Những cú sốc khi du học Mỹ

Trong cuốn sách “Du học không khó” của mình, tôi cũng đã dành hẳn một chương cuối của cuốn sách để chia sẻ về những khó khăn mà các bạn du học sinh cần phải lường trước khi quyết định đi du học. Bài viết dưới đây là  một chia sẻ của một bạn du học sinh, hy vọng nó sẽ cho các bạn một cái nhìn đa chiều về sự thật du học.

—-

Không đơn giản chỉ là xách ba lô lên và đi, bên cạnh nhiều bạn trẻ “vinh quy bái tổ” thì không ít bạn sớm bị “nốc ao” khi du học Mỹ.

Nhiều bậc phụ huynh lẫn các bạn học sinh, sinh viên Việt Nam rất quan tâm đến cuộc sống du học sinh tại Mỹ. “Giấc mơ Mỹ” đã sớm trở thành mục tiêu của nhiều người, với nền giáo dục tiên tiến bậc nhất thế giới và môi trường làm việc rất tiềm năng. Nhưng nếu không tỉnh táo, những “cú sốc” có thể khiến bạn gục ngã hoặc sống và học tập một cách lay lắt.

Không học nổi vì yếu ngoại ngữ

 

Một cựu du học sinh từng học tại Mỹ từ THPT đến hết ĐH ngành giáo dục chia sẻ: “Chuyện học hành là thứ khiến sinh viên Việt Nam sốc nhất. Có sinh viên, như tôi, phải mất hết một học kỳ mới bắt được nhịp điệu chung với mọi người. Có bạn mất nhiều thời gian hơn, thậm chí gãy gánh giữa đường, không cán đích tốt nghiệp”.

Nguyên nhân chính là không thể hòa nhập được môi trường học thuật. Cụ thể, nhiều bạn thiếu ngoại ngữ mà vội vàng đăng ký đi học. Đừng nghĩ rằng cứ qua Mỹ thì giỏi ngôn ngữ. Chuyện nghe nói, giao tiếp bình thường đã không rành thì đừng nói gì chuyện học. Trong khi đó, việc đầu tư cho môn học tại Mỹ như nhiều quốc gia phát triển khác cũng khá đặc thù. Học viên phải xem bài rất nhiều trước khi đến lớp, đến thư viện thường xuyên… Do ngoại ngữ yếu học sinh Việt “đụng đâu cũng khó hiểu”, đặc biệt là các môn có tính chuyên ngành, việc tiếp thu bài sẽ khó khăn.

Hình thức đánh giá sinh viên tại Mỹ chú trọng đến khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tế thông qua viết luận, thuyết trình, làm dự án.Công việc này yêu cầu khả năng tự học, tự nghiên cứu, tương tác xã hội, trình bày độc lập rất cao. Phương pháp giáo dục, đào tạo ở Mỹ đòi hỏi sinh viên phải phát huy tối đa tính tự giác.

Thầy chỉ đóng vai phụ

 

Lớp học tại Mỹ như một quán cà phê học thuật, các giáo viên chỉ “đóng vai phụ”. Họ đưa ra câu hỏi hay vấn đề, còn nhiệm vụ của học viên là thay phiên nhau đưa ra quan điểm, phản biện, tranh biện. Học viên không cần giơ tay mà tự giác phát biểu đóng góp cho bài học một cách tự nhiên. Giáo viên chỉ điều phối, đưa ra kết luận chung cho bài học hay giải đáp thắc mắc.

Trong khi đó tại Việt Nam, hình thức “thầy giảng-trò chép” vẫn còn phổ biến suốt thời gian dài. Ý thức tự giác, khả năng tự tin, tính chủ động của học viên còn thiếu. Nhiều bạn Việt Nam sang Mỹ co rụt lại vì sợ nếu phát biểu sẽ khiến người khác xem thường.

Phải có người đỡ đầu và bạn thân

 

Đa phần các học viên tại Mỹ đều có “người đỡ đầu” đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn học tập và nghiên cứu. Những “người đỡ đầu” thường là các giáo sư, giảng viên trực tiếp giảng dạy. Một sinh viên chủ động và cầu tiến sẽ tìm đến sự hỗ trợ từ nhiều “người đỡ đầu” khác nhau, theo nhu cầu của chương trình học. Cũng có người chọn và thuyết phục được những “người đỡ đầu” hỗ trợ, tư vấn họ suốt quá trình nghiên cứu chuyên ngành. Thậm chí nếu làm việc tốt và có tiềm năng, có người còn được các giáo sư tạo điều kiện cho làm việc có thù lao.

“Người đỡ đầu” cũng giúp bạn hiểu được “người dạy cần gì từ học viên”. Mỗi người dạy học sẽ có một cách tiếp cận khác nhau trong khoa học và đánh giá kết quả bằng nhiều cách khác nhau. Nếu hiểu được điều này, bạn có thể tập trung đạt các kết quả quan trọng và cốt yếu. Thực tế là nhiều học sinh rất e ngại, rụt rè. Nhưng nếu không chủ động và tự tin thì đừng nghĩ các giáo sư sẽ tìm đến hỗ trợ mình.

Bạn thân cũng là yếu tố quan trọng giúp hòa nhập, đạt kết quả tốt. Làm việc nhóm là hình thức phổ biến trong môi trường giáo dục. Để thích nghi nhanh, tiếp cận nhiều nguồn tài liệu phù hợp, hiểu văn hóa học tập, được hỗ trợ khi khó khăn… bạn cần chủ động tạo ra các mối quan hệ đồng môn, có được những người bạn thân dù là người bản xứ hay sinh viên nước khác.

Tam giác bản thân – thầy cô – bạn bè sẽ tạo ra “kiềng ba chân” giúp bạn cân bằng, thích nghi, phát triển.

Theo Pháp luật TPHCM

Tìm hiểu về ngành Economics – Learn more about Ecocomics study

ECONOMICS

I/ Giới thiệu ngành Kinh Tế học 

Nghiên cứu kinh tế ở bậc nghiên cứu sinh (PhD hay doctorate) là sự giao thoa giữa các phương pháp nghiên cứu các chuyên ngành tự nhiên, kỹ thuật và xã hội. Bạn có thể tìm thấy trên các top journal về kinh tế các bài báo có phong cách giống như các bài nghiên cứu về math, CS/EE hoặc law và sociology. Để theo học PhD kinh tế, bạn không cần có background về kinh tế. Dù học đại học ở bất kỳ chuyên ngành nào, bạn đều có thể nộp hồ sơ xin học PhD về kinh tế học. Tuy nhiên, bạn cần có khả năng học toán ở mức độ tối thiểu nào đó (tuỳ theo yêu cầu của từng trường), để có thể sống sót qua các kỳ thi prelim và QE, trước khi muốn theo đuổi hướng nghiên cứu ưa thích của mình.

Các chuyên ngành :

Economic History & Thought
Econometrics
Microeconomic Theory
Labor & Consumer Economics
IO / Business Economics
Public Economics
Macroeconomics
Trade & Development
Financial Economics
Resource & Agricultural Econ

1. Phân biệt kinh tế học với các ngành khoa học khác 

Kinh tế và Quản lý ở Việt nam thường bị hiểu lẫn lộn, trong khi người Mỹ phân biệt rõ ràng hai nhóm ngành này. Khoa Kinh tế ( bao gồm các ngành Macro Economics, Micro Economics, International Economics, Development, Game Theory, Econometrics.v.v…) thường nằm trong School of Art & Science. Trong khi đó các ngành quản lý, kinh doanh (finance, accounting, marketing, insurance… và các ngành management) thường nằm trong School of Business, hay còn gọi là B-school.
Nghiên cứu Economics đỉnh cao thường chú trọng vào theoretical. Cụ thể là các trường hàng đầu có nhiều công trình nghiên cứu về theoretical hơn là empirical. Đa số các công trình nghiên cứu được giải Nobel cũng là về theoretical economics. Trong khi đấy, nghiên cứu ở B-school thường chú trọng vào empirical nhiều hơn. Tiêu chí tuyển chọn của các khoa Economics và B-school cũng khác nhau. Nộp hồ sơ vào Economics cần thi GRE, còn B-school cần thi GMAT.
Thậm chí, người Mỹ còn phân biệt Economics và Agricultural & Resource Economics là hai khoa khác nhau, với các tiêu chí tuyển chọn khác nhau.
Một lẫn lộn khác thường thấy là giữa các nghiên cứu về economics policies của khoa Economics và của khoa Public policies/management. Các bài báo ở trên các tạp chí kinh tế của Việt nam, các báo cáo của World bank, IMF, báo cáo Lựa chọn thành công của nhóm Harvard Fulbright Việt nam đều không phải là các paper chuẩn mực về kinh tế. Đấy chỉ là các bản tóm tắt các kết quả nghiên cứu kinh tế, các đề xuất chính sách dựa trên kinh nghiệm và dự báo, đã lược bỏ rất nhiều các công cụ/kỹ thuật định lượng, bởi không cần thiết đối với các độc giả không chuyên.
2. Vai trò của định lượng trong nghiên cứu kinh tế. 

