Khoảng 3 tháng trước deadline, tôi viết email cho những người tôi muốn nhờ họ viết thư, tôi hỏi họ nếu họ có thể viết cho tôi một STRONG recommendation letter. Tôi không muốn một lá thư bình thường, tôi muốn một lá thư có sức nặng. Bạn đừng ngại khi phải hỏi như thế, nếu họ không thể viết strong cho bạn, họ sẽ nói rõ ràng như vậy. Khoảng 1,5 tháng trước khi deadline, tôi gửi cho họ statements của mình, CV, và một số ý tôi muốn có trong thư. Đừng ngại khi phải gửi cho họ một số ý, các giáo sư rất bận nên sẽ đánh giá cao điều này. Dựa vào những ý đấy họ sẽ viết dựa trên trải nghiệm làm việc với bạn hoặc dạy bạn. Dù bạn trúng tuyển hay không, cũng nên viết một note cảm ơn (mình khuyến khích là viết tay) để thể hiện sự biết ơn vì họ đã bỏ thời gian, công sức viết cho bạn :).

Writing sample (bài viết mẫu): Đây cũng là một phần CỰC KỲ quan trọng vì ban tuyển sinh muốn đánh giá khả năng viết của bạn- một kỹ năng không thể thiếu nếu muốn học PHD. Khi tôi hỏi một thầy về vai trò của writing sample, thầy đã trả lời tôi thế này “We are primarily using the writing sample to judge the strength of your writing style. We will ask ourselves: How well prepared do we believe you are to be writing on the PhD program?”. Vậy chọn bài writing sample thế nào? Trước hết, bạn cần chú ý đến yêu cầu của từng trường: độ dài của bài là bao nhiêu (ngành của mình thường là 20-25 trang), có cần phải là original research hay không, có cần phải viết đúng chủ đề ngành học mà bạn đang apply hay không? Từ đó lựa chọn bài tốt nhất và phù hợp nhất. Tôi chọn một bài term paper được các thầy đánh giá cao, chỉnh sửa lại theo comments của thầy. Bài term paper đó của tôi chỉ có 10 trang nhưng yêu cầu của các trường là 20-25 trang vậy là tôi phải đọc thêm literature để viết thêm, tìm thêm các ý mới, vv. Nếu có thời gian hãy gửi bài cho một giáo sư hoặc một người nào đó trong lĩnh vực của bạn đọc lại.

GRE, TOEFL: Tôi sẽ chia sẻ về phần này trong một bài khác, hiện tôi đã buồn ngủ quá rồi 🙂

Có nên liên hệ với giáo sư trước khi apply: Học tiến sỹ ở Mỹ, bạn phải học coursework trước khi bạn được tự làm một nghiên cứu độc lập (hay còn gọi là luận văn tiến sỹ). Coursework sẽ chuẩn bị cho bạn kiến thức sâu về ngành mà bạn học và phương pháp nghiên cứu khoa học. Qua quá trình học coursework, ý tưởng nghiên cứu của bạn sẽ thay đổi ít nhiều. Như vậy trường thường không bắt buộc bạn phải liên hệ với các thầy trước khi apply. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi, việc liên hệ trước với trường và các thầy có rất nhiều ưu điểm. Thứ nhất, các thầy sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bạn không thể tìm thấy trên website, từ đó bạn sẽ phần nào biết được trường đó có phù hợp với bạn không. Thứ hai, bạn sẽ cho trường thấy bạn là một thí sinh nghiêm túc, có định hướng rõ ràng, và dám take initiative. Có bạn hỏi tôi làm thế nào để viết thư mà các thầy sẽ trả lời? Tôi viết cho nhiều thầy ở các trường khác nhau mà tôi apply, và gần như tôi nhận được tất cả hồi âm và cuối cùng đều có Skype với họ. Bí quyết của tôi không gì khác ngoài SỰ CHÂN THÀNH. Bạn rất khó nhận được hồi âm nếu các thầy cảm nhận được là bạn có một mẫu thư và gửi cho một loạt giáo sư khác nhau. Trước khi liên hệ với một giáo sư, tôi thường đọc một số bài báo mới nhất của thầy, note ý và viết ra một vài câu hỏi. Trong thư đầu tiên, tôi nói ngắn gọn về mình đặc biệt là research interest của mình, rồi nhắc đến một số bài báo của thầy, và thể hiện mong muốn được nói chuyện với thầy để xem chương trình học đó có phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của mình không. Khi nói chuyện, tôi cũng hỏi những câu hỏi liên quan đến những sinh viên thầy đang hướng dẫn, cách thầy làm việc với sinh viên (thầy hướng dẫn bao nhiêu người, tần suất thầy gặp sinh viên, thầy mong muốn gì ở sinh viên, etc). Những thông tin này ít nhiều giúp tôi hình dung phong cách thầy làm việc với sinh viên, và xem có phù hợp với phong cách và nguyện vọng của tôi không. Bạn có thể liên hệ với cả PHD director của chương trình. Thầy sẽ cung cấp cho bạn thông tin chi tiết về quá trình tuyển sinh, học bổng, chương trình học, những tố chất mà chương trình cần có ở thí sinh, etc. Thầy cũng có thể recommend cho bạn giáo sư phù hợp để bạn liên hệ. Khi chuẩn bị nói chuyện với thầy ở Arizona nơi tôi sẽ học, tôi có đôi chút hồi hộp. Nhưng từ ngay giây phút đầu tiên khi thầy cất tiếng chào, tôi nhận ra thầy là một người Anh (vốn khá có cảm tình với người Anh, nên tôi tự nhiên thấy rất thoải mái). Câu chuyện cứ thế tuôn trào, tôi chia sẻ những mơ ước, nguyện vọng của mình. Thầy nói là “kế hoạch của em rất tốt và rõ ràng, thầy khuyên em nên apply, thầy đã nói chuyện với rất nhiều bạn nhưng có nhiều bạn thầy khuyên chưa nên apply hoặc không nên apply vì không phù hợp, thầy không muốn họ tốn 80 USD mà”. Tôi cũng nói chuyện với thầy PHD Director ở Colorado, thầy thì có phong cách Mỹ chính hiệu :)). Khi thầy chia sẻ là mỗi năm chỉ nhận 1-2 sinh viên quốc tế vì sinh viên quốc tế khá tốn kém haha. Lúc thầy nói vậy, tôi nghĩ làm sao đến lượt mình. Thật sự rất bất ngờ, trường lại nhận tôi. Lúc tôi nói rằng tôi sẽ không đến Colorado mà đến Arizona, thầy đã trả lời rằng Arizona cũng rất tốt, và rằng “tôi và em sẽ có lúc gặp nhau” :D. Tôi tin rằng những buổi Skype như thế này cũng giúp tôi khá nhiều trong quá trình apply.

Quá trình nộp hồ sơ thật sự dài và mệt mỏi. Nhiều lúc mệt mỏi, mắt díp lại mà vẫn phải ngồi làm việc, tôi lại nghĩ tại sao thân phải làm tội đời như vậy?. Nhưng rồi tưởng tượng đến ngày được đặt chân đến nước Mỹ, được theo đuổi đam mê của mình, tôi lại quên hết cả mệt mỏi và những cơn buồn ngủ để 6 tháng ròng rã học GRE, viết bài luận, liên hệ với trường :). Ngày nhận được kết quả tim tôi như vỡ oà sung sướng, cuối cùng tôi đã làm được. Có một em gái hỏi tôi “chị làm thế nào mà đi làm về vẫn chuẩn bị hồ sơ được,? Tối về em buồn ngủ lắm nên không thể làm gì được”. Nhắn nhủ đến em: Hãy tưởng tượng giờ này một năm sau em đang ở đất nước ấy, em đang đi giữa những con người, cảnh vật xa lạ đang chờ em khám phá, tưởng tưởng đến cảm giác khi em chạm tay vào giấc mơ ấp ủ bấy lâu, rồi EM SẼ TÌM CÁCH ĐỂ LÀM ĐƯỢC!

Tôi biết mấy năm tới con đường sẽ nhiều chông gai, nhưng cứ đi rồi sẽ đến!

Chả hiểu sao khi viết bài này tôi lại nghĩ đến phim La La Land có lẽ vì tôi thấy đồng cảm. Đời ngắn lắm, hãy cứ ước mơ, hãy cứ theo đuổi cái gì con tim mình muốn mặc cho người ta cho rằng bạn không có năng lực, người ta khuyên bạn nên làm những thứ mà họ cho là đúng, người ta tìm cách hạ thấp bạn và ngay cả khi xã hội quay lưng với bạn. Dù sao hãy cứ ước mơ!

PhD ở Mỹ, liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ, TẠI SAO KHÔNG NHỈ?

Bạn muốn theo con đường nghiên cứu/học thuật và bạn quyết định chọn nước Mỹ là nơi gửi gắm vài năm tuổi xuân của mình để theo đuổi tấm bằng PhD- chiếc vé đưa bạn đến với nghiên cứu/học thuật. Bạn đã có trong tay một bộ hồ sơ tốt nhất trong khả năng của mình: một bài luận thể hiện được con người bạn, điểm GRE và GPA đạt theo yêu cầu của trường, thư giới thiệu ổn, một bài viết mẫu tốt nhất mà bạn có thể viết… Còn  thiếu gì không nhỉ? Về mặt lý thuyết thì bạn đã có đầy đủ tài liệu cần thiết rồi đấy, chỉ cần ấn nút submit hồ sơ là bạn có thể thảnh thơi thư giãn, chờ đợi đến ngày hồ sơ của mình được một trường nào đó chấp nhận.

Nhưng hãy chờ chút, còn một việc mà tôi tin rằng nếu thực hiện, cơ hội được nhận của bạn sẽ cao hơn rất nhiều: LIÊN HỆ VỚI GIÁO SƯ CỦA TRƯỜNG TRƯỚC KHI NỘP HỒ SƠ. 

Để nộp hồ sơ xin PhD các ngành xã hội ở Mỹ, việc liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ là không bắt buộc vì trước khi chính thức bước vào giai đoạn viết luận văn, bạn sẽ phải học course work khoảng hai năm. Quá trình học course work sẽ định hình ý tưởng nghiên cứu của bạn, và ý tưởng này có thể thay đổi ít nhiều so với những gì bạn chia sẻ trong bài luận. Ngoài ra việc liên hệ trước với giáo sư không đảm bảo 100% là hồ sơ của bạn sẽ thành công.

Nhưng vì sao ta vẫn nên chủ động liên hệ với trường, với giáo sư trước khi nộp hồ sơ?

Thứ nhất, chủ động liên hệ với giáo sư chứng tỏ bạn là một THÍ SINH NGHIÊM TÚC và CÓ KẾ HOẠCH RÕ RÀNG. Việc đi học không phải là ý tưởng bất chợt đến trong lúc vui vui, mà bạn đã thật sự suy nghĩ về nó bởi bạn đã dành thời gian tìm hiểu và bỏ công sức liên hệ với trường để tự “chào bán bản thân”. Có thể bạn đang nghĩ “ý định của tôi hoàn toàn nghiêm túc mặc dù tôi không liên hệ với bất kỳ ai”. Tuy nhiên, tôi cho rằng liên hệ với trường, với giáo sư trước khi nộp hồ sơ đem lại cho bạn cơ hội thể hiện sự nghiêm túc đó ra, và biết đâu có thể dập tắt một số hoài nghi về bạn mà họ có thể có nếu chỉ đánh giá bạn dựa trên giấy tờ. Một người bạn của tôi có điểm speaking TOEFL chưa đạt yêu cầu của trường, bạn thật sự lo lắng vì không muốn mất thời gian thi lại. Bạn chủ động liên hệ với trường, và sau khi kết thúc cuộc nói chuyện qua Skype với giám đốc Chương trình PhD (PhD Program Director), thầy đã nói với bạn ấy là “Tiếng Anh của em rất tốt, tôi không thấy có vấn đề gì về kỹ năng nói của em. Thật may là em đã liên hệ với chúng tôi, nếu không chúng tôi sẽ có chút hoài nghi về khả năng tiếng Anh của em nếu chỉ nhìn vào điểm”.

Thứ hai, tôi tin là nếu bạn đi bước này, bạn sẽ khiến bản thân mình ĐẶC BIỆT hơn những thí sinh khác, bạn sẽ khiến người ta chú ý đến bạn hơn. Hãy thử tưởng tượng hồ sơ của bạn chỉ là một trong một trăm, hai trăm, hay thậm chí hàng trăm hồ sơ mà trường nhận được hàng năm. Rõ ràng việc bạn liên hệ trước sẽ đem lại lợi thế cho bạn. Nếu bạn không liên hệ, phải đợi mãi đến khi hội đồng tuyển sinh ngồi lại với nhau và đọc từng hồ sơ, người ta mới biết đến tên bạn, và người ta chỉ có thể tìm hiểu con người bạn thông qua những gì bạn viết. Nhưng hãy nghĩ nếu bạn để lại ấn tượng tốt sau một cuộc nói chuyện qua Skype hoặc gặp trực tiếp với một giáo sư, hội đồng tuyển sinh chắc chắn sẽ lưu ý hơn đến hồ sơ của bạn “À, tôi đã nói chuyện với em này rồi, có vẻ rất nhiệt tình, tràn đầy năng lượng và thật sự thích nghiên cứu. Để xem hồ sơ thế nào nào?” Nếu giáo sư mà bạn có cùng research interest có cảm tình và muốn làm việc với bạn, thì khả năng cao họ sẽ “đấu tranh”cho bạn nếu họ tham gia vào hội đồng tuyển sinh đấy.

Tôi có một cô bạn người Mỹ vừa hoàn thành PhD, cô ấy đã khuyên tôi thế này “Mai cố gắng liên hệ với trường và giáo sư nhé, nếu Mai có thể sang Mỹ gặp trực tiếp họ thì càng tốt. Việc này không đảm bảo chắc chắn Mai sẽ được nhận nhưng sẽ làm tăng cơ hội của cậu lên rất nhiều đấy.” Khi tôi hỏi một vị giáo sư làm sao để apply thành công. Thầy đã trả lời tôi rằng “em đã chủ động liên hệ với chúng tôi, bước đầu em đã làm được một việc rất tốt rồi. TÌM HIỂU MỘT NGƯỜI KHI GẶP HOẶC NÓI CHUYỆN TRỰC TIẾP SẼ RẤT KHÁC VỚI VIỆC TÌM HIỂU MỘT NGƯỜI QUA GIẤY TỜ”.

Thứ ba, chủ động liên hệ trước còn giúp bạn trả lời câu hỏi liệu chương trình PhD của trường đó có phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng, kinh nghiệm và kỹ năng của bạn không. Biết đâu khi Skype hoặc trò chuyện trực tiếp giáo sư, bạn nhận ra họ đang tìm kiếm những tố chất khác với những gì bạn có, giáo sư mà bạn muốn làm việc cùng sắp chuyển trường/ nghỉ hưu, research interest của bạn không còn là ưu tiên của trường nữa, vân vân và vân vân. Và thế là bạn tiết kiệm được gần trăm đô tiền nộp hồ sơ rồi đấy 😀

Khi tôi lên kế hoạch liên hệ với giáo sư, tôi không thật sự tự tin vào bản thân mình, tôi lo sợ nhiều thứ: kiến thức của mình có ít quá không, mình có cơ hội được không, mình có làm phiền họ không, vân vân và vân vân. Nhưng cô bạn người Mỹ và thầy hướng dẫn bên Anh của tôi động viên tôi là “HÃY LUÔN NGHĨ RẰNG TRƯỜNG SẼ TỰ HÀO KHI CÓ MỘT SINH VIÊN NHƯ EM. KIẾN THỨC, SỰ HAM HỌC HỎI, VÀ QUAN ĐIỂM/GÓC NHÌN KHÁC BIỆT- DO SỰ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HOÁ, GIÁO DỤC, TÍNH CÁCH SẼ ĐÓNG GÓP VÀO SỰ ĐA DẠNG CỦA TRƯỜNG”. Bạn tôi luôn nói với tôi một câu rất truyền cảm hứng. Tôi xin chia sẻ lại với bạn bởi tôi tin là nó sẽ rất hữu ích mỗi khi bạn đang hoài nghi về chính mình:

 BE CONFIDENT. NEVER SELL YOURSELF SHORT

       HÃY TỰ TIN. ĐỪNG BAO GIỜ ĐÁNH GIÁ THẤP BẢN THÂN

Nếu bạn đang muốn tưới thêm gia vị mang tên tự tin vào hồ sơ của bạn, tôi cũng xin khuyên bạn như những gì thầy và bạn tôi đã nói với tôi. Tôi tin rằng NẾU BẠN LUÔN CỐ GẮNG THÌ HÃY TIN RẰNG BẠN XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC NHẬN VÀ ĐÓ LÀ MAY MẮN CỦA TRƯỜNG KHI CÓ MỘT SINH VIÊN NHƯ BẠN!! 

Tiếp theo tôi xin chia sẻ kinh nghiệm quá trình tôi liên hệ với trường và các giáo sư. Kinh nghiệm của tôi chỉ giới hạn trong các ngành xã hội, mà cụ thể là Political Science và Public Policy ở Mỹ. Kinh nghiệm này có thể không phù hợp với các bạn đang apply ngành kỹ thuật hoặc ngành xã hội ở các nước khác.

Theo tôi ta nên chuẩn bị liên hệ từ khoảng 3-4 tháng trước khi deadline

          1.Ta nên liên hệ với ai?

Tôi thường liên hệ với Giám đốc Chương trình PhD (Phd Program Director) của trường và một hoặc hai giáo sư có hướng nghiên cứu phù hợp nhất với sở thích và nguyện vọng của tôi. Vì sao lại là hai đối tượng này?

Với PhD programme director, bạn có thể khai thác các thông tin liên quan đến quá trình tuyển sinh mà bạn không thể tìm thấy trên website. Ví dụ thông tin về số lượng hồ sơ trung bình trường nhận hàng năm, tỷ lệ được nhận, họ có ưu tiên sinh viên quốc tế không, điểm GRE “cut-off” là bao nhiêu, người ta có ưu tiên funding cho hướng nghiên cứu mà bạn quan tâm hay không? Nếu thấy bạn phù hợp, thầy có thể giới thiệu bạn đến một hoặc hai giáo sư đang tìm sinh viên có hướng nghiên cứu như bạn. Ngoài ra, PhD programme director chắc chắn nằm trong ban tuyển sinh, nên nếu bạn để lại ấn tượng tốt, họ sẽ xem xét hồ sơ của bạn kỹ hơn.

Đối với các giáo sư mà bạn quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu của họ (tôi sẽ gọi tắt là faculty member), bạn có thể hỏi họ đang tìm kiếm sinh viên có tố chất thế nào (kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu, các khoá học đã học, vv), các nghiên cứu họ đang làm và hướng đi trong tương lai, họ thường nhận bao nhiêu sinh viên hàng năm, và cách họ làm việc với sinh viên.

  1. Nên liên hệ thế nào để đảm bảo nhận được hồi âm?

Tôi đã nghe kể rằng có nhiều bạn gửi email cho rất nhiều giáo sư, nhưng hầu như không nhận được hồi đáp. Giáo sư là những người rất bận rộn, họ đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau ở trường: làm nghiên cứu, giảng dạy, và làm các dịch vụ khác phục vụ trường. Tôi chỉ có một lời khuyên dành cho bạn: HÃY LUÔN THỂ HIỆN SỰ CHÂN THÀNH trong mỗi email bạn gửi đi. Hãy tìm hiểu thật kỹ các thông tin về trường , về khoá học, đọc các nghiên cứu của giáo sư bạn quan tâm, đọc kỹ một vài nghiên cứu mà bạn thấy hứng thú nhất và ghi lại những câu hỏi bạn băn khoăn để nếu có cơ hội Skype, hãy trao đổi với họ.

Email đầu tiên nên ngắn gọn, giới thiệu được background của bạn, thể hiện sự quan tâm và mong muốn apply vào trường, nhắc đến một hoặc hai bài báo của giáo sư mà bạn quan tâm nhất và giải thích vì sao bạn quan tâm (nếu bạn viết cho một faculty member), hoặc nêu lên mong muốn được nói chuyện qua Skype/ nói chuyện trực tiếp (nếu bạn ở Mỹ) để hỏi một số câu hỏi liên quan đến quá trình tuyển sinh (nếu bạn viết cho PhD programme director).

Ta tuyệt đối không nên viết một lá thư chung chung cho một loạt giáo sư. Đây thường là lý do hàng đầu thư của ta sẽ bị cho vào thùng rác. 

Đây là email mà chắc chắc các giáo sư sẽ lắc đầu quầy quậy khi đọc, và email sẽ đi thẳng từ hòm thư của bạn đến  thùng rác của thầy.

Dear Professor ABC,

My name is X, I am a student at Y College/I am working for Z company/institute and I plan to apply for graduate school on T and I’m getting in touch to ask if you can give me any advice or direction about that.

Sincerely,

Your name

Còn đây là một email mà xác suất bạn nhận được hồi âm sẽ cao hơn rất nhiều. Nếu bạn nộp ngành Public Policy, với chuyên ngành hẹp hơn là Non-profit management, và research interest tập trung vào NGO, bạn  có thể viết một email như sau:

Dear Professor ABC

My name is “TÊN BẠN”, from Viet Nam. I plan to apply for the PhD program of Public Policy at “TÊN TRƯỜNG BẠN APPLY” this year. From my own research, I have found out that my research interests closely align with yours.

Having a Master’s degree/ Bachelor’s degree in “CHUYÊN NGÀNH CỦA BẠN” at “TÊN TRƯỜNG ĐH HOẶC THẠC SỸ” and  “SỐ NĂM” years of experience in non-profit sector, I have developed a strong interest in internal politics within an NGO and coordination among NGOs working on the same area of interests. I am also particularly interested in power dynamics between NGOs and their donors, and power relations of transnational actors in promoting sustainable development programs in developing countries. I was so excited to find out that part of your research centers on nonprofit management, and inter-organizational relations. These are the topics I really want to build my expertise in. I have read two publications which you authored (“xxx”, and “yyy”) and I really enjoyed them both. They gave me ideas for my future research. Your papers have made me realize that “NHỮNG BÀI HỌC BẠN RÚT RA TỪ BÀI BÁO”

I hope you don’t mind my getting in touch. I would like to ask if you are accepting graduate students in 2018 and if my research interests fit with your priorities in the coming time. If you are, I would like to talk to you a little more by Skype. Please let me know if you would you like to see my CV and know more about my research qualifications.

I am very interested in the “TÊN TRƯỜNG BẠN APPLY” and your work! I hope to have an opportunity to discuss my research interests with you.

I know you are very busy so I greatly appreciate any time you can give me!

I look forward to hearing from you!

Your name,

Với email này, cơ hội bạn nhận được hồi đáp cao hơn rất nhiều phải không? Vì sao?

Vì email này thể hiện bạn là một người nghiêm túc, bạn đã thực sự tìm hiểu về trường, và tận dụng tất cả những thông tin có trên website. Email này cũng thể hiện bạn thực sự muốn làm nghiên cứu và đã suy nghĩ đến hướng nghiên cứu bạn sẽ theo đuổi trong tương lai. Việc nhắc đến các bài báo của giáo sư chứng tỏ bạn đã tìm hiểu kỹ profile nghiên cứu của họ, điều này cho thấy bạn tôn trọng thời gian của các giáo sư- những người lúc nào cũng bận rộn.

Nếu là email cho PhD programme Director, bạn cũng có thể áp dụng email trên nhưng không cần nhắc đến các bài báo và hãy thể hiện là bạn đã tìm hiểu rất kỹ về quy trình nộp hồ sơ trên website nhưng vẫn còn một số câu hỏi liên quan đến quá trình này mà bạn muốn thảo luận sâu hơn.

