Cái giá của việc du học bậc cao học – Long D Hoang

“Lợi thì có lợi nhưng răng không còn”.

Du học cao học đương nhiên không phải du lịch kiến thức đến xứ thiên đường. Ở bài trước, tôi đã liệt kê ra một số lợi ích của việc du học. Bài này sẽ bao gồm một số cái giá phải trả khi du học cao học.

Chú ý: tôi sẽ không nói về cái giá về sức khỏe và thời gian cho chính việc học. Tôi đã nói khá kĩ về việc này ở trong một bài viết khác. Các bạn có thể xem ở: https://goo.gl/b9Sg54 [1]

Những gì tôi viết trong bài đó chỉ đúng trong trường hợp người ta thực sự đi học ở một trường nghiêm túc về học thuật hàn lâm với mục tiêu phát triển tư duy phản biện và khoa học lẫn kĩ năng nghề nghiệp. Nó sẽ không đúng với trường hợp chỉ đi học để lấy các kĩ năng nghề nghiệp thực tế, hoặc đi học để trải nghiệm cho biết.

1.  Học phí và sinh hoạt phí

Trước hết, học phí ở các trường đại học tốt ở các nước nói tiếng Anh như Vương quốc Anh, Mỹ, Úc rất cao.

Các khóa học ở các trường đại học TỐT (Ví dụ như các trường trong Russell Group) ở Vương quốc Anh thường có học phí ngưỡng dưới khoảng trên dưới 18,000 – 25,000 bảng ở các ngành phổ biến như kinh doanh, marketing, truyền thông. Ở các ngành thuộc khối STEM (Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật, Toán học), học phí ngưỡng dưới có thể thấp hơn thế một chút. Còn với các khóa học thực sự hot như MBA và ở các trường tốt, học phí loanh quanh 40,000, thậm chí lên tới trên 50,000 bảng cũng là chuyện bình thường.

Sinh hoạt phí thay đổi theo từng thành phố và từng nước. Sau đây là học phí hàng năm (chung tất cả các bậc) và sinh hoạt phí hàng năm cho sinh viên Việt Nam, chia theo từng nước. Đây chỉ là thông tin mang tính tham khảo để định hướng ban đầu và hình dung được chi phí du học có thể lớn tới mức nào [2] [3] [4] [5] [6]. Các phí này không bao gồm phí vé máy bay, phí visa, và phí cho những người phụ thuộc.

Chú ý:

  • Ở các ô có 1 loại học phí, đây là phí trung bình cho tất cả các bậc học
  • Ở các ô có 2-3 loại học phí, học phí được xếp theo thứ tự đại học, cao học, tiến sĩ.
  • Học phí ở Pháp là học phí trung bình của các trường công.
Quốc gia Học phí cho sinh viên quốc tế (USD) Sinh hoạt phí (USD)
Anh (Vương quốc) 12300 – 4306011930 – 51700 14800 (ngoài London)18700 (trong London)
Áo 780 11000 – 13000
Ai-len 1080010500 – 11400 7500 – 12870
Bỉ 960 – 4820 11050 – 12300
Ca-na-đa 2054013250 12000
Đan Mạch 6500 – 17350 12200
Đức Miễn phí10,800 8700
Hà Lan 6500 – 13008670 – 21660 10400 – 14300
Mỹ 33215
Na Uy Miễn phí cho các trường công, ngoại trừ chương trình đặc biệt 13600
Nga 3900 – 7700 7920 – 9120
Thụy Điển 10500 – 17500 11200
Thụy Sĩ 49098 17750 – 27600
Tây Ban Nha 797 – 15001430 – 1620 11800 – 14400
Phần Lan Tối thiểu $1600 10400
Pháp 200280

425

10500
Úc 23400 cho bậc đại học16000 – 29600 cho bậc cao học

11200 – 29600 cho bậc tiến sĩ

15820
Ý 920 – 11001600 17300

Riêng ở Mỹ, chi phí thay đổi rất nhiều theo từng nơi học. Theo College Board, tổng học phí và sinh hoạt phí một năm ở bậc đại học như sau:

  • Community college: $17000
  • Trường công 4 năm và sinh viên không phải người cư trú vĩnh viễn trong bang: $39890
  • Trường tư 4 năm: $49320

Riêng ở các trường thuộc nhóm đầu (top-tier), tổng chi phí một năm sẽ loanh quanh 60 nghìn – 65 nghìn USD. Tức là đâu đó 1 tỷ 200 triệu đồng, hoặc 1 tỷ 300 triệu đồng.