Kinh tế thường được xếp vào nhóm ngành social sciences, do đặc thù nghiên cứu về xã hội. Tuy nhiên, các tiêu chí tuyển chọn ở bậc sau đại học, phương pháp học và nghiên cứu kinh tế, có lẽ thiên về nhóm Engineering nhiều hơn.
Kinh tế không phải là ngành chú trọng ngôn ngữ mà thiên về toán và định lượng. Điểm ngôn ngữ admission vào các khoa kinh tế thường khá thấp, tối thiểu chỉ cần TOEFL 550PBT/213CBT, hoặc GRE verbal 300 trở lên (mặc dù để được nhận financial aid, bạn cần TOEFL 600/250 trở lên giống như mọi ngành khác). Trong 3 năm đầu tiên học coursework, phần định lượng, bao gồm các kỹ thuật toán và định lượng, mô hình hóa, lập và giải các hệ phương trình, chứng minh các định lý, bổ đề, chiếm khoảng 90% thời gian. Phần phân tích, bình luận định tính chỉ chiếm khoảng 10% thôi.
Số lượng paper bắt buộc phải đọc ở mỗi courses cũng khá ít, chỉ khoảng 8-10 paper cho mỗi học kỳ, (mặc dù danh sách paper đọc thêm cũng khá nhiều). Tuy nhiên, khối lượng các công cụ và kỹ thuật định lượng cần học để hiểu hết các paper rất lớn, cho nên các khoa kinh tế thường không đủ thời gian để chú trọng vào phần đọc và viết bình luận như nhiều ngành xã hội khác. Các nghiên cứu sinh thường phải tự hoàn thiện các kỹ năng này khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
Cũng chính vì tuyển chọn Phder thiên về khả năng định lượng, không cần kinh nghiệm làm việc, cho nên sinh viên trẻ, đầu 2x, chiếm đại đa số ở bậc Phd. Các khoa kinh tế cũng rất khuyến khích các sinh viên có background về math, physics và engineering chuyển sang học Phd, bởi họ cho rằng những người này có background vững về định lượng. Thông thường, số sinh viên này chiếm khoảng 50-70% ở bậc Phd về kinh tế ở mỗi khoa.
Có thể nói không ngoa rằng, độ khó và độ nặng về mặt định lượng của khoa kinh tế không hề thua kém bất kỳ ngành Engineering nào.
Đến đây một số người sẽ thắc mắc, tại sao nhiều người có background ở các ngành ít định lượng, (ví dụ như văn học, ngôn ngữ, lịch sử, hay âm nhạc, hội họa…) cũng có thể chuyển sang học Phd về kinh tế? Điều này có một số nguyên nhân:
+ Một số người có chỉ số IQ cao, có thể học tốt ở nhiều ngành hoàn toàn khác nhau. Vì lý do nào đó, họ chọn các ngành ít thiên về định lượng ở bậc đại học. Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ vào bậc Phd, hồ sơ của nhóm người này sẽ bị săm soi rất kỹ về năng lực toán học. Nếu thiếu nhiều các credit về toán hoặc các điểm đó không cao thì sẽ chắc chắn không thể có admission. Thông thường, những người có background ít các môn toán đều phải lấy thêm 1 số các credit về toán ở bậc đại học và/hoặc sau đại học, và phải chứng minh được năng lực toán của mình trên bảng điểm khi nộp hồ sơ Phd.
Một ví dụ thành công điển hình trong nhóm này là Robert Lucas. Ông này học đại học về lịch sử. Sau đó lấy thêm 1 số credit bậc under và grad về math ở Berkeley rồi vào học Phd Chicago. Cuối cùng, ông đoạt giải Nobel kinh tế năm 1995.
+ Tuy nhiên, admission mới chỉ là một nửa câu chuyện. Bậc Phd kinh tế thậm chí rất khác so với hình dung của những người có background đại học về kinh tế. Chính vì vậy, các khoa kinh tế còn có thêm 1 kỳ thi gọi là thi Prelim ở cuối năm thứ 1 để loại ra những người không phù hợp, bên cạnh kỳ thi Qualifying Exam (cuối năm 2, 3 hoặc 4 tùy theo quy định của từng trường). Kỳ thi prelim này thậm chí còn quan trọng hơn kỳ thi Q.E nhiều, do tính chất khốc liệt của nó (có thể loại từ 30-60% sinh viên Phd của khoa, tùy theo từng năm và từng trường). Năm đầu tiên, Phder về kinh tế thường học 7 courses. Các course này đều chú trọng bổ túc kiến thức về math và định lượng. Những người không có năng khiếu hoặc chưa chuẩn bị tốt các course về math sẽ khó có thể vượt qua được kỳ thi này.
+ Sau khi vượt qua năm thứ nhất, hai năm học coursework tiếp theo, sinh viên vẫn tiếp tục được bổ xung các phương pháp/kỹ thuật định lượng. Mặc dù tên các môn học là macro, micro, financial economics…nhưng nội dung chủ yếu được giảng dạy vẫn là các kỹ thuật định lượng và mô hình hóa. Sinh viên chỉ được giải thích về các khái niệm/thuật ngữ cơ bản để sử dụng trong quá trình mô hình hóa. (Nhiều khi, giáo sư cũng chẳng giải thích mà chỉ viết hệ phương trình lên bảng rồi giải ào ào. Sinh viên phải có nghĩa vụ tự tìm hiểu các khái niệm ấy). Các kiến thức thực tế về kinh tế vỹ mô, vi mô, tài chính, phát triển…hầu như không được giảng, hoặc chỉ được giảng rất ít, trong quá trình học. Sinh viên Phd phải tự đọc khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
+ Cuối cùng là khác với các ngành Engineering, có thể bắt tay vào research ngay từ năm thứ 1, sinh viên Phd Economics hầu như chỉ bắt đầu research từ năm thứ 3, sau khi đã học gần xong các công cụ/kỹ thuật định lượng. Ngoài ra, số courses bắt buộc đối với 1 Phd về kinh tế thường cũng nhiều hơn các ngành Engineering. Đấy là lý do vì sao các sinh viên có background yếu về định lượng vẫn có thể theo học Phd về kinh tế.
Các bạn có thể xem các G.S Athey và G.S Mankiw nói về lý do cần chú trọng math trong kinh tế:http://kuznets.harvard.edu/~athey/imagineart.html hoặc http://gregmankiw.blogspot.com/2006/…need-math.html
Các môn toán ở bậc đại học mà sinh viên VN cần nắm vững trước khi nộp hồ sơ Phd kinh tế là: đại số tuyến tính, quy hoạch tuyến tích, phương trình vi phân/phương trình đạo hàm riêng, giải tích số & hàm, hình giải tích, xác xuất & thống kê, giải tích lồi, và ở bậc sau đại học là giải tích thực, giới thiệu nhập môn về topo và lý thuyết trò chơi (nếu có thể).
Ngoài ra, hai cuốn sách có thể tham khảo là Fundamental Methods of Mathematical Economics, của Alpha Chang và Mathematics for Economists của Carl P. Simon and Lawrence Blume.
Yêu cầu tối thiểu về năng lực toán của mỗi trường mỗi khác, (Yêu cầu của Harvard hẳn là khác với trường rank 50 và càng khác với trường rank 100). Tuy nhiên, khối lượng chương trình học Phd khá nặng, nếu các bạn có thể chuẩn bị trước được các courses này trước khi vào học Phd thì sẽ tốt hơn nhiều. Ngay cả các giáo sư hàng đầu của Mỹ thời đi học cũng thường chuẩn bị như vậy.
Năng lực toán chỉ là điều kiện cần, không đủ để đảm bảo thành công trong nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhấn mạnh việc chuẩn bị tốt các kiến thức toán bởi tôi từng biết nhiều sinh viên VN đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học Phd Econ.
Ngoài ra, không phải vô lý mà đa số các giải Nobel kinh tế được trao cho những người đã từng có background về toán (BA/MA/PHD). Ở bài trước tôi đã từng viết, những paper nghèo về mặt định lượng cũng có thể xuất hiện trên các top journal về kinh tế. Tuy nhiên, đó phải là các paper mang tính đột phá, đặt nền móng cho một nhánh nghiên cứu hoàn toàn mới hoặc cho một ngành kinh tế mới. Có nghĩa là yêu cầu cao hơn đối với các paper thiên về định lượng.
II/ Xếp hạng các chương trình Kinh Tế học 

Có rất nhiều bảng xếp hạng khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tựu chung thường có hai cách đánh giá. Cách thứ nhất là xếp hạng dựa vào các bài báo mà mỗi khoa/viện kinh tế đăng báo (ranking based on publication capacity). Cách thứ hai là dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào được những khoa/viện kinh tế hàng đầu (ranking based on PhD placements).
Cả hai phương pháp này đều có những thiếu sót.
Đối với phương pháp dựa vào số bài báo đăng, có những khoa kinh tế không có nhiều giáo sư thật sự xuất sắc nhưng nhờ có số lượng giáo sư nhiều nên dẫn đến số lượng bài báo đăng nhiều, xếp hạng cao hơn một số khoa khác mặc dù có ít giáo sư hơn nhưng chất lượng giáo sư cao hơn hẳn. Một ví dụ khác đó là khi mà các trường nằm cạnh nhau và các khoa kinh tế của các trường cùng hợp tác để hướng dẫn chương trình nghiên cứu sinh thì xếp hạng này càng khập khiễng vì nó chỉ xếp hạng từng trường riêng rẽ. Ví dụ như Stockholm Doctoral Program in Economics do hai trường Stockholm University và Stockholm School of Economics hợp tác hoặc Berlin Doctoral Program in Economics and Management Science do một nhóm trường đại học ở Berlin hợp tác.
Tương tự, đối với phương pháp xếp hạng dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào những khoa/viện kinh tế hàng đầu, có những khoa kinh tế thật sự xuất sắc ở một lĩnh vực nhỏ và do đó có một vị trí tốt trên bảng xếp hạng. Ví dụ trong bài báo “Ranking Economics Departments Worldwide based on the basis of PhD Placement” của Rabah Amir và Malgorzata Knauff năm 2005, Pennsylvania State University có một ví trí khá cao, hơn hẳn Columbia University và New York University, nhưng lĩnh vực kinh tế vĩ mô của khoa kinh tế Pennsylvania State University rất yếu (vào thời điểm năm 2009) so với Columbia University và New York University.
Ngoài ra, môi trường học thuật của một trường đại học rất quan trọng. Những trường có những khoa kinh tế nhỏ nhưng chất lượng có giá trị hơn là những trường có số lượng giáo sư đồ sộ nhưng không ai thật sự xuất sắc.
Những bảng xếp hạng đáng tin cậy và nên tham khảo đó là:
– Economics của US News & World Reports.
– Rankings at IDEAS.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với một nghiên cứu sinh đó là người hướng dẫn. Do đó, sau khi xem xét sơ các bảng xếp hạng, bạn hãy chọn một danh sách các trường nhắm vào, sau đó vào từng trang web của trường để xem CV của từng giáo sư, nếu có thời gian xem luôn vị trí mà các sinh viên sau khi tốt nghiệp từ trường nhận được là gì (placement). Khả năng đăng được các bài báo ở các tạp chí hàng đầu nói lên trình độ của giáo sư. Vị trí mà các giáo sư đã từng nắm giữ cũng rất quan trọng; một giáo sư từng giữ vị trí cố vấn chính phủ hay các định chế quốc tế như IMF hay World Bank thường có kinh nghiệm dồi dào, và quen biết rộng (rất có ích khi bạn ra trường và cần một thư giới thiệu).
Khi nộp đơn bạn nên chọn ra một danh sách các trường gồm 3 loại:
– Trường trong tầm tay.
– Trường xa tầm tay một chút.
– Trường chắc chắn vào được.
III/ Một số vấn đề cần lưu ý khi nộp hồ sơ

Ngoài quy trình nộp hồ sơ hệ sau đại học dành chung đối với sinh viên Việt Nam nộp hồ sơ tới các trường đại học Mỹ theo chương trình Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ, một số vấn đề khác trong quá trình nộp hồ sơ ngành kinh tế học cũng cần lưu ý.
1. Các môn học cần chú trọng ở hệ đại học 

Các trường quan tâm nhiều hơn đến việc bạn đã học và vượt trội trong các môn học khó như thế nào hơn là điểm GPA nói chung. Bạn nên đề cập tới trong SOP của mình vì các trường sẽ không thể biết được các lớp toán như thế nào, và lớp nào là lớp nâng cao vv. Môn phân tích cũng là một điểm quan trọng mà bạn nên đề cập trong hồ sơ, vì nó đòi hỏi bạn cần có những chứng minh logic và có tính quy chuẩn. Thông thường các ứng viên nặng kí là những người có điểm mạnh gì đó, ví dụ như giỏi toán hoặc có luận văn xuất sắc, có bài nghiên cứu nổi bật. Một số điểm thấp trong năm đầu sẽ không làm hồ sơ của bạn kém đi nếu như bạn học tốt trong các lớp nâng cao trong các năm sau đó.
2. Thư giới thiệu 

Một lá thư giới thiệu tốt nhất là từ các nhà kinh tế học có liên hệ với trường mà bạn đang nộp hồ sơ. Tuy nhiên, một lá thư giới thiệu từ người mà bạn đã làm việc cùng sau khi tốt nghiệp đại học cũng rất hữu ích để đề cập đến sự trưởng thành và thái độ làm việc của bạn vv. Nếu bạn không có mối quan hệ nào với các giáo sư kinh tế (ví dụ bạn là sinh viên ngành toán) hoặc nếu bạn học ở một trường đại học mà không có người nào trong khoa của bạn có mối liên hệ với các chương trình PhD hàng đầu, bạn vẫn có cơ hội được nhận (admission) nếu như các phần khác trong hồ sơ của bạn thực sự nổi trội. Điểm GRE, điểm học các môn nặng về toán, và essay được chú trọng nhiều hơn và nên cố gắng để hội đồng tuyển sinh đánh giá đúng các yếu tố đó của bạn. Một lá thư giới thiệu tốt nên có sự so sánh giữa bạn với các sinh viên khác trong các chương trình cao học hàng đầu, ví dụ để xin học được ở Harvard hay MIT, lá thư giới thiệu cần phải chỉ rõ bạn khác biệt như thế nào so với các sinh viên đã học và thành công trong các chương trình này. Đối với sinh viên quốc tế, việc đánh giá bảng điểm trở nên khó khăn hơn, vì vậy các so sánh này càng phải chú trọng. Các câu nhận xét cần đề cập một cách cụ thể như là so sánh khả năng phân tích, học các môn học, chất lượng luận văn …
3. Bài luận

Trong hồ sơ xin học, việc đề cập đến lĩnh vực kinh tế mà bạn quan tâm, và các bài báo mà bạn đã đọc rất quan trọng. Cố gắng càng chi tiết càng tốt. Bạn cũng có thể đề cập đến luận văn hoặc là kinh nghiệm nghiên cứu của mình. Không cần thiết phải có một đề xuất nghiên cứu cụ thể nào đó, đặc biệt khi bạn cũng không thực sự có ý tưởng gì cụ thể nhưng lại thể hiện trong hồ sơ một cách ngây ngô. Phần lớn các trường chỉ đọc những phần này để xem bạn quan tâm đến lĩnh vực nào và có ý niệm liệu bạn thực sự muốn đi sâu vào lĩnh vực nào. Vì vậy bạn cần đề cập một cách thông minh về đề tài mình quan tâm để tỏ ra là bạn hiểu biết một chút gì đó về lĩnh vực nghiên cứu sắp tới.