Tiêu đề của email cũng cần thể hiện được ngay nội dung của email. Bạn có thể dùng tiêu đều sau cho email:

Email cho PhD Programme Director:  Fall 2018 Prospective PhD Student: Admission Info needed;

Email cho faculty member: Fall 2018 Prospective PhD Student: Research Interest Info needed

Nếu sau một hoặc hai tuần mà không nhận được phản hồi, bạn có thể gửi một email follow-up. Tôi gửi email có cấu trúc như trên cho một vị giáo sư nhưng sau hai tuần tôi không nhận được bất cứ hồi âm nào. Tôi quyết định viết một email follow-up nhưng cũng bặt vô âm tín. Khoảng gần hai tháng sau, khi tôi gần như không quan tâm đến email ấy nữa thì giáo sư hồi âm và rất xin lỗi vì thầy đi nghỉ nên không kiểm tra email thường xuyên. Sau đó thầy hẹn Skype với tôi, trong lúc nói chuyện thầy có chia sẻ rằng, năm nay trường sẽ chỉ lấy 1 hoặc 2 sinh viên quốc tế. Thật bất ngờ sau đó tôi lại được chọn. Tôi tin rằng một phần do tôi đã chủ động liên hệ trước. Vậy, các bạn đừng ngại ngần mà hãy chủ động nhé!

  1. Ta nên nói chuyện thế nào để gây ấn tượng và thu được nhiều thông tin

Nếu bạn đã nhận được lời đồng ý nói chuyện qua Skype với các thầy cô rồi, CHÚC MỪNG BẠN! Để đạt được kết quả tốt nhất từ cuộc nói chuyện này, ta hãy chuẩn bị thật kỹ. Hãy nói với tất cả sự NHIỆT HUYẾT và CHÂN THÀNH của bạn. Tôi thường viết ra các câu hỏi theo chủ đề, để một khoảng trống sau mỗi câu hỏi để ghi lại những câu trả lời của giáo sư nếu cần thiết. Cuộc nói chuyện đầu tiên bao giờ cũng khiến ta hồi hộp hơn cả, nhưng sau một vài lần như thế, bạn sẽ thấy sự tự tin của mình tăng lên đáng kể. Trước buổi nói chuyện đầu tiên, tôi chuẩn bị rất kỹ, tôi nghĩ đến các tình huống có thể xảy ra và tập nói thử một mình hoặc nói với một người bạn nhiều lần.

Và sau đây là một số câu hỏi mà tôi nghĩ bạn có thể tham khảo:

– What do you think is the biggest strength of the program?

-What do you  look for in a prospective student?

– Among all criteria: GPA, GRE scores, letter of recommendation, statement of purpose, and writing sample, how do you weigh these criteria, which is weighed the most heavily?

– Do you set a minimum score for GRE or GPA, but on average, what is considered to be competitive score of GRE and grade of GPA? Can experiences in research help compensate for normal GRE scores?

– Do I need to submit a sample on the topic I am interested in pursuing for the PHD?

– What prerequisite courses are required before a prospective student applies?

– Do you give priority to students who have experiences in qualitiative or quantitative experiences?

– How many applications do you receive each year on average? And how many are admitted? What is the attrition rate? And do you know why they left?

– What are the process of admissions? Does interview involve? When will I know the result? Which month the course start?

– Are students considered for assistantship automatically if admitted?

– How do you support students for publications?

– How does the department prepare the students to become a teaching assistant/research assistant?

– What is the student to professor ratio?

– How available are faculty to the students?

-Do students have the opportunities to present at conferences? And do you fund them?

-Are students assigned advisors or do they choose one?

-Where do students find work after graduation, in academia or outside acamedia? How long after graduation, are they able to find job?

-What is your advice for successful applications?

– Is the alumni network active? What are the main actvities of the network?

-It seems that you invest a lot in a PhD student, what are your expectations of students? How do you expect them to return?

-Other questions specifically relate to professors’ papers, their research interests and your interests.

Còn một số câu hỏi nữa mang tính cá nhân nên cho phép mình không chia sẻ lên đây. Bạn có thể chia các câu hỏi trên theo các chủ đề như 1) admission process 2) research interest 3) student-professor mentorship 4) ABC để tiện theo dõi khi trò chuyện. Nếu bạn có thêm câu hỏi nào nữa, thì hãy bổ sung vào danh sách trên nhé!

Mặc dù liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ không đồng nghĩa với việc bạn chắc chắn sẽ được nhận, tôi tin rằng đây là một việc nên làm và sẽ đem đến nhiều lợi thế cho hồ sơ của bạn. Chúc các bạn may mắn!

Viết luận xin học bổng của xứ tư bản! Trương Thanh Mai

Như đã hứa trong bài “Con đường đến nước Mỹ- Xin tiền tư bản đi học“, hôm nay tôi xin chia sẻ kinh nghiệm quá trình viết bài luận của mình.Hi vọng sẽ giúp ích cho những bạn đang ấp ủ ước mơ đi học.

Nếu ví bộ hồ sơ nộp học bổng của bạn như một ngôi nhà, thì bài luận (Statement of Purpose, Personal Statement) là phần móng của ngôi nhà. Ngôi nhà của bạn dù có đẹp đến đâu, lung linh đến đâu mà móng yếu thì nó khó có thể tồn tại lâu dài. Dù bộ hồ sơ của bạn có điểm GPA cao, điểm GRE hấp dẫn, CV đẹp, etc. nhưng một bài luận tồi, thì cơ hội đậu của bạn gần như rất thấp. Trong khi đó nếu điểm GRE của bạn không đẹp lắm, bạn có thể gỡ gạc bằng điểm GPA và ngược lại. (Trong post này tôi sẽ tập trung vào bài Statement of Purpose).

Thử thách lớn nhất của tôi khi bắt tay vào viết luận là tôi không biết bắt đầu từ đâu và như thế nào. Vì sao? Tôi nhận ra là vì tôi viết với tâm thế của một người đang CỐ HẾT SỨC ĐỂ GÂY ẤN TƯỢNG cho người khác đọc. Đúng là bài luận là nơi để bạn và tôi chia sẻ bản thân với ban tuyển sinh. Nhưng đặt mình vào vị trí như thế tôi lại bị rơi vào cái bẫy của chính mình: CỐ GẮNG VIẾT MỘT CÁI GÌ ĐÓ THẬT ĐẶC BIỆT. Càng cố viết ấn tượng, tôi lại thấy sao bản thân mình chả có gì ấn tượng để hấp dẫn người ta rót tiền cho mình :)). Sau những “nhọc nhằn” để gây ấn tượng, tôi tìm một cách tiếp cận khác cho bài luận của mình. Tôi coi bài luận là cơ hội để tôi lắng nghe tiếng nói thật sự của con tim mình. Tôi muốn thành thật trả lời 2 câu hỏi lớn mà tôi luôn loay hoay đi tìm: TÔI THẬT SỰ YÊU THÍCH CÁI GÌ? VÀ TÔI MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO. Tôi tin rằng nếu bạn có thể trả lời được 2 câu hỏi này, bài luận của bạn đã xong gần một nửa mặc dù nó có thể chưa thành hình thành khối.

Nhờ mối quan hệ bạn bè mà tôi biết rằng một số trường đang ưu tiên funding cho ngành chính sách liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu (BĐKH). Khi biết như vậy, tôi chợt cảm thấy mình có ít nhiều lợi thế cạnh tranh: đến từ một nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu này, đã có kinh nghiệm làm liên quan đến giải quyết BĐKH này, etc. Một lần, tôi tâm sự với bạn tôi:
– Chắc em sẽ nộp vào ngành chính sách môi trường, BĐKH, người ta đang có nhiều fund.
-Em có thật sự yêu thích nó không?
-Em nghĩ là em sẽ thích thôi
-Em nghĩ là em sẽ thích? Vậy là em không thật sự thích? Em đừng nghĩ là em sẽ thích, em đừng tự xây địa ngục cho mình.
-Em vào được hệ thống của họ rồi em sẽ nhìn ngó xem xét
-Em không bao giờ nên làm thế. Xin học bổng PhD cũng như …chuẩn bị cho một cuộc hôn nhân vậy, em không thể biết chắc là em sẽ mãi yêu và hạnh phúc đến cuối đời với người em lấy, nhưng ít nhất cái nền móng ban đầu em có thể kiểm soát được: đó là tình yêu.
Tôi phì cười với cách so sánh này nhưng tôi tin rằng đấy là một lời khuyên chính xác. Thấy cũng khuyên tôi hãy lắng nghe tim mình và viết với tất cả sự chân thành.

Có nhiều bạn hỏi tôi, hiện bạn đang băn khoăn không biết mình thực sự thích gì? Và đang loay hoay giữa 2-3 lĩnh vực khác nhau. Hãy thử đọc các bài báo, cuốn sách, xem phim tài liệu khác nhau về các chủ đề đó, hãy nghĩ lại các công việc bạn đã làm và THẬT LÒNG trả lời các câu hỏi sau: Bạn có cảm thấy hứng thú không? Bạn có muốn đào sâu tìm hiểu thêm không? Bạn có những giây phút “Aha, thì ra là thế” sau khi đọc/xem/làm việc xong không? Bạn có giữ được niềm say mê và nhiệt thành ngay khi đọc đến lúc hoàn thành không? Nghĩ đến việc 10-20 năm nữa vẫn tiếp tục “hiến” mình cho lĩnh vực ấy bạn có cảm thấy vui không? (Tất nhiên mọi thứ đều tương đối, nhưng tôi nghĩ chọn được lĩnh vực bạn yêu thích đã cho bạn một nền móng ban đầu rồi).

Câu hỏi bạn muốn trở thành ai trong tương lai cũng quan trọng như thế. Tôi nhận ra tầm quan trọng của câu này, khi tất cả các thầy mà tôi có cơ hội nói chuyện đều hỏi tôi câu này gần như ngay khi bắt đầu cuộc nói chuyện “Sau này em muốn làm gì?”. Vì sao việc chân thành lắng nghe trái tim mình trả lời 2 câu hỏi “bạn thích gì” và “bạn muốn làm gì” lại quan trọng đến như vậy? Vì nó không chỉ đảm bảo rằng việc đi học PhD của bạn có phải là lựa chọn sáng suốt không, mà còn là nền móng vững chắc để bạn có thể viết được một bài luận thuyết phục.

Nếu bạn đã tìm được câu trả lời rồi, xin chúc mừng bạn. Bây giờ hãy xem xét xem ta nên viết ra thế nào nhé.

1.Viết như một câu chuyện

Hãy viết bài luận của bạn như kể một câu chuyện. Tôi không có ý là bạn phải có lời thoại chằng chịt cho bài luận của bạn, mà ý tôi là bạn hãy đúc tạc bài luận của mình sao cho nó có một chỉnh thể hoàn chỉnh, logic và có liên kết từ đầu đến cuối. Và quan trọng nhất hãy tìm cho bài luận của mình một CHỦ ĐỀ, và mọi thứ bạn đưa vào bài luận (research interest, lý do chọn trường, kinh nghiệm học tập và làm việc, vv) đều liên quan đến chủ đề ấy. Hãy lấy truyện ngắn “Tên cớm và Bản thánh ca” của O.Henry làm ví dụ. Soapy là một người thanh niên vô gia cư, lấy ghế đá trong công viên Madison ở New York làm nhà, nhưng khi mùa đông đến anh không thể sống như vậy được vì quá lạnh. Câu chuyện xoay quanh một chủ đề nhất định : Nỗ lực của Soapy để “được” cảnh sát bắt vào tù ở Khám Đảo sống qua 3 tháng mùa đông khắc nghiệt bằng cách xù tiền sau khi ăn ở nhà hàng, đập phá cửa sổ cửa hàng, ” sàm sỡ” phụ nữ trên đường, vv. Nếu tác giả tham lam kể mọi thứ ông ấy muốn như tình trạng vô gia cư ở NY ra sao, mùa đông lạnh thế nào, abcxyz, thì truyện sẽ rất nhàm chán.

Áp dụng vào bài luận của mình thế nào nhỉ?

Nếu bạn tìm thấy lĩnh vực mình yêu thích rồi, giả sử là civil society (Xã hội dân sự). Nhưng bạn không thể chỉ nói “civil society always intrigues me” vì như thế qua rộng. Hãy chọn cho mình một chủ đề trong civil society, ví dụ: the role of civil society in making the state accountable to citizens. Và những thứ khác xung quanh bài luận là để bổ trợ cho chủ đề này. Sau đó bạn có thể triển khai rộng hơn: kinh nghiệm làm việc cho ABC, việc học ở XYZ, các cuốn sách của OPQ, etc. đã cho bạn nhìn ra được vấn đề này; việc học PHD sẽ giúp bạn giải quyết, nghiên cứu sâu hơn vẫn đề này thế nào? Sau khi tốt nghiệp bạn sẽ có định hướng như nào: giảng dạy, nghiên cứu tiếp về vấn đề này thế nào, etc. Tất nhiên là không ai bắt bạn chỉ được làm nghiên cứu như thế khi đi học, nhưng viết luận như vậy sẽ gây thiện cảm bới bạn tuyển sinh sẽ thấy bạn là một người có say mê, nhiệt thành và có định hướng rõ ràng.

Nói một cách khác, bạn có thể xây dựng cốt truyện bằng cách trả lời 5 câu hỏi sau:

-Bạn yêu thích lĩnh vực gì?
-Vấn đề mà bạn muốn giải quyết trong lĩnh vực yêu thích của bạn là gì?
-Vì sao bạn lại chọn vấn đề này
-Việc đi học PHD sẽ giúp ích gì cho bạn trong việc giải quyết, tìm hiểu sâu vấn đề nào?    Bạn đã có kỹ năng, kiến thức gì liên quan đến vấn đề này (qua công việc, nghiên cứu, học tập, etc.)?
-Tại sao bạn nghĩ học ở trường này sẽ giúp bạn có cơ hội hiểu hơn về vấn đề ấy
-Khi tốt nghiệp bạn có định hướng gì?

VẤN ĐỀ = CHỦ ĐỂ xuyên suốt bài

2.Viết rõ ràng, rành mạch

Trước khi bắt tay vào viết, tôi thường lên một dàn ý, gồm nhiều đoạn văn mỗi đoạn trả lời 1 câu hỏi trong các câu hỏi trên. Tôi cũng gạch ra những ý chính tôi muốn cho vào mỗi đoạn và số lượng từ ước lượng cho mỗi đoạn (vd: câu hỏi 1:300 từ, câu 2: 400 từ, vv) dựa vào tổng số từ/trang yêu cầu của trường.

Để bài viết được rõ ràng, dễ đọc, tôi áp dụng những quy tắc sau đây:
Quy tắc 1: Mỗi đoạn chỉ viết 1 ý. KHÔNG VIẾT VÀI BA Ý TRONG MỘT ĐOẠN. Thỉnh thoảng có bạn nhờ tôi đọc bài luận, tôi nhận thấy đây là một lỗi rất hay gặp. Viết quá nhiều ý trong một đoạn sẽ làm cho đoạn văn trở nên rối rắm, mất trong sáng và khó cho người đọc theo dõi.

Quy tắc 2: Đi thẳng vào vấn đề không vòng vo loanh quanh. Câu đầu tiên mỗi đoạn phải chỉ ra cho người đọc biết bạn đang viết về vấn đề gì. Khi viết về vấn đề nghiên cứu bạn quan tâm, bạn có thể bắt đầu như ví dụ sau: My primary research interests lie in civil society, particularly the role of CS in making the states accountable to citizens. Viết thẳng vào vấn đề không chỉ cho thấy bạn có khả năng viết mạch lạc, mà con giúp ban tuyển sinh tiết kiệm thời gian nữa đấy. Nếu bạn đang thấy mình viết về biển cả nhưng đã mất 5 dòng bắt đầu bằng việc tả núi non xung quanh thì phanh lại nhé :D. Hehe

Quy tắc 3: Các đoạn văn phải được liên kết với nhau. Bài luận là một chỉnh thể thống nhất với một chủ để xuyên suốt nên các đoạn văn phải có sự liên kết. Tôi thường cố gắng viết sao cho khi câu kết thúc đoạn văn này sẽ gợi mở ý cho đoạn tiếp theo.

Quy tắc 4: Không nhập nhèm dẫn chứng, chứng cứ. Ngày xưa đi học văn, ta hay viết “có ai đó đã nói…”, “người xưa cho hay…”. Khi viết luận, nếu bạn muốn dẫn chứng ý của một tác giả nào đó, thì nên viết rõ ràng tên người ta, và trích dẫn đúng chuẩn mực.

Luôn luôn có DẪN CHỨNG cho mỗi một câu statement. Nếu bạn nói bạn passionate, enthusiastic, etc. thì sau đó phải chứng minh điều đó thông qua phân tích nhưng việc/dự án bạn đã làm. Tuy nhiên, tôi nghĩ không nên viết thẳng như vậy, mà viết thông qua các bằng chứng để họ tự nhìn thấy điều đó. Ví dụ, thay vì viết “I am open-minded” rồi để đấy. Bạn nghĩ sao nếu ta viết thế này: “My postgraduate days in the UK afforded me the chance to live in a small world where I had an opportunity to work and study with people from diverse backgrounds, continents and nationalities. This opportunity taught me how to keep my mind wide open and embrace the differences”

Quy tắc 5: Không viết câu quá dài hoặc quá ngắn. Câu quá dài sẽ khiến cho câu trở nên rối rắm, tối nghĩa nhưng dùng quá nhiều câu đơn sẽ gây nhàm chán. Nếu bạn viết thế này: My primary research interests lie in civil society, particularly the role of CS in making the states accountable to citizens because after working for many different organizations, I have realised that their roles are bla bla..Nhưng nếu bạn viết thế này cũng không ổn: My primary research intererests lie in civil society. I like to do reserach on the role of CS in making the states accountable to citizens. I have worked for many organizations. I’ve realised that there are many problems. CS are not bla bla (ví dụ thôi, thực tế sẽ không có ai viết thế này hihi)

3.Sử dụng từ ngữ đơn giản

Viết đoạn này làm tôi nhớ đến một câu chuyện được bạn tôi kể cho nghe cách đây mấy năm. Có một em sinh viên đi thi IELTS về, rất tự tin về bài viết của mình vì em sử dụng được nhiều từ khó, thành ngữ đặc biệt. Kết quả bài viết chỉ được 4,5 điểm. Nhiều người nghĩ rằng phải viết những từ nghe đao to búa lớn mới thể hiện được là mình đỉnh, chất và mới có thể gây ấn tượng. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là bài luận của bạn phải thể hiện được ý tứ của bạn một cách RÕ RÀNG, ĐÚNG Ý TƯỞNG CỦA BẠN, không phải là nơi để bạn thể hiện là ta biết nhiều từ hay lắm. Nếu bạn đang phấn khởi vì vừa hấp thụ được cả đống từ mới GRE hoành tráng, hãy để dành những từ ấy cho …các cuộc thi. Hãy sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu.

Cẩn thận với các trạng từ, tính từ mạnh vì chúng rất nhạy cảm và chủ quan. Tôi đã từng đọc nhiều bài luận mà có nhiều bạn tự kể về mình ví dụ như “I am extremely hard-working”, “I have a wonderful problem solving skill”, etc. Vấn đề của những từ như “extremely”, “wonderful” là làm sao để bạn có chứng cứ thuyết phục được là bạn CỰC KỲ chăm chỉ, và bạn giải quyết vấn đề MỘT CÁCH TUYỆT VỜI. Nếu bạn nói bạn rất chăm, nhưng evidence là bạn làm 8 tiếng một ngày, thỉnh thoảng làm cuối tuần thì nó chả hợp lý tý nào. Cũng giống như bạn nói với 1 ai đó “Anh yêu em hơn bất cứ thừ gì trên đời’, nhưng chỉ thỉnh thoảng bạn mới đến gặp người ta, vài ba ngày mới nhắn tin một lần thì có phải dở không? Thôi thì thà cứ nói “Anh yêu em vừa vừa” thì bạn đỡ phải gồng mình chứng minh. Hehe. Nguyên tắc ở đây là: TỪ NGỮ CÀNG MẠNH, BẰNG CHỨNG CÀNG PHẢI MẠNH!

4.Lượng hóa khi cần thiết

Nếu có thể hãy đưa các con số vào bài viết của bạn. Hãy xem ví dụ nào đó như sau:
Together with 7 other members, I was able to undertake a detailed analysis of documents of more than 500 projects funded by ABCD
Dùng các con số bạn đã khéo léo thể hiện được phạm vi dự án mình đã từng làm mà không phải nói thẳng ra là “Tôi đây á, đã từng phân tích một đống tài liệu rồi nhé”

5.Bài luận không phải là CV

Một điểm quan trọng nữa đó là đừng biến bài luận thành anh chị em của CV, nghĩa là đừng liệt kê lại những gì đã có ở CV. Bạn hãy chọn một vài dự án/công việc bạn đã liệt kê ở CV và phân tích kỹ hơn trong bài luận để bổ trợ cho CHỦ ĐỀ bạn chọn. Điều quan trọng là luôn luôn nhấn mạnh vào BÀI HỌC RÚT RA TỪ dự án/công việc ấy-những thứ mà bạn không thể thể hiện trong CV. Ví dụ nếu bạn đang viết về một dự án nào đó, thay vì chỉ liệt kê tên dự án, bạn hãy viết rõ dự án đem lại cho bạn bài học gì. Ví dụ như: This research made me realize the role of NGOs and non-profit community networks in providing assistance to marginalized populations such as rice farmers, and urban poor people when formal support from the government failed to reach them

6.Review, review, review

Cảm giác sung sướng nhất là khi làm xong bản draft đầu tiên. Khi xong draft, tôi bỏ đấy 1, 2 ngày không nghĩ gì, động gì đến nó. Sau đó tôi quay lại chỉnh sửa và hoàn chỉnh thành bản final. Tôi gửi bài essay của tôi cho 5 người đọc (cả người Việt Nam và nước ngoài, cả người cùng ngành và khác ngành, cả giáo sư và bạn bè tôi). Mỗi người sẽ có một ý kiến khác nhau, nhưng việc CÓ THAY ĐỔI hay không là tuỳ thuộc vào bản thân bạn. Vậy nên, hãy gửi cho mọi người đọc bạn nhé!

7.Một số tips khác không biết đặt tên là gì 😀

-Cẩn thận khi bắt đầu bài luận bằng 1 câu nói nổi tiếng, 1 câu trích dẫn, 1 câu thơ, 1 câu văn trừ khi bạn sử dụng nó một cách cực kỳ “thông minh” và liên quan.

-Mặc dù tôi luôn tin rằng “sự chân thành” là thứ gia vị đậm đà nhất trong bài luận của bạn, hãy luôn nếm để nó đừng đậm quá nhé. Ví dụ, tôi từng đọc bài của bạn viết là bạn muốn đi học 1 ngành nào đó vì bố/mẹ/anh/chị muốn như thế. Có thể đúng là như thế, nhưng bạn không cần phải trình bày như thế vì có thể làm người ta nghĩ là “ồ, sao con bé này chẳng có chính kiến gì thế” 😀

-Khi viết lý do bạn chọn trường này, đừng viết một cách chung chung và kiểu tâng bốc người ta “vì đây là một nơi tuyệt vời, là ngôi trường tốt nhất thế này thế kia”. Hãy viết sao cho họ thấy rằng bạn thật sự đã tìm hiểu về họ. Hãy đọc chương trình học của họ, cho họ biết bạn đang mong được học những môn gì. Hãy nêu tên 2-3 thầy có research interest gần như bạn, viết 1-2 dòng về họ và nghiên cứu của họ đã khiến bạn suy nghĩ gì. Tìm hiểu xem trường đấy có điều gì đặc biệt hơn các trường khác không. Khi tôi đọc về trường ở Colorado, có một điều tôi thấy rất thích thú, đó là họ có một câu lạc bộ dành cho sv PhD- nơi sv thường xuyên gặp gỡ và trao đổi. Tôi cũng chia sẻ điều này trong bài luận.

