Lợi ích của việc du học bậc cao học – Long D Hoang

Du học bậc cao học không giống như bậc đại học. Đại học là một bước nền tảng mà đa số mọi người (ít nhất là ở Việt Nam) sẽ trải qua. Hoặc nếu không học đại học mà đi làm, đa số người ta cũng sẽ … quay lại học đại học sau một thời gian.

Còn cao học không như thế. Bước tiếp thêm 1-2 năm nữa là một ván cược lớn hơn, bởi vì người ta phải chấp nhận bỏ dở những gì đã xây dựng được trong những năm làm việc trước đó. Hoặc nếu đi du học khi chưa có kinh nghiệm làm việc, xác suất chọn ngành không phù hợp là rất cao.

Tréo ngoe thay là rất nhiều người khi được hỏi tại sao lại chọn khóa học đó lại đưa lại rất nhiều câu trả lời hồn nhiên.

Thực ra chọn học cao học (hay bất cứ khóa học nào cũng thế thôi), người ta sẽ phải trải qua mấy bước:

  1. Biết mục đích và nguyện vọng của mình.
  2. Biết khóa học đem lại lợi ích gì.
  3. So sánh xem mục đích và lợi ích có khớp nhau không.
  4. Đánh giá mình có đủ khả năng để thu nhận và phát huy hết những lợi ích đó không. Nếu chưa đủ thì cần làm gì, bỏ ra bao nhiêu nữa để có đủ khả năng.
  5. Dựa trên phân tích chi phí – lợi ích rồi mới quyết định đi học.

Phần 5 của loạt bài về du học này sẽ được viết thành 3 phần nhỏ (hoặc có thể mình sẽ viết 2 phần tiếp theo thành phần 6 và phần 7): lợi ích của việc du học bậc cao học, một số mục đích phổ biến khi du học và so sánh chúng với lợi ích, và một số việc cần chuẩn bị để đảm bảo tận dụng được khóa học tốt.

Chú ý: Bài viết này chỉ dành cho những bạn đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam.

Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu

Một môn cực kì phổ biến mà gần như ai học cao học ở Anh cũng phải động vào đó là (Advanced) Research Methods. Nếu như ở Việt Nam, môn này được nhiều bạn học cho qua, thì ở Anh đó là môn phải học nếu muốn tốt nghiệp. Hồi học kì 1 ở University of Nottingham, mình được một giáo sư “cứng” về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội đứng lớp (sau cùng thì người ta vẫn xếp kiến trúc vào khoa học xã hội). Phương pháp của bà là 50% bài giảng, 50% workshop. Sau 10 tuần, sinh viên sẽ từng bước thực hành xây dựng đề cương nghiên cứu. Bài tập hết môn là viết một cái đề cương nghiên cứu dài 3,500 từ (hơi ít).

Đến kì 2, sinh viên sẽ ngay lập tức được áp dụng phương pháp lẫn kiến thức nguyên lý, chỉ số, chỉ báo vào môn Case Study. Tức là sẽ chủ động tự làm tất tần tật các công đoạn của một nghiên cứu nhỏ: lập đề cương và kế hoạch, đem dụng cụ và bảng hỏi ra thực địa để khảo sát, tổng hợp và phân tích thông tin, báo cáo định kì. Kết thúc là một cái báo cáo nghiên cứu viết theo format của một bài báo nghiên cứu khoa học.

Sang kì 3, sinh viên sẽ được tống vào mặt nhiệm vụ: nghiên cứu và viết một luận văn (ở Anh gọi là dissertation) dài 20,000 từ trong vòng hơn 3 tháng. Mục đích cuối cùng của Case Study và Dissertation không phải là để cho có, mà còn nhắm đến việc công bố ở dạng các bài báo nghiên cứu khoa học.