2.  Chi phí cơ hội: Thời gian và kiến thức

Tiền – thời gian – sức khỏe. Tài nguyên chính của chúng ta nhìn chung xoay quanh và luận chuyển ở 3 dạng này.

Ngoại trừ các bạn có “học bổng toàn phần” utachi-batacho, sẽ có mấy hình thức sau để trang trải chi phí du học:

Vay nợ: vay rồi học xong thì trả nợ cả vốn lẫn lãi. Đương nhiên cách này đồng nghĩa với việc bạn phải chịu một sức ép tài chính và tinh thần từ khoản nợ khổng lồ. Bạn sẽ không có nhiều lựa chọn sau khi về nước ngoài việc lao vào làm mà trả nợ trong khoảng 3 năm, 5 năm, hoặc lâu hơn tùy khoản nợ. Trong trường hợp này: tài chính ở dạng số âm, nhưng có thời gian và sức khỏe cho việc học và khám phá tất cả những gì hay nhất của trường học. Nên nhớ rằng giá trị lớn nhất của trường học là các kĩ năng tư duy và áp dụng lý thuyết dài hạn, các môn học khai sáng bản thân, chứ không phải kĩ năng thực hành. Nhưng cần nhiều thời gian mới hấp thụ được các lợi ích này.

Vừa học vừa làm: Cách này nhìn chung chỉ khả thi ở các nước có chính sách miễn học phí hoặc học phí vô cùng thấp cho sinh viên quốc tế như Pháp hay Đức. Tuy nhiên sinh viên BUỘC phải biết tiếng bản địa để có thể được hưởng chính sách này. Thông thạo tiếng bản địa cũng là điều kiện đầu tiên để có thể có việc làm thêm. Việc làm thêm đủ để trang trải sinh hoạt phí cũng ngốn của bạn kha khá thời gian. Sinh viên sẽ khó có đủ thời gian và sức khỏe để học cho tốt và lấy bằng xuất sắc (cái này gần như là chắc chắn nếu như bạn đang học ở một trường tốt). Tiền có – thời gian ít – sức khỏe âm. Thời gian và sức khỏe để hoàn thành nội dung khóa học còn thiếu, chứ đừng nói đến tìm hiểu các môn rất hay khác, như Luật, Nhân quyền, hoặc đơn giản như môn Viết chẳng hạn.

Học bổng một phần, vừa học vừa làm: Lựa chọn này thực ra cũng chả hơn lựa chọn trên là mấy nếu như người học chọn một trường có học phí cao. Thường mọi người sẽ kết hợp với vay nợ hoặc tài chính gia đình để chi trả phần học phí còn lại, và đi làm thêm để có sinh hoạt phí Tuy nhiên có một ưu điểm là người học có thể học ở nước nói tiếng Anh và dễ kiếm việc làm hơn. Tất nhiên việc làm thêm để trang trải sinh hoạt phí cũng chẳng dễ dàng gì và kết quả cũng y hệt như trên. Tiền có – thời gian ít – sức khỏe âm.

Học bổng toàn phần: Lựa chọn này là tối ưu cho những người may mắn. Lợi ích của nó thì không cần nói nhiều: có nhiều lựa chọn cho việc sử dụng thời gian hơn hẳn các trường hợp kia.

Nhưng, để được một học bổng toàn phần không hề dễ dàng. Lao tâm khổ tứ và cần may mắn, hoặc rất nhiều may mắn.

3.  Chi phí cơ hội: Sự nghiệp

Lúc người ta cảm thấy ý chí và kiến thức của mình phù hợp nhất để du học cao học, cũng là lúc sự nghiệp của họ đã có thành tựu nhất định. Ít ra người ta đã có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên.

Đi du học lúc này chính là chấp nhận chi phí cơ hội: từ bỏ vị trí, lương bổng, cơ hội thăng tiến suốt những năm trước đã cố gắng gây dựng. Ngoài nước Anh, các chương trình cao học ở các nước khác yêu cầu khoảng 2 năm. Trong 2 năm đó, những người cạnh tranh với chúng ta ở Việt Nam có thể đã đi được những bước khá dài về sự nghiệp. Họ ở vị trí khác, lương bổng khác, triển vọng khác, thậm chí tư duy ở tầm cũng khác. Chí ít họ cũng tích lũy được hơn người đi học 2 năm kinh nghiệm.