-Viết luận cho học bổng master hay PhD bạn đều có thể viết theo cách trên, tuy nhiên mức độ phức tạp (sophisticated) của PhD sẽ ở mức độ cao hơn. Vì vậy, khi kể về các “Aha moment” (khoảnh khắc bạn phát hiện ra điều gì đó làm bạn suy nghĩ, thay đổi), bạn hãy khéo léo lựa chọn thời điểm nhé. Theo tôi, nên chọn những khoảnh khắc từ khi bạn học ĐH trở lên. Bạn có tin không nếu bạn đọc được một bài viết như này “Khi tôi…8 tuổi, bố mang về một tờ báo về các vấn đề quốc tế, tôi đã say mê ngay lập tức trước các sự kiện quan hệ quốc tế, các vấn đề chính trị xã hội, bla bla. Từ đó tôi biết rằng đó là thứ mà tôi yêu thích và muốn theo đuổi suốt cả cuộc đời” (hehe). Bạn sẽ hoài nghĩ phải không? HÃY LỰA CÁC AHA MOMENT CẨN THẬN nhé!!

P/S:
Trong truyện “Tên cớm và bản thánh ca”, sau khi làm mọi cách mà không “được” vào tù ở Khám Đảo, Soapy chán nản tìm về “tổ ấm” là chiếc ghế ở công viên Madison. Anh đi ngang qua một ngồi nhà thờ cổ, và bất ngờ nghe được một bản thánh ca du dương. Bản thánh ca ấy khiến anh xúc động mạnh, và muốn được sống tử tế, thanh cao. Anh nghiêm túc suy nghĩ đến việc làm lại từ đầu và đi tìm việc. Nhưng vì thấy anh lang thang một mình ở bên ngoài nhà thờ khá lâu, cảnh sát đã nghi ngờ và đưa anh vào tù ở Khám Đảo 3 tháng đúng giây phút anh muốn làm lại cuộc đời

-Có một cuốn sách rất hay về viết mà bạn có thể tham khảo có tên “On writing well” của William Zinsser

Khoa học Chính trị có khô khan như ta nghĩ? Trương Thanh Mai

Mỗi lần bạn bè ở Việt Nam hỏi tôi học gì, và nghe câu trả lời: Political Science (Khoa học Chính Trị), ai cũng mắt tròn mắt dẹt ngạc nhiên: “Sao học ngành gì nghe..hoành tráng thế?”, “Học ngành gì nghe khô khan thế?”, “Học khó lắm phải không?”, “Học xong thì làm gì?”. Tôi thấy lạ lắm, vì thật ra ở Việt Nam cũng có ngành này mà, chỉ là mình không gọi bằng tên này thôi. Sau một thời gian suy nghĩ, tôi quyết định chia sẻ một cách ngắn gọn ngành học của tôi trong blog tuần này. Hi vọng sẽ giải đáp được thắc mắc của nhiều bạn, và biết đâu đấy sẽ tạo cảm hứng cho bạn đọc blog theo đuổi ngành này (nếu thế thì tôi vui lắm!!)

Tôi học ngành Political Science, với chuyên ngành chính là Comparative Politics (Chính trị học so sánh), và ngành học phụ là Research Methods ( Phương pháp nghiên cứu). Trước khi đi vào chi tiết, tôi muốn kể cho bạn một kỷ niệm nho nhỏ từ thời tôi còn là sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nghĩ lại con đường học hành của mình, tôi chợt nhận ra niềm đam mê của tôi đối với Khoa học Chính trị có lẽ đã đâm rễ từ lâu mà tôi không nhận ra.

Tôi vẫn nhớ hồi còn là sinh viên năm hai, năm ba Đại học, tôi rất thích tìm hiểu về các sự kiện đang diễn ra trên thế giới. Tuy thời ấy Internet đã phổ biến mọi ngõ ngách nhưng tôi vẫn thích học về thế giới bằng con đường truyền thống: Đọc báo giấy. Hàng tuần, tôi thường ra hiệu báo đầu đường Tạ Quang Bửu mua cuốn tạp chí “Thế giới và Việt Nam” (không biết giờ này sạp báo ấy còn mở cửa không nữa). Báo ít có các bài phân tích, mà thiên về đưa tin sự kiện. Nhưng chừng ấy thôi cũng đủ thoả mãn chí tò mò…ngây thơ của tôi rồi. Ra trường khoảng hai năm, tôi tình cờ đọc được cuốn sách “Tại sao các quốc gia thất bại: Nguồn gốc của Quyền lực, Thịnh Vượng và Nghèo đói” (Why nations fail: the Origins of Power, Prosperity and Poverty) của Acemoglu và Robinson. Lúc ấy, tôi chưa đủ khả năng để phân tích và phê bình cuốn sách, tôi cũng chưa có được nền tảng lý thuyết cơ bản để hiểu hết các luận điểm của tác giả. Tuy nhiên, cuốn sách đã khai sáng cho tôi bao điều mới lạ về thế giới. Tháng trước tôi và bạn đồng hành lái xe qua thành phố Nogales thuộc nước Mỹ. Phía bên kia “hàng rào” là thành phố Nogales của Mexcio. Hai thành phố cùng một xuất phát điểm: cùng văn hoá, ngôn ngữ, khí hậu nhưng Nogales phía bên Mỹ thì giàu có thịnh vượng, bên kia hàng rào lại là nghèo đói lạc hậu. Tác giả có nhắc đến sự khác biệt của hai thành phố (vốn từng là một) để bảo vệ luận điểm của mình: một quốc gia giàu có thịnh vượng hay không là do thể chế chính trị quyết định, các tác nhân khác chỉ là thứ yếu. Cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam (ngày trước tôi đọc bản tiếng Việt). Còn đây là trang blog tiếng Anh về cuốn sách của tác giả:

http://whynationsfail.com/summary/

Nếu bạn muốn học cách viết tiếng Anh thì tôi nghĩ đây là một trang web tốt. Tôi thích cách viết của tác giả. Đơn giản. Dễ hiểu. Đi thẳng vào vấn đề.

Sau này khi học ngành Nghiên cứu Phát triển ở Anh, tôi nhận ra một điều: Chính trị hiện hữu trong mọi ngõ ngách của cuộc sống. Khái niệm “quyền lực” (Power) mà tôi học được ở Anh, đã cho tôi một công cụ để đánh giá và nhìn nhận các sự kiện xảy ra xung quanh mình. Ngày trước, tôi cứ nghĩ Politics là điều gì xa xôi lắm, tôi từng nghĩ Politics chỉ liên quan đến ai là tổng thống Mỹ, ai trúng cử thủ tướng lần này, chính sách này chính sách kia có tác động thế nào, nước nào có mối quan hệ ngoại giao với nước nào, vân vân và vân vân. Thật ra, ta có thể thấy Politics ở khắp mọi nơi. Từ công ty, trường học, đến gia đình. Từ giá nhà, giá đất, thức ăn bạn mua, đến chai nước bạn uống. Từ những thứ tưởng chả liên quan gì đến Politics như mối quan hệ nam nữ, như tình bạn, tình đồng chí. Đơn cử như trong một mối quan hệ lãng mạn, người bạn gái bị bạn trai bắt nạt, bạo lực nhưng người bạn gái chẳng dám bỏ vì sợ đàm tiếu điều này điều kia, thì khái niệm quyền lực cho ta thấy: cán cân quyền lực đang nghiêng về phía nam giới, từ đó ta có thể suy ra được nhiều điều trong xã hội. Càng học tôi càng thấy hay, những lý thuyết tôi học không hề khô khan, hay “khó nhằn”, mà thật ra nó dạy tôi rất nhiều điều trong cuộc sống. Ngày trước tôi rất thích thay đổi người khác, đặc biệt là những người mà tôi cho là không …học nhiều như tôi. Tôi nhớ một lần đến thăm gia đình bác nông dân, bác để cả đàn gà chạy tứ tung trong nhà, tôi nhắc nhở và khuyên bảo mà bác chẳng hề thay đổi. Nhưng khi học về khái niệm quyền lực, tôi tự đặt cho mình các câu hỏi trước khi “khuyên răn” người khác: Tôi là ai mà có quyền thay đổi người khác? Nếu tôi muốn thay đổi họ, có phải là tôi đang nghĩ tôi …hơn người ta? Rằng tôi hiểu biết hơn, tử tế hơn, tốt đẹp hơn? Rằng tôi chẳng trong hoàn cảnh của họ, nhưng tôi lại biết thế nào là tốt cho họ, còn họ thì chẳng biết gì? Tất nhiên, ngành học tôi đang theo đuổi không trả lời các câu hỏi liên quan đến vấn đề giới hay các nhân như thế, tôi lấy ví dụ vậy để bạn hiểu rằng, Politics không to tát như ta tưởng, và thật sự có thể dạy ta cách sống sao cho tử tế hơn.

Tôi lan man quá rồi, xin phép bạn cho tôi vào chủ đề chính của bài blog tuần này. Tôi học ngành Khoa học Chính trị, chuyên ngành chính là Chính trị học So sánh (Comparative Politics).

Câu hỏi đầu tiên: Học Political Science là học cái gì?

Political Science tại Mỹ bao gồm bốn ngành học nhỏ: Quan hệ quốc tế (International Relations- ngành này quá quen thuộc ở Việt Nam phải không?), Chính trị Mỹ (American Politics), Lý thuyết Chính trị học (Political Theory- tôi không hiểu rõ về ngành này, nhưng tôi nghĩ các môn học ở Việt Nam như chủ nghĩa Mác Lê có thể là một phần lý thuyết của ngành này), Hành chính công (Public Administration- ngành này cũng quen thuộc ở Việt Nam nè), và Chính trị học So sánh (Comparative Politics- đây là ngành tôi học, và tôi nghĩ …đây là ngành học tuyệt vời nhất trong cả bốn ngành. Haha)

Câu hỏi thứ 2: Chính trị học so sánh là …cái gì?

Có lẽ ngành này không phổ biến ở Việt Nam, nhưng ở Mỹ đó là ngành học rất lý thú. Về cơ bản Chính trị học so sánh trả lời các câu hỏi: Điều gì thúc đẩy, ảnh hưởng những quyết định của các chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách? Đối tượng nào nắm thực quyền trong xã hội? Vì sao một quốc gia lại đi theo thể chế chính trị này, mà không phải là thế chế khác? Vân vân và vân vân. Điều đặc biệt của ngành này là các nhà nghiên cứu cố gắng so sánh các hệ thống chính trị khác nhau trên thế giới để đưa ra lý thuyết và rút ra các bài học thực tiễn. Tất nhiên không phải ta hứng lên, thích so sánh nước nào với nhau cũng được. Ví dụ, liệu ta có thể so sánh Switzerland và …Swazerland được không? Hai quốc gia đều bắt đầu bằng “Sw” đấy, và đọc nghe cũng giống nhau đấy. Nhưng cả hai chẳng có điểm gì tương đồng cả: một nước ở châu Âu, một nước ở châu Phi, văn hoá, lịch sử khác xa vạn dặm, hệ thống chính trị thì quá khác nhau. Ta có thể so sánh hai quốc gia có nhiều điểm tương đồng về văn hoá, ngôn ngữ, lịch sử nhưng có hệ thống chính trị khác nhau, và giải thích từ đâu dẫn đến sự khác nhau đấy. Hoặc sự khác nhau đó có tác động thế nào? Ta phải luôn cẩn thận để không so sánh cam với táo- các giáo sư của tôi thường nhắc nhở chúng tôi như thế!

Câu hỏi thứ 3 (một câu hỏi tôi thường gặp): Tại sao ta phải so sánh?

So sánh các hệ thống chính trị khác nhau giúp ta hiểu và tìm ra quy luật chung cho các sự kiện, hiện tượng tưởng chừng chẳng liên quan gì đến nhau. Nếu bạn tin rằng thế giới này là sự hỗn độn của những sự kiện chẳng có ý nghĩa gì, thì bạn ..không cần so sánh. Nhưng nếu bạn tin, mỗi sự kiện là một phần của một quy luật chung thì so sánh là không thể thiếu. Thực tế so sánh là một phần trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Hãy thử nghĩ lại xem, đã bao lần bạn từng so sánh giá cả của các loại hàng hoá, chất lượng các loại sản phẩm, những lựa chọn trong cuộc sống, thậm chí là so sánh các đối tượng tiềm năng để làm bạn đời. Rồi bạn tìm ra quy luật: à thì ra, anh nào/cô nào được bố mẹ bao bọc từ nhỏ, không phải động tay động chân vào việc gì, thì thường có khuynh hướng không tự đưa ra được các quyết định quan trọng trong cuộc sống (tôi ví dụ thế thôi, có thể “lý thuyết” này không đúng haha). Mục đích của khoa học chính trị (và có lẽ là mọi ngành khoa học) còn  là xác định mối quan hệ của hai hay nhiều yếu tố (hay còn gọi là “biến-variables) và đưa ra dự đoán tương lai dựa vào mối quan hệ mà ta quan sát được từ các yếu tố đó. Ví dụ, một câu hỏi khiến nhiều nhà khoa học chính trị đau đầu là “Tại sao nhiều nước đặc biệt ở phương Tây lại có thể chế chính trị dân chủ, trong khi các nước châu Phi lại toàn là độc tài?”. Ta có thể viết lại câu hỏi “nhân tố nào cần có trong một quốc gia để khiến quốc gia đó chuyển từ độc tài sang dân chủ?”. Các nhà khoa học thu thập số liệu lớn về GDP bình quân đầu người của các quốc gia và những thay đổi trong hệ thống chính trị của các quốc gia trong một thời gian dài. Dựa vào mối quan hệ giữa kinh tế và hệ thống chính trị, các nhà khoa học nhận thấy: các nước giàu thì thường có thể chế chính trị dân chủ, các nước độc tài thì thường là các nước đang phát triển hoặc nước nghèo. Từ đó, nhiều nhà khoa học đưa ra giả thuyết (như Przeworski- nếu bạn quan tâm có thể tìm đọc sách của ông): khi nào GDP đầu người của một quốc gia vượt ngưỡng 6000 USD, và vì một lý do nào đó trở nên dân chủ,  quốc gia đó có nhiều tiềm năng duy trì nền dân chủ đó hơn những quốc gia có GDP đầu người ở dưới mức đó. Đây là một lý thuyết gặp nhiều chỉ trích bởi một số nước như Argentina luôn nằm ngoài quy luật ấy.

Trên đây là những thông tin cơ bản về ngành học của tôi. Có một câu hỏi nữa mà tôi muốn trả lời: Chính trị học so sánh thường áp dụng phương pháp nghiên cứu nào? nhưng xin để dành cho một bài viết khác. Tôi hi vọng qua bài viết bạn sẽ nhận thấy ngành học khoa học chính trị không hề khô khan, “khó nhằn”. Đối với tôi, học khoa học chính trị đã cung cấp cho tôi một vũ khí để hiểu và phân tích những thông tin tôi đọc trên báo chí, và những sự kiện đang diễn ra trên thế giới. Gần gũi hơn, ngành học còn giúp tôi cách đối nhân xử thế, và sống tốt hơn mỗi ngày.

Nếu có gì thắc mắc, bạn hãy để lại câu hỏi trong phần comment nhé. Cảm ơn bạn đã đọc tâm sự của tôi đến những dòng cuối cùng. Chúc bạn một thứ hai thật vui!

Một số gợi ý cho tân du học sinh UK

Bài viết này là một phần trong Thư gửi Tân du học sinh Chevening 2017. Nhưng sau khi viết xong, tôi nhận thấy bài viết có thể hữu ích cho bất cứ ai sắp sang Anh du học.

Trong bài viết, tôi chia sẻ một số gợi ý về việc tìm nhà, đi lại, mua sắm ở UK. Đây là những kinh nghiệm tôi đúc kết (từ cuộc sống của bản thân, bạn bè, sách báo, vân vân) sau gần 1,5 năm sống, học tập và làm việc ở xứ sở sương mù.

Nếu bạn có thêm bất cứ kinh nghiệm nào muốn chia sẻ cho những tân du học sinh, xin để lại trong phần comments.

TÌM NHÀ Ở

Bạn có thể tìm nhà thông qua trang web của trường (trường thường cung cấp nhà ở cả trong và ngoài campus), hoặc tự tìm nhà mà không qua trường. Theo kinh nghiệm của tôi, tự thuê nhà bên ngoài sẽ rẻ hơn.

Nếu bạn có nhu cầu tự tìm nhà, dưới đây là một số trang web phổ biến:

http://www.spareroom.co.uk/

https://uk.easyroommate.com

https://www.gumtree.com

Bạn cũng có thể nhờ hội sinh viên Việt Nam ở trường/ thành phố bạn sắp theo học hỗ trợ.

Trước khi quyết định đặt cọc nhà, hãy đảm bảo rằng bạn đã nói chuyện với chủ nhà và xem nhà qua Skype (nếu bạn vẫn ở Việt Nam), hoặc nhờ một người quen ở bên đó đến xem trực tiếp.

Hãy hỏi kỹ các vấn đề như: tiền bill hàng tháng, cách thức/tần suất trả tiền nhà, an ninh xung quanh, đi lại đến trường có dễ không, bạn cùng nhà, vân và vân vân.

DSC01860

ĐI LẠI Ở UK

PHƯƠNG TIỆN ĐẾN TRƯỜNG:

Hệ thống giao thông công cộng ở UK rất phát triển, đặc biệt là xe bus và tàu điện ngầm. Tàu điện ngầm thì phổ biến hơn ở London.

Ở các thành phố khác, xe bus là phương tiện đi lại chủ yếu. Hệ thống xe bus ở Anh rất tiện lợi: nhiều tuyến đường, đúng giờ, chạy thường xuyên. 

Bạn nên mua vé xe bus năm, vì sẽ rẻ hơn là mua vé hàng ngày. Ngoài ra, giá vé năm dành cho sinh viên cũng rẻ hơn cho những đối tượng khác.

Nếu bạn không ngại gió và mưa (một hiện tượng thời tiết phổ biến ở Anh ^^), thì có thể đạp xe đến trường.

ĐI DU LỊCH TRONG UK

Hệ thống tàu liên thành phố ở UK rất phát triển: nhiều tuyến, tốc độ nhanh, sạch sẽ và (thường) đúng giờ trừ những hôm có mưa bão (mà điều này lại hay thường xảy ra ở UK!!). Để đi lại được rẻ hơn cả, hãy đảm bảo:

 Mua Rail Card, để được giảm giá 30% cho mỗi lần mua vé tàu

-Lên kế hoạch đi du lịch và đặt vé nhiều tuần/tháng trước chuyến đi

Dưới đây là một số website đặt mua vé tàu:

https://www.virgintrains.co.uk

http://www.southernrailway.com/mobile/

http://www.raileasy.co.uk

https://www.thetrainline.com

https://www.midlandtrain.com

Ngoài ra bạn có thể đi bằng coach (Xe khách). Dưới đây là trang web tôi thường truy cập để tìm thông tin các chuyến coach:

https://www.visitbritain.com

Nếu bạn muốn đi máy bay, có thể chọn easyJet để mua được những chuyến bay giá rẻ:

https://www.easyjet.com/en

TÌM CÁC CHUYẾN DU LỊCH Ở ĐÂU

Các chuyến đi trong ngày hoặc cuối tuần

https://www.ukstudytours.com/departure-region/brighton-hove/

Trang web này offer giá cả khá hợp lý, rất thích hợp cho các chuyến đi ngắn ngày hoặc cuối tuần. 

Nếu bạn học ở Brighton, bạn có thể tìm đươc rất nhiều chuyến đi thú vị tại trang web sau:

http://www.discoverytours.uk.com/

Ngoài ra, trường cũng tổ chức nhiều chuyến đi cuối tuần. Nếu nhận được email về chuyến đi mà bạn thích, hãy đăng ký thật sớm nhé. Các chuyến đi do trường tổ chức thường sẽ có giá cả vừa phải hơn, nên vé có thể hết rất nhanh!

6

           MUA SẮM Ở UK

THỰC PHẨM

Bạn có thể mua đồ ăn ở một số siêu thị phổ biến ở Anh như Aldi, Asda, Sanburys, Lidl, Morrisons, Tesco. Trong các siêu thị này, Aldi và Asda có giả cả hợp với túi tiền của sinh viên hơn cả.

Nếu bạn không thể ăn được đồ tây, và chỉ thích nấu món Việt Nam, xin đừng lo!. Tôi nghĩ, thành phố nào ở Anh cũng có siêu thị Trung Quốc hoặc siêu thị bán đồ châu Á. Giá cả tuy có đắt hơn, nhưng bạn sẽ tìm thây rất nhiều loại gia vị, rau củ quả để chế biến các món ăn Việt Nam.

THỜI TRANG

Thành phố nào cũng sẽ có một trung tâm mua sắm. Bạn có thể tìm mua quần áo của một số thương hiệu phổ biến như  H&M, Zara, Top shop, etc.

18

CÁC SỰ KIỆN DO CHEVENING TỔ CHỨC

Các chương trình GIAO LƯU VĂN HÓA, HỘI THẢO CHUYÊN NGÀNH, HOẠT ĐỘNG TÌNH NGUYỆN: Bạn hãy nhớ luôn nhanh tay đăng ký một suất, vì những chương trình nảy rất thu hút người đăng ký tham gia

CHEVENING ENGAGEMENT

Hỗ trợ cán bộ Chevening London hoặc cựu học sinh Chevening tổ chức các sự kiện

CHEVENING BUDDY SCHEME

Đây là các sự kiện mà trong đó cựu sinh viên Chevening chia sẻ về cuộc sống, quá trình học tập ở UK cho những thành viên mới.

10245394_758164917550431_5087536697301209664_n

Cảm ơn bạn đã đọc đến những dòng cuối cùng của bài viết. Tôi hi vọng, bạn tìm được nhiều thông tin hữu ích trong bài. Nếu bạn có thêm gợi ý hoặc kinh nghiệm gì muốn chia sẻ, xin để lại trong phần comment.