4. GRE 

Điểm phần qualitative của GRE khá quan trọng vì vậy bạn cần chú trọng khi ôn thi hơn, đặc biệt đối với những bạn không phải chuyên ngành kinh tế ở hệ đại học.
5. Liên hệ giáo sư 

Bạn không nên liên hệ giáo sư tại trường mà bạn nộp hồ sơ tới trước khi có chấp nhận học (admission). Việc tìm hiểu về advisor cũng rất quan trọng vì đây là người ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình nghiên cứu học tập và tương lai công việc của bạn sau này.

IV/ Học bổng và các nguồn hỗ trợ tài chính 

Chương trình học bổng Fulbright: vietnam.usembassy.gov/fulbright.html
Học bổng assistantship cho chương trình Master’s:

  1. University of Cincinnati.
  2. University of New Hampshire
  3. Northeastern University.
  4. Northern Illinois Univ
  5. Portland State University
  6. Wright State University

V/ Một số điều cần lưu ý trong quá trình học tập 

1. Tìm chủ đề nghiên cứu 

Thông thường, một sinh viên PhD Econ cần có 3 working papers, trước khi có thể bắt tay vào viết dissertation. Dưới đây là hướng dẫn của G.S Don Davis về tìm chủ đề cho paper và dissertation (cho cả theoretical và empirical research).
www.columbia.edu/~drd28/Thesis%20Research.pdf
2. Phương pháp học và chuẩn bị cho các kì thi 

Chương trình Phd kinh tế của các trường ở Mỹ khá khắc nghiệt, không chỉ do khối lượng chương trình học mà còn do các kỳ thi Prelim (năm thứ 1) và Q.E năm (thứ 2 hoặc 3 tùy theo quy định của từng trường). Tất cả các sinh viên trong khoa đều phải tham dự kỳ thi prelim cùng một lúc và với nội dung giống nhau, bất kể mỗi người trong số họ dự định theo đuổi hướng nghiên cứu nào sau đó.
Matthew Pearson nêu một số kinh nghiệm để tồn tại ở bậc PhD và hướng dẫn chuẩn bị cho các kỳ thi lớn. Ngoài ra G.S Hal Varian và Jonathan Shewchuk nêu các kinh nghiệm xây dựng các mô hình kinh tế và chuẩn bị academic talks.
www.econphd.net/downloads/mp_surv.pdf
people.ischool.berkeley.edu/~hal/Papers/how.pdf
3. Viết paper 

G.S Cochrane hướng dẫn rất tỉ mỉ cách viết paper trong khi G.S Kremer bổ xung một danh sách những điều cần lưu ý trong quá trình viết.
http://faculty.chicagobooth.edu/john…er_writing.pdf
http://www.economics.harvard.edu/fac…/checklist.pdf
4. Đăng bài trên các tạp chí chuyên ngành 

Paper đăng trên Top Journal có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xin việc làm và xét duyệt tenure. Thời hạn trung bình để được đăng một bài báo thuộc ngành kinh tế trên Top Journal cũng khá dài so với nhiều ngành khác. (Trung bình từ khi nộp đến khi bài được đăng là 3 năm. Trong khi mỗi assistant prof phải đăng tối thiểu 1-4 bài, tùy theo quy định của từng trường. Và thời gian cho phép họ đăng đủ số bài để được nhận tenure là khoảng 6 năm). Bởi vậy sức ép lên các assistant prof khá nặng nề. Các sinh viên PhD còn đang ngồi trên ghế nhà trường cũng phải chuẩn bị đăng bài từ rất sớm, nếu như họ muốn theo đuổi nghiệp nghiên cứu sau khi tốt nghiệp.
Prof Kwan Choi hướng dẫn đăng bài trên Top Journal.
http://www.roie.org/howi.htm

VI/ Chuẩn bị tốt nghiệp và tìm việc làm 

G.S Cawley và Laibson hướng dẫn về quảng cáo thông tin tìm việc, phỏng vấn tìm việc làm ở Mỹ cho các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp PhD:
http://www.economics.harvard.edu/files/LaibsonNotes.pdf
http://www.aeaweb.org/joe/articles/2003/cawley_2003.pdf
Các bạn cũng có thể tìm thấy trên trang của NBER, hồ sơ của rất nhiều các PhD candidate đang là đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường việc làm.
http://www.nber.org/candidates/
VII/ Một số lời khuyên dành cho các bạn khi xin học ngành Kinh tế học tại Mỹ 

FAQ?
General Advice From Current Economics PhD Students To Eager Undergrads
How do you set yourself apart from the pack when applying to grad schools.
Some answers to the “set yourself apart” question from current PhD students
How many grad schools should you apply to and how do you choose which schools.
Some answers to the “How Many” question from current PhD students.http://dinhvutrangngan.com/advice.htmlhttp://dinhvutrangngan.com/teaching… for Applying to Grad School in Economics.pdf Website:
http://www.urch.com/forums/phd-economics/
[1]www.econphd.net/
The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 1969-2006
nobelprize.org/nobel_prizes/economics/articles/lindbeck/index.html
Prof Dan Hamermesh cũng cho một số lời khuyên chung về các vấn đề đã nêu ở các mục trên.
http://www.eco.utexas.edu/faculty/Ha…conomists.html

Du học Hoa Kỳ – đọc hết trước khi đi

Track session presentations

Below are the presentations materials for previous track sessions at AAEA General Meetings. Presentations are generally available as powerpoint files (.ppt and .pptx) and handouts (in pdf format) are available for some of the presentations. Some presentations have been stripped of images in order to make them sufficiently small for download.
2010 Presentations

2009 Presentations

2008 Presentations

2007 Presentations

2006 Presentations

2005 Presentations

2004 Presentations

Du học là gì từ góc nhìn của các du học sinh…

Du học có nghĩa là mổi buổi sáng thức dậy, cảm giác đầu tiên sẽ là sự cô đơn, rồi tự hỏi mình đang ở đâu và sắp làm gì. Nhìn ra cửa sổ thấy sương lạnh buốt và biết mình có một ngày dài để chiến đấu. Nghe tiếng mình nhỏ nhẹ trong lòng, ráng lên nào, sống vì tương lai. ….

Du học có nghĩa là sẽ đeo balô trên lưng và sách nặng cầm trên tay, bước vào cổng trường và nhớ ngày xưa mình đi học còn vì niềm vui được gặp bạn bè mỗi ngày. Bây giờ mình đi học, cũng vì niềm vui ấy ở thì tương lai..

Du học có nghĩa là sẽ có ngày bật khóc, chỉ còn cảm giác run lên và sự trống rỗngtrong đầu, buồn bã, cô độc và bi quan! Đây đâu phải là mình?

Du học có nghĩa là da sẽ trắng. Gió lạnh thổi tan nắng mỏng manh khiến da vàng cũng thành trắng xanh, trắng muốt. Và gió thổi bay cả những gân hồng ngọt ngào của một đất nước xa xôi, thổi khô nước mắt, lạnh tình người và lạnh trái tim.

Du học có nghĩa là một buổi trưa lang thang trên sân trường, ngồi nói chuyện với bạn hay chỉ có mình mình trong thư viện. Tất cả đều không mang cảm giác ĐỦ! Chỉ biết mình đang sống tạm, sống thiếu thốn tình cảm, sống để sau này sẽ được sống ĐỦ!

Du học có nghĩa là cơm trắng ngon hơn hamburger, pizza không bằng bánh mỳ, và pasta hay mì Ý cũng kô sánh được với bát bún gà bát fở bò giản đơn. Đi nhà hàng nhìn 1 menu dài đằng đặc nhưng lại chỉ thấy thèm những món ăn mẹ nấu…

Du học là xa nhà, xa gia đình, xa bè bạn, làm gì cũng lủi thủi tự thân 1 mình. Ốm nằm vật ra cũng tự cố bò dậy mà ăn, mà uống thuốc. Là những chiều đông run cầm cập cầm đeo ba lô, cầm ổ bánh mỳ lê lết hàng giờ đồng hồ đến bến bus bắt xe đi học. Vừa ngồi chờ xe vừa run vừa xoa tay cho ấm, vừa gặm bánh cho qua bữa.

Du học là những tối làm research trong lib đến 10h đêm, ko còn bus phải 1 mình quốc bộ gần 3 miles về nhà. Chỉ biết cắm cúi mà đi, vớ vẩn thằng nào nó nhảy ra,thấy chướng mắt lại đòm cái là bay thẳng lên mây mà gẩy đàn.

Du học là cái cảnh nhìn nhà nhà người người cùng nhau xum họp, cùng nhau vui vầy những dịp lễ tết. Còn mình, làm trầy bửa kiếm tiền, tối mịt trở về tự mình chào mình trong căn phòng bé tý chưa đầy 6m vuông, tự celebrate bằng 1 gói chips, 1 chai Fanta, 1 quyển truyện vác từ VN sang và tráng miệng bằng nỗi nhớ quê nhà da diết, nhớ đến muốn gào lên chạy ngay về…..

Du học có nghĩa là sẽ phải nhìn theo cái vẫy tay xa xăm của người thân sau lớp kiếng ngăn cách ở sân bay, là nụ cười và lời chúc của bạn tiễn đưa, là nước mắt của mình sau lớp chăn bông dầy, là câu hứa năm sau gặp lại bật ra trên những đôi môi run, là thời gian rất dài…

Du học có nghĩa là tức tối khi muốn viết câu văn hay mà từ vựng lại nằm đâu đó quá xa trong cuốn từ điển dày cộm, là mệt mỏi khi quyển sách lịch sử quá dày mà mắt đã đỏ vì thức khuya, là ngu ngơ tập phát âm thêm một thứ ngôn ngữ khác nữa ngoài tiếng Anh và tiếng Việt, là lóng ngóng thức cả đêm để hoàn thành một bài assigment, là mới toanh trong 1 ngôi trường và những luật lệ.

Du học là cảm giác hụt hẫng mỗi khi có chuyện gì rất vui, muốn gào thét đùa vui nhưng rồi chợt nhận ra quanh mình hình như ko ai care cả….

Du học là phải vững vàng…muốn khóc cũng ko đc khóc vì mình phải mạnh mẽ.

Du học là khó thở khi phải nhận cái áp lực, expectations từ mọi ng vì mang tiếng đi xa học mà lại ko làm đc cái j thì thật là xấu hổ.

Du học là khó chịu khi bị gọi “… kiều”… có thể chỉ là trêu đùa có thể là đá xoáy… nhưng cho dù là í j đi nữa thì thực lòng, chả thích bị gọi thế chút nào, vì khi du học là khi cảm thấy mình tự hào về nước mình nhất, tự hào đc là công dân VN nhất… và chỉ muốn đc gọi như bình thường… là Vnese mà thôi.

Du học là buồn mỗi khi bị nói là tây hóa, đua đòi bắt chước theo người ta trong khi thực chất đâu phải vậy, mà có tây hóa thì chẳng cần phải du học, ở nhà cũng tây được.

Du học là ko đc cảm thông khi chẳng may nói chuyện cứ bị xen vài tiếng ngoại ngữ vào, bị nói là quên tiếng mẹ đẻ khi mà thực chất đâu có muốn thế. Cả năm trời thèm khát đc nói tiếng Việt mà khó làm sao, thay vào đó phải dùng, phải luyện cái thứ tiếng nước ngoài để học thì tất nhiên sẽ bị thành thói quen và cần thời jan để chỉnh khi về thăm nhà chứ :-s

Du học là sự cố gắng từng ngày, đếm từng ngày để đc về thăm nhà…

Du học là đắn đo mỗi khi muốn về mà lại xót vì chi phí khá cao….nếu cố gắng chịu thì có thể tiết kiệm được vào tiền học nhưng lại rất nhớ nhà và muốn được ở bên mọi người ….