Một số người lập được những cam kết với công ty hoặc cơ quan để đảm bảo khi quay về Việt Nam vẫn có nơi làm việc, nhưng số này không nhiều và họ cũng vẫn phải chấp nhận từ bỏ các cơ hội khác. Tất nhiên nếu bạn nào đó luôn có những mối quan hệ (gia đình) tốt sẵn để không phải lo công ăn, việc làm khi trở về, thì họ gần như chẳng phải đánh đổi gì về sự nghiệp cả. Số này đương nhiên là hiếm.

4.  Chi phí cơ hội: Nguy cơ học không đúng thứ cần học

Không phải ai cũng chọn được thời điểm phù hợp để du học. Tôi nhận được khá nhiều tin nhắn nhờ tư vấn cách chọn trường, cách săn học bổng từ những bạn còn chưa biết tại sao mình cần đi học. Rất tréo ngoe ở chỗ, các bạn ấy quá chắc chắn và nhiệt huyết với lựa chọn du học của mình, trong khi biết rất ít về du học, thậm chí biết rất ít về việc học. Cuối cùng các bạn đi du học về mà không áp dụng được kiến thức gì đã học. Các bạn trở về Việt Nam bắt đầu từ số 0 trong khi bạn bè cùng trang lứa đã có 2 năm kinh nghiệm.

Nguyên nhân đầu tiên của việc này là vấn đề hướng nghiệp ngay từ bậc phổ thông rất kém.

Nguyên nhân thứ hai là thông tin đa dạng nhưng không đa chiều. Thông tin đa số bị thao túng bởi lợi ích. Mà việc các bạn lựa chọn du học có vẻ đem lại nhiều lợi ích hơn cho người cấp tin.

Nguyên nhân thứ ba là các bạn muốn du học mà không chuẩn bị các kĩ năng có giá trị dài hạn cho việc học và sinh sống ở nước ngoài như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nghiên cứu và viết hàn lâm (hàn lâm, không phải IELTS), kĩ năng tư duy phản biện, kĩ năng ngôn ngữ.

Nguyên nhân thứ tư là các bạn không tìm hiểu bản thân lẫn thử qua các công việc kĩ càng trước khi quyết định. Lý do đi du học các bạn thường đưa ra là:

  • Lấy bằng cấp (thậm chí lên PhD) cho xong một thể kẻo sau này già rồi quên mất, ngại học lắm => Ơ thế đi học lấy kiến thức và kĩ năng hay đi học để lấy cái bằng thạc sỹ về làm đồ trang sức thế? Đi học PhD để làm nghiên cứu hay làm tư vấn hoặc R&D chuyên sâu, hay là mang cái danh PhD cho oai thế?
  • Lấy bằng cấp cho xong kẻo sau này vướng bận vợ chồng con, không có cơ hội đi học => Nghe có vẻ có lý, nhưng thực ra cũng là ngụy biện, vì mục đích cơ bản của việc đi học như này vẫn là lấy cái bằng cấp cho xong để khoe cho oai. Chẳng qua là muốn lấy sớm cho dễ lấy.
  • Du học để trải nghiệm => nếu các bạn chấp nhận được việc không biết cách học cho hiệu quả, học xong không biết dùng kiến thức và kĩ năng để làm gì, thì du học để trải nghiệm cũng là ý kiến không tồi.

Các bạn mà mình khuyến khích du học ngay sau khi tốt nghiệp là những bạn thật sự đã có kinh nghiệm nghiên cứu và đam mê nghiên cứu. Môi trường đại học ở Việt Nam đủ để cho các bạn thử nghiên cứu và đưa ra quyết định du học thạc sỹ chuyên về nghiên cứu hàn lâm.

Còn các trường hợp khác, lời khuyên của mình là cứ đi du học nếu chấp nhận được nguy cơ (gần như chắc chắn) học không đúng thứ cần học, không đủ kĩ năng để tận dụng lợi ích của khóa học, hoặc tệ hơn là học một khóa hoàn toàn không phù hợp với ngành mình muốn làm sau này.

Rất tiếc, trong hầu hết các trường hợp người ta có lựa chọn ít hiểu biết (ill-informed choice) như vậy, mọi nỗ lực khuyên bảo của mình không có tác dụng.