Thanh Mai

Du học và những trải nghiệm vô giá – Trương Thanh Mai

Tuần trước, tôi đi uống cafe với một em gái tôi tình cờ quen trong một khoá học online. Chúng tôi chọn một quán cafe mặt bàn hướng ra Hồ Tây, phía trên là tán phượng xanh đung đưa nhẹ theo chiều gió. Chúng tôi vừa ngắm mặt Hồ Tây được tưới tắm bởi ánh đèn vàng từ các cột đèn bên đường chiếu xuống, vừa tâm sự đủ thứ chuyện từ nội dung bài học, bộ phim mới nhất trên rạp, những định hướng tương lai, chuyện mèo và chuyện du học. Khi nói đến chuyện du học, bất chợt em hỏi tôi “Có bao giờ chị hối tiếc vì đã đi du học không?”. Chưa bao giờ thoáng nghĩ đến việc đó, tôi hoàn toàn bất ngờ trước câu hỏi này. Nhận ra vẻ bối rối của tôi, em kể tiếp rằng em luôn muốn được đi du học và đang tìm học bổng nhưng em không nhận được sự động viên và ủng hộ từ gia đình. Bố mẹ không muốn em bỏ công việc ổn định đang làm, và khuyên em nên ở nhà lấy chồng, sinh con, tiếp tục công việc nhàn hạ hiện tại. Bố mẹ lo sợ rằng khi học xong, về nước em sẽ phải làm lại từ đầu tất cả. Như vậy liệu có đáng không? Lời khuyên của bố mẹ tác động đến em rất nhiều. Từ một người đầy quyết tâm, em trở nên hoài nghi chính ước muốn của mình. Tôi nhớ cách đây khoảng một năm rưỡi, tôi gửi tin nhắn cho một anh bạn đã từng học ở Mỹ để hỏi về kinh nghiệm apply học bổng tiến sỹ. Câu đầu tiên mà anh nói với tôi là “ô, thế không lấy chồng mà lại đi học à”. Mỗi khi có ai hỏi tôi có nên đi du học không khi đã hai lăm, hai sáu tuổi mà vẫn chưa có gia đình, hoặc khi có ai khuyên tôi nên lấy chồng thay vì đi học, tôi cảm thấy rất kỳ lạ. Rõ ràng “lấy chồng” và “đi học” là hai biến độc lập, không cái nào phụ thuộc cái nào mà 🙂

Tôi luôn tin rằng khi một ai đó muốn phát triển bản thân bằng việc đi học dù ở độ tuổi nào thì đó nên là điều được khuyến khích hơn là bị phản đối. Sống ở một nền văn hoá Á Đông, ta thường hay quan tâm lo lắng đến hình ảnh của mình trong mắt mọi người, ta sợ ta sẽ “lệch chuẩn”. Ta thường quan tâm rất nhiều đến việc người khác nghĩ gì về mình, và đôi khi để những quyết định của mình bị ảnh hưởng bởi người ngoài. Nhưng dần dần tôi học được rằng lời khuyên của người khác chỉ mang ý nghĩa tham khảo, còn quyết định hoàn toàn nằm ở bản thân mình. Vì sao? Vì chắc chắn người khác không có đủ thông tin về bản thân ta như ta: Họ không biết ta thật sự yêu thích gì, ta muốn gì, điều gì mới làm ta vui và hạnh phúc, ta mong muốn gì trong tương lai, ta có những trải nhiệm như thế nào, vân vân và vân vân. Quan điểm của tôi có thể hơi ích kỷ, nhưng tôi tin rằng mọi quyết định trong cuộc đời mỗi người trước hết phải mang lại niềm vui và hạnh phúc cho bản thân người đó. Bạn có thể hi sinh nếu bạn hài lòng với lựa chọn đó, nếu sự hi sinh làm bạn thấy vui và hạnh phúc, còn nếu không nó hoàn toàn cần được xem xét lại! Càng ngày tôi càng nhận ra rằng tình yêu diệu kỳ và lớn lao nhất là tình yêu dành cho chính bản thân mình. Học cách yêu thương bản thân là một quá trình gian nan đầy thử thách bởi thực sự hiểu những ước muốn, và cảm xúc của bản thân thật sự không hề đơn giản. Tôi chợt nhớ đến bài hát “The greatest love of all” của Whitney Houston, trong đó có một đoạn rất hay:

Because the greatest love of all is happening to me

I’ve found the greatest love of all inside me

The greatest love of all is easy to achieve

Learning to love yourself

It is the greatest love of all

Tôi đã nghe bài hát này nhiều lần mà lúc nào cũng nguyên vẹn cảm xúc như lần đầu tiên. Rồi tôi tự hỏi đã bao nhiêu lần tôi để những lời nói của người ngoài, những chỉ trích, nhưng lời đùa cợt vô duyên, những gì người khác nghĩ về tôi ảnh hưởng đến tâm trạng và sự an nhiên trong lòng.

 

Trở lại câu hỏi trên “Tôi có bao giờ hối tiếc khi đi du học không?”. Chắc chắn là không rồi. Và hôm nay tôi xin chia sẻ những bài học tôi đã học được trong quá trình đi du học. Đây là những tài sản vô giá mà tôi sẽ không đánh đổi vì bất cứ điều gì khác!

  1.   Du học dạy tôi tin hãy luôn tin vào mặt tốt của con người

Tôi và một người bạn đến sân bay Heathrow London gần mười hai giờ đêm một ngày giữa tháng chín mấy năm trước. Sau khi lấy hành lý, chúng tôi tìm đường đến khu tàu điện ngầm để bắt tàu về Brighton. Mặc dù đã biết trước rằng Heathrow là sân bay rộng nhất nước Anh, tôi vẫn thấy choáng ngợp trước sự đồ sộ của nó. Để đến được khu tàu điện ngầm, chúng tôi phải đi qua bao nhiêu bậc thềm, thang cuốn, tựa như đi vào một cái mê cung bất tận. Với hai vali to, túi xách và ba lô lỉnh kỉnh, chúng tôi như hai con thỏ lạc giữa một khu rừng rộng lớn, đang tha một đống thức ăn dường như quá sức với cơ thể về tổ để ăn dần cho cả mùa đông. Cứ ngỡ lên được tàu rồi là chúng tôi có thể thảnh thơi, chợp mắt và khi tỉnh dậy là được mùi dịu ngọt của gió biển Brighton chào đón. Nào ngờ tôi bị say tàu, có lẽ là hậu quả của một chuyến đi dài, mất ngủ, đói và lệch múi giờ. Chúng tôi quyết định xuống tàu. Nhưng vừa đặt chân xuống nhà ga, tôi hoàn toàn mất khái niệm về thời gian và không gian. Tôi đang ở đâu thế này? Một nơi bên dưới lòng đất, tối đen và sâu hun hút, xung quanh chỉ lèo tèo một vài bóng người. Cảm giác dừng lại ở một nơi “cảnh vực hư vô” khiến tôi rùng mình. Nhưng tôi mệt đến mức thậm chí không suy nghĩ được gì, chỉ đứng yên một chỗ chờ cơn say đi qua. Bất ngờ một người đàn ông cao, mặc một bộ đồng phục có lẽ là màu đen đến hỏi nếu ông có thể giúp gì chúng tôi. Rồi ông xách giúp tôi hành lý và đưa chúng tôi đi tìm khách sạn. Chúng tôi phải đi một đoạn khá xa, vì ông muốn chọn cho chúng tôi một khách sạn tử tế và không quá đắt đỏ. Nếu không có người giúp đỡ, không biết tôi sẽ phải trải qua đêm đầu tiên ở nước Anh như thế nào nữa. Về đến khách sạn, chúng tôi ngủ một giấc đã đời, và sáng hôm sau bắt Taxi đi Brighton.

Trước khi đến Anh, tôi đã được “cảnh báo” là người London không thân thiện, không cởi mở đâu, họ thậm chí còn thô lỗ và lạnh lùng. Nếu tôi để những định kiến này che mờ mắt thì có lẽ tôi đã cao chạy xa bay khi ông ấy muốn giúp đỡ chúng tôi. Thật sự thì khi ông dẫn chúng tôi đi tìm chỗ nghỉ, đôi lúc tôi cũng có cảm giác gờn gợn, nhưng rồi tôi lại tin vào trực giác của mình “Đây là người mình có thể tin được”.

Tất nhiên bạn cũng sẽ gặp những người làm bạn không ưa. Có đôi lúc bạn sẽ cáu kỉnh muốn tay đôi “cãi nhau” với lũ trẻ con gọi bạn là người Trung Quốc và …đuổi bạn về nước. Hay lắm khi bạn bực mình vì một người lái xe bus nói giọng địa phương không đủ kiên nhẫn trả lời bạn khi bạn nói “Pardon” đến lần thứ 2! Nhưng tôi tin là những người mà bạn không ưa không phải là một mẫu đủ lớn đại diện cho con người nơi đây. Và thậm chí dù họ có làm cho bạn khó chịu đi nữa, lựa chọn có để những người ấy ảnh hưởng đến cảm xúc chung của bạn về nơi này hay không hoàn toàn phụ thuộc vào bạn.

  1.    Du học dạy tôi rằng một cộng một không nhất thiết phải bằng hai

Thật sự, tôi đã gặp khủng hoảng tâm lý sau khi học ở Anh được một, hai tháng. Có lúc tôi còn nghĩ  “hay là Chevening chọn nhầm mình, mình dốt thế sao lại được nhận học bổng”. Dần dần tôi nhận ra rằng sự “khủng hoảng” của tôi đến từ việc tôi luôn tìm kiếm một câu trả lời cụ thể cho mọi câu hỏi được đưa ra. Tôi luôn tự hỏi mình và đã từng hỏi thẳng thầy “Kết luận cuối cùng là gì hả thầy, thế nào mới là đúng? Thế nào mới là sai? Điều này là đúng hay sai?”. Ban đầu câu trả lời của thầy không làm tôi hài lòng “Tuỳ từng trường hợp chứ, lúc này nó có thể đúng, lúc khác nó có thể sai”. Nhưng rồi càng học (không chỉ từ sách vở, mà còn từ những cuộc thảo luận với bạn bè đến từ nhiều nền văn hoá khác nhau), tôi nhận ra rằng kỳ vọng hiểu rõ một sự vật hiện tượng là tốt hay xấu của tôi là không tưởng. Một học thuyết có thể đúng ở giai đoạn này vì hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc ấy cho phép nó được thực hiện, nhưng ở một giai đoạn khác nó không còn phù hợp nữa. Và tôi cũng không thể kỳ vọng một chính sách hay chương trình phát triển nào chỉ đem lại điều tốt mà không có những mặt hạn chế. Nghe đơn giản là vậy, nhưng đây là một bài học đầy “đau đớn” đối với tôi. Tôi hoài nghi những niềm tin, và hệ giá trị mà tôi tin tưởng trước đây. Nhưng tôi biết những “đau đớn” ấy là không thể thiếu nếu tôi muốn trưởng thành. Quá trình “learn” và “unlearn” này còn giúp tôi lớn lên rất nhiều về mặt con người. Trước đây tôi thường vội vàng kết luận một ai đó là tốt hay không tốt chỉ dựa vào cách hành xử của họ một hoặc hai lần. Và nếu tôi đã nghĩ một ai đó là không tốt thì rất khó để tôi thay đổi quan điểm của mình. Những bây giờ tôi tin rằng ai cũng có mặt tốt và mặt xấu, chỉ là ta có đủ kiên nhẫn để hiểu và đặt mình vào vị trí của họ mà suy xét hay không thôi. Ngày trước tôi có thể bực bội khó chịu và đôi khi tranh cãi đến cùng để bảo vệ quan điểm của mình. Nhưng rồi tôi dần học cách tôn trọng sự khác biệt. Tôi không thể kỳ vọng mọi người đều suy nghĩ như tôi, chia sẻ các quan điểm và giá trị giống hệt tôi bởi đơn giản mỗi người có một phông văn hoá, gia đình, giáo dục, và quá trình trưởng thành khác nhau.

Tôi vẫn nhớ mỗi lần gặp nhau ở thư viện để nộp bài essays, chúng tôi thường hay đùa nhau “Viết xong luận chưa, kết luận thế nào?”. “Thì context-specific (tuỳ vào hoàn cảnh), không có one-size-fits-all solution (giải pháp phù hợp cho mọi trường hợp), thế chứ sao”. Rồi chúng tôi đều cười!!

DSC00486

DSC00485

  1.    Du học dạy tôi luôn đón nhận những điều bất ngờ

Một lần tôi hỏi cô bạn người Indonesia cùng lớp “Tên cậu hay thật ấy, đây là họ à?”. Tôi vừa hỏi vừa chỉ vào chữ thứ hai trong phần tên trên một mẫu đơn cô ấy đang điền. “Không, vùng của tao, người ta không có họ”, cô trả lời một cách hoàn toàn bình thản. Tôi tròn xoe mắt nhìn cô ấy một cách đầy ngạc nhiên. Họ của một người, đó là điều tôi chưa bao giờ hoài nghi. Chả phải họ là thứ để xác định người đó thuộc về gia đình nào, họ là thứ gắn kết tất cả những người có chung dòng máu chảy trong huyết quản suốt cả chiều dài lịch sử của gia đình ấy hay sao. Tôi buột miệng hỏi “Thật kỳ lạ, nếu vậy khi đặt tên cậu và tên bố cậu cùng một chỗ thì không ai biết được đây là hai người thuộc cùng một gia đình à?”. Để đáp lại sự tò mò của tôi, cô ấy trêu “nhưng mà tớ thấy thế mới là bình đẳng giới ấy, cậu chẳng lấy họ mẹ mà cũng chẳng theo họ bố”. Chúng tôi cùng cười lớn!

Khi ở một chỗ quá lâu, tôi thường quên mất là ngoài kia có nhiều điều thú vị như thế. Hãy đi và cảm nhận!

  1.    Du học dạy tôi yêu những điều nhỏ bé xung quanh

Khi sống ở một đất nước khác trong một thời gian ngắn mà bạn biết rồi đến một ngày bạn sẽ phải nói lời chia tay với nơi ấy, đã bao giờ bạn bạn hình dung vị trí của mình trên mảnh đất ấy chưa? Bạn nghĩ mình là một khách du lịch, một du học sinh, một kẻ hành khất, một người nhập cư, hay đơn giản chỉ là một người Việt Nam đang ở nước ngoài? Còn tôi, mỗi khi lang thang bên bờ biển Brighton hoặc đi bộ quanh khu campus xinh đẹp, tôi luôn cảm thấy mình là một kẻ ở trọ. Tôi ở trọ Brighton, tôi ở trọ nước Anh! Vì biết rằng sẽ có ngày chia xa, tôi muốn tận hưởng hết hương vị, màu sắc, và những nét đặc trưng ở nơi ấy. Đi du học đâu chỉ dạy cho ta những thứ to tát như các học thuyết kinh tế, học thuyết phát triển, phương pháp nghiên cứu, tư duy phản biện, vân vân và vân vân, ta còn có cơ hội hiểu được chính mình, và trân quý những điều nhỏ bé xung quanh. Đôi khi tôi chỉ muốn để các giác quan cảm nhận và lưu giữ những điều giản dị như sự ngọt ngào của một tách cream tea (bao gồm trà và sữa nóng, scones – một loại bánh, kem và mứt) tại một nhà hàng bên bãi biển, màu sắc tươi vui của đám thuỷ tiên khi chớm hè, mùi ngọt nồng của gió biển Brighton, màu xanh của trời hè, màu bạc của nắng, màu đỏ của xe bus đặc trưng Anh, tiếng kêu léo nhéo của lũ Hải Âu, giọng nói trầm bổng lên xuống như hát của một người Anh. Bây giờ mỗi khi nghe một bài hát trong album Hunting Party của Linkin Park, tôi vẫn tưởng tưởng ra căn phòng trọ của mình- một căn phòng nhỏ bé cửa sổ hướng ra khu vườn xanh biếc nơi đôi khi có một vài chú mèo và thỏ đến chơi đùa. Tôi vẫn nhớ mỗi khi mưa tôi sẽ bật Linkin Park thật to, và để tâm trí hoàn toàn thư giãn, trốn chạy khỏi các bài luận, và chồng sách báo cần đọc.

Trong số các địa danh mà tôi đã đến thăm ở Anh, tôi thật sự ấn tượng Isles of Wight. Khi đang viết những dòng này, màu xanh biếc của nước biển, màu rực rỡ ánh bạc của nắng và cảm giác se lạnh của gió ở nơi đây vẫn hiện lên sinh động trước mắt tôi, và cảm giác như vẫn chạm được vào tôi. Khi đi bộ trên triền đồi giáp biển, tôi có cảm tưởng như mình là một nhân vật trong những bức tranh phong cảnh mà tôi đã từng thấy người ta treo ở các quán ăn sang trọng, hay các buổi triển lãm tranh. Tôi không ngừng thốt lên “Đẹp quá”. Tôi thích ngắm những con thuyền nhỏ xíu hiện ra như một chấm nhỏ trên bức tranh phong cảnh non nước hữu tình ấy. Khi ngắm nhìn khung cảnh ấy, tôi tự hỏi “Không biết người đang điều khiển con thuyền kia có thấy cô đơn không?”, “Liệu cảnh đẹp tuyệt điệu kia có phần nào giúp họ tạm quên cảm giác cô độc và những muộn phiền đời thường hay không?”.

“Tôi có yêu Hà Nội không”, câu trả lời là “Có”. Nhưng tình yêu tôi dành cho Hà Nội đã qua thời kỳ trăng mật rồi, tôi không còn hồi hộp, hứng khởi trước những điều bé nhỏ của Hà Nội nữa. Tôi biết Hà Nội chẳng tự dưng rời bỏ tôi, và tôi cũng không bỏ Hà Nội. Hà Nội sẽ vẫn ở đấy chờ tôi về. Chính vì thế tôi đã từng luôn chần chừ. Tôi chần chừ đến một bảo tàng mà tôi luôn muốn đến, tôi chần chừ đến một quán cafe mà tôi biết rất đặc biệt, tôi chần chừ làm nhiều điều với Hà Nội vì tôi biết Hà Nội luôn hào phóng cho tôi cơ hội thực hiện những điều ấy bất cứ khi nào tôi muốn. Nhưng với nước Anh, tôi biết tôi sẽ phải rời xa nàng mà không rõ ngày tái ngộ. Vì thế tôi muốn tận hưởng, muốn ghi nhớ, muốn lưu giữ mọi thứ bằng mọi giác quan. Thật kỳ lạ, nước Anh cũng dạy tôi cảm nhận và yêu Hà Nội sâu sắc hơn. Tôi chợt thấy giờ đây mình cũng yêu ánh nắng dịu nhẹ một ngày chớm hè Hà Nội, mùi hoa sữa nồng nàn của mùa thu, cảm giác se se lạnh sau một cơn mưa dịu dàng bất chợt. Có nhiều điều tôi không thích nơi đây, nhưng đó là quy luật của một mối quan hệ rồi. Biết đâu nếu tôi sống ở Brighton lâu như tôi sống ở Hà Nội, tôi lại chẳng liệt kê được đầy điểm xấu ở nơi đó ấy chứ.

DSC03816

DSC03814

DSC03849

  1.    Du học giúp tôi khám phá ra một khả năng mới của bản thân

Tôi luôn nghĩ rằng tôi không biết nấu ăn. À, thì tôi có thể nấu được những món ăn hàng ngày, nhưng những món phức tạp đòi hỏi sự tỉ mẩn và khéo léo thì tôi thường đầu hàng vô điều kiện. Ấy thế mà thời gian học ở Anh, hoàn cảnh xô đẩy khiến tôi nhận ra rằng nấu ăn cũng thú vị và tôi nấu cũng không đến nỗi quá tệ. Bọn tôi thường hay tổ chức Potluck dinner vào những dịp đặc biệt như khi một đứa chuyển nhà, sau khi thi xong, hay đơn giản là hứng lên thì rủ nhau tụ tập. Bữa tối sẽ được tổ chức ở nhà một đứa nào đó, ai tham dự thì sẽ mang một món đến góp chung. Trong mỗi dịp như thế, tôi thường nghĩ chả nhẽ mình chỉ làm những món bình thường thôi. Thế là tôi lao vào tìm hiểu cách nấu phở, nấu những món thịt bò và gà đặc biệt mà ở nhà tôi chưa bao giờ làm. Lúc hội bạn ăn và tấm tắc khen ngon, tôi càng hăng hái tìm hiểu và khám phá những món ăn mới. Đôi khi là những món đơn giản nhưng tôi cũng phải cách tân một chút, vì nếu nấu theo đúng kiểu Việt Nam sẽ không phù hợp với khẩu vị của bạn bè. Ví dụ món nem. Ở nhà ta thường nấu với thịt lợn nhưng trong hội bạn mỗi đứa một kiểu: đứa thì không ăn thịt lợn, đứa thì không ăn thịt bò, đứa thì ăn chay, đứa thì ăn cay, đứa thì không. Nên tự nhiên tôi lại học được cách làm mới cho những món ăn đơn giản.

Tôi chợt nhớ đến một dịp mà tôi phải nấu nhiều chưa từng thấy. Ở khoa tôi, cứ cách một vài tháng chúng tôi lại tổ chức continent party (tiệc châu Âu, châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á). Khi đến tiệc của châu lục nào thì những đứa ở châu lục ấy sẽ tổ chức một bữa tiệc giới thiệu các món ăn ngon, những điều đặc trưng về văn hoá của châu lục ấy. Tiệc châu Á được tổ chức vào cuối tháng tư, vì đó là bữa tiệc cuối cùng nên cả bọn châu Á chúng tôi muốn làm một điều gì đó thật đáng nhớ và đặc biệt. Cả khoa chỉ có tôi và một đứa nữa là người Việt Nam, nhưng chúng tôi vẫn quyết định làm nem rán, và thịt gà cho …gần hai trăm người ăn. Khi nghĩ về thời gian ở Anh, tôi luôn nhớ đến những bữa tiệc như thế này. Nó gắn kết chúng tôi lại với nhau. Dù bây giờ mỗi đứa một nước nhưng có dịp lại rủ nhau tụ họp. Tôi thích nhất là cảm giác có bạn bè ở gần như khắp mọi nước trên thế giới. Khi đi du lịch đến nước nào, tôi biết cũng sẽ có một người bạn sẵn sàng đưa mình đi chơi, giới thiệu cho tôi những chỗ ăn ngon và địa điểm đặc biệt mà một khách du lịch bình thường khó có thể biết được. Và rồi, chúng tôi sẽ hàn huyên ôn lại những kỷ niệm đã có ở Anh. Đúng như những lời chúng tôi đã trao nhau trước khi kết thúc khóa học “This is not the end, this is just the beginning of a friendship”.

DSC02919

Đấy, tôi lại đi lan man khỏi nội dung của phần này mất rồi. Vậy đi du học không chỉ khiến bạn nhận thấy bản thân có thể làm được nhiều điều hơn bạn nghĩ mà bạn còn có thêm bạn bè ở khắp nơi nữa đấy.

6. Du học dạy tôi bớt định kiến

Niềm tự hào dân tộc mãnh mẽ thường khiến người ta đánh giá quá cao dân tộc mình và có những định kiến không hay về các dân tộc khác. Ta càng dễ sa lầy vào định kiến nếu ta ở quá lâu một chỗ và tất cả những gì ta biết về nơi khác là qua một ai đó kể cho ta nghe, qua truyền thông báo chí (vốn chỉ tập trung khai thác những tin giật gân không mấy hay ho ở những nơi khác), hoặc qua sách vở được viết một cách hời hợt một chiều. Tôi cũng đã từng có những định kiến như thế. Nhưng rồi tôi nhận ra những câu kiểu như “Bọn châu Phi thì abcxyz”, “bọn trung đông/hồi giáo thì abcxyz”, “Tây thì ai cũng lịch sự”, “Tây thì ai cũng thông minh”, vân vân, thật sự rất phiến diện. Tôi đã gặp những người Anh vô cùng bất lịch sự, suốt ngày uống rượu bia, chửi bới và tôi cũng từng là nạn nhân của sự vô văn minh ấy. Tôi cũng có rất nhiều bạn là người hồi giáo, người châu phi. Họ đều thông minh, tốt bụng và nhiệt tình. Nghĩ lại những định kiến của mình trước đây, tôi thấy sao mình hẹp hòi và ích kỷ thế nhỉ. Khi ta giữ định kiến về người khác, thì chính bản thân ta cũng trở thành nạn nhân của những định kiến. Một người bạn Hàn Quốc có lần thổ lộ với tôi “Nếu không gặp cậu, thì tớ cũng không thích người Việt Nam đâu”. Rồi bạn ấy kể người ta hay nói dân Việt Nam sang Hàn Quốc toàn ăn cắp, sang Anh thì đi trồng cỏ, bao nhiêu dự án phát triển đổ vào Việt Nam mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Thôi ta cứ đi với một tâm trí mở nhất có thể!

Đây là những bài học tôi đã học được trong quá trình đi học. Hi vọng bài viết có thể truyền cảm hứng cho những bạn đang trăn trở tìm học bổng du học. Tôi tin rằng chỉ cần bạn muốn thì chắc chắn bạn sẽ làm được!!

 

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (Phần 3)

Phần 3: Fallacy Busted – Những quan niệm sai lầm về học bổng chính phủ

Như tên của bài viết, mình sẽ nói về những nhầm lẫn hoặc sai lầm mà mọi người hay mắc phải khi nghĩ đến hoặc ứng tuyển học bổng chính phủ.