Du học… lớn nhất là phải hi sinh tình cảm, tình yêu(nghĩa rộng chứ ko chỉ yêu đương)… và luôn phải tự hướng tới tương lai, luôn tự bảo mình phải cố rồi tương lai sẽ được đền đáp để mà cố gắng hơn….

Du học có nghĩa là lớn lên. Cầm dao xắt hành và ôm đũa chiên cơm, nặn bột làm bánh bao và cookies. Lấy giấy tờ và đôi co vì một quyền lợi, nắm tương lai trong tay và tự đóng khuôn để đúc chính mình, rớt vào một mặt khác của trái đất, sẽ nhận thấy những điều mình hiểu lâu nay không đơn giản như mình hiểu, sợ hãi trước cuộc đời nhưng nôn nóng muốn bước vào đưong đầu với nó.

Du học có nghĩa là sẽ lo lắng khi một người bạn đóng cửa blog hay không trả lời message của mình trong Yahoo Messenger. Thấy bạn mình xa và mình thì bất lực.. Và yên tâm khi cánh cửa lại hé mở, thở phào, uh bạn không sao, mỉm cười, lại được đọc về bạn nữa rồi, nháy mắt, bọn mình đâu có xa…

Du học là phải nén nhịn mỗi khi rất buồn, muốn gọi ngay cho người thân để tâm sự nhưng phải nén lại vì ko muốn để ai phải lo lắng cho mình, và phí gọi về thì cũng chả rẻ gì.

Du học có nghĩa là sẽ chỉ được nhìn bố mẹ qua khung webcam mờ nhỏ xíu trên màn ảnh vi tính và nghe mẹ cười hiền, mấp máy con đừng lo trong điện thoại. Nhưng sau lưng, bố mẹ đang phải vật lộn với những núi đá nặng trịch của cuộc đời, còn trước mặt mình lại là tương lai thênh thang mở rộng. Má ấm lên giọt nước mắt, vì tình yêu bao la có nghĩa là hy sinh với nụ cười trên môi..

Du học có nghĩa là tự hào. Tự hào thấy mình thay đổi, tự hào thấy mình đang lớn, tự hào vì mình được yêu thương.

Du học có nghĩa là tự hứa nhiều lắm. Tự hứa với mình, với người ta, với gia đình, với bạn bè. Tự hứa không được lãng phí những gì đã hy sinh. Tự hứa và tự ráng hoàn thành lời hứa.

Du học sướng???? Có ai hiểu chăng nỗi lòng của những ng xa quê để HỌC…..

Du học có nghĩa là đi XA học. Là đi học ở xa. Là đi học ở rất xa. Là đi học ở rất rất xa…

Và, du học là nhiều khi muốn buông tay vì tất cả những feelings trên nhưng vẫn phải nắm chặt và tiếp tục bước…..

Còn các bạn thì sao? Các bạn nghĩ gì ? Hãy share với tôi về kinh nghiệm du học của bạn.

Tác giả: Kiwi Đặng – DHS Mỹ Texas

USGuide Handbook 2012 & 2013

Chào cả nhà,

Usguide Handbook 2012 là một tài liệu tổng hợp về apply du học rất công phu do một nhóm các bạn tình nguyện viên thực hiện vào năm 2012 do bạn Hường làm trưởng nhóm.

Đọc tài liệu này các bạn sẽ có khá đủ kiến thức về apply du học. Đây là tài liệu đầu tiên các bạn nên đọc.

Địa chỉ download: http://www.slideshare.net/usguide/usguide-handbook-just-do-it

Địa chỉ download khác:
https://www.dropbox.com/s/n1oaf7ylrjzenyf/handbook2012.pdf
https://app.box.com/s/2r3kupsnh5u0xr84h5eg

Nếu các bạn phát hiện ra các lỗi chính tả, thông tin (chưa chính xác) và gợi ý sửa chữa, xin hãy điền vào đây:
https://docs.google.com/spreadsheets/d/1QsNFOfQUj2xSnYQUqrQQb0Cej2d56euurO8UJzSp50Y/edit?usp=sharing

Cảm ơn các bạn đã đóng góp để hoàn thiện cuốn số tay du học này :)

—————————

Chào các bạn,

Đây là Handbook hướng dẫn du học sau đại học ở Mỹ được thực hiện vào đợt hè năm 2013 nhân dịp sự kiện you can do it.

Một bạn trong nhóm biên soạn Handbook mởi gửi bản pdf cho mình. FREE FOR ALL, mặc dù lúc đầu hình như định để xuất bản.

Mình nghĩ có lẽ có những kinh nghiệm và cách nhìn khác của những người chia sẻ trong đợt 2013. Chứ sườn nội dung cơ bản tương tự. Nhưng những câu chuyện cá nhân quan trọng phải không? :)

Download link:
Usguide Handbook 2013

 

10 Kinh Nghiệm Quí Giá Cho Các Ứng Viên Du Học Mỹ

Du học Mỹ là một trong những mục tiêu mơ ước của nhiều bạn sinh viên, tuy nhiên bên canh việc xin được học bổng du học Mỹ thì việc phỏng vấn visa du học Mỹ (hay còn được gọi Visa F1) từ lâu đã trở thành nỗi ám ảnh đối với sinh viên Châu Á nói chung, và sinh viên cũng như phụ huynh Việt Nam nói riêng. Trong quá trình tư vấn cho các bạn sinh viên đã từng có kinh nghiệm phỏng vấn du học Mỹ, chúng tôi thấy nhiều bạn vẫn còn shock vì bị từ chối cấp visa F1 nhiều lần mà không hiểu lí do tại sao.Trung tâm xúc tiến học bổng du học ALT xin chia sẻ với các bạn 10 điểm lưu ý khi phỏng vấn visa F1 được đúc kết từ kinh nghiệm của rất nhiều sinh viên đã và đang du học ở Mỹ.

1

Chuẩn bị và luyện tập trả lời các câu hỏi

Trước tiên, bạn cần tâm niêm rằng nhân viên Đại Sứ Quán chỉ cấp visa cho bạn khi thấy bạn trung thực, tự tin. Họ muốn biết rõ về bản thân bạn, mục tiêu của bạn và những dự định của bạn trong thời gian ở Mỹ. Do đó bạn cần tự chuẩn bị trả lời một số câu hỏi đại loại như:
• Tại sao bạn chọn Mỹ mà không phải là Australia, New Zealand hay Europe?
• Tại sao bạn lại chọn trường Đại học này mà không phải những trường khác?
• Tại sao bạn không chờ học hết phổ thông/đại học ở Việt Nam rồi mới đi?
• Bạn muốn làm gì sau khi học xong Đại học/Thạc sĩ?
• Từ đâu bạn có số tiền để thanh toán chi phí học tập của mình? (Bạn không cần đưa ra con số cụ thể trong tài khoản ngân hàng của mình. Chỉ cần cho họ thấy bạn đang có trong tay tiền để chi trả cho năm thứ nhất và kế hoạch tài chính cho những năm tiếp theo. Quan trọng nhất là thái độ tự tin của bạn. Đừng vội đưa ra giấy xác nhận của ngân hàng trừ khi được yêu cầu.
• Bạn có ý định trở về Viêt Nam sau khi học xong không? (Hãy trả lời “Yes, I would” là đủ. Đừng kể lể chuyện công ty A đầu tư cho bạn và sẽ nhận bạn về làm việc vv…Cũng đừng cố gắng thuyết phục người phỏng vấn bạn. Trả lời ngắn gọn, tự tin là đủ. Nên nhớ nhân viên lãnh sự quán có đủ kinh nghiệm và khả năng để đọc được bạn trong phút chốc.
Hãy lắng nghe các câu hỏi thật cẩn thận và suy nghĩ và giây trước khi trả lời. Đừng vội vã trả lời ngay khi được đưa ra câu hỏi. Nếu như bạn điềm tĩnh, bạn sẽ hiểu chính xác nội dung câu hỏi và từ đó có được câu trả lời phù hợp. Nếu không bạn sẽ đưa ra những câu trả lời sáo rỗng và không phù hợp với nội dung câu hỏi bạn nhận được. Và sau đây là 10 kinh nghiệm bạn cần lưu ý khi được mời phỏng vấn.

2

Đừng ngại vẻ lạnh lùng của nhân viên Đại sứ quán

Đừng tỏ vẻ lo lắng dù bạn có phỏng vấn ở Đại Sứ Quán hay Tổng Lãnh Sự vì nơi bạn phỏng vấn không quan trọng. Quan trọng nhất là bạn trả lời các câu hỏi như thế nào. Các nhân viên lãnh sự quán có thể đã từ chối cấp visa cho vài người trước bạn nhưng đừng để điều đó làm bạn sợ hãi. Hãy tự hỏi bản thân rằng “Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì?” Họ sẽ từ chối bạn là cùng. Trong khi bạn có thể nộp hồ sơ xin phỏng vấn lại.

[IMG]Đừng tỏ vẻ lo lắng dù bạn có phỏng vấn ở Đại Sứ Quán hay Tổng Lãnh Sự vì nơi bạn phỏng vấn không quan trọng.

Nếu như bạn tiếp tục bị từ chối, không sao cả. Bạn còn có nhiều cơ hội ở các quốc gia khác. Một khi việc bị từ chối visa không còn ám ảnh bạn, chẳng có gì khiến bạn phải lo lắng nữa, bạn từ đó sẽ bình tĩnh và tự tin trước khi bước vào cuộc phỏng vấn. May mắn là yếu tố không thể loại trừ, nhưng nó chỉ là một trong số 100 yếu tố còn lại. Bạn hoàn toàn có thể kiểm soát 99% các yếu tố còn lại, vì vậy đừng làm hỏng chuyện chỉ vì tâm lí không tốt trước khi phỏng vấn.

3

Giữ bình tĩnh

Hãy giữ bình tĩnh. Làm sao một người có thể đưa ra câu trả lời chuẩn xác khi mang tâm lí sợ hãi hay lo lắng? Hãy loại bỏ nỗi sợ hãi hay lo lắng đi. Điều đó không có nghĩa bạn xem thường tầm quan trọng của buổi phỏng vấn. Tâm lí ngạo mạn, bất cần chỉ làm nhân viên Sứ Quán ác cảm và tìm lí do từ chối cấp visa cho bạn. Bạn đã được trường đại học chấp nhận, bạn thực su muốn đi học, bạn có đủ tài chính, vì vậy chẳng có lí do gì người ta lại từ chối bạn trừ khi bạn tự làm mọi thứ trở nên lộn xộn vì trả lời lắp bắp, dài dòng quá mức.

4

“Bạn có trở về Việt Nam không?”

Liệu nhân viên Đại Sứ có tin tưởng khi bạn nói rằng mình sẽ trở về Việt Nam? Câu trả lời là “Không”.
Sự thực là bạn không có cách nào để chứng minh một cách tuyệt đối là mình sẽ trở về. Dù vậy, hãy trả lời một cách tự tin về kế hoạch du học của bạn khi được hỏi.
Nếu như một quốc gia có bài xích người nhập cư, người ta sẽ không tin tưởng vào lời nói của bạn dựa vào một vài phút phỏng vấn.
Tất cả chỉ là thủ tục hình thức để họ có một lí do để từ chối câp visa cho bạn. Nếu như thực sự muốn, họ hoàn toàn có thể trục xuất bạn ra khỏi nước Mỹ ngay khi bạn vừa tham dự lễ tốt nghiệp. Họ cũng sẽ không cho bạn cơ hội 12-24 tháng để tìm việc sau khi ra trường.
Về mặt lý thuyết, nước Mỹ cần du học sinh nhiều hơn du học sinh cần họ. Hãy thử nhìn sự việc từ một góc độ khác. Sau khi đào tạo một đội ngũ nhân tài, liệu họ có thực sự muốn bạn trở về nước làm việc và rồi trở thành đối thủ cạnh tranh với nhân lực của họ trong tương lai?