Cần chú ý một chút: các khóa thạc sỹ ở Anh thường xuyên hướng tới các môn dạy tư duy-phương pháp nghiên cứu và các môn khai phóng hàn lâm. Còn các khóa học thạc sỹ ở Mỹ lại hướng tới các kiến thức và kĩ năng để giữ các vị trí công việc chuyên nghiệp hơn.

Xây dựng mối quan hệ

Việc xây dựng mối quan hệ tốt với các giáo sư thông qua công việc trong chính chuyên ngành của họ thường ít được sinh viên đại học ở Việt Nam chú ý. Các bạn sinh viên học khoa học tự nhiên có vẻ khá hơn chút, chịu khó làm trợ lý nghiên cứu cho các thầy. Còn lại nhìn chung việc này không quá phổ biến.

Học cao học ở nước ngoài là cơ hội để các bạn … sửa sai, nhất là những bạn muốn làm nghiên cứu. Chỉ cần các bạn nhiệt tình, giáo sư sẽ hỗ trợ tận răng cho việc nghiên cứu của bạn. Sinh viên ở khóa mình thường xuyên được giáo sư hỗ trợ chuyển luận văn và case study thành các bài báo nghiên cứu. Hồi mình mới về Việt Nam, thầy chủ động nhắn mình gửi abstract cho hội nghị khoa học PLEA 2017. Sau đó suốt mấy tháng, trò viết, thầy duyệt, đi đi lại lại nhiều lần. Thầy sửa từ ý tưởng đến cả câu từ. Ai đã quen Long đủ lâu sẽ biết trình tiếng Anh và độ kĩ tính của Long gớm ghiếc thế nào. Thế mà thầy còn sửa cho đỏ toẹt cả bài. Lại có thêm một bài học nữa về chuyện “Know your audience”.

Xong nhiều lúc làm việc với bên hội đồng khoa học của hội thảo mà chỉ muốn … bóp cổ cái đứa đang viết email trả lời mình. Nhưng do thầy nhiệt tình quá nên mình lại bấm bụng. Cuối cùng cũng đăng được bài báo khoa học trên Kỷ yếu hội nghị.

Trường hợp như mình không hề hiếm. Tính đến nay đã có tầm 20 người được thầy cô mình hướng dẫn như vậy rồi. Có người tốt nghiệp xong 1 năm đã có bài nghiên cứu đăng trên Springer. Học trò đều là first author hẳn hoi, các thầy cô chỉ là second & third authors thôi.

Không chỉ trong nghiên cứu, các thầy cô còn sẵn sàng giới thiệu mình với các đơn vị hành nghề hay các cơ hội học tập khác. Việc các sinh viên đứng đầu khóa được các công ty kiến trúc tuyển dụng và bảo lãnh visa cho ở lại Anh là việc thường xuyên, gần như năm nào cũng có ở khóa mình. Còn sinh viên đi học PhD cũng không phải khó (nói thật, trong mắt mình là dễ) khi đã có mối quan hệ và các công bố khoa học như trên.

Thử sức trong phạm vi trường học

Các cơ hội để thử sức có thể đến từ bất cứ đâu. Bạn có thể tham gia các cuộc thi chuyên ngành, tham gia các câu lạc bộ (club hoặc society) của sinh viên, hoặc thử sức ở các vị trí làm việc cho trường. Nhiều bạn bè của mình trong lẫn ngoài cộng đồng Chevening đã làm trưởng khóa, tình nguyện viên, hoặc đại sứ sinh viên quốc tế cho trường.

Cái hay ở chỗ: các thầy cô hết sức hỗ trợ. Cô giáo môn Project 2 của mình thậm chí còn lấy chính đề bài của một cuộc thi kiến trúc quốc tế làm 1 trong 3 đề bài của môn học. Sinh viên nào chọn đề bài đó sẽ được hỗ trợ để chuyển đồ án thành một poster gửi đi dự thi luôn.