1. Điểm IELTS/TOEFL là một tiêu chí quan trọng khi xét duyệt hồ sơ, cho nên điểm này càng cao thì hồ sơ càng dễ được chọn.
=> Thực tế là điểm bài thi chuẩn hóa Tiếng Anh của các bạn chả có ý nghĩa gì hết ngoài chuyện nó chứng minh được bạn đủ khả năng để đi học ở nước nói tiếng Anh. Chẳng thiếu gì những người đã được nhận học bổng chính phủ mà điểm IELTS chỉ đạt mức tối thiểu. Một số chương trình thuộc Erasmus Mundus khẳng định rằng mức điểm số IELTS hay TOEFL không bao giờ là tiêu chuẩn xét duyệt hồ sơ của họ và ứng viên chỉ cần qua mức sàn là được. Ban xét duyệt hồ sơ của đại học Nottingham đã khẳng định với mình là điểm IELTS của bạn chỉ cần đạt 6.5, còn lại thì 8.0 hay 8.5 cũng chẳng khác gì 6.5 cả, tức là hồ sơ của bạn sẽ không “đẹp” lên vì cái điểm IELTS. Học bổng AAS cũng khẳng định tiếng Anh của ứng viên có tốt hay trung bình thì ban giám khảo cũng chẳng dựa vào trình độ tiếng Anh để đánh giá chất lượng hồ sơ.
Tóm lại, ngoại trừ một số rất ít chương trình nêu rõ rằng điểm bài thi tiếng Anh cao là lợi thế (thường là các chương trình học về báo chí hay học bổng Fulbright), điểm bài thi IELTS của bạn chỉ cần 6.5, không cần cao hơn.
2. – Các học bổng phát triển như Chevening, Fulbright, AAS, v.v không chào đón, không cấp học bổng cho ứng viên đến từ khối tư nhân.
– Ứng viên từ các công ty tư nhân có rất ít cơ hội với học bổng phát triển.

=> Cái này sai hoàn toàn. Bà Karen Maddocks, làm việc trong Văn phòng Khối Thịnh vượng chung của Anh quốc năm 2007, cho biết:

Học bổng này (học bổng Chevening) không chỉ dành cho viên chức nhà nước hoặc những ai làm việc tại Hà Nội. Chúng tôi rất khuyến khích tất cả những ai làm việc cho mọi lĩnh vực, ở mọi nơi trên cả nước VN nộp hồ sơ thi. Tất cả ứng cử viên đều được đánh giá hoàn toàn dựa trên khả năng, theo tiêu chuẩn của chương trình Chevening. <careerbuilder.vn, URL: http://careerbuilder.vn/en/talentcommunity/hoc-bong-chevening-khuyen-khich-moi-ung-vien-xuat-sac.35A50171.html>

Nếu bạn nào vào Chevening alumni directory để tra cứu về ứng viên Việt Nam thì sẽ thấy một đống ứng viên đã được học bổng khi làm ở các công ty tư nhân. Mình biết một anh được giành được học bổng Chevening lúc đang self-employed. Anh này cũng được học bổng AAS khi làm cho một công ty tư nhân của Úc.
Tóm lại là bỏ ngay cái ý nghĩ học bổng phát triển không “chơi” với khối tư nhân đi nhé.

3. GPA cao là một tiêu chí quan trọng khi xét tuyển hồ sơ, cho nên điểm này càng cao càng dễ được chọn
=> Cái này chỉ đúng với học bổng tài năng (merit-based) thôi nhé. Còn với học bổng hỗ trợ phát triển, điểm GPA thực ra không mấy quan trọng. Nó chỉ chứng minh ứng viên đủ khả năng để hoàn thành khóa học tương lai thôi. Ban xét duyệt học bổng phát triển không tìm người học giỏi, mà họ tìm kiếm những người có thể tận dụng những gì thu được sau thời gian du học để làm lợi cho nước nhà và mối quan hệ song phương. Thực tế, điểm của người viết bài này có mỗi 7,6 so với một đống hồ sơ của các bạn nộp ngành kinh tế, truyền thông, xã hội, toàn bằng giỏi với điểm trên 8,0. Nếu điểm GPA quan trọng thì tác giả chắc “tách tành tạch” từ vòng hồ sơ của Chevening rồi chứ đâu có ngồi đây mà chém gió được. Anh Đỗ Hữu Chí, được học bổng Fulbright năm 2010 có điểm tốt nghiệp đại học thấp đến mức mà theo anh nói thì: “Điểm ra trường của tôi đâu như được nhỉnh hơn 5 phẩy một chút (lạy Phật, vừa đủ)…”

4. Cần phải có một bộ CV “đẹp”, tức là nhiều dự án và các hoạt động xã hội sẽ thì hồ sơ mới có tính cạnh tranh cao. Cho nên cứ tham gia nhiều hoạt động vào để hồ sơ “đẹp”.
=> Cái này cũng chỉ đúng với học bổng merit-based. Với học bổng hỗ trợ phát triển thì chưa chắc. Như đã nói ở trên, học bổng phát triển tìm kiếm người có khả năng làm lợi cho mối quan hệ song phương. Khả năng này do tố chất con người quyết định. Cái thể hiện rõ nhất và nhiều nhất những tố chất đó là bài luận cá nhân chứ không phải bảng thành tích hoạt động. Hơn nữa, ban xét duyệt hồ sơ muốn biết bạn học được gì từ những kinh nghiệm và hoạt động xã hội chứ không phải những bảng liệt kê thành tích khô khan.
Bản thân mình cũng chẳng tham gia hoạt động xã hội nào. Kinh nghiệm làm việc thì cũng như các bạn là tốt nghiệp rồi đi làm 3 năm thôi. ^^ Nhưng vẫn lấy được học bổng.
Thế nên là bây giờ thay vì dành thời gian đi hoạt động xã hội với mục đích làm đẹp hồ sơ, thì hãy chuyên tâm vào làm việc và phát triển khả năng nghề nghiệp và các kĩ năng mềm cho tốt đi. Có được học bổng hay không thì về lâu về dài bạn cũng được lợi.

5. – Nếu định học lên bậc cao hơn ở một ngành không phù hợp với ngành đã tốt nghiệp ở bậc đại học thì không xin được học bổng?=> Không đúng. Đỗ Hữu Chí tốt nghiệp Kiến trúc mà sang Mỹ học về Comic Arts đấy thôi. Hoặc, anh Đinh Quang Anh học Kiến trúc rồi sang Úc học về Sustainable Development vẫn được học bổng AAS.

6 – Những người được nhận các học bổng toàn phần của chính phủ đều (cần phải) là những người xuất sắc? (xuất sắc trong học tập, trong công việc, trong hoạt động xã hội)
=> Không đúng. Ban xét học bổng tìm người phù hợp với học bổng nhất chứ không phải tìm người xuất sắc nhất về học tập hay công việc. Việc phù hợp hay không phù hợp dựa trên tiêu chí tuyển chọn của học bổng đó. Với học bổng dạng merit-based như EM hay Endeavour thì ban xét duyệt đúng là tìm những người có thành tích học tập và làm việc xuất sắc, có khả năng nghiên cứu khoa học tốt, nhưng đơn giản chỉ vì tiêu chí của họ là tìm người như vậy. Với học bổng Chevening, người ta tìm người có tố chất lãnh đạo và tiềm năng gây ảnh hưởng khi trở về nước. Với học bổng Fulbright, người ta tìm kiếm người có khả năng làm đại sứ văn hóa cho Việt Nam tại Mỹ, có tiềm năng lãnh đạo và khả năng thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa hai nước. Với học bổng AAS, người ta tìm kiếm những cá nhân từ ngành và vùng nhất định có khả năng thay đổi ngành và vùng đó (thường xuyên ưu tiên cho vùng sâu vùng xa và nông thôn). Cho nên nếu một ngày đẹp trời, bạn vô tình được gặp một người từng được hb AAS và thấy người này nửa câu tiếng Anh cũng không nói được cho ra hồn mặc dù đã được học ở Úc, thì cũng đừng lấy làm lạ. (Chuyện này là có thật, và có không ít khi mà quota dành cho Nhóm 1 và 2 của AAS rất nhiều). Cho nên, không phải cứ xuất sắc là được chọn, không phải cứ xuất sắc mới nên ứng tuyển học bổng, và không phải được chọn là xuất sắc. Họ chỉ xuất sắc ở mảng mà học bổng đó muốn họ xuất sắc thôi ^^.

Các bạn thấy đó, con đường đến với học bổng chính phủ thực ra rất rộng mở. Mỗi người đều có lựa chọn phù hợp với khả năng của bản thân.
Có thể bạn sẽ cho rằng những trường hợp được học bổng mà tôi kể trên là những trường hợp đặc biệt (outlying cases). Có thể họ là những người đặc biệt, xuất sắc về tư duy hay phẩm chất. Nhưng điều mình muốn nhấn mạnh ở đây là chỉ cần bạn có thế mạnh về 1 trong các mặt: thành tích, tư duy, networking, tính cách. Những ví dụ mình kể đều là những người chỉ dùng một thế mạnh mà đã thành công.
Bản thân mình là một người coi trọng tư duy và kinh nghiệm hơn thành tích học tập ở Việt Nam. Bởi vì, thử làm một so sánh nho nhỏ, một bên là cái bảng điểm đại học không thể nào thay đổi được, bên kia là kĩ năng tư duy và học hỏi từ trải nghiệm mà bạn có thể tích lũy mỗi ngày sau khi tốt nghiệp. Bạn nghĩ đầu tư vào cái nào cho hiệu quả lâu dài và bền vững hơn?
Hy vọng các bạn đã tìm được những thông tin có ích.

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (phần 2)

Phần 2: Các bước xin học bổng chính phủ
Bài viết này sẽ không bao gồm thông tin về các thủ tục. Bạn sẽ phải tự tìm hiểu về các thủ tục cần thiết liên quan đến một bộ hồ sơ học bổng.

Mình không đảm bảo những ai tuân theo quy trình này sẽ được học bổng, nhưng mình chắc chắn những người đó sẽ tận dụng được tối đa 4 yếu tố (ngoại trừ sự may mắn) mà mình đã nêu ở bài trước. Hiển nhiên, tận dụng được càng nhiều thì khả năng hồ sơ tốt và được chọn càng cao.

Từ khi có ý tưởng du học đến khi chính thức nhận được học bổng, một quy trình xin học bổng bài bản và hoàn chỉnh cần có 3 bước: (1) chuẩn bị trước khi làm hồ sơ, (2) làm hồ sơ, và (3) chuẩn bị phỏng vấn.

Thời gian cần thiết cho các bước này lần lượt là: tối thiểu 3 năm cho bước chuẩn bị, khoảng 2 tháng cho bước làm hồ sơ và 1 tuần cho bước chuẩn bị phỏng vấn.

1. Chuẩn bị

Một hồ sơ tốt đều cần có bước chuẩn bị được đầu tư tối thiểu 3 năm, 3 năm của nỗ lực làm việc và chất xám. Để hiểu được lý do, hãy điểm qua những tiêu chí cơ bản mà các ban xét duyệt hồ sơ thường sử dụng để đánh giá ứng viên:

  • Thành tích học tập và nghiên cứu (nếu có) được thể hiện qua bảng điểm (hoặc GPA) và giấy chứng nhận (đối với một số học bổng như Erasmus Mundus hay Endeavour, thành tích học tập chưa tốt có thể được hỗ trợ bởi một quá trình làm việc giàu thành tích ở ngành liên quan)
  • Bài luận cá nhân (personal statement, letter of motivation, statement of purpose, study objectives)
  • Thư giới thiệu (letter of recommendation, reference, reference letter)
  • Tiêu chí đặc thù của học bổng hoặc của khóa học (có thể là phẩm chất cá nhân, thành tích hoạt động xã hội, khả năng sử dụng ngôn ngữ, v.v…)

Những tiêu chí trên được mình tổng hợp dựa trên các thông báo chính thức và kinh nghiệm ứng tuyển 5 học bổng: Erasmus Mundus (EM), Học bổng Song phương Việt-Bỉ (BBS), Học bổng Chevening, Học bổng Australia Awards (AAS), và Học bổng Fulbright.

Đối với học bổng tài năng (merit-based), sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về mức độ quan trọng):
1. Thành tích học tập (hoặc làm việc)

2. Thư giới thiệu

3. Tiêu chí đặc thù của học bổng

4. Bài luận cá nhân

Thực tế, thành tích học tập luôn là “ngôi sao” của những hồ sơ học bổng tài năng. Trong nhiều chương trình thuộc EM, ban xét duyệt công khai với ứng viên là thành tích học tập chiếm tới 40% “weighting”. Điều tương tự xảy ra đối với Endeavour 2016:

<Nguồn trích dẫn: 2016 Round Endeavour Applicant Guidelines>

The selection criteria for all categories of the Endeavour Scholarships and Fellowships are the same. The following are the selection criteria and their relative weighting:

1. record of high-level academic achievement and/or relevant work experience in the applicant’s chosen field of study (40%)

2. well-defined study, research and/or professional programme (20%)

3. statement on how the international study, research or professional development opportunity would further the applicant’s academic and/or professional career (20%)

4. statement on how the international study, research or professional development opportunity will benefit Australia and the applicant’s potential to foster ongoing collaboration and cooperation with their home and host country (10%)

5. statement in support of the applicant’s service to the community. Unpaid service within the applicant’s field of expertise or community service (10%).

Ngược lại so với thành tích học tập, bài luận cá nhân thường ít có sức nặng (đôi khi gần như không có chút giá trị nào) ở các học bổng tài năng. Thực tế, thư xin học bổng mà các ứng viên Việt Nam viết để gửi cho học bổng EM thường có chất lượng không cao nếu không muốn nói là horse crap! Có thể nhiều bạn được EM đọc đến dòng này sẽ tự ái, nhưng nếu các bạn được đọc những bài luận của những người đã từng được những học bổng có tính cạnh tranh cao về tư duy và phẩm chất cá nhân như Fulbright hay Chevening, hoặc các học bổng trường thuộc Ivy League thì tôi tin các bạn sẽ … tắt đài :))

Một ví dụ khác chứng minh sự chênh lệch về mức độ quan trọng của thành tích học tập và bài luận: một bạn được học bổng Endeavour có thành tích học tập vô cùng xuất sắc nhưng bài luận được viết qua loa đến mức còn chả buồn kiểm tra ngữ pháp.
Nói đến như vậy, chắc mọi người cũng đã hiểu tối thiểu 3 năm để chuẩn bị cho học bổng tài năng sẽ được dùng cho việc gì rồi phải không? Rõ ràng, các bạn nên dành thời gian cho công việc học tập và nghiên cứu để có một bảng điểm thật xuất sắc cùng những bài báo cáo khoa học được công bố trên các báo hay tạp chí càng có uy tín cao càng tốt. Bên cạnh đó, nếu học bổng yêu cầu những hoạt động xã hội hay trình độ ngoại ngữ tốt thì các bạn cũng nên dành nhiều thời gian cho những việc đó.
Vậy những bạn đã không để ý đến thời gian học đại học và không còn cơ hội thay đổi bảng điểm thì sao?

Các bạn có thể chuẩn bị cho học bổng tiềm năng hoặc học bổng tài năng-tiềm năng. Đối với học bổng tiềm năng, sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về sức nặng):

1. Bài luận cá nhân.

2. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

3. Thành tích học tập

4. Thư giới thiệu

Đối với học bổng tiềm năng, thành tích học tập của bạn thường chỉ cần đạt một điều kiện cần và không cần cao. Ví dụ, học bổng Chevening yêu cầu ứng viên phải có bằng tốt nghiệp đại học tương đương Second Class Honour ở Vương quốc Anh (tức là GPA trên 7.0), bạn đạt và bạn được xét duyệt công bằng với một người có GPA cao hơn. Giữa 2 người, một người có GPA cao và bài luận khá, một người có GPA thấp và bài luận xuất sắc, Chevening sẽ đánh giá cao người thứ hai hơn. Ví dụ: người viết có điểm GPA 7.6/10 – có lẽ là thấp đến mức bất cứ ứng viên nào thuộc ngành kinh tế hoặc xã hội cũng có điểm cao hơn. Nhưng mà mình vẫn được Chevening chọn 😉 Lý do chỉ có thể là mình có một bài luận tốt vì học bổng Chevening không yêu cầu nộp CV và cũng chẳng có chỗ nào cho các bạn thể hiện thành tích (ngoại trừ bảng điểm) đâu.
Đối với học bổng tài năng-tiềm năng, yếu tố sức nặng (weighting) phụ thuộc vào từng quy trình xét duyệt của học bổng cụ thể. Ví dụ, học bổng Fulbright và AAS đều là dạng tài năng-tiềm năng. Tuy nhiên, nếu vòng hồ sơ đầu tiên của Fulbright xét tính cạnh tranh của toàn bộ hồ sơ bao gồm cả bài luận, phẩm chất đặc thù, thành tích học tập và khả năng ngôn ngữ, thư giới thiệu thì vòng screening (vòng duyệt hồ sơ đầu tiên do người Việt Nam thực hiện) của AAS coi thành tích học tập, cụ thể là điểm GPA là yếu tố tiên quyết. Có nghĩa là rất có thể một bộ hồ sơ có SOP viết cực tốt nhưng GPA dưới 8.0 sẽ bị loại, trong khi một bộ hồ sơ SOP kém hơn nhiều nhưng tốt nghiệp Giỏi với GPA 8.4 sẽ được chọn. (Gì chứ về SOP thì tác giả rất tự tin rằng mình viết hay hơn nhiều người trong target group 3 của AAS, cơ mà tác giả vẫn bị loại từ vòng gửi xe)
Vậy thì 3 năm chuẩn bị cho học bổng tiềm năng được dùng để làm gì?

Các bạn hãy dùng 3 năm đó để vừa nỗ lực làm việc, vừa suy nghĩ về ngành mà bạn đang làm. Hãy dành ít nhất 1 năm cuối ở trường đại học để nghiền ngẫm và hệ thống lại những lý thuyết mà bạn đã có được để xác định con đường lâu dài mà bạn định phát triển. 2 năm tiếp theo là thời gian để bạn tích lũy kinh nghiệm, phát hiện những hiện tượng, những vấn đề cần được giải quyết trong ngành và thử sử dụng những lý thuyết học được để giải quyết nó. Khi những lý thuyết và kinh nghiệm làm việc của bạn không thể nào giải quyết những vấn đề mà bạn phát hiện, đó là lúc bạn cần đi học thêm. Nếu đi học thêm mãi ở Việt Nam mà chưa có được cái bạn cần, đó là lúc bạn cần xin học bổng để du học.

Nói nghe có vẻ ngắn gọn và đơn giản, nhưng để có thể tìm ra vấn đề và nhận ra khoảng cách không thể bù đắp giữa kiến thức và vấn đề còn tồn tại trong ngành, bạn sẽ phải luôn luôn quan sát, luôn luôn động não và trăn trở về những gì đang xảy ra xung quanh mình. Quá trình này cũng sẽ giúp bạn khẳng định niềm đam mê đối với một công việc mà bạn đã chọn. Và, chắc chắn các ban xét duyệt học bổng tiềm năng muốn tìm kiếm những con người có động cơ và đam mê như vậy để trao học bổng.
Một điều cuối cùng rất quan trọng trước khi làm hồ sơ xin học bổng: các bạn cần giỏi tiếng Anh. Thực ra, không cần xin học bổng các bạn cũng nhất thiết phải giỏi tiếng Anh. Giỏi cả nghe, nói, đọc, viết chứ không phải chỉ có nói và nghe. Trên quan điểm dài hạn mà nói, bạn nên luôn tích lũy kiến thức tiếng Anh ngay từ khi còn học đại học để khi tốt nghiệp đại học đã có một vốn liếng kha khá đủ để thi được IELTS 6.5 bất cứ khi nào mà không cần ngồi luyện thi. Đừng để đến khi làm hồ sơ mới cuống lên cày cuốc để thi IELTS. Bạn nào bảo tự học tiếng Anh để có thể thi được 6.5 mà không cần luyện thi là việc khó khăn thì mời gặp bạn Hoàng Đức Long :))
(Mình cực kì ghét lũ lười)
2. Lập hồ sơ xin học bổng
Lập hồ sơ xin học bổng bao gồm 2 việc chính là viết bài luận và viết thư giới thiệu. Việc viết bài luận cho hồ sơ xin học bổng là một quá trình rất hại não, nhất là khi bạn ứng tuyển học bổng tiềm năng. Mình bỏ ra 8 tuần để hoàn thiện toàn bộ các bài luận cần thiết cho hồ sơ học bổng Chevening. Ứng viên của học bổng Fulbright bỏ ra 3 tháng cho 2 bài luận Personal Statement và Study Objectives là chuyện bình thường. Tuy nhiên, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu bạn có bước chuẩn bị tốt (như mình đã nói ở trên), vì khi đó bạn đã có hết những ý tưởng cần thiết trong đầu rồi. Vấn đề bây giờ là viết nó ra như thế nào.
Để viết tốt, các bạn cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

  1. Họ hỏi gì thì ta trả lời đó: hãy đọc kĩ đề bài mà ban xét duyệt yêu cầu đối với bài luận. Họ hỏi về academic achievements thì viết về cái đó, đừng viết về professional skills hay extracurricular activities. Theo kinh nghiệm của mình, có 4 dạng bài luận với yêu cầu khác nhau:
    Personal Statement (PS): viết về sự phát triển của cá nhân bạn, bao gồm những sự kiện quan trọng đã ảnh hưởng đến nhân cách, nguyện vọng, đam mê, kĩ năng của bạn. Một số học bổng hoặc khóa học yêu cầu bạn nêu cả những dự định học tập và sự nghiệp tương lai.
    Study Objectives (SO): viết về những mục tiêu nghiên cứu và học tập trong tương lai, nguồn gốc của những mục tiêu này và sự liên quan giữa kinh nghiệm học tập và lao động của bạn với những mục tiêu tương lai.
    Letter of Motivation: tổng hợp cả Personal Statement và Study Objectives. Tùy từng học bổng mà Letter of Motivation sẽ thiên về PS hơn SO, hoặc ngược lại.
    Bài luận dạng câu trả lời: một số học bổng như AAS và Chevening yêu cầu ứng viên trả lời 4 câu hỏi mà họ cho sẵn. Các câu hỏi có thể về: động cơ xin học bổng, khả năng học tập, phẩm chất lãnh đạo, dự định tương lai, v.v…
  2. K.I.S.S: Keep It Short and Simple. Từ ngữ súc tích và càng đơn giản, càng phổ biến càng tốt. Cần súc tích vì những điều bạn muốn nói bao giờ cũng rất nhiều trong khi lượng từ được phép dùng luôn khá ít. Chevening cho phép mỗi câu trả lời không quá 300 từ. Fulbright cho phép mỗi bài luận không quá 1000 từ. AAS yêu cầu mỗi câu trả lời không quá 2000 kí tự kể cả dấu cách và xuống dòng.
  3. Hãy viết những suy nghĩ chân thành và có cơ sở của bạn. Có nghĩa là bạn phải thật sự tin tưởng vào điều bạn định viết thì mới viết. Đừng viết những gì bạn đoán, hãy viết những gì bạn suy luận có bằng chứng.
  4. Hãy viết những điều mà chỉ có bạn mới có thể viết. Đừng viết những điều mà ai trong cùng ngành với bạn cũng có thể nghĩ đến. Trước khi viết, hãy thử nghĩ: “Viết như thế này thì có thật sự khác biệt không, hay cũng chỉ giống như một vài bạn nào đó?” Để thật sự khác biệt, các bạn hãy nêu trải nghiệm và suy luận cá nhân của mình, bởi vì trải nghiệm của mọi người không bao giờ giống nhau. Hãy viết càng cụ thể, càng chi tiết càng tốt.
  5. Đừng biến bài luận thành một bài khoe thành tích. Thành tích của bạn đã được thể hiện rất rõ qua CV (nếu họ yêu cầu bạn nộp). Ngay cả khi không có CV, việc khoe thành tích cũng không tạo ấn tượng tốt với người duyệt vì chẳng ai thích một đứa chỉ nói về những cái “được” của bản thân. Thay vào đó, hãy cân bằng những cái “được” đó bằng những cái “mất”. Hãy kể những khó khăn bạn đã gặp và bạn vượt qua khó khăn như thế nào. Mọi thành tích đều có cái giá phải trả nhất định và người ta muốn biết về những cái giá đó trong bài luận của bạn. Việc nói về những khó khăn bạn đã vượt qua cũng chứng tỏ được đam mê, ý chí, và nguyện vọng cống hiến cho ngành hoặc cho xã hội của bạn.
  6. Mỗi sự việc bạn nêu trong bài luận đều phải liên kết với nhau theo cách: sự việc này là lý do cho sự việc kia. Ví dụ: bạn học trong trường thấy kiến thức về corporate social responsibility không đủ => bạn phải đi học thêm ở ngoài qua training hay workshop => nhưng lý thuyết suông không đủ => bạn đi thực tập hoặc đi làm bán thời gian/toàn thời gian để lấy kinh nghiệm.
  7. Rất rất cần có một người “cứng” về khả năng viết luận tiếng Anh để duyệt bài luận cho bạn. Tốt nhất, bạn hãy đi học những lớp học viết luận và tư duy phản biện để vừa biết cách viết, vừa có người sau này sẽ duyệt bài luận cho bạn.