[IMG]Nếu như họ đã quyết định cho bạn trượt visa, chẳng có lời giải thích nào có thể thuyết phục được họ

Không. Chắc chắn là không. Nước Mỹ luôn tìm kiếm và thu hút tài năng từ khắp nơi trên thế giới. Chính sách này được thực thi ngay từ vòng phỏng vấn visa du học. Ai có thể trở thành những công dân Mỹ ưu tú, và ai không thể? Làm sao họ có thể quyết định chính xác trong vòng vài giây? Đừng cố sức thuyết phục nhân viên Đại sứ. Nếu như họ đã quyết định cho bạn trượt visa, chẳng có lời giải thích nào có thể thuyết phục được họ.

5

Những lí do từ chối cấp visa du học Mỹ phổ biến

Giờ đây bạn có thể hỏi những trường hợp nào nhân viên Đại sứ từ chối cấp visa.
Nhân viên Đại sứ dùng lí do này để loại bỏ những trường hợp họ cảm thấy không trung thực, những người hay nói dối, làm giả hồ sơ. Nhiều ứng viên du học bị từ chối chỉ vì nói lắp, bối rối do lo lắng, thiếu tự tin trong lúc phỏng vấn.
Nếu như bạn trả lời thiếu tự tin chỉ vì căng thẳng, nhân viên Đại sứ có thể thông cảm được phần nào. Nhưng điều đó chỉ trong một giới hạn tương đối. Có bạn thậm chí lo phải trả lời thế nào một khi nhân viên Đại sứ hỏi đến tên của mình! Bạn ấy lo là tên trên hồ sơ xin phỏng vấn hơi khác với tên được in trên hộ chiếu của mình. Có gì phải lo lắng khi người ta đọc tên mình là Hưng Đàm Vĩnh thay vì Đàm Vĩnh Hưng!
Lo lắng quá sẽ chẳng giúp bạn giải quyết được điều gì.

6

Đừng cố tỏ ra thông minh trong ba phút phỏng vấn ấy

Liệu bạn có thể thay đổi được điểm TOEFL, GMAT, hay học bạ của mình không?
Không.
Hãy hít thở thật sâu và là chính bạn. Hãy nhìn thẳng nhân viên Đại sứ phỏng vấn bạn và trả lời chứ đừng cố diễn giải ý của anh ta. Đừng bắt đầu nghĩ đến việc visa của bạn sẽ được chấp nhận hay từ chối lúc bắt đầu phỏng vấn. Nhân viên Đại sứ sẽ phân tích bạn, chứ không phải điều ngược lại. Hãy quên nghĩ đến chuyện kết quả và trả lời thật thoải mái.

7

Hãy trả lời thật rõ ràng và trực tiếp

Các bạn sinh viên nhân học bổng thạc sĩ, tiến sĩ thường có xu hướng đưa ra những câu trả lời mang tính hàn lâm và phức tạp.
Đừng trả lời lòng vòng.
Nếu như bạn được hỏi “tại sao lại chọn trường Đại học này?” đừng sa đà vào những câu trả lời với những cụm từ chuyên môn phức tạp. Nhân viên Đại sứ có thể tốt nghiệp ngành nghệ thuật, tâm lí học, khoa học chính trị. Hãy trả lời bằng những thuật ngữ mà người phỏng vấn bạn có thể hiểu được.

8

“Bạn học trường nào?”

Nhân viên Đại sứ chẳng bận tâm về chuyện bạn sắp vào học những trường đại học ít danh tiếng, thậm chí là đại học cộng đồng.
Họ chỉ phỏng vấn bạn để biết tối thiểu bạn cũng hiểu tại sao mình lại chọn vào học trường như vậy. Chẳng bao giờ có chuyện bạn phải trả lời các câu hỏi phức tạp hơn chỉ vì bạn vào học một trường bình thường.
Cách tốt nhất là tìm hiểu một số thông tin liên quan tới khóa học mà bạn đã đăng ký.

9

“Ai là người làm hồ sơ xin visa cho bạn?”

Nếu như được hỏi có phải công ty tư vấn du học điền đơn xin visa (DS160) cho bạn không, đơn giản hãy trả lời không. Đừng cố đưa ra bằng chứng thuyết phục nhân viên phỏng vấn bạn. Nhiều bạn hoang mang với tin đồn rằng bạn cần nhớ địa chỉ IP của mình để khi cần đưa ra cho nhân viên Đại sứ kiểm tra máy tính bạn đã dùng để nộp đơn xin visa (DS160).
Ai mà nhớ nằm lòng được địa chỉ IP kia chứ?
Đó không phài một phần của nội dung buổi phỏng vấn. Nếu có thì chỉ làm xuất hiện những tình huống “khó đỡ” khác cho bạn mà thôi.
Nếu như nhân viên Đại sứ lặp lại câu hỏi trên, bạn có thể nói rằng bạn không có gì để giấu diếm và họ có thể hỏi bạn bất kì câu hỏi nào liên quan đến đơn xin visa DS160.

10

Lấy số buồng phỏng vấn

Bạn không cần lo lắng về số buồng hay nhân viên Đại sứ nào đó phỏng vấn bạn. Ngay khi bạn bước đến cửa sổ buồng phỏng vấn, chẳng ai quyết định cấp hay từ chối visa ngay khi vừa nhìn thấy bạn. Dù vậy, ấn tượng ban đầu bạn mang lại cho nhân viên Đại sứ phỏng vấn bạn bao giờ cũng rất quan trọng. Vì vậy hãy nhìn thẳng một cách tự tin. Cách bạn bước tới buồng phỏng vấn và chào người đối diện sẽ quyết định ấn tượng ban đầu.

– Tóm lại –

Bạn muốn đi học, bạn một trường đại học chấp nhận, bạn có chứng minh tài chính. Chẳng có lí do gì phải lo lắng cả.
Nuốc Mỹ cần bạn hơn bạn cần nước Mỹ. Bạn ở “kèo trên”! Vì vậy đừng tỏ ra sợ hãi liệu nhân viên Đại sứ có thấy bạn hợp nhãn hay không. Đừng đánh giá thấp bản thân mình. Hãy tự tin như một người lính dũng cảm chứ không phải một thương phế binh hèn nhát.
Bạn đáng được cấp visa.
Lí do duy nhất khiến bạn căng thẳng, lo lắng là bạn cảm thấy bản thân thiếu một điều gì đó và vì vậy vô tình luôn cố găng thuyết phục nhân viên Đại sứ về những lời giải thích của mình. Đừng làm như vậy!
Đây không phải là một buổi phỏng vấn xin việc làm vốn thường kiểm tra năng lực thực sự của bạn. Những câu hỏi nhân viên Đại sứ đưa ra thực chất là những câu mà ai cũng trả lời được. Vì vậy đừng đánh mất chính mình do căng thẳng, hồi hộp.
Một khi bạn thông suốt được như vậy, những lo lắng, căng thẳng của bạn sẽ tự nhiên biến mất.
Ngoài ra nếu bạn vẫn còn nhiều băn khoăn, bạn có thể tìm đến các trung tâm tư vấn du học để được tư vấn đầy đủ hơn nhé.

Chúc bạn thành công.

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 4 – PhD in Chemical Engineering

Xin chào mọi người,

Đến hẹn lại lên, ban biên tập xin gửi đến các bạn bài phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ số 4 . Một bài chia sẻ đặc biệt đến từ anh Lê Sỹ Tùng – PhD student in Chemical Engineering ,College of Sicence and Engineering, University of Minnesota một trong những admin nhiệt huyết của Usguide.

Bên cạnh những kinh nghiệm quý báu và tinh thần chiến đấu hết mình “Do more than your best and Networking” trong quá trình apply cho nghành kĩ thuật nói riêng và các nghành khác nói chung. Anh cũng đưa đến các bạn lời khuyên rất bổ ích trong quá trình chọn trường + chọn khoa , những điều cần chuẩn bị trước khi sang Mỹ học tập cho đến những cảm nghĩ về các hoạt động xã hội mà anh đã và đang tham gia. Các bạn cùng khám phá trong file đính kèm nhé

 

Interview Series 4_Le Tung

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – Số 9 – Master of Public Health

Xin chào các bạn,
Tháng 11 này, nhóm biên tập xin gửi tới các bạn bài chia sẻ thứ 9 của chị Dương Cầm Master of Public Health, Department of Epidemiology, University of Michigan. Chị Dương Cầm tốt nghiệp đại học chuyên ngành Bioscience, nhưng sớm nhận ra Pucblic Health mới chính là ước mơ và đam mê mà chị thật sự muốn theo đuổi.
Với kế hoạch apply rõ ràng với các mục tiêu thời gian cụ thể cùng chiến lược hợp lý, chi Dương Cầm đã apply thành công với full funding PhD in University of Rochester và one-half tution fee waiver, MPH in Univresity of Michigan. Mặc dù chưa chắc chắn trong con đường trang trải số học phí còn lại, chị đã quyết định chọn UMich. Và rồi phép màu xảy ra, chị nhận được full tution fee waiver từ UMich :) . Để tìm hiểu thêm các bạn có thể đọc tại file đính kèm ở cuối bài. Hi vọng những chia sẻ của chị Dương Cầm sẽ giúp các bạn trang bị thêm những thông tin hữu ích trên con đường apply du học Mỹ của mình.

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 5 – PhD in Electrical and Computer Engineering

Xin chào các bạn,

Tháng 6 này, nhóm biên tập xin được gửi đến các bạn bài chia sẻ số 5 của anh Lê Vượng~PHD student in Electrical and Computer Engineering, University of Illinois at Urbana Champaign.
Với lòng khát khao đi sang Mỹ cháy bỏng cùng tinh thần luôn nhìn về phía trước, chủ động và có trách nhiệm, anh Vượng đã có những chiến lược và cách thức riêng để đạt được giấc mơ du học Mỹ của mình.Bên cạnh đó, những trải nghiệm thực tế đầy thú vị của anh về cuộc sống, học tập, làm việc cùng giáo sư và những công việc Internship :) . Tất cả những điều trên đều được anh chia sẻ tận tình trong buổi coffee-chat offline với các Usguider hồi tháng 5 vừa qua. Ban biên tập đã tổng hợp lại và xin gửi đến các bạn trong file đính kèm.Mong rằng các bạn sẽ có thêm những thông tin và kinh nghiêm hữu ích cho bản thân.

Interview Series 5_Vuong Le

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – Số 6 – Master in Global Environmental Policy

Xin chào các bạn,

Tiếp nối Series Interview, nhóm biên tập xin được gửi đến các bạn bài chia sẻ thứ 6 của chị Diệu Linh – Master in Global Environmental Policy, School of International Service – American Universiry, chị Linh tốt nghiệp trường đại học Ngoại Thương nhưng từ khi ra trường công việc chị làm đều trong lĩnh vực nghiên cứu, phi chính phủ. Kinh nghiệm làm việc của chị rất đa dạng từ phát triển nông thôn, chăm sóc y tế cho người nghèo đến biến đổi khí hậu … Chính nhờ thế mạnh này chị đã apply thành công với học bổng Dean’s Fellowship vào trường School of International Service (SIS), 1 trường nhỏ thuộc hệ thống AU được xếp hạng là một trong 10 trường tốt nhất về nghiên cứu quốc tế và quan hệ quốc tế. Để tìm hiểu rõ hơn về chị Linh và ngôi trường mà chị đang theo học, các bạn có thể xem và download tại file PDF đính kèm. Hi vọng những chia sẻ của chị sẽ giúp các bạn trang bị thêm những thông tin hữu ích trên con đường apply du học Mỹ của mình.