Hồi đó đội mình giành được giải nhất toàn UK (thực ra là vì chả có đứa nào thèm gửi bài dự thi thôi, mình đoán thế). Đội mình, cùng đội giải nhì được đi tham gia vòng chung kết ở Belarus. Không phải chuyện đi thi được giải hay không, mà là lần đầu tiên mình được đến khu vực các nước Liên Xô Cũ.

Mình được nói chuyện với những người mà cái gì cũng chỉ quy ra được Ruble hoặc US Dollar, thậm chí ít người trong số họ nói tiếng Anh giỏi. Họ không hề nghèo, thậm chí rất giàu. Nhưng họ nghèo cái khác.

Rồi mình được học hỏi những cách làm đồ án rất giàu cảm hứng. Họ thể hiện đồ án tốt đến nỗi mà thầy dẫn đoàn phải bảo “Tao tưởng như mình ngửi được không gian chúng nó vẽ ra”. Đó là cái mà mấy đứa học ở UK thiếu.

Cuối cùng là nhận ra tại sao hình như chả sinh viên kiến trúc nào ở mấy trường tốt ở Anh đi thi. Mà rộng hơn ra thì, có vẻ như chỉ có sinh viên Việt Nam hay các nước còn ở vùng trũng về học thuật mới vui vầy với nhau trong các cuộc thi quốc tế.

… và ngoài trường học

Đến Belarus là lần đầu tiên mình biết được dân Kazakhstan toàn người lai Á-Âu. Có những trường hợp đặc biệt như kiểu bố người Hàn Quốc, mẹ người Nga, và giờ cả nhà ở Kazakhstan :)) Và vì là con lai nên họ rất đẹp. Chỉ kì cục là riêng đám con trai Kazakh lại hơi bị … khiêm tốn về ngoại hình.

Đó cũng là lần đầu tiên được ờ trong khách sạn Marriott ở Minsk trong 3 ngày, ăn uống party bằng voucher của khách sạn hoặc được ban tổ chức chiêu đãi. Ai muốn đi chơi sẽ có xe đón rước đến tận trung tâm thành phố.

Hay ho hơn, một số bạn may mắn có cơ hội thực tập hay làm việc bán thời gian ở các vị trí phù hợp với ngành học. Một người bạn của mình đã từng thực tập marketing ở International Students House tại London. Các sinh viên ngành Environmental Design của mình cũng được giới thiệu cho nhiều công việc cộng tác với các công ty trong ngành trong các dự án rất thú vị, như tái sinh một khu ở đã bị bỏ hoang chẳng hạn. Sau các kinh nghiệm như vậy, khả năng được các công ty tuyển dụng đương nhiên rất cao.

Quan trọng hơn cả: những cơ hội này rất phù hợp với mục tiêu học hỏi chuyên ngành, và nó sẽ đến với những người chịu bỏ công sức làm việc nghiêm túc.

Chuẩn hóa kiến thức và bằng cấp

Nói gì thì nói, một lợi ích hết sức thực tế của việc đi học nước ngoài là lấy một bằng cấp được thế giới công nhận.

Ở Anh, có 24 trường nằm trong một nhóm gọi là Russell Group, gồm các trường đại học dẫn đầu UK luôn đảm bảo duy trì chất lượng nghiên cứu tốt nhất và dạy-học vượt trội, cùng với các mối liên kết mạnh với khu vực công và hành nghề tư nhân. Hầu hết các trường này nằm trong top 100 hoặc 150 của các bảng xếp hạng QS và THE. Rất nhiều học giả Chevening đã chọn học tại các trường này. Đặc biệt UCL và LSE – các trường hàng đầu về khoa học xã hội, kinh tế học, luật, đều có tới cả trăm Chevener theo học mỗi năm.

Từ chỗ tốt nghiệp ở các trường thậm chí còn chả được xếp hạng, đến chỗ được vào top 100 hoặc thậm chí top 10, là một bước nhảy vọt rõ ràng.