Về cấu trúc bài luận, không thể có một cấu trúc hoàn hảo, áp dụng được với mọi bài luận vì yêu cầu nội dung của mỗi bài luận khác nhau. Nhưng thường xuyên chúng ta sẽ được yêu cầu viết một personal statement nói về những mốc quan trọng của cuộc đời và dự định tương lai. Dưới đây là cấu trúc và nội dung mà mình đã áp dụng với bài personal statement gửi cho học bổng Fulbright, Đại học KU Leuven và Đại học Nottingham.

  1. Mở đầu là một cái “hook”. Đây là điểm nhấn đầu tiên, nhất thiết phải gây ấn tượng với người đọc. Điểm nhấn này có thể là một trải nghiệm công việc hoặc một sự việc mà bạn vô tình phát hiện. Các sự việc này phải liên quan đến vấn đề cốt lõi mà bạn muốn giải quyết trong tương lai. Ví dụ về “hook” của mình:

    The building’s design was supposed to be environment-friendly and based on the curves of the Vietnamese “ao dai”. Yet Lotte Center Hanoi’s architecture actually results in pollution and hints at nothing of Vietnamese culture.

    Ai đã từng nhìn thấy cái Lotte Center Hanoi sẽ rất bất ngờ và thấy ngay cái sự việc này rất tréo ngoe :)) Thế là đủ cho một cái hook.
    Và sau đó mình diễn giải để liên kết sự việc này với vấn đề mình muốn giải quyết trong tương lai:

    As I had the chance to see Lotte’s initial concept proposals, its unexpected failure compounded my concern for architectural sustainability in Vietnam. Truth be told, Lotte Center is only one example among many buildings failing to follow environmentally and culturally sustainable schemes. The situation moved me to address its two causes: the lack of rational design approaches and the fact that investors are unaware of the long-term benefits of sustainable architecture.

  2. Thân bài 1: hãy kể một câu chuyện, có thể bắt đầu từ bất cứ thời điểm nào nhưng muộn nhất cũng phải là thời điểm bạn bắt đầu học đại học. Với mình, thân bài bao gồm các sự kiện từ thời gian học đại học cho đến khi đi làm và kết thúc ở dự định đi du học. Mạch câu chuyện của mình thế này:
    Học ở trong trường và phát hiện ra vấn đề: lý thuyết thiết kế kiến trúc dạy ở đại học chưa khoa học
    => ( – ) không thích tí nào nhưng phải cố để sau này còn có khả năng để đi học thêm
    => (+) đạt được thành tích học tập tốt, ít nhất là hơn bạn đồng môn
    => ( – ) nhưng lý thuyết trong trường hóa ra không áp dụng được nhiều trong thực tế, gây ra nhiều khó khăn trong công việc
    => (+) cố gắng hết sức và làm quen được với môi trường chuyên nghiệp, rèn luyện được nhiều kỹ năng như quản lý thời gian, làm việc trong áp lực
    => ( – ) tuy nhiên công việc thiết kế bàn giấy khiến mình ít kinh nghiệm thực tế thi công
    => (+) vào cơ quan nhà nước và được làm trong dự án Lotte Center Hanoi, học được nhiều kiến thức mới về thi công và rèn luyện được kĩ năng lãnh đạo
    => ( – ) nhưng vấn đề lý thuyết mà mình phát hiện ngay từ khi còn đi học đại học vẫn tồn tại và không cách nào dùng kinh nghiệm hay lý thuyết mới để bù đắp được
    => (*) muốn đi học thạc sỹ ở nước ngoài
    Bạn có thấy mọi thứ xảy ra đều có nguyên nhân của nó không? Ngoài ra, mình còn cân bằng bài luận bằng cách khó khăn và thành tích phù hợp để câu chuyện trở nên tự nhiên hơn nhiều.
    Thân bài 2: những dự định của bạn khi đi học và sau khi đi học. Hãy nói lý do bạn chọn trường đó và ngành học đó. Với mình, lý do đó là 3 lợi ích sau:
    – Học thuật: ngành đó và trường đó phù hợp với những vấn đề lý thuyết mà mình đã nói ở trên.
    – Kĩ năng tư duy: được làm quen với tư duy phản biện, tư duy mới trong kiến trúc.
    – Cơ hội network: có cơ hội xây dựng mối quan hệ với các ứng viên xuất sắc của Fulbright, những người sau này có khả năng giúp mình thực hiện những dự định tương lai.
    Cụ thể mình đã viết phần này như thế nào, các bạn có thể xem trong link này
    https://www.dropbox.com/s/gkerpd0a1iblcbo/Hoang%20Duc%20Long%20Personal%20Statement.doc?dl=0
    Còn đây là bài mình viết cho học bổng Chevening:
    https://www.dropbox.com/s/5g83lea6cdt6z34/Chevening%20application%20answers.docx?dl=0 (4 câu trả lời, mỗi câu đều 300 chữ không hơn không kém một từ)
  3. Kết luận: tóm lại một cách đơn giản bloh blah gì cũng được, vì nếu bạn viết tốt những phần trên thì phần này nên đơn giản để cho não người đọc còn kịp thư giãn.

Về thư giới thiệu, các bạn nên chọn những người có nhiều thời gian làm việc với mình nhất. Mình không muốn nói nhiều về phần này vì không phải ai cũng có khả năng tham gia ở mức độ nào đó vào nội dung thư giới thiệu. Chỉ khuyên các bạn nên chọn người có càng nhiều cơ hội và thời gian làm việc với bạn càng tốt. Không quan trọng địa vị, chỉ cần là giảng viên hoặc người quản lý trực tiếp cũng được. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn quen những người thực sự rất có uy tín đối với ban xét duyệt học bổng thì nên xin thư giới thiệu của những người đó. Về nội dung thư giới thiệu, hãy đảm bảo nguyên tắc: “nói có sách, mách có chứng.”

3. Chuẩn bị phỏng vấn

Nếu bạn đã vượt qua vòng hồ sơ và được phỏng vấn, cơ hội của bạn đã rất cao rồi vì thường thì số lượng người được phỏng vấn chỉ cao cấp 2 – 3 lần số ứng viên sẽ được chọn thôi. Với Chevening năm nay, họ đã dự tính có khoảng 20 trên tổng số trên dưới 70 người được chọn.
Mục đích của vòng phỏng vấn gồm có:

  1. Khẳng định ứng viên là người đã viết hồ sơ xin học bổng.
  2. Tìm hiểu những thông tin khác về ứng viên mà bài luận chưa thể hiện được.

Kết quả của học bổng sẽ phụ thuộc vào kết quả của vòng phỏng vấn lẫn chất lượng bài luận.
Đối với học bổng phát triển, các câu hỏi của vòng phỏng vấn sẽ xoay quanh các vấn đề sau:

  1. Tại sao lại là nước chúng tôi?
  2. Tại sao lại là ngành này?
  3. Tại sao lại là trường này?
  4. Tại sao lại là học bổng này?
  5. Những khó khăn bạn sẽ gặp phải khi đi du học?
  6. Dự định tương lai của bạn có ích gì cho Việt Nam và nước chúng tôi?
  7. Các câu hỏi liên quan đến tố chất đặc biệt của ứng viên, hoặc tố chất đặc thù mà học bổng yêu cầu ở ứng viên.

Trong trường hợp bạn trả lời ngắn gọn, tự tin, đầy đủ, logic các câu hỏi cơ bản (4 câu đầu tiên) thì ban phỏng vấn thường sẽ không hỏi nhiều câu hỏi khác vì nội dung họ cần biết đã được trả lời quá rõ rồi. Nếu bạn không quản lý câu trả lời tốt, bạn có thể sẽ được hỏi những câu nằm ngoài dự kiến của mình. Khi đó nội dung câu hỏi sẽ liên quan đến nội dung câu trả lời trước đó của bạn. Tuy nhiên, nếu ban phỏng vấn cảm thấy thú vị với bất cứ một vấn đề nào bạn đã nói thì họ vẫn có thể hứng lên và hỏi bất cứ câu nào. Nhưng thật ra, nếu bạn có thể trả lời tốt cả 4 câu đầu tiên thì mình tin bạn có đủ cơ sở để trả lời bất cứ câu hỏi nào liên quan đến những dự định của mình.
Khi phỏng vấn, hãy lắng nghe câu hỏi, dừng lại 10 – 30 giây để suy nghĩ và trả lời thật chậm rãi. Nói chậm và rõ ràng để dễ kiểm soát những gì bạn nói và giữ bình tĩnh cho bản thân.
Đây là bản câu trả lời mà mình đã chuẩn bị cho Chevening.
https://www.dropbox.com/s/m1gka958wcs513d/Interview%20preparation.docx?dl=0
Khi đi phỏng vấn, gần như các câu hỏi của họ đã được mình chuẩn bị câu trả lời, và mình đã nói được tất cả những gì mình muốn nói. Cũng nhờ sự chuẩn bị kĩ càng nên hôm đó mình rất tự tin. Chưa kể hôm đó một người trong ban phỏng vấn còn ấn tượng với “personalised British English accent” :”> (cái này là yếu tố phụ thôi chứ bạn nói Vietnamese English cũng chả có vấn đề gì đâu)
Cuối buổi phỏng vấn bạn sẽ được đặt câu hỏi cho ban phỏng vấn. Bạn có thể hỏi bất cứ vấn đề gì. Mình đã hỏi là năm nay liệu sẽ chọn bao nhiêu người :)) Khi được phỏng vấn xong, nhớ bắt tay, cảm ơn và chào từng người trong ban phỏng vấn.
Phần việc còn lại lúc này là chờ đợi. Thời gian chờ đợi có thể là vài tuần đến vài tháng tùy học bổng. Chevening đã bắt mình chờ 2 tháng rưỡi. Số lượng người được chọn thực tế là 33 😀 Theo lời của political officer của British Embassy, người đã tham gia quá trình xét duyệt của Chevening nhiều năm nay, năm 2015 chứng kiến một số lượng lớn nhất ứng viên được chọn để tham gia khóa đào tạo thạc sỹ tại Anh, và cũng là năm mà chất lượng ứng viên Việt nam cao nhất.

33 is the highest ever number of full-time students. And we have had the highest ever standard of scholars as well.

Điều này có nghĩa là với các học bổng phát triển (như Chevening và Fulbright), chất lượng ứng viên hoàn toàn có thể ảnh hưởng tới số lượng người được chọn và kinh phí chứ không nhất định phải tuân theo con số đã định sẵn. Đó cũng là lý do mà một số học bổng phát triển chỉ nêu con số dự định chứ không bao giờ khẳng định sẽ chọn số lượng đó.

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (Phần 1)

Bản thân mình đã muốn viết về việc xin học bổng lâu rồi nhưng chưa có thời gian, thông tin cũng như “credit” để viết. Bây giờ, khi đã được chọn vào Main List của học bổng Chevening, mình quyết định sẽ viết một hướng dẫn đầy đủ nhất có thể cho những ai có ý định xin học bổng chính phủ. Điều này cũng phù hợp với nhu cầu của nhiều bạn mình quen hoặc đã từng giải đáp thắc mắc về học bổng. Mình nghĩ một số thông tin ở đây còn có ích đối với những người định xin các loại học bổng khác ở cấp độ thạc sĩ nữa.

Phần 1: Phân loại, những yếu tố cần thiết khi xin học bổng và cách lựa chọn học bổng chính phủ

Các cách phân loại dưới đây hoàn toàn do tác giả đề xuất mà không dựa trên một nguồn tham khảo nào. Ngoại trừ học bổng tài năng (merit-based) và học bổng hỗ trợ phát triển, các tên gọi loại học bổng khác đều do tác giả đề xuất.

1. Phân loại học bổng

1.1 Phân loại dựa trên điều kiện giới hạn ứng viên

  • Học bổng cạnh tranh quốc tế: Học bổng này cho phép mọi ứng viên quốc tế, không phân biệt quốc gia, ứng tuyển. Theo đó, những người ứng tuyển các học bổng dạng này sẽ phải cạnh tranh với ứng viên trên toàn thế giới. Một số học bổng cạnh tranh quốc tế: Erasmus Mundus của Ủy ban Châu Âu (EC), Endeavour của Chính phủ Australia, học bổng OFID, học bổng Eiffel của Pháp, học bổng MEXT của Nhật Bản.
  • Học bổng (hỗ trợ) phát triển: học bổng phát triển ở Việt Nam là học bổng do một quốc gia tài trợ, trao cho các cá nhân triển vọng ở Việt Nam dựa trên những bản kí kết hợp tác phát triển giữa quốc gia này với Việt Nam. Những người ứng tuyển các học bổng này chỉ phải cạnh tranh với các ứng viên Việt Nam. Một số học bổng phát triển có thể kể đến bao gồm: học bổng Fulbright của Mỹ, học bổng Chevening của Anh, học bổng AAS (tên gọi trước đây là ADS hay AusAID) của Úc, học bổng BBS (tên gọi trước đây là BTC) của Bỉ, học bổng Irish Aid của Ireland.

1.2 Phân loại dựa trên tiêu chí lựa chọn

  • Học bổng tài năng (merit-based): học bổng được trao dựa trên tài năng, học lực, khả năng nghiên cứu, và cả nguyện vọng cống hiến xã hội. Dĩ nhiên, để chứng minh bạn có học lực hay khả năng nghiên cứu xuất sắc, có tài năng đặc biệt, hay có nguyện vọng cống hiến cho cộng đồng, cho xã hội, bạn cần có nhiều thành tích tương ứng và có giấy chứng nhận để chứng minh những phẩm chất này. Học bổng tài năng của chính phủ thường xuyên là học bổng cạnh tranh quốc tế (Erasmus Mundus, Endeavour, Eiffel của Pháp, v.v)
  • Học bổng tiềm năng: học bổng được cấp cho những người có tiềm năng thực hiện những nhiệm vụ mà cơ quan, tổ chức cấp học bổng giao phó như: trở thành đại sứ văn hóa tại nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển của ngành, địa phương và đất nước, trở thành nhà lãnh đạo cơ quan quản lý hoặc ngành trong tương lai, xúc tiến mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và đất nước nơi ứng viên học. Các học bổng tiềm năng có thể kể đến: học bổng BBS, học bổng Chevening, học bổng Irish Aid.
  • Học bổng tiềm năng – tài năng: học bổng được trao cho những người có cả tài năng đã được chứng minh qua thành tích và tiềm năng được thể hiện qua các bài luận. Một số ví dụ về loại học bổng này: học bổng Fulbright, học bổng AAS.

2. Những yếu tố cần thiết khi xin học bổng

Sau 1 năm ứng tuyển cùng lúc cả 5 học bổng chính phủ (có cả merit-based và phát triển), mình đúc kết ra 5 yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình xin học bổng chính phủ bao gồm: sự may mắn, thành tích học tập và hoạt động, khả năng tư duy và viết luận, khả năng network, và phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu.

  • May mắn: Yếu tố này đôi khi mang tính quyết định, đặc biệt đối với những học bổng có giới hạn ngành học. Ví dụ: học bổng Erasmus Mundus có hơn 100 chương trình học dành cho nhiều ngành khác nhau và sự thành công của ứng viên từ Việt Nam có khi chỉ phụ thuộc vào việc người đó ngẫu nhiên chọn đúng chương trình có ít ứng viên. Mình đã từng apply 2 chương trình thuộc EM là STeDe và 4CITIES nhưng sau đó xin rút lui khỏi SteDe vì mình hoàn toàn không thấy hứng thú với nó nữa. Trớ trêu thay, SteDe năm đó ít ứng viên đến nỗi trong quá trình xét tuyển, giáo sư phải mail cho mình yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, mặc dù lúc đó mình đã hủy hồ sơ. Tất nhiên mình từ chối, và học bổng EM cho STeDe năm đó thuộc về một bạn ít tuổi hơn mình, cũng tốt nghiệp ĐH Kiến trúc HN. Nếu xét về các phẩm chất và sự phù hợp với chương trình, mình có nhiều lợi thế lúc đó vì đã có chứng nhận 2 năm làm việc trong một dự án nghiên cứu khoa học cấp quốc gia về quy hoạch đô thị bền vững (STeDe là chương trình học về quy hoạch vùng bền vững), ngoài ra còn có cả IELTS 8.0 và DELF B2, mà STeDe nói rất rõ là sẽ đánh giá cao ai có khả năng sử dụng tốt cùng lúc 2 ngôn ngữ Anh và Pháp 🙂 Nhưng mình đã không ứng tuyển STeDe, để rồi bị rejected trong chương trình 4CITIES (năm nay 4CITIES có hơn 900 hồ sơ ứng tuyển).
    Một trường hợp khác, một bạn (mình biết bạn này nhưng xin phép được giấu thông tin cá nhân) được nhận vào một chương trình cũng thuộc EM. Nhưng khả năng sử dụng tiếng Anh của bạn đó thì … thậm chí còn không đủ để tự phát biểu về công việc mình làm. Vậy đó, các bạn đừng nghĩ để được học bổng cần có những phẩm chất cao siêu gì. Đôi lúc, may mắn là tất cả những gì bạn cần.
  • Thành tích học tập và hoạt động: các thành tích này bao gồm điểm đại học, bài báo, báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu, và thành tích hoạt động xã hội. Dĩ nhiên, điểm đại học càng cao, càng nhiều bài báo và báo cáo khoa học phù hợp với ngành định học, thành tích hoạt động xã hội phong phú là những lợi thế khi ứng tuyển học bổng. Ví dụ về các bạn đã thành công trong việc tìm học bổng nhờ các thành tích tốt thì rất nhiều. Các bạn có thể xem trong cơ sở dữ liệu về ứng viên được học bổng EM mỗi năm ở trên trang facebook Erasmus Mundus Vietnam.
  • Khả năng tư duy và viết luận: khả năng tư duy sẽ được thể hiện qua những suy nghĩ về ngành chuyên môn và xã hội mà bạn tích lũy trong suốt quá trình từ khi bạn bắt đầu có ý thức (nói cách khác, từ lúc bạn đi nhà trẻ) cho đến khi bạn ứng tuyển học bổng. Tư duy này càng độc đáo, sâu sắc, dài hạn, thiết thực cho ngành và xã hội thì khả năng bạn được chọn càng cao. Tất nhiên, bạn phải có khả năng viết luận tốt để thể hiện những điều đó một cách thuyết phục trong những bài luận cá nhân khi xin học bổng. Một ví dụ điển hình cho việc tư duy và viết luận dẫn đến thành công là chính tác giả :)) GPA rất thấp (7.6) nếu so với các bạn học ngành kinh tế và xã hội (thường là 8.4, thậm chí trên 9.0), không có hoạt động xã hội, không có hoạt động nghiên cứu nào đáng kể, không có một giải thưởng nào. Chỉ bằng bài luận và mình đã thuyết phục được ban xét tuyển của Chevening 🙂
  • Khả năng network: là khả năng tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ có lợi, cụ thể ở đây là có lợi cho hoạt động xin học bổng. Những trường hợp thường thấy nhất là network với các giáo sư có uy tín trong ngành và trên thế giới để xin được những thư giới thiệu hoặc được trực tiếp giới thiệu cho các học bổng. Đối với học bổng dạng merit-based như Erasmus Mundus hay Eiffel, những sự giới thiệu này cực kì có giá trị. Có bạn chỉ có GPA rất thấp nhưng được sự giới thiệu của các giáo sư hàng đầu ở Châu Âu mà được học bổng EM rồi đấy. Thậm chí, có bạn ứng viên học bổng Đại sứ quán Pháp còn quen biết cả thành viên của ban phỏng vấn 😉
    Networking không phải là điều gì đó xấu. Ngược lại, nó giúp cho các bạn tiếp cận được nhiều cơ hội và thông tin hơn, đồng nghĩa với việc thúc đẩy sự công bằng về cơ hội và minh bạch thông tin. Theo điều tra của đài ABC năm 2013, 80% công việc được tìm thấy thông qua networking.
  • Phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu: các học bổng phát triển thường yêu cầu ở những ứng viên những phẩm chất đặc thù phù hợp với mục tiêu và tinh thần của học bổng đó. Ví dụ, học bổng Chevening muốn chọn những người có tố chất lãnh đạo, có tiềm năng trở thành người dẫn đầu ngành chuyên môn hoặc quản lý trong tương lai; học bổng Fulbright muốn tìm kiếm những người có khả năng thúc đẩy sự trao đổi văn hóa Việt-Mỹ; hoặc, học bổng AAS luôn có một quota nhất định cho những ứng viên đến từ các Ủy ban nhân dân, các bộ và cơ quan ngang bộ, các ứng viên người dân tộc thiểu số hoặc từ vùng khó khăn. Thực tế, có những người được học bổng AAS, được sang Úc rồi trở về Việt Nam mà vẫn không sử dụng được Tiếng Anh ở mức độ nghe, nói, đọc, viết cơ bản 😉

3. Lựa chọn học bổng

Viêc lựa chọn học bổng phụ thuộc vào việc bạn có yếu tố nào trong 5 yếu tố trên.

  • Bạn có thành tích học tập và hoạt động tốt: bạn phù hợp với học bổng merit-based.
  • Bạn có khả năng tư duy và viết luận tốt: bạn phù hợp với học bổng tiềm năng.
  • Bạn có khả năng network tốt: bạn phù hợp với mọi loại học bổng. Tuy nhiên theo kinh nghiệm và thông tin mình có được, bạn cần có thêm 1 trong 4 yếu tố còn lại thì khả năng được chọn mới cao ^ ^.
  • Bạn có cả thành tích học tập và hoạt động lẫn khả năng tư duy và viết luận: bạn phù hợp với tất cả mọi loại học bổng.
  • Bạn có may mắn: mình không còn gì để nói ngoài câu: “Biết được mình sẽ gặp may thì còn gọi gì là may mắn nữa.”
  • Bạn có phẩm chất đặc thù mà một học bổng nào đó yêu cầu: bạn đặc biệt phù hợp với học bổng đó. Cứ mạnh dạn ứng tuyển.

Nên nhớ, việc bạn sở hữu chỉ 1 trong 5 yếu tố trên cũng đủ để bạn ứng tuyển học bổng rồi.

Kinh nghiệm viết bài luận xin học bổng

Với kinh nghiệm của Quỳnh Nga, Nga đã đúc kết qua bài viết này. Hi vọng các bạn có thể tham khảo và tự hoàn thiện kĩ năng viết của mình.

1. Mở bài phải thật sáng tạo: Nguyên tắc 10 giây

10 bài viết gửi cho mình thì chắc phải đến 9 bài mở đầu bằng ‘Tôi sinh ra ở một vùng quê nghèo ở Việt Nam‘, hoặc ‘Tên tôi là, tôi viết thư này là để’.

Mình nghĩ đây là một cách mở bài rất nhàm chán, không để lại ấn tượng. Các bạn cần nhớ rằng ban tuyển sinh ở các trường ĐH danh tiếng mỗi mùa sẽ phải đọc hàng trăm hồ sơ, vì vậy, hãy ‘bắt’ người đọc ngay từ những giây đầu tiên. Giống như nguyên tắc gây ấn tượng với một ai đó trong lần gặp gỡ đầu tiên, những nghiên cứu marketing chỉ ra rằng bạn chỉ có 30 giây để gây ấn tượng.