 

Interview Series 6_Dieu Linh_27062013 (1)

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 3 – MS in Marketing Research

Xin chào các bạn,

Tiếp nối sự đón nhận nồng hậu của các bạn sau 2 bài phỏng vấn đầu tiên, nhóm Interview Series hân hạnh cho ra mắt bài “Chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ số 3” của chị Hạnh Nguyên, Graduate Assistantship, Master in Marketing Research, Southern Illinois University-Edwardsville.
Trong bài phỏng vấn này chị Hạnh Nguyên, 1 thành viên kì cựu của UsGuide sẽ chia sẻ thêm với các bạn lợi ích của việc tham gia các hoạt động xã hội trong quá trình apply xin học và đạt học bổng cũng như lời khuyên để cân bằng thời gian học với thời gian tham gia hoạt động xã hội . Hơn nữa với mong muốn hỗ trợ tốt nhất cho các bạn đang ấp ủ giấc mơ du học đặc biệt là các bạn có ước mơ theo học về ngành Marketing, chị Hạnh Nguyên đã chia sẻ rất chi tiết kinh nghiệm chọn trường, hoàn thành hồ sơ đồng thời gửi kèm các tài liệu của chị trong bài phỏng vấn này.
http://www.slideshare.net/usguide/phng-vn-chia-s-kinh-nghim-du-hc-m-s-3-usguide

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 2 – MS in Public Affairs

Xin chào các bạn,

Sau bài phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ số đầu tiên vào tháng 1, được sự đón đọc nhiệt tình của các bạn , ban biên tập như được tiếp thêm lửa và càng có nhiệt huyết hơn đưa đến các bạn bài chia sẻ số 2 của chị Phượng Đoàn. Mong rằng với những chia sẻ bổ ích của chị Phượng, các bạn đã, đang và sẽ có ươc mơ du học Mỹ có thêm những thông tin và kinh nghiêm hữu ích cho bản thân. Với sự nỗ lực không ngừng và ước mơ cháy bỏng trở thành chuyên gia tư vấn cho chính phủ về các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, chị Phượng đã đạt được học bổng toàn phần MPA- Master of Public Affairs từ trường Indiana University Bloomington– ngôi trường đứng đầu Mỹ về lĩnh vực phân tích chính sách và quản lý các tổ chức phi lợi nhuận, người học được đào tạo về các kỹ năng phân tích và đánh giá, đồng thời, có cơ hội thực tập tại các cơ quan chính phủ Mỹ và các tổ chức xã hội liên quan đến chuyên ngành được đào tạo. Các bạn cùng khám phá những chia sẻ của chị Phượng theo file đình kèm nhé :) .

Nếu có câu hỏi thêm nào giành cho chị Phượng mong các bạn gửi hồi âm về ban biên tập theo email hoahoangtk@gmail.com hoặc chia sẻ follow topic này nhé. Nhóm biên tập sẽ tập trung và trao đổi thêm với chị Phượng hoặc gửi các bạn địa chỉ liên lạc của chị Phượng. Trong lúc biên tập không tránh khỏi những sơ xuất mong các bạn thông cảm và đóng góp thêm ý kiến để những bài chia sẻ tiếp theo thêm hoàn chỉnh:).

Xin chân thành cảm ơn

T/M Ban biên tập,
Minh Huyền

 

Interview Series 2_Phuong Doan

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 1 – MBA in Logistics

Hi cả nhà,

Sau một thời gian ấp ủ cho dự án Interview Series, với mục tiêu cung cấp kinh nghiệm apply và thông tin về các ngành học ở Mỹ, đặc biệt chú trọng vào các ngành học mới và các trường còn ít bạn biết tới. Nhóm Interview Series bao gồm Nguyễn Huyền, Lê Hoàng và Khánh Hòa rất vui được gửi tới các bạn số đầu tiên của series “Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ”.

Bài phỏng vấn gửi kèm là chia sẻ kinh nghiệm của chị Nguyễn Thùy Dương, apply thành công học bổng Graduate Assistantship và hiện đang theo học MBA-concentration in Logistics, Arkansas State University.

Nội dung bài phỏng vấn được chia làm 2 phần chính: Chia sẻ kinh nghiệm apply và Chia sẻ về cuộc sống và học tập tại Mỹ. Trong phần thứ nhất chị Dương chia sẻ kinh nghiệm hoàn thành các kì thi chuẩn hóa như TOEFL, GMAT, viết SOP và LOR cũng như lý do chị chọn Logistic cho khóa MBA. Còn ở phần thứ hai là cảm nhận của chị về môi trường học tập tại Arkansas State University và cuộc sống tại thành phố Jonesboro với kết thúc là lời khuyên của chị cho những bạn sinh viên có ý định sang sống và học tập tại Mỹ.

Do đây là số đầu tiên và nhóm biên tập còn thiếu kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi thiếu sót. Với dự định phát hành 2 số/tháng trong năm 2013, nhóm rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, gợi ý câu hỏi phỏng vấn và giới thiệu những bạn đã apply thành công. Mỗi một sự góp ý sẽ là động lực cho nhóm cải thiện tốt hơn ở những bài tiếp theo.

Trong thời gian đầu, mọi câu hỏi xin gửi tới chị Khánh Hoà theo địa chỉ hoahoangtk@gmail.com.

Xin cảm ơn sự quan tâm của các bạn.

Chúc các bạn apply thành công!

T/M Ban Biên Tập

Lê Hoàng

—-

Arkansas State University

 

Interview Series 1_Duong Nguyen_01282013

8 TUYỆT CHIÊU GIÚP BẠN ‘KIỂM SOÁT’ TÚI TIỀN KHI ĐI DU HỌC

Không ít sinh viên đã và đang du học thừa nhận rằng, việc quản lý chi tiêu trong khoảng thời gian ‘chinh chiến’ tại nước ngoài là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất. Nghe hơi sợ nhỉ, nhưng các newbies đừng lo lắng quá nhé, hãy thử áp dụng 8 tuyệt chiêu ALT Scholarships chia sẻ dưới đây thử xem, túi tiền của bạn sẽ ‘sống sót’ an toàn cho xem.

[IMG]

Hy vọng với 8 tuyệt chiêu trên, ALT có thể giúp túi tiền của bạn ‘sống sót’ an toàn và thành công. Mọi thắc mắc về học bổng và du học hãy liên hệ với ALT Scholarships để được tư vấn và hướng dẫn tận tình nhé.

Động lực rải hồ sơ hay Kinh nghiệm vì sao mãi tôi không tìm được học bổng

Trên con đường tìm kiếm và chinh phục học bổng, không kẻ đi săn nào tránh khỏi sự mệt mỏi, chán nản, và cả thất bại nữa. Cùng đọc và theo dõi những dòng tâm sự này để có thêm động lực hoặc ít nhất hiểu ra VÌ SAO mình cứ mãi bị bỏ lại trong cuộc đua tranh thần kỳ ấy nhé cả nhà 🙂

Mình đang trong tâm trạnghơi confused vì nhận nhiều reject letter quá đâm “khủng hoảng” nênnếu nhỡ có buôn than bán cháo thì bà con cũng đừng chém gió nhá. Chủ yếu topiccũng muốn động viên những ai đang đồng cảnh ngộ, và thảo luận sau khi rớt thìlàm gì, con đường sắp tới chông gai mình xông vào tiếp hay tìm một cách khácthuận lợi hơn …

Mình share kinh nghiệm fail trước: (những cái này là do mình “tự kỉ”nghĩ ra thôi)
Nói về cơ bản thì profile mình cũng thuộc loại đẹp “sơ sơ”. Theo nhưlời khuyên của các vị tiền bối, mình cũng rải hồ sơ chi chít, kết quả thì chưabiết hết nhưng cũng thuộc dạng rải nhiều mà chả dính dc cái nào đàng hoàng. Rútra một số kinh nghiệm sau (có thể là rất basic – theo mình h nhận ra – nhưngcũng có thể có người sai lầm căn bản như mình lắm chứ!):
– Lần đầu tiên mình rớt 322, mình rút ra cơm nguội là ko nên đâm đầu vào nhữngnước khó nhai như Anh chẳng hạn. Đành là mình lí luận, hầu hết những người đăngkí 322 thì mức độ cạnh tranh ko cao, thấy bà con chả có chứng chỉ tóp pheo ai ồgì cả mà đăng kí loạn xạ Úc, Hà Lan, Pháp, US … Nên ỉ i mình đủ điểm tiếngAnh nên … apply Anh. Rớt chạch. Trong khi những người apply những nước nhưPháp hay Hà Lan (mặc dù Hà Lan nó nằm trong số những nước khác nên số lượng hbko nhiều bằng Anh) và Pháp có số lượng hb rất nhiều, thì dù profile hơi yếu hơntí tẹo cũng đậu. Mình chưa đọc ở đâu (kể cả ở topic 322) đánh giá khả năng đâmđầu vào nước nào khi chọn 322 thì khả năng cao hơn. Nhưng mình thấy đi Pháp vàĐức có vẻ có khả năng cao.
– Sau đó pv 1 học bổng của trường và rớt. Mình rút ra kinh nghiệm là vào phỏngvấn, đôi khi mình cứ nói rất đơn giản huỵch toẹt ra thì hơn là nói vòng vo tamquốc, kiểu tỏ ra ta đây nguy hiểm mà thực chất ta đây ngu ngu. Kiểu như họ hỏimình là “học xong mày về VN ko?”, tớ dĩ nhiên là biết phải trả lời”tao về chứ”, nhưng lại vòng vo “tao sẽ về xây dựng quê hươngchứ, gia đình tao ở đây mà, nhưng mà tao muốn học xong, tìm mt nghiên cứu tốt,rồi có chút ít kinh nghiệm thì về giúp đất nước chớ chả có j mà về thì ko giúpdc j”, đại ý là thế, nhưng ko biết do t.a của mình có vấn đề hoặc là ýtưởng có vấn đề mà nó quy kết mình là “nó bảo nó ko về VN nữa đâu”… (sau khi có kết quả tớ nhờ thầy hỏi, thầy bảo thế). Thế là tạch!
– Một kinh nghiệm nữa là những học bổng cạnh tranh cao kiểu như HSP hay Eramus,có lẽ phải xem xét rất kĩ cách ngành mình đăng kí. Thực chất là có nhiềufaculty có coordinator rất nice, mình thấy các bạn nói dù có khi ko dc nominatechẳng hạn, nhưng contact một hồi cũng có người viết nom cho. Mình á, contact đãđời, bà coordinator chỉ bảo “mày ko dc”, mình viết mail hỏi thêmthông tin vì sao rớt cũng ko dc, bà í ko trả lời. Mà email nào cũng cả tuần saumới trả lời. Về sau coi lại, thấy hình như faculty mình đăng kí chả có ai màmình biết dc nom và cũng chung tình trạng contact mãi ko dc. Biết thế mình cứapply mấy faculty đã có người VN từng học dc cho dễ dàng.

Sau khi có nhiều “vấp váp” như thế, mình đi rảo quanh một vòng các topic củacác box du học ở các diễn đàn, hầu hết các anh chị đi trước profile đẹp cũngthấy họ vấp váp vài lần. Điều quan trọng là ai cũng biết quá trình xin học bổnglà một quá trình lâu dài và yêu cầu cần kiên nhẫn. Dĩ nhiên được hb để đi họcthì tốt rồi. Nhưng nếu ko có hb thì cũng vẫn còn nhiều lựa chọn. Có thể tiếptục làm việc cho Industries, sau này có cơ hội lại đi học như rất nhiều ngườiđang làm. Có thể chọn học các chương trình liên kết (như mình biết thì thạc sĩhiện nay chương trình liên kết với các đh nước ngoài rất nhiều, và đc cấp bằngcho đh nước ngoài cũng nhiều), nhưng mình ko biết cơ hội với những người cóbằng thạc sĩ liên kết này có nhiều ko? (cái này nhờ các anh chị có kinh nghiệmcho ý kiến). Ngoài ra cũng có thể tiếp tục chờ đợi, hạ mức yêu cầu xin các họcbổng của trường ranking thấp hơn, hoặc học bổng bán phần, rồi về sau có thể đilàm trả nợ … Mong sao các anh chị có kinh nghiệm vẽ ra một số đường để tiếptục chiến đấu.