Hơn nữa, một bộ kiến thức vững vàng là hành trang … xóa mù dài hạn. Điểm mạnh của kiến thức này không phải là nó có tính thực dụng cao, học xong là áp dụng được ngay. Điểm mạnh của nó là những người thực sự hiểu và biết cách tư duy sẽ vận dụng nó vào được mọi vấn đề. Phương pháp tư duy nghiên cứu khoa học xã hội mà tôi được học là một trong những thứ như vậy.

Tự do để học, học để tự do

Việt Nam chưa có đủ tài nguyên để sinh viên được có tự do học thuật. Cách tổ chức và quy định chương trình không cho phép sinh viên khám phá nhiều môn tự chọn. Và ngay cả khi có cơ hội, sinh viên cũng không được chọn những môn có tính khai phá tư duy như nhân quyền hay nhân chủng học. Chưa kể là cơ sở vật chất và con người còn hạn chế.

Còn ở Anh, nhiều chương trình thạc sỹ có các môn tự chọn để sinh viên thoải mái chọn theo hướng nghiên cứu hoặc phát triển nghề nghiệp của họ. Ví dụ như một người học về Educational Leadership & Management ở UCL hoàn toàn có thể chọn môn “vĩ mô” như Values, Vision and Moral Purpose hoặc môn “vi mô” như Developing Personal Leadership Skills.

Sinh viên cũng có quyền hẹn gặp với bất cứ giáo sư nào trong các khung giờ giáo sư tiếp sinh viên. Chỉ cần đến phòng của giáo sư và điền tên mình vào khung giờ đó. Việc tiếp và giải đáp thắc mắc của sinh viên là trách nhiệm của các giáo sư.

Trường cũng cung cấp một loạt khóa học ngắn hạn miễn phí gọi là in-sessional courses. Rất nhiều khóa học trong đó hỗ trợ phát triển các kĩ năng mềm thực dụng như: tiếng Anh (yeah, lại tiếng Anh), viết luận văn, viết luận. Mình cũng đã tham gia hai khóa học về presentation và dissertation writing như vậy.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu ở các đại học tốt thì phong phú khỏi phải nói. Sinh viên có thể sử dụng tài khoản sinh viên để truy cập vào hầu hết các kho bài nghiên cứu khoa học trên thế giới, đọc và download hoàn toàn miễn phí. Thư viện có hàng chục nghìn đầu sách với đủ kiểu vị trí ngồi học. Bạn được quyền ồn ào ở chỗ học nhóm. Còn ở khu đọc chuyên ngành hoặc phòng đọc riêng, người ta giữ yên lặng đến mức nghe thấy tiếng thẻ rơi trên thảm.

Và nếu bạn chọn một trường thuộc “nhóm tốt”, bạn sẽ thấy chương trình của họ tập trung nhiều vào việc phát triển con người có tư duy độc lập và phản biện, để nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và tự do hơn. Họ không muốn tạo ra các nô lệ cho công việc chỉ đi học để lấy công cụ thực dụng làm việc. Cái gọi là môi trường học thuật mà người ta ca ngợi ở các nền giáo dục tiên tiến, thực chất là từ mục tiêu tạo ra con người biết cách suy nghĩ, khám phá, phát triển và thuần thục chính bản thân.

Tóm lại, các lợi ích của việc du học bậc cao học ở Anh (và có thể ở các nước phát triển khác) là:

  • Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu.
  • Xây dựng các mối quan hệ.
  • Thử sức để học hỏi trong và ngoài trường học.
  • Nâng cao và chuẩn hóa kiến thức lẫn bằng cấp.
  • Học để tự do.

Hi vọng các bạn cảm thấy phần này bổ ích mặc dù nó hơi dài. Hẹn gặp lại ở phần tiếp theo, liên quan chặt chẽ tới phần này 😀

Comments

comments

Trả lời

error: Content is protected !!