Nguyên tắc này, được mình áp dụng trong tình huống này là 10 giây.
Vì vậy, hãy suy nghĩ thật kĩ, đầu tư nhiều thời gian cho 10 giây quan trọng này.

2. Lập dàn ý trước khi viết

Điều này thì khi học văn ở Việt Nam thầy cô giáo cũng có dạy. Học tiếng Anh cũng vậy, khi viết cũng cần có dàn ý (outline). Dàn ý mang lại cho bạn cái nhìn tổng thể cho cả bài, từng đoạn sẽ nói những ý gì. Sau đó khi triển khai viết từng đoạn văn nhỏ, liên kết các đoạn văn như thế nào thì xem mục 3  nhé.

3. Viết văn mạch lạc
Đây là lỗi thường mắc phải khi tiếng anh của bạn chưa tốt. Người Việt thường dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, viết rất dài, lan man và lặp lại ý.

Để tránh lỗi này, các bạn hãy học cách viết trong Academic writing, viết mỗi một đoạn văn bao gồm chỉ MỘT nội dung chính, có câu chủ đề (topic sentence), các câu bổ trợ ý cho câu chủ đề (supporting ideas) và nếu có thể thì cả câu kết đoạn (concluding remark).

Sau đó, để liên kết các câu hoặc đoạn với nhau thì phải dùng đến các từ nối câu, nối đoạn, đại từ là từ nối (mình chỉ cung cấp keywords ở đây, các bạn tự tìm tài liệu tiếng anh hoặc sách academic writing để học nhé. Tìm các từ sau linking phrases, linking pronouns). Tất cả những điều này sách IELTS đều viết rõ, các cô giáo chắc cũng có dạy, chắc khi viết thì các bạn lại quên.

4. Viết thuyết phục 

Để viết thuyết phục, các bạn cần có dẫn chứng cho những luận điểm của mình. Dẫn chứng phải được lượng hóa cụ thể.

Ví dụ nếu bạn nói: Tôi đã nỗ lực không ngừng nghỉ để vào được một trường Đại Học tốt và sau đó tốt nghiệp bằng giỏi.

>>> Hãy chuyển ý trên thành (lưu ý những ý mình gạch chân): Tôi đã nỗ lực không ngừng để vào được một trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân, một trường ĐH về Kinh Tế hàng đầu tại Việt Nam. Trong những năm tháng trên giảng đường, tôi đã tiếp tục nỗ lực và kết quả là tôi tốt nghiệp loại ưu, xếp hạng Top 5% trong khóa.

Lưu ý: Đừng nói những điều không đúng sự thật. Số liệu phải chính xác và có thể đối chiếu với bảng điểm đính kèm của bạn. Nếu bạn viết tôi xếp loại xuất sắc mà điểm trung bình GPA chỉ được 7.6 thì rất khó để người đọc tin vào những gì bạn viết. Nên khi đưa dẫn chứng, thì tránh sử dụng máy phóng đại sự thật nhé!

5. Viết ngắn khó hơn viết dài

Nếu trường không có yêu cầu cụ thể, thì viết tầm 1000 từ đến 1200 từ là ổn. Viết dài quá, người xem hồ sơ chắc chắn sẽ không có thời gian để đọc.
Bên cạnh đó, nếu bạn viết dài hơn 1200 từ, mình nghĩ là bạn đã mắc lỗi rờm rà, lan man. Kinh nghiệm của mình chỉ ra rằng 1000 từ là thừa để các bạn viết hay rồi.

Một số trường có yêu cầu cụ thể, không quá 500 từ hoặc một trang A4. Những đề bài như vậy, các bạn lưu ý là sẽ khó hơn vì viết ngắn thường khó hơn viết dài, bạn phải lựa chọn từ ngữ và chi tiết cẩn thận lắm.

Vì ngắn hơn, các trường thường sẽ cho đề bài rất CỤ THỂ.

Hãy gạch chân câu hỏi, và viết đoạn văn trả lời cụ thể và chính xác câu hỏi đó, tránh LẠC ĐỀ. Nếu đủ lượng từ, cũng đừng quên có mở bài, thân bài và kết bài nhé, khi đó thì mở bài và kết bài chỉ mỗi đoạn chỉ khoảng hai câu là được.

6. Dấu ấn cá nhân

Hãy kể câu chuyện của chính bản thân mình. Đừng copy đoạn văn và ý tưởng của người khác. Đôi khi mình cũng tự hỏi tại sao lại có nhiều bạn mở bài giống nhau đến như vậy?

Để kể được câu chuyện của mình, các bạn hãy dành thời gian vài ngày để suy nghĩ xem trong những năm đi học mình có điều gì đáng để kể và thể hiện được con người mình nhất.
Vì vậy dù các bạn có nhờ người xem hồ sơ, thì người xem hồ sơ cũng chỉ sửa dựa trên bài viết của bạn.

7. Đọc nhiều tài liệu của người bản ngữ viết

Để viết hay, dù là viết tiếng Việt hay tiếng Anh, thì nhất định phải đọc rất nhiều.

Để viết tiếng Anh hay thì nhất định phải đọc nhiều của người bản xứ viết để học cách sử dụng câu, từ của họ. Đây là một việc làm hàng ngày. Bản thân mình cũng viết không hay, mặc dù mình IELTS writing 7.5 từ 2008 (đúng 10 năm trước), nhưng mình vẫn học tiếng Anh hàng ngày. Hi vọng là các bạn cũng phát triển được thói quen này.

Khi đọc nhiều, thì từ vựng và câu cú của bạn sẽ tăng lên đáng kể đấy. Mình đã gặp nhiều bạn trẻ viết tiếng Anh siêu sao, mình đọc rất thích. Mình tin là các bạn trẻ hơn mình thì sẽ viết tốt hơn mình nữa, vì các bạn tiếp cận Internet sớm hơn thế hệ 8x của mình nhiều.

Lưu ý: Khi viết cần nhớ là đừng có dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh nhé nhé nhé. Hãy tự hỏi xem người bản xứ viết câu này thì sẽ viết như thế nào?

Cuối cùng chúc các bạn thành công, mùa học bổng tới thì săn được lộc nhé.

Theo: Quỳnh Nga

Kinh nghiệm xin học bổng PhD

Kinh nghiệm nộp hồ sơ học bổng bậc tiến sĩ tại các đại học Úc (có bổ sung ý Ba: Chuẩn bị)

Định không chia sẻ bài viết này, nhưng vì thấy có ích cho một số bạn nên post lại đây. Có thể sẽ có ích nhiều cho các bạn có xuất phát điểm thấp và trung bình như mình. Phần chia sẻ này dựa vào kinh nghiệm cá nhân đúc rút từ quá trình nộp hồ sơ ở Úc và New Zealand. Các chiến lược mình áp dụng trong này đều học từ thầy Vũ Hồ (xem link ở dưới bài). Tổng kết: Năm 2016 mình apply hai học bổng chính phủ gồm học bổng Endeavour và học bổng chính phủ New Zealand (trượt cả hai), 6 học bổng trường (1 trường của New Zealand – Aukcland University và 5 trường ở Úc) thì được 4 trường Úc cho học bổng toàn phần gồm Flinders University, Latrobe University, University of Canberra và Monash University. Có mấy điểm mình thấy làm cho hồ sơ lột xác hoàn toàn so với trước đây là:

Một là sense of purpose (hiểu rõ mục đích bản thân): Mục đích đời bạn là gì? Các mục tiêu ngắn hạn của bạn? Bạn sẽ đi con đường nào để theo đuổi những mục đích và mục tiêu đó? Hình dung cuộc sống của bạn khi có học bổng sẽ thay đổi như thế nào? Học bổng sẽ giúp bạn đạt được điều gì?

Trước đó mình có ý muốn đi du học, nhưng chưa xác định được cụ thể tại sao mình cần đi học (mà chỉ có ý định trốn chạy vì công việc ngột ngạt thôi). Thấy “mông lung như một trò đùa” nên những câu hỏi kiểu như nên đi học về cái gì, sau này học xong thì làm gì, học bổng giúp thay đổi điều gì trong cuộc sống v.v. đều không có một định hướng gì để trả lời cả. Do chưa có xác định được rõ ràng nên toàn bộ những hồ sơ mình đã nộp trong năm 2014-đầu 2016, đặc biệt là phần phát biểu về mục đích (statement of purpose) và đề cương nghiên cứu (research proposal) đều phiên phiến, mơ hồ và thiếu dấu ấn cá nhân (personal touch). Bản thân mình còn thấy thế thì người ta chấm học bổng không thấy mới lạ!

Có bạn cứ bảo học xong thạc sĩ rồi mà còn mông lung. Mình thì thấy, mỗi giai đoạn cuộc đời đều rơi vào một số các mông lung đặc thù: lúc cuối cấp 3 thì không biết học đại học gì, lúc tốt nghiệp đại học thì không biết nên làm gì, đến lúc đi làm rồi không biết làm nghề này có đúng không hay chuyển nghề khác, lúc học xong thạc sĩ rồi thì không biết nên học tiến sĩ hay tiếp tục đi làm là đủ, v.v. Nói chung, cuộc sống mà thiếu mông lung thì có gì đó không đúng. Nếu có mông lung tức là phải nghiêm túc để tìm kiếm lối ra. Quá trình tìm kiếm mục đích của mình bắt đầu bằng việc suy nghĩ thật chín chắn cái gì mình thực sự đam mê – cái này rất quan trọng. Nếu không đam mê thì sau này khó mà theo đuổi được. Đối với mình, nghiên cứu là nghề nghiệp nền tảng nên phải học PhD. Mà học PhD phải cụ thể hóa bằng chủ đề nghiên cứu – thứ mình phải quan tâm và gắn với nghề nghiệp lâu dài. Sau khi đã trằn trọc suy nghĩ về định hướng nghề nghiệp của mình, thì việc tham khảo cả ý kiến của thầy cô và đồng nghiệp đi trước sẽ rất có ích. Họ là những người từng va chạm các vấn đề như mình nên chia sẻ của họ là cực kỳ giá trị. Mỗi lần trao đổi với họ giúp mình nhận ra mục đích của mình còn chưa phù hợp chỗ nào để mà điều chỉnh. Khi mục đích lớn dần dần lộ rõ thì các phần khác của bộ hồ sơ trở nên liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất do xoay quanh một định hướng. Chốt lại, không có sense of purpose thì viết cái gì cũng nhạt.

Hai là research proposal (đề xuất nghiên cứu).

Có lẽ cái này là phần khó nhất, và là điểm khởi đầu trong hồ sơ apply tiến sĩ. Trước đây đề tài nghiên cứu thạc sĩ của mình là về “nghi thức thể hiện sự tôn trọng trong đời sống người Việt”, dù mình khá hứng thú với nó, nhưng thực tế nó ít được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm và cũng khó khơi gợi được sự quan tâm của các giáo sư ở Úc. Do đó mình nghĩ phải tìm một chủ đề mới, thực tế hơn. Trước khi có bản cuối cùng mình có phải đến vài ba chủ đề khác nhau, mỗi chủ đề viết thành 4-5 bản khác nhau, cái về Internet và truyền thông xã hội, cái về mạng lưới tương tác ảo, cái về tổ chức xã hội tự nguyện, v.v. Khi đã chọn cho mình một chủ đề với ý tưởng thú vị, việc tiếp theo là xây dựng nó thành một đề xuất nghiên cứu (research proposal). Vì không thạo với tài liệu chuyên ngành liên quan đến chủ đề lựa chọn nên dù mình tự mày mò, tự xây dựng, tự sửa cho mình nhưng rốt cuộc vẫn rối như canh hẹ. Sau đó, mình quyết định tham khảo các anh chị tiền bối trong ngành bằng cách trao đổi với họ, gửi proposal cho họ góp ý, rồi từ đó tìm cách sửa chữa lại. Mình gửi đi khoảng 4-5 người. Qua đó mình thấy mình học hỏi được rất nhiều thứ. Đúng là phải soi mình vào một cái gương thì mới thấy mình thế nào. Qua đó, phải nói research proposal của mình tốt lên hẳn. Kết quả là khi mình gửi đi thì hầu hết giáo sư đều đồng ý nhận hướng dẫn ngay từ lần đầu tiên với comment đại ý là đề tài của mày promising (đáng mong đợi) và thú vị.

Tóm lại, tìm ra được ý tưởng nghiên cứu hấp dẫn, nằm trong một topic đúng mốt (không chỉ quan trọng đối với Việt Nam mà phù hợp với định hướng nghiên cứu của trường và được cả giáo sư họ quan tâm), xác định được được lỗ hổng của nghiên cứu hiện tại, đặt ra câu hỏi đích đáng , có một hình dung tốt về phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng, quyết định phần lớn thành bại của một hồ sơ học PhD.

Ba là chuẩn bị.

Quá trình chuẩn bị cho một hồ sơ PhD gồm nhiều phần. Ngoài đề cương nghiên cứu, có ba phần tối quan trọng mình muốn chia sẻ ở đây.

Đầu tiên là chuẩn bị các giấy tờ có công chứng như bằng cấp, bảng điểm, giấy chứng nhận, giấy khai sinh, hộ chiếu. Một trong những khó khăn nhất, tốn thời gian và mệt mỏi nhất (chắc là ở Việt Nam) chính là xin công chứng các giấy tờ. Cái thì phải về quê xin bản sao và công chứng ví dụ như giấy khai sinh; cái thì phải công chứng ở phường; cái thì phải lên thành phố (ví dụ các bản có tiếng Anh, phường không có năng lực công chứng); cái thì phải về trường (ví dụ bảng điểm). Đó là chưa kể việc dịch các văn bản sang tiếng Anh. Kinh nghiệm của mình là: (i) phải luôn có các túi clear bag để đựng và ghi tên các loại giấy tờ; (ii) khi rỗi thì công chứng luôn tất cả giấy tờ có thể; (iii) bắt đầu làm cái này càng sớm càng tốt (ví dụ từ trước mấy tháng khi xin học bổng); (iv) lưu trữ các giấy tờ cả bản cứng và cả bản scan (scan đẹp vào). Đừng chờ đến khi chuẩn bị học bổng rồi mới làm, đầu óc mình rất mệt mỏi phải lo các thứ khác trong hồ sơ, nhìn việc hành chính nhiêu khê mà thấy nản luôn. Liên quan đến công chứng, chắc không ai sang như mình, lên hẳn Đại sứ quán Úc công chứng. Mỗi loại giấy tờ ở đây (tất nhiên phải là giấy tờ tiếng Anh) được công chứng với giá 40 đô – nghĩa là giấy tờ gồm 1 hay nhiều trang thì đều 40 đô. Mình làm tới 7-8 loại luôn (máu thôi rồi!), tổng tiền Việt lên tới 6-7 triệu gì đó. Anh officer ở Đại sứ quán thấy thế nhìn mình với ánh mắt ái ngại. Nhưng nó thể hiện cho triết lý của mình: đã máu thì làm tới luôn. Được cái, công chứng bởi Đại sứ quán thì dùng được lâu dài, nhiều đại học, cơ quan Úc nó chấp nhận (kể cả khi mình đi xin việc).

Thứ hai là chuẩn bị thư giới thiệu (letter of recommendation/referee letter). Mỗi hồ sơ học bổng đại học Úc và cả New Zealand, yêu cầu từ 2-3 thư giới thiệu. Thường một thư giới thiệu (có trường bắt buộc ví dụ Auckland University) từ giáo sư hướng dẫn luận văn thạc sĩ, hoặc của một giáo sư viết nghiên cứu cùng mình; và một thư của người tuyển dụng mình, hoặc một người trong ngành làm việc cùng mình. Kinh nghiệm của mình là: luôn chú ý xây dựng các mối quan hệ – hay xây dựng vốn xã hội, sẽ đến lúc cần đến. Sau khi tốt nghiệp Flinders University, mình vẫn thỉnh thoảng gửi email chúc mừng, hỏi thăm các giáo sư từng quen biết và hướng dẫn từ hồi đi học (hồi đi học thì cố gắng thể hiện nổi bật một chút cho người ta nhớ ). Vậy nhưng các bạn cũng biết, mỗi trường hai lá thư, mà mình apply đến 6-7 học bổng, nên mỗi người mình phải xin 2-3 lá. Cái nhiêu khê nhất là mình phải nhờ họ tự vào hệ thống submit thư giới thiệu (ví dụ học bổng Endeavour), có cái họ phải tự gửi đi (mất thời gian viết thư, gửi đi, có nơi phải gửi post, rồi check xem đến chưa). Khi nhờ vả họ nhiều thế quả ái ngại vô cùng (nhưng kinh nghiệm cho thấy, mình phải đạp lên tất cả. Đùa thôi!). Cái mình có thể giúp họ được là: (i) phân loại các hồ sơ ra, phân bố người viết thư vào các loại học bổng khác nhau, đừng để có người phải viết nhiều thư quá. Thường thì mình cũng cân đối cả giáo sư trong nước và nước ngoài; (ii) chuẩn bị sẵn tất cả thông tin cần thiết (thông tin về mình, về trường, loại học bổng, v.v.) cho họ, để họ chỉ có mỗi việc viết và gửi đi. Hôm đầu tiên gặp giáo sư hướng dẫn PhD thầy có nhắc bảo tao có biết và ngưỡng mộ giáo sư hướng dẫn luận văn của mình và tin tưởng vào sinh viên cô ấy hướng dẫn. Thế mới thấy thư giới thiệu quan trọng ra sao.

Thứ ba và quan trọng là chuẩn bị xuất bản phẩm (academic publication). Rốt cuộc thì chấm học bổng PhD luôn dựa vào giá trị/chất lượng học thuật (academic merit). Tiêu chí này ngoài điểm GPA (thường sẽ yêu cầu bạn tốt nghiệp honours hoặc Masters hạng A – High Distinction), thì phải có xuất bản phẩm (liên quan đến đề tài đề xuất thì càng tốt). Việc chuẩn bị này dĩ nhiên phải lâu dài. Hồi học xong thạc sĩ, mình mới chỉ có khoảng chục bài báo trong nước và một chương sách (đều là tiếng Việt). Biết thiếu hụt của mình là các xuất bản bằng tiếng Anh và chất lượng quốc tế, thời gian về nước từ tháng 9/2014 ngoài việc xung phong viết báo cho viện nơi mình làm, mình cũng tập trung để xuất bản ba bài tiếng Anh, trong đó có hai bài trên tạp chí có peer-review, một bài trên tạp chí quốc tế (dù chỉ là open access journal). Bên cạnh đó mình cũng may mắn có một chương sách bằng tiếng Anh đang review xuất bản ở thời điểm nộp hồ sơ. Việc có bài tiếng Anh cực quan trọng, vì nó cho phép người xét duyệt có thể đọc và hiểu được trình của mình (đỡ phải dịch nữa!). Thế nên bằng mọi giá phải có bài báo tiếng Anh, và tốt hơn thì trên các tạp chí peer-review và có thứ hạng cao. Thực tế các học bổng đều có thang điểm dành cho từng loại xuất bản phẩm (cao nhất là bài báo, chương sách nhà xuất bản uy tín). Nhìn chung, hồ sơ của mình tại thời điểm sau tháng 3/2016 (gồm những xuất bản phẩm vừa kể) mạnh hơn rất nhiều so với năm trước do có xuất bản phẩm. Tóm lại, nếu các bạn định đi học PhD thì chuẩn bị xuất bản nghiên cứu là không thể tránh khỏi. Mà điều này phải chuẩn bị trong thời gian dài (ví dụ một bài báo peer-review mất ít nhất 1 năm để đi tới cùng, tính từ thời điểm nộp bài lên tạp chí). Đây cũng là điểm cần cân nhắc khi đi học PhD: có đáng không? Luôn và nên cần hỏi như vậy.

Bốn là chọn và liên lạc với giáo sư hướng dẫn (supervisor).

Có một số chiến thuật để tiếp cận với giáo sư hướng dẫn. Trước hết là tìm kiếm từ rộng đến hẹp. Xác định trình độ của mình ở mức trung bình thôi (mình nghĩ cái này nên trung thực với bản thân, biết mình đang ở đâu!), nên mình chọn các trường đại học rank thấp và trung bình thôi. Trong các trường đó, mình tìm về các khoa liên quan đến chủ đề nghiên cứu mình quan tâm, ví dụ mình quan tâm đến thảm họa tự nhiên từ góc độ xã hội học thì sẽ tìm khoa nhân học, xã hội học, nghiên cứu phát triển, v.v. Trong các khoa đó có các hồ sơ (profiles) của các giáo sư. Mình tìm tới từng profile, đọc, tham khảo một số các nghiên cứu của họ, tìm chỉ số trích dẫn của họ (chẳng hạn qua Google Scholar), suy nghĩ xem có liên hệ nào giữa họ và đề tài của mình hay không (cố tìm ra!). Sau đó, chọn “nạn nhân” để đầu tư thời gian. Lưu ý là mỗi khoa, mỗi thời điểm chỉ nên lựa chọn một giáo sư thôi vì họ có thể trao đổi với nhau. Mình gửi nhiều người họ cũng có thể biết, và như thế không hay. Ngoài ra, khi chọn giáo sư thì không nên chọn người có thâm niên quá cao, vì họ có thể không có nhiều thời gian để trả lời thư của mình, hoặc không có nhiều thời gian để hướng dẫn cho mình sau này (sau này sang bên Monash học mình mới biết, nhiều trường hợp giáo sư thâm niên rất ít khi gặp và trao đổi với sinh viên, làm sinh viên toàn tự bơi. Về lâu dài thì rất khổ!). Hơn nữa, giáo sư rank cao cũng sẽ chọn các sinh viên xuất sắc (outstanding), mình nên biết lượng sức mình mà lựa chọn người cho phù hợp. Mình thường chọn các associate professor hoặc các senior lecturer hoặc những người có citation thấp hơn một chút. Kết quả phản hồi rất tốt.

Một vấn đề quan trọng nữa là liên lạc email. Đầu tiên là tiêu đề thư, ngắn gọn, súc tích, và làm rõ ý định của người viết thư. Nội dung thư đầu tiên mình cũng không đặt quá nhiều vấn đề kiểu như lá thư trăn trối cuối cùng (nhét được bao nhiêu thông tin thì cố nhét) vì giáo sư họ sẽ khiếp, không có thời gian mà đọc thư quá dài. Mình chỉ giới thiệu đề tài nghiên cứu của mình, đặc biệt nhấn mạnh vào sự tương đồng giữa mình và các research interests hay topics mà họ đang theo đuổi, rồi cuối cùng chốt hỏi một câu xem họ có quan tâm đến đề tài của mình không. Trong phần tái bút, mình cũng chèn thêm tài khoản researchgate.com hoặc academia.edu để họ cần thì vào xem.

Thời điểm gửi thư thì mình dùng Boomerang để set thời gian đúng 8h sáng bên nước họ và thấy rất hiệu quả. Tất cả giáo sư mình gửi đều phản hồi (sớm hay muộn thôi) và hầu hết đều đồng ý. Sau đó mình mới hỏi họ cho phép mình đặt tên họ vào hồ sơ xin nhập học (admission) và học bổng (scholarship). Như vậy đến đây đã xong một bước quan trọng là xin được giáo sư đồng ý hướng dẫn, việc tiếp theo là hoàn thành hồ sơ xin nhập học và học bổng. Tóm lại, cách liên lạc với giáo sư phải thể hiện mình tôn trọng thời giờ vàng ngọc của người ta, và qua đó cho họ thấy mình là người chuyên nghiệp.