Like topic này! Tớ cũng đã vật lộn với mùa apply năm ngoáivà trượt vỏ chuối tất tần tật, cũng đã từng trải qua giai đoạn mất phương hướngvà ko biết mình sẽ tiếp tục cố gắng vì cái gì, tâm trạng dễ hiểu mà, cũng chảcó j đáng xấu hổ, nhưng bây giờ thì tạm ổn rồi, tớ đang tiếp tục tràn đầy nănglượng cho mùa apply năm nay!
Năm ngoái tớ cũng apply HSP và thực sự là gặp rất nhiều khó khăn với cái bọnHL, giống bạn chủ topic này. Nào thì ko cho admission, xin xỏ ỉ ôi mãi đểconsider lại thì rốt cuộc vẫn là ko cho, nào thì cho admission nhưng mãi chảcho nomination, giục đi giục lại thì sát đến ngày deadline mới gửi cho báo hạimình thức trắng đêm để complete hồ sơ và ngày hôm sau bỏ cả làm để đi gửi, lolắng đến bạc cả tóc vì sợ ko đến kịp ngày. Thế đấy, rốt cuộc thì cũng là fail!EM thì cũng fail, nhưng cái này cũng competitive quá tớ ko hi vọng nhiều lắm.Học bổng của trường bên HL thì đợi mòn mỏi, coordinator cũng khá nice nhưng chờmãi chờ mãi, hi vọng hi vọng, cuối cùng kết quả cũng là reserve list, thôixong, đã tháng 7 rồi còn làm j được nữa! 1 năm vật lộn đã trôi qua toàn những thấtbại!
Nhưng mà năm nay tớ có nhiều kinh nghiệm hơn và tớ sẽ chơi chiến thuật khác.Năm ngoái chỉ vì còn non và cũng bận bịu quá mà cứ chăm chăm vào có vài cái họcbổng, chả chịu tìm kiếm các trường và rải truyền đơn nên có quá ít lựa chọn khiquá phụ thuộc và hi vọng vào số ít đó. Tớ cũng ko nghĩ thời gian vừa qua ko đidu học được là vô nghĩa vì tớ đã khám phá và đạt được những điều cũng quý giáko kém. Tớ mong bạn chủ topic sẽ tiếp tục giữ được niềm tin và tiếp tục cốgắng, vì cho dù ở đâu và làm gì thì cái cốt yếu vẫn là mình luôn cố gắng hếtsức, thế là được rồi! Btw, tớ nghĩ việc được học bổng hay ko còn do số trờicho, phần lớn candidates đều là những người có profile đẹp, ko đẹp chỗ này thìđẹp chỗ khác, và đều có khả năng, bọn board nó xét thế nào thì có giời mới biếtnên ko được học bổng ko có nghĩa là mình ko có năng lực, chỉ là do mình thiếuchút may mắn thôi, nhỉ? Cứ nghĩ thế cho nó có chút lạc quan!

tớ cũng like topic này. trước là, vì nó tiếp động lực cho mọi người thêm phần hăm hở và kiên nhẫn khi gởi hồ sơ vòng quanh thế giới. saulà, tớ cũng muốn bán than quá đi mất! ối làng nước ôi…

nhưng thôi ko than đâu. chuyện buồn nhẹm đi. tớ kể chuyện vui nhé! .

ngày xửa ngày xưa, khi vừa tốt nghiệp cấp 3, tớ đâm đơn vào NUS ở Singapore. chỉxin admission học undergraduate thôi, rồi tính vay ngân hàng đóng tiền học. aidè rớt thẳng cánh cò bay. đóng cửa khóc 3 ngày 3 đêm. xong lại xách bánh mì bútchì đi Thủ Đức học (chứ bây giờ nó thế rồi thì mình làm thế nào!).

3 năm sau, tớ lại đâm đơn vào NUS, quyết tâm phục thù. lần này với 1 tư cáchkhác. NUS nhận vào, lại cho cả học phí, lại cho cả sinh họat phí, lại có cảphỏng vấn và đăng bài nhá. wành tráng.

thế, hụt trái dưa, dc trái dừa, nên giả mà có hôm nay bị hụt trái dưa thì chúngta cũng cứ lạc quan mà sống thôi nhể. biết đâu sớm mai check mail lại thấynguyên trái dừa nằm chình ình ở đấy! cố lên cố lên!

ps: ba tớ ngày xưa bị hụt những 9 trái dưa, mãi mới dc 1 trái dừa đấy! (ơntrời!!!!)

 

allroadsleadtoRome

Nhiều khi tái ông thất mã. Mình biết có trường hợp trượt EM, trượt học bổng trường (xa xôi hẻo lánh), hồi đấy cry cũng to lắm, đã có lúc định đi trường xa xôi hẻo lánh đấy (phải tự lo sinh hoạt phí) cho… xong, cuối cùng đc… Fulbright.

Lại có anh thủ khoa trường mình, profile kô thể đẹp hơn (thực sự là cực kỳ hoành tráng), 3 năm apply Chevening đều trượt (giang hồ đồn đại là anh í trả lời phỏng vấn “cứng” quá). Đến năm thứ 4 apply thêm Fulbright thì được cả 2, lại vò đầu bứt tai xem nên đi đâu.

Thế nên biết đâu trượt học bổng này, sau lại đc học bổng kia theo nhiều tiêu chí là tốt hơn.

Trường hợp trượt năm đầu, năm sau apply lại đúng học bổng đấy (Fulbright, Chevening, BP/Leeds/Chevening, ADS, EM…) và thành công mình biết khá nhiều, trong đó có bản thân mình. Năm đầu mình apply trượt ngay vòng hồ sơ, kô mon men đc đến vòng phỏng vấn. Năm sau re-apply, profile dầy dặn hơn + đc sự giúp đỡ của tiền bối + các đối thủ kô mạnh như năm trước nên mình đã giải quyết đc vấn đề. Sau đó, mình vẫn nhận đc thêm 2 thư “Chúng tôi rất tiếc phải báo rằng…” của 2 học bổng trường – mà so về hầu hết/tất cả các mặt là kô bằng đc học bổng mình vừa có.

Hồi mình trượt năm đầu mình thấy đấy là điều… hiển nhiên, chả đau khổ gì vì mới ra trường, kinh nghiệm làm việc ít, profile ngắn ngủn. Cũng xác định là phải apply mấy năm, may đến năm 2 đã tu thành chính quả.

Tuy nhiên, mình cũng biết 1 trường hợp profile thấy cũng OK – kô lung linh nhưng cũng triển vọng, chịu khó học hỏi kinh nghiệm, apply mấy năm mà vẫn kô đc.

Làm thế nào để có một hồ sơ xin học bổng tốt?

Hầu hết các bạn sinh viên đều muốn nhận được học bổng tốt nhất có thể. Chính vì vậy các bạn luôn cố gắng thêm vào hồ sơ của mình nhiều thành tích (có thể là vượt trội) nhằm lấy điểm trong mắt người tuyển chọn. Nhưng không phải ai cũng biết như thế nào là một hồ sơ xin học bổng thực sự tốt để có thể là một tấm vé cho bạn bước vào thế giới của những du học sinh. Và trong thực tế, học bổng là một nguồn vô cùng khan hiếm, và bạn cần phải cạnh tranhvới vô số người giỏi hơn mình, vậy làm sao để chúng ta có thể thành công? Mình xin chia sẻ một bài viết của chị Lê Thị Xuân, một du học sinh ở Anh, về kinh nghiệm khi viết hồ sơ xin học bổng để các bạn tham khảo:

 

Hãy là chính mình

Kinhnghiệm đầu tiên và cũng là kinh nghiệm quan trọng nhất chính là bạn hiểu bạnnhư thế nào? Bạn mong muốn điều gì? Tại sao bạn lại đi học? Đi học xong bạn làmgì? Rất nhiều bạn với mong muốn làm đẹp hồ sơ của mình đã viết quá lên nhữngkinh nghiệm hoạt động của mình, mà quên mất động lực quan trọng nhất để bạn đihọc là gì.

 

Bạn nênnhớ rằng có hàng nghìn người như bạn, và bạn phải tìm được một điểm độc đáo củabạn, để bạn có thể xuất sắc hơn những người khác. Bạn không cần là người giỏinhất, nhưng bạn cần có một sự độc đáo. Sự độc đáo có thể từ một kinh nghiệmthực tế bạn rút ra bài học, từ một cuộc đối thoại với một người bạn vô cùng yêuquý, hoặc có thể từ mong muốn mà bạn có thể đạt được sau khi đi du học.

 

Có một bạnhọc sinh đã viết như thế này: “Tôi đã đọc rất nhiều bài luận xin học bổng vàphát hiện ra một điều thú vị là học sinh nước tôi đều lấy lý do là gia đìnhkhông có đủ điều kiện tài chính để đi du học nên phải xin học bổng. Còn tôi,tôi tin bố mẹ tôi có đủ điều kiện cho tôi đi du học, nhưng tôi vẫn mong muốnđược nhận học bổng này, vì đơn giản, tôi muốn tự lập như chính các bạn sinhviên trên thế giới.” Bạn có tìm thấy sự đặc biệt nào trong bài luận trên không?

 

Lựa chọn phù hợp

 

Sau khibạn hiểu bạn cần gì, bạn muốn gì, giờ đến lúc bạn cần lựa chọn những đặc điểmphù hợp với từng học bổng. Một thực tế bạn cần hiểu rằng các học bổng danh giánhất (Chevening, Fulbright) hoàn toàn khác với các học bổng của từng trường.Bạn không thể copy hồ sơ bạn gửi cho các học bổng chính phủ để gửi cho các họcbổng của trường được, vì mỗi loại có những yêu cầu khác nhau. Bạn cũng cần sửdụng các kinh nghiệm bản thân cho phù hợp với từng loại học bổng.

 

Đối vớihọc bổng Lãnh đạo trẻ (trường đại học Indiana, Hoa Kỳ), một trong những yêu cầucủa học bổng này là bạn có kinh nghiệm làm việc trong các cơ quan nhà nước tốithiểu 12 tháng, còn đối với học bổng ngành tài chính của trường đại học Leeds,Vương Quốc Anh, thì họ lại chỉ mong muốn bạn là công dân Việt Nam và có thànhtích xuất sắc trong học tập và công việc. Vậy bạn biết mình phải lựa chọn nhưthế nào chưa?

 

Điểm thi IELTS, TOEFL, SAT, GMAT, GRE

 

Các bàithi chuẩn hóa có thể coi là điều kiện nhất thiết cần để xin được học bổng. Khácvới điểm GPA (trung bình học tập) là tùy thuộc vào chương trình đào tạo củatừng quốc gia (ví dụ thang điểm Việt Nam là 10, thang điểm Mỹ là 4), thì cácbài thi tiếng Anh như IELTS, TOEFL, hay bài thi tư duy như SAT, GMAT, GRE đềuđã được chuẩn hóa để đánh giá trình độ của học sinh khắp nơi trên thế giới, vìthế bạn không thể viện cớ bạn ở Việt Nam nên điểm IELTS, TOEFL hay GMAT thấpđược.

 

Do đó, đểcó thể cộng thêm một điểm vào hồ sơ xin học bổng, bạn cần phải có các điểm bàithi chuẩn hóa này càng cao càng tôt. Và sẽ thật khó để thuyết phục người kháccho bạn học bổng nếu bạn chỉ có IELTS 5.0.

 

Hoạt động ngoại khóa

 

Học sinh,sinh viên Việt Nam ta rất thông minh và nhanh nhạy, vì thế sau rất nhiều nămkinh nghiệm xin học bổng, giờ đây các diễn đàn và trang mạng đều có một lờikhuyên sắt đá cho các bạn muốn xin học bổng là cần phải có thật nhiều hoạt độngngoại khóa.