5.  Sốc văn hóa ngược và những nguy cơ bất định

Việc du học mà học không đúng thứ cần học như trên dễ dàng dẫn đến việc thất nghiệp hoặc học xong ở nước ngoài rồi vẫn đi làm nghề không phù hợp ngành học. Kết quả là không áp dụng bao nhiêu công sức và kĩ năng cứng học được ở nước ngoài. May mắn là sẽ vẫn áp dụng được các kĩ năng mềm đã học hoặc phát triển được, nếu như khóa học và bản thân người học tạo điều kiện phát triển các kĩ năng này. (Nếu người học không học thì đương nhiên chỉ còn cách ngửa mặt lên trời mà cười nhá 😊 )

Một vấn đề nữa khiến cho các tân thạc sỹ thất nghiệp là bằng cấp “cao không tới, thấp không thông”. Không phải công việc nào cũng cần tới bằng thạc sỹ để làm tốt. Nhiều công việc chỉ cần kiến thức ở bậc đại học và kinh nghiệm 2 năm để làm được. Chưa kể, cái mác thạc sỹ thường gắn liền với ấn tượng không hay về mức lương mong muốn. Qualified là tốt, underqualified hay overqualified đều là không tốt. Lúc này, câu chuyện lại quay về kĩ năng giao tiếp và “bán thân” (selling one’s self) có tốt không, có biết cách thương lượng không. Nếu tính toán kĩ và xa hơn, du học sinh thực ra đã phải hiểu rõ thị trường lao động trong ngành mình muốn làm việc sau này rồi mới đi học. Có như vậy mới tránh được những nguy cơ bất định như thế này.

Vấn đề thứ ba là sốc văn hóa ngược. Từ hồi về nước, mình đi xe máy chậm, cẩn thận và tập trung hơn trước rất nhiều. Ở Anh giao thông rất an toàn và mọi người đi rất đúng luật, nên khi về Việt Nam mình không thể quen được với cách đi của dân mình và lúc nào cũng trong trạng thái tập trung.

Đó mới là việc nhỏ. Việc to là mình không thể quen lại được cách làm việc của cơ quan cũ, một viện nghiên cứu thuộc Bộ Xây dựng. Chưa kể là câu chuyện nhân sự. Những người thuộc nhóm trí thức trẻ, hay ủng hộ mình hoặc ít ra trung lập, đều đã chuyển công tác hết. Sau một thời gian mình chính thức ngừng công việc ở đó và tiếp tục công việc nghiên cứu kiến trúc với tư cách độc lập và tự do 😊(Mặc dù lúc đề tên ở cái publication vẫn đề tên cơ quan vào chứ không để trống, cảm giác như thế thì nó “ăn cây nào rào cây nấy” hơn)

6.  Cái giá của thời gian và công sức chuẩn bị

Để đi du học được, cần phải chuẩn bị rất nhiều kiến thức và kĩ năng mềm mà nhiều người không nói cho du học sinh (hoặc bố mẹ của du học sinh). Chưa kể có những người phải chuẩn bị hồ sơ để xin học bổng toàn phần nữa. Thời gian chuẩn bị những thứ đó ít thì 5-7 năm, còn nhiều thì không bao giờ là đủ. Nếu nói chân tình rằng nên chuẩn bị du học từ lúc nào, tôi sẽ nói là ngay từ bây giờ.

Bạn bè tôi và tôi nhiều người chưa bao giờ đi ra khỏi Việt Nam, sao lại không có một chút xíu e ngại nào khi bước chân lên đất Anh?

Tại sao có người không được học viết luận cũng không làm luận văn ở đại học, mà sang Anh chưa bao giờ ngán ngại các môn phải viết nhiều?

Tôi bắt đầu học nói tiếng Anh lúc 15 tuổi, mà trước lúc sang Anh đã có thể nói với giọng rất giống người Anh? (Bây giờ thì đang cố tình nói không giống người Anh 😊))

Tất cả những thứ đó nằm xa hơn mấy câu chuyện ngoại ngữ hay điều kiện kinh nghiệm rất nhiều, và cái giá cho nó cũng không ít.

Muốn biết thì hãy … đọc phần tiếp theo.

Tài liệu tham khảo

[1] L. Hoang, “My UK Episode 3: “No pain, no gain”,” 2017. [Online]. Available: https://goo.gl/b9Sg54.
[2] L. Bridgestock, “How Much Does it Cost to Study in the US?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-us.
[3] S. Collier, “How Much Does it Cost to Study in Canada?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-canada.
[4] S. Collier, “How Much Does it Cost to Study in Europe?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-europe.
[5] J. Playdon, “How Much Does it Cost to Study in Australia?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-australia.
[6] J. Playdon, “How Much Does it Cost to Study in the UK?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-uk.

 

Comments

comments

Trả lời

error: Content is protected !!