Liên quan đến liên hệ giáo sư, mình cũng chia sẻ thêm là chăm đi các events và workshops rất có ích. Thời điểm mình đang mơ hồ tìm kiếm thì có dự một event do Chính phủ Úc tổ chức ở Hà Nội. Ở đó mình có trao đổi với một chị người Úc rời đại sứ quán Úc về nước làm tiến sĩ. Ngay lập tức mình xin kết nối với nhóm nghiên cứu bên đó thì được ngay. Sau đó giáo sư chủ động gọi mình phỏng vấn qua Skype và qua đó mình được nhận. Đặc biệt là trong supervisory panel của mình có một leading scholar trong mảng environmental politics, và bác ý cũng đồng ý làm hướng dẫn hai cho mình vì thích đề tài của mình. Quả thực họ rất nhiệt tình ủng hộ mình trong quá trình nộp hồ sơ cho trường, thậm chí còn viết của thư support gửi cho trường và hứa cho thêm tiền để làm thực địa và đi dự conference nữa. Kinh nghiệm là cứ đi kết nối nhiều vào, mạnh dạn trình bày ý tưởng, và nắm bắt mọi cơ hội tới.

Năm là làm bài luận (essays).

Một trong những phần quan trọng của hồ sơ xin nhập học và hồ sơ học bổng là viết các bài luận theo các câu hỏi khác nhau. Việc viết này quả thực tương đối thách thức theo nghĩa mình vừa đang đi làm kiếm tiền, vừa phải lo viết bài xuất bản, nên việc viết bài luận phải tranh thủ và tập trung cao độ. Hơn nữa, việc hoàn thành các bài luận này thường không phải một lúc là xong, mà kéo dài rất mệt mỏi. Viết thế nào để thuyết phục hội đồng cho học bổng quả không dễ. Vậy viết thế nào?

Ý tưởng, nội dung của các bài cần phải có ‘personal touch’, tức là cần phải mang dấu ấn cá nhân, chứ không phải cứ copy các bài mẫu trên mạng, tạo ra các bản sao. Đã là bản sao thì không thể xuất sắc hơn bản chính được, dù nó được trau chuốt đến đâu. Dấu ấn cá nhân là hình ảnh, trải nghiệm, mục đích cá nhân được in đậm trong đó. Đó là cái phân biệt hồ sơ của bạn với hàng loạt hồ sơ khác.

Thứ hai là phải viết logic và mạch lạc. Mỗi bài luận thường có các câu đề bài, ví dụ hỏi: Tại sao mày là một ứng cử viên xuất sắc để nhận học bổng này? và được giới hạn trong một lượng tự nhất định (ví dụ 100-200 từ). Người chấm học bổng phải đọc rất nhiều hồ sơ, nên họ không có quá nhiều thời gian để thẩm thấu cái gì quá phức tạp, cao siêu. Mình cần phải viết cái gì rất rõ ràng, dễ hiểu. Để làm được điều đó, kinh nghiệm của mình là trước khi viết, vạch ý ra thật rõ ràng. Ví dụ một câu trả lời mình dự định có 3 ý, thì xây dựng 3 ý thật rõ ràng, đi kèm các lập luận và ví dụ cụ thể của bản thân (nhất thiết phải của bản thân). Hơn nữa, cần sắp xếp 3 ý này theo tuyến tính, hay theo một logic nào đó. Ví dụ, ý A, B và C được sắp xếp theo trật tự thời gian, từ quá khứ tới hiện tại. Như vậy, người đọc sẽ biết mạch văn của mình. Không chỉ mạch lạc, logic trong nội bộ một bài luận, mà các bài luận cũng nên liên kết với nhau, cùng làm toát lên mục đích nghề nghiệp của mình.

Thứ ba, tự sửa cho mình. Để hoàn thiện một bài luận, bản thân mình phải tự sửa rất nhiều lần. Đây là một quá trình phản thân (reflective process) rất cần thiết. Một bài luận của mình thường có rất nhiều bản thảo. Ví dụ mình hoàn thành một bản thảo, sau đó cách hai ba ngày bỏ đi không nghĩ tới, rồi quay lại đọc bản thảo đó. Cách này khiến mình nạp lại năng lượng, làm mới đầu óc mình, từ đó nhìn nhận bản thảo rõ ràng hơn, dễ tìm các điểm chưa được mà khắc phục. Ngoài cách trên, nếu nhờ được ai xem giúp cho mình thì rất tốt.

Sáu, sắp xếp một hồ sơ (điện tử) gửi đi.

Hình dung là người nhận và xét duyệt sẽ có hàng tá bộ hồ sơ gửi đến. Làm thế nào để bộ hồ sơ của mình nổi bật và dễ thiện cảm? Có mấy gợi ý.
Thứ nhất, ghi tên rõ ràng. Mỗi file trong hồ sơ cần ghi tên rõ để họ nhìn là biết file đó là gì.

Thứ hai, đối với các bằng cấp, bảng điểm, nên ghi thêm năm. Hình dung họ nhìn vào list các file bảng điểm là biết mình tốt nghiệp năm nào.

Thứ ba, đối với các files như passport, giấy khai sinh thì nên ghi thêm tên mình.

Thứ tư, các files trong một bộ hồ sơ nên đánh số thứ tự: 1, 1.1., 1.2. Thứ tự nên theo yêu cầu trong form hồ sơ học bổng/nhập học. Khi họ mở hồ sơ ra thì đã biết nên đọc file nào trước.

Thứ năm, nên bổ sung thêm một số files có tác dụng làm rõ thêm các tài liệu khác, dù không được yêu cầu. Ví dụ mình bổ sung thêm một bản báo cáo đánh giá luận văn thạc sĩ của mình từ các examiners, có dấu xác nhận của trường cũ.

Thứ sáu, đừng nên tiếc tiền mà không chuẩn bị các file đẹp nhất có thể. Ví dụ nếu scan các ấn phẩm xuất bản thì nên scan màu, cắt gọt các phần đen, thừa đi.

Thứ bảy, khi gửi hồ sơ tới một địa chỉ cụ thể, tiêu đề thư nên ghi rõ hồ sơ của ai, dành cho học bổng hay nhập học.

Thứ tám, nội dung thư nên nói rõ phần đính kèm gồm những files gì.

Thứ chín, nếu toàn bộ hồ sơ quá nặng để đính kèm thì chia thành hai thư, nhưng cần nói rõ là sẽ có 2 thư, mỗi thư gồm các tài liệu gì đính kèm. Lưu ý, số thứ tự của hai phần vẫn thống nhất với nhau.

Thứ mười, vẫn nên set thời gian gửi email vào đầu giờ làm việc buổi sáng của bên nước họ.

Cuối cùng, kiên nhẫn chờ đợi, thành công sẽ tới.

Năm nay, trước khi thành công đến thất bại viếng thăm liên tiếp. Bắt đầu với học bổng New Zealand sau khi đã vào vòng 3, sau đó đến trường Aucland cũng bị từ chối nốt dù đã chấp nhận nhập học, tiếp đó học bổng Endeavour cũng trượt (cái mình cực kỳ hy vọng), trường Western Sydney University cũng từ chối dù đã cho nhập học. Thời điểm đó cứ cách 1-2 tuần là một tin báo trượt. Chắc ai đã từng apply học bổng rồi mà trượt nhiều và liên tục thì mới thấy đau khổ và thất vọng thế nào. Thực sự thì tới thời điểm nhận được mấy tin báo thất bại liền, mình không còn tin ở khả năng mình nhận được học bổng nữa. Thực tế là đa số các trường ở Úc mỗi năm chỉ dành 1-2 suất học bổng cho sinh viên quốc tế làm PhD thôi (ví dụ University of Canberra họ báo ngay cho mình từ khi chuẩn bị hồ sơ kiểu như để mày nghĩ cho kỹ đỡ mất công làm). Khi mình so các tiêu chí chấm điểm học bổng thì thấy hồ sơ của mình chỉ ở mức trung bình thôi, đặc biệt là phần xuất bản phẩm (đòi hỏi các bài báo trên tạp chí peer-review).

Nhưng cuối cùng, may mắn cũng mỉm cười. Vào một buổi trưa của chuyến công tác, đang nằm võng ở Trà Vinh, mình nhận được email thông báo học bổng. Rồi có thêm 3 trường nữa gửi thư thông báo học bổng liên tiếp làm mình không tin nổi luôn. Việc này cho thấy một điều này: nhiều khi may mắn chiếm một phần rất quan trọng đối với việc apply học bổng. Nhiều khi mình trượt nhưng mình đến đến rất gần với thành công, chỉ thiếu một chút may mắn thôi (mà may mắn đó có thể do hội đồng chấm hắt hơi, đau đầu hay vừa cãi nhau với partner) và cần phải kiên trì chờ đợi. Ví dụ năm 2016, học bổng Endeavour dành cho PhD cho Việt Nam duy nhất 1 học bổng, trong khi đó Bangladesh tận 6-7 người. Năm trước đó Việt Nam còn được đến 5-6 giải thì phải. Có một anh tâm sự (không biết đúng không) bảo năm nay review hồ sơ học bổng có nhiều bạn nổi bật hơn cả những người năm trước đạt giải nhưng do chính sách cắt giảm của Úc nên không được chọn. Vậy đó, đôi lúc mình cố rồi mà hoàn cảnh khách quan thì phải chịu. Nhưng có lẽ, cứ cố gắng, đi đúng hướng, làm đúng cách thì rồi thành quả sẽ tới.

 

Tác giả https://www.facebook.com/trungkien.onfire/posts/10208833688094812

Kinh nghiệm xin thư giới thiệu và viết bài luận xin học bổng du học

 

Thư giới thiệu và bài luận là những yêu cầu không thể thiếu trong hồ sơ xin học bổng du học. Một số lời khuyên dưới đây sẽ góp phần giúp bạn có một lá thư giới thiệu phù hợp và bài luận ấn tượng. 

1.      Thư giới thiệu

Thư giới thiệu là một lá thư từ một người nào đó đủ điều kiện để chứng thực khả năng học tập và tiềm năng của bạn có thể phát huy tốt trong khóa học sắp tới. Thư giới thiệu đóng vai trò rất quan trọng vì nó  là một cách để đánh giá về bạn ngoài những điểm số bạn cung cấp. Vậy làm sao để có được một lá thư giới thiệu có tính tin cậy cao và thuyết phục được trường đại học bạn đăng ký.

Mỗi trường đại học có một yêu cầu khác nhau đối với thư giới thiệu. Một số trường chỉ đánh giá cao thư giới thiệu từ những giảng viên, nhà nghiên cứu có uy tín, một số khác lại mong muốn nhận được thư giới thiệu từ những công ty mà bạn đã làm việc trước đó

Điểm thiết yếu trong một lá thư giới thiệu để có thể gây ấn tượng với các nhà tuyển sinh đó là người mà bạn xin bức thư giới thiệu. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ càng khi trong việc chọn người viết thư. Người đó nên hiểu rõ về bạn và có những cái nhìn và ý kiến sâu rộng. Nếu một giáo viên hiểu rõ về bạn cũng như năng lực học tập của bạn, lá thư giới thiệu sẽ có tính sát thực và đáng tin cậy hơn. Người giới thiệu có học hàm cao và có tên tuổi cũng sẽ có ảnh hưởng lớn tới việc đánh giá thư giới thiệu.

Bạn nên nói chuyện với người viết thư giới thiệu cho bạn, giải thích về mong muốn của mình khi đăng ký học, tại sao bạn lại muốn học chương trình này? ngôi trường này? Nếu bạn đã có trường đại học nhất định muốn đăng ký vào bạn có thể nói về những thế mạnh của mình, tại sao bạn là một ứng viên sáng giá cho trường? Điều này sẽ giúp người viết thư giới thiệu có cái nhìn cụ thể hơn về bạn cũng như hiểu được nguyện vọng của bạn thông qua bức thư đó. Hơn nữa vì các bạn sinh viên thường chọn những giáo sư, giảng viên uy tín hay những người có kinh nghiệm nghề nghiệp cao để viết thư giới thiệu. Vì thế bạn cũng có thể xin những lời khuyên và tư vấn về lựa chọn của bạn.

Đừng quyên cung cấp cho người viết thư giới thiệu của bạn danh sách những thành tích mà bạn đã đạt được cũng như tất cả những thông tin mà bạn nghĩ nên được đề cập trong thư giới thiệu.

Bạn cũng nên dành cho người viết một khoảng thời gian nhất định để cân nhắc, suy nghĩ để viết thư. Cùng với đó là tất cả những tài liệu mà bạn nghĩ có thể giúp người viết tham khảo.

Và cuối cùng, khi bạn nhận được thư mời nhập học từ trường đại học bạn đăng ký đừng quên thông báo đến người viết thư giới thiệu cũng như viết thư, email cảm ơn đến người viết thư giới thiệu ngay khi nhận được thư.

2.   Viết bài luận

Hàng năm, ngày càng nhiều sinh viên tài năng đua tranh nhau để có được một chỗ trong các trường Đại học. Điểm học cao, tham gia các hoạt động ngoại khóa sôi nổi cũng chưa đủ để làm mình nổi bật, đặc biệt ở những trường lớn hàng ngàn sinh viên cùng đạt điểm học lực giỏi,… Vậy các trường Đại học lấy tiêu chí nào để chọn ra những ứng cử viên ưu tú nhất trong những sinh viên gần giống hệt nhau như vậy? Một trong những công cụ mà họ dựa vào chính là bài tự luận hoặc bài luận xin học.

Đúng như cái tên của nó, bài tự luận về cơ bản là bài luận viết về chính bản thân bạn. Trường Đại học có thể đưa ra chủ để cho bạn viết như tại sao trường nên nhận bạn vào học, hoặc lý do tại sao bạn xin vào học tại trường hoặc lý do tại sao bạn chọn học ngành này hoặc viết về những kinh nghiệm và thành công mà bạn đã đạt được, nhưng không hề được nhắc tới trong đơn xin học. Thường bài tự luận chỉ giới hạn khoảng 500 từ.

Luyện tập là điều kiện tiên quyết. Nếu bạn đã viết được một vài bài luận, bạn sẽ có kinh nghiệm và cảm thấy tự tin hơn khi bắt tay vào viết bài luận chính thức của mình. Sau khi đã chọn được chủ đề, bạn hãy lập dàn ý đại cương. Bạn không cần viết cả câu hoàn chỉnh, chỉ cần viết để hiểu là được như liệt kê, vẽ hình, lập bảng biểu…

Viết ngắn gọn. Hầu hết các bài luận chỉ giới hạn khoảng 300 – 600 từ. Giới hạn đó không phải là nhiều để bạn có thể chuyển tải được thông điệp của mình đến hội đồng tuyển sinh. Tránh sử dụng những từ hoặc cụm từ thừa, rườm rà, không cần thiết.

Không lạc đề. Luôn đảm bảo rằng bài luận của bạn trả lời vấn đề đặt ra trong chủ đề – lạc đề là điều rất dễ xảy ra. Ví dụ, nếu bạn đang phải viết một bài luận về “Lợi ích của việc đi du học” thì bạn cần đưa ra các lợi ích đạt được trong quá trình đi học và sau khi tốt nghiệp.

Tránh lối viết nhàm chán. Hãy đặt vị trí của mình vào vị trí của hội đồng xét tuyển. Một người trong hội đồng một ngày có thể phải xem xét hàng trăm bộ hồ sơ và bài luận và rất nhiều bài luận trong số đó na ná như nhau. Hãy nhớ rằng bài luận giúp hội đồng tuyển sinh hiểu rõ về bạn hơn – hãy cho họ thấy rằng bạn không phải là một thí sinh nhàm chán và mờ nhạt trong nhóm đông sinh viên khác. Đừng ngại thể hiện tính cách của mình.

Đừng lặp lại quá nhiều. Hội đồng tuyển sinh sẽ biết về điểm thi hay việc bạn đạt giải piano thông qua đơn xin học của bạn. Do đó, không cần thiết phải liệt kê lại những thành tích đó trong bài luận; trừ trường hợp ngoại lệ là khi bạn chọn một thành tích và viết sâu về nó (ví dụ như miêu tả một kinh nghiệm hay trở ngại đáng nhớ mà bạn phải vượt qua để đạt được thành tích đó).

Hãy thật cụ thể. Đừng viết một cách đại khái, sử dụng một dẫn chứng cụ thể có thật sẽ hay hơn rất nhiều so với một dẫn chứng chung chung.

Tránh sử dụng ngôn từ quá hoa mĩ: Nhiều người có xu hướng sử dụng từ điển hay từ điển đồng nghĩa khi viết bài tự luận và bài luận xin học. Tránh sử dụng những từ ngữ phức tạp mà bạn ít khi dùng – hội đồng tuyển sinh đọc hàng ngàn bài luận và họ sẽ rất không thích nếu phong cách viết của bạn khoa trương hay gò bó. Hãy để bài viết của bạn thật tự nhiên và trôi chảy.

Hãy sáng tạo – thể hiện các ý tưởng bằng từ ngữ của chính mình.

Viết đoạn kết luận thật ấn tượng. Trong khi phần mở đầu là phần đáng chú ý nhất của bài luận thì phần kết luận cũng không kém phần quan trọng. Một đoạn kết luận không phải là tổng kết lại 400 từ mình đã viết trước đó. Đoạn kết phải như một sợi dây gắn kết các ý thật chặt chẽ với nhau.

Nên viết đi viết lại vài lần: Hãy thong thả khi viết bài luận. Đó không phải là một bài thi, không có luật nào bắt buộc bạn phải viết bài luận đúng một lần. Bạn viết nháp một lần, vài ngày sau xem lại, bạn sẽ phát hiện thấy một vài điều mới cần sửa hoặc bổ sung mà trước đó bạn đã không để ý.

Kiểm tra lại bài viết: Bạn có thể sử dụng chức năng kiểm tra lỗi chính tả trên máy tính để đảm bảo rằng không có lỗi chính tả nào. Bạn có thể nhờ người khác (như bố mẹ hoặc bạn bè) đọc và góp ý cho bài viết của mình.           

Bài luận thường viết về chủ đề gì?

Theo truyền thống, mỗi trường đại học có mẫu đơn xin học riêng và yêu cầu về bài tự luận và bài luận xin học với chủ đề riêng. Một số chủ đề hay gặp như: Bạn hãy viết về một người, có thể là nhân vật lịch sử hay con người đương đại hay một nhân vật hư cấu đã có ảnh hưởng đến bạn và ảnh hưởng như thế nào.

Những mối quan tâm về học hành, quan điểm cá nhân và kinh nghiệm cuộc sống làm cho mục tiêu học tập của bạn đa dạng hơn. Về cá nhân bạn, hãy viết về những gì bạn đã làm để cho môi trường học tập của bạn phong phú hơn…

Kinh nghiệm xin thư giới thiệu – Letter of Recommendation

Tại Việt Nam, việc yêu cầu một lá thư giới thiệu chưa quá phổ biến, nhưng với các trường đại học quốc tế đây là một trong những yêu cầu bắt buộc và đặc biệt quan trọng nếu như bạn muốn có cơ hội giành được học bổng. Thư giới thiệu là một cách để đánh giá về bạn ngoài những điểm số bạn cung cấp. Vậy làm sao để có được một lá thư giới thiệu có tính tin cậy cao và thuyết phục được trường đại học bạn đăng ký. Hãy cùng Emma Deyneka, biên tập viên của Hotcourses Việt Nam tìm hiểu về điều này

 

Mỗi trường đại học có một yêu cầu khác nhau đối với thư giới thiệu. Một số trường chỉ đánh giá cao thư giới thiệu từ những giảng viên, nhà nghiên cứu có uy tín, một số khác lại mong muốn nhận được thư giới thiệu từ những công ty mà bạn đã làm việc trước đó (yêu cầu này thường phổ biến cho những sinh viên dăng ký học thạc sỹ quản trị kinh doanh)

 

Tuy nhiên tại một số trường đại học có những yêu cầu khác hơn, điển hình như trường đại học Stanford thường có những yêu cầu rất cụ thể trong việc cung cấp thư giới thiệu. Trường yêu cầu những lời nhận xét, hoặc một thư giới thiệu từ một người từng làm cùng với bạn trong một nhóm nghiên cứu trước đây. Điều này để đánh giá năng lực của bạn trong làm việc nhóm và những kỹ năng xã hội.

 

Điểm thiết yếu trong một lá thư giới thiệu để có thể gây ấn tượng với các nhà tuyển sinh đó là người mà bạn xin bức thư giới thiệu. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ càng khi trong việc chọn người viết thư. Người đó nên hiểu rõ về bạn và có những cái nhìn và ý kiến sâu rộng. Nếu một giáo viên hiểu rõ về bạn cũng như năng lực học tập của bạn, lá thư giới thiệu sẽ có tính sát thực và đáng tin cậy hơn. Người giới thiệu có học hàm cao và có tên tuổi cũng sẽ có ảnh hưởng lớn tới việc đánh giá thư giới thiệu.

 

 

Tuy nhiên, người viết thư giới thiệu không phải là điều duy nhất bạn giúp bạn được nhận vào trường. Bạn phải nghĩ về những điều thiết yếu bạn muốn được đề cập đến trong thư giới thiệu.

 

  • Bạn nên nói chuyện với người viết thư giới thiệu cho bạn, giải thích về mong muốn của mình khi đăng ký học, tại sao bạn lại muốn học chương trình này? ngôi trường này? Nếu bạn đã có trường đại học nhất định muốn đăng ký vào bạn có thể nói về những thế mạnh của mình, tại sao bạn là một ứng viên sáng giá cho trường? Điều này sẽ giúp người viết thư giới thiệu có cái nhìn cụ thể hơn về bạn cũng như hiểu được nguyện vọng của bạn thông qua bức thư đó. Hơn nữa vì các bạn sinh viên thường chọn những giáo sư, giảng viên uy tín hay những người có kinh nghiệm nghề nghiệp cao để viết thư giới thiệu. Vì thế bạn cũng có thể xin những lời khuyên và tư vấn về lựa chọn của bạn.
  • Đừng quyên cung cấp cho người viết thư giới thiệu của bạn danh sách những thành tích mà bạn đã đạt được cũng như tất cả những thông tin mà bạn nghĩ nên được đề cập trong thư giới thiệu.

 

Cố vấn nhập học Mỹ, ông William Trần chia sẻ với Hotcouses Việt Nam: thư giới thiệu càng chi tiết càng tốt. Tôi thực sự không thấy mấy ấn tượng với những từ ngữ chung như “chăm chỉ” hay “thông minh”. Hay một loại thư giới thiệu kiểu liệt kê hàng loạt những hoạt động ngoại khóa, vai trò trong các câu lạc bộ tại trường học trước kia… Điều này cũng giống như giới thiệu Barack Obama bởi ông là tổng thống Mỹ. Bức thư cần chiều sâu, những tố chất cá nhân và những điểm khác biệt mà không có ở những học sinh khác. 90% những bức thư giới thiệu không gây được ấn tượng với các nhà tuyển sinh như tôi.

 

Một sai lầm phổ biến khác là xu hướng yêu cầu thư giới thiệu từ “tên tuổi lớn” với hy vọng rằng điều này sẽ tạo được ấn tượng với ban nhập học. Jay Bhatti trong bài viết An Inside Look At The Brutal Business School Admissions Process cho biết:

 

“Chúng tôi nhận được những bức thư giới thiệu từ những thượng nghị sỹ, giám đốc điều hành hay các nhà lãnh đạo thế giới. Tuy nhiên trừ khi người được giới thiệu đã từng làm cho những người nói trên, những bức thư giới thiệu còn lại thường rất chung chung, không có chiều sâu. Tốt nhất bạn nên xin thư giới thiệu từ một người từng trực tiếp quản lý và đánh giá những thành tích, kiến thức và kỹ năng của bạn“

 

Bạn cũng nên dành cho người viết một khoảng thời gian nhất định để cân nhắc, suy nghĩ để viết thư. Cùng với đó là tất cả những tài liệu mà bạn nghĩ có thể giúp người viết tham khảo.

 

Và cuối cùng, khi bạn nhận được thư mời nhập học từ trường đại học bạn đăng ký đừng quên thông báo đến người viết thư giới thiệu cũng như viết thư, email cảm ơn đến người viết thư giới thiệu ngay khi nhận được thư.

error: Content is protected !!