 

Nhưng sựthật thì không hoàn như vậy. Những người xét duyệt học bổng muốn bạn tham giacác hoạt động ngoại khóa để bạn phát huy được các tố chất cá nhân của mình, vàđể họ có thể phát hiện ra một tiềm năng nào đó của bạn. Bạn ghi ra quá nhiềuhoạt động, người ta sẽ không thể biết bạn thực sự muốn làm gì, hay bạn chỉ muốnlàm cho vui và đẹp hồ sơ thôi.

 

Một bạnhọc sinh trong hồ sơ học bổng của mình đã liệt kê 12 công việc khác nhau màmình đã làm, nhưng không thể mô tả chi tiết một công việc nào. Một bạn học sinhkhác chỉ có duy nhất một hoạt động ngoại khóa, nhưng có thể kể chi tiết từngquy trình, từng vấn đề gặp phải và từng bài học rút ra. Theo bạn, ai sẽ chiếnthắng?

 

Thư giới thiệu

 

Kinhnghiệm cuối cùng để bạn có thể tạo được đột phá trong hồ sơ của mình chính làthư giới thiệu. Lựa chọn ai là người giới thiệu đặc biệt quan trọng, vì ngườiđó không chỉ là người có chức vụ cao, mà còn là người hiểu bạn. Đa số các họcbổng sẽ đều kiểm tra lại người giới thiệu bằng cách gọi điện thoại hoặc gửiemail, nếu người bạn chọn không hiểu và thân với bạn, họ sẽ không thể trả lờicác câu hỏi liên quan đến bạn được. Và đương nhiên bạn sẽ thất bại cho dù ngườigiới thiệu đó có là tổng giám đốc hay hiệu trưởng của bạn.

 

Cuối cùng,cho dù bạn đã hội tụ rất nhiều yếu tố, thì may mắn cũng là một phần không thểthiếu trong việc xin học bổng. Bạn hãy coi việc xin học bổng như một trò cácược, và khi bạn chiến thắng, bạn sẽ hả hê vô cùng! Còn khi bạn thất bại, hãycứ mỉm cười và tiếp tục con đường du học bằng học bổng “butachi”, vì phía trướccòn vô cùng nhiều cơ hội để bạn khẳng định mình! Chúc bạn luôn thành công!

 

Tác giả: Lê Thị Xuân, Huddersfield University, UK

Du học bằng niềm tin

 

1.“Nhà em không có điều kiện, học lực em chỉ thuộc dạng khá, em có tham gia hoạt động ngoại khóa nhưng không nhiều, nhưng em tin em sẽ đi du học được. Anh chỉ cách cho em được không ạ?”Đó là câu hỏi mà các bạn trẻ hay inbox hỏi tôi dạo gần đây. Tôi rất thường muốn viết những điều có thể truyền cảm hứng cho các bạn trẻ để các bạn cố gắng, nhưng trước khi làm điều đó, hãy để tôi đính chính lại một điều để các bạn rõ ngay và luôn: ngay cả con em nhà có điều kiện, học lực giỏi, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa đôi khi cũng rất khó được nhận vào các trường ĐH Mỹ, đặc biệt là các trường top đầu.Điều đó có nghĩa là, khi gia đình bạn không có điều kiện, học lực và hoạt động ngoại khóa chỉ tàm tạm, bạn tuyệt đối không thể du học chỉ bằng niềm tin và mơ ước.

2.“Nếu vậy”, có lẽ các bạn đang tự hỏi, “tại sao trên báo luôn có nhiều câu chuyện nghèo, tự ti, vượt khó, gia đình không điều kiện được mưa học bổng từ các ĐH Mỹ?” Hay nói một cách khác, chắc các bạn đang phân vân những cái tên như Tôn Hà Anh, Đỗ Liên Quang, hay Châu Thanh Vũ,… làm sao mà đến được vị trí hiện tại?Câu trả lời khá đơn giản: đằng sau cơn “mưa học bổng” và các bảng thành tích mà các bạn đọc được trên mặt báo là rất nhiều cố gắng trong suốt một thời gian dài mà có lẽ vài trăm chữ trên báo không thể nào nói hết được. Do đó, khi mặt báo đang tràn ngập các câu chuyện thành công về “thanh niên vượt khó học giỏi,” những câu chuyện ấy vô hình dung đang phản tác dụng, khiến các bạn tin rằng du học rất dễ, và chỉ cần tự tin là đủ.Đây là một suy nghĩ hết sức nguy hiểm.Nếu ai cũng có thể du học với học bổng toàn phần chỉ bằng niềm tin, thì nước Việt Nam này đã có hàng triệu du học sinh rồi! Sự thật là chỉ một vài người thực sự đạt được mục đích du học cho thấy rằng có hàng triệu người mơ ước, nhưng chỉ có một vài người biến ước mơ thành hiện thực.Riêng tôi, tôi biến giấc mơ du học của mình thành hiện thực bằng cách luôn tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn, có thể đạt được trước mắt thay vì mơ ước viễn vông xa vời; không quá tự tin vào bản thân, và luôn biết mình đang ở đâu.


3. Mơ ước du học đầu tiên của tôi là khi còn là học sinh tiểu học. Lúc đó, bố bảo tôi rằng “nhà mình không có điều kiện nên nếu con muốn du học, con phải tự lo kiếm học bổng.” Gần 10 năm sau đó, tôi gác lại ước mơ du học để tập trung vào các mục tiêu gần, thực tế với mình hơn.Tôi học cấp 2 ở tỉnh Ninh Thuận. Năm lớp 6, tôi tham gia hội chữ thập đỏ ở địa phương vì bạn bè tôi rủ, và vì họ dạy mật mã Morse và Semaphore – 2 thứ mã tôi rất say mê. Tôi tham gia thi cờ vua cấp trường và cấp thành phố dù chỉ là dân không chuyên, ở nhà đánh cờ không lại hàng xóm. Tôi thức đêm viết hàng chục trang dự thi nhiều cuộc thi lớn nhỏ như “An toàn giao thông,” “Học tập tấm gương Hồ Chí Minh,” “Viết thư UPU,” “English and Me,” etc.Hồi đó tôi tham gia nhiều cuộc thi như thế có vì chuẩn bị cho du học đâu. Đơn giản chỉ là những cuộc thi đó là những cái đích nhỏ, gần, và dễ đạt của tôi. Và đến khi tôi viết đơn xin học bổng du học thì những cuộc thi này đã không còn đủ ý nghĩa để tôi có thể tự tin viết vào đơn nữa, nhưng phải công nhận rằng nếu tôi đã không đi những bước nhỏ trước thì đã không bao giờ đi những bước xa hơn.Những cuộc thi nhỏ này đã rèn luyện cho tôi khả năng tập trung suy nghĩ dưới áp lực của thời gian, khả năng viết lách, kinh nghiệm thức trắng đêm để cố làm hoàn hảo một bài dự thi, tinh thần đầu tư 100% công sức để làm điều mình ưa thích, và hàng tá kĩ năng khác mà đã giúp ích tôi phần nào trong các cuộc thi sau này (thi vào chuyên tin Năng Khiếu, thi HSG quốc gia, viết luận xin học bổng, phỏng vấn học bổng UWC, vân vân). Có thể bạn không tin, nhưng đối với tôi, tôi luôn tin rằng mình đã lớn lên một ít từ việc tham gia những thứ nhỏ nhặt nhất trong đời.Do đó, nếu bạn đang kiếm đường đi du học vì bạn đang cảm thấy bế tắc, hay chán ghét giáo dục Việt Nam, hay vừa thi trượt đại học,… thì bạn hãy đầu hàng ý tưởng đó và làm chuyện khác thiết thực hơn. Đó là vì du học không phải là một giải pháp tạm thời để bạn vượt qua bế tắc, càng không phải thứ bạn có thể đạt được trong một hai ngày hay một hai năm. Ngược lại, du học là thành quả của sự không ngừng trau dồi bản thân, không ngừng học tập từ những cái nhỏ nhất qua một thời gian dài.

4. Nếu bạn đã bao giờ có suy nghĩ “dù khó, tôi tự tin tôi chắc chắn sẽ làm được,” tôi nghĩ bạn nên đi chậm và suy nghĩ lại về sự tự tin của mình.Có lẽ mỗi người có suy nghĩ khác nhau, nhưng bản thân tôi chưa bao giờ dám nghĩ rằng mình sẽ làm được điều gì đó 100%. Khi bạn tự tin đến thế, tôi nghĩ nhiều khả năng bạn đang đánh giá quá cao khả năng của bản thân, hoặc đang đánh giá quá thấp những khó khăn mà bạn đang đối mặt, hoặc cả hai.Hãy nhớ rằng đối với bất cứ ai, tự tin là một điểm mạnh, còn tự tin thái quá lại là một điểm yếu.

5. Lần tới khi bạn đọc báo về một câu chuyện học sinh Việt Nam được nhiều học bổng, hãy đừng đọc xem học bổng trị giá bao nhiêu tiền, hay người học sinh ấy đạt được những thành tích nào. Hãy cố đọc xem họ đã từng trải qua những khó khăn gì, và họ đã làm gì để vượt qua những khó khăn ấy. Nếu một bài báo không viết về những điều này, bài báo ấy chỉ đang được viết bởi những phóng viên đời cũ muốn trang trí bài bằng những thông tin hào nhoáng mà thôi.Cuối cùng, cho những bạn đang định đi du học chỉ bằng niềm tin: các bạn hãy dừng lại đi. Hãy ngồi xuống và nghĩ thiết thực hơn: gia cảnh khó khăn và học lực không giỏi sẽ có nghĩa là xuất phát điểm của bạn thấp hơn bình thường. Điều này có nghĩa là bạn sẽ phải cố gắng rất nhiều lần để đạt được mục tiêu du học của mình. Hãy tự hỏi, (1) bạn cần bao nhiêu thời gian, và (2) bạn có đủ kiên nhẫn và ý chí để đi quãng đường dài đó không. Nhớ là, hãy đừng tự tin thái quá.

Tác giả: Chau Thanh Vu

Ma trận các dạng học bổng – cách nhận biết và lựa chọn

Ý tưởng “du học” xuất hiện trong đầu. Sau đó là quyết tâm đi du học nhưng vì cò không tiến nên quyết tâm tiếp theo là xin “học bổng” Bắt đầu mở Google ra để tìm hiểu, gõ những từ khóa đầu tiên và CHOÁNG… + VÁNG… Nghe quen không? ***What the hell! Sao phức tạp thế :(Mình đảm bảo là có rất nhiều bạn rơi vào tình trạng trên. Nhìn cái mớ hỗn độn của kết quả trên mạng mà lạc lối, ko biết bắt đầu từ nơi đâu ^^! Để giúp các bạn đỡ choáng, cần hiểu rõ “học bổng” là cái gì vì nó có vô vàn loại trong khi bạn chỉ đủ sức để nộp những dạng phù hợp với bản thân thôi (trừ trường hợp thiên tài cứ nộp là trúng và nộp đâu trúng đó thì ko nói làm gì nhé).Nếu bạn đã đọc post “Các bước chuẩn bị apply học bổng” của mình thì cái post này sẽ khớp vào bước số 2 “xác định sở thích và tìm học bổng phù hợp”.Hiểu nôm na thì có “học bổng” là khi có một mạnh thường quân nào đó (kể cả bố mẹ, họ hàng) chi trả tiền cho bạn đi học. Khác với mọi người, theo ngu ý của mình thì “du học tự túc” là khi và chỉ khi bạn dùng tiền của chính bản thân mình để học, dù là lao động cật lực, tích cóp trước khi đi học hay vừa học vừa làm.

Mình rất phục những người “du học tự túc” kiểu này, nhiều khi phục hơn cả những bạn xin được học bổng (dạng không phải trợ giúp từ người thân^^!).
Mặc dù lan man vậy nhưng tóm lại dưới đây mình chỉ đề cập đến cái dạng “học bổng” từ “người lạ” nhé!

I/ Phân loại theo cách cho (vay) tiền Viện trợ không hoàn lại và không điều kiện:

Dạng học bổng đáng mơ ước nhất! Rất đơn giản, bạn nhận tiền, bạn tiêu tiền, học xong thì làm gì mặc bạn. Ko có ràng buộc là phải quay trở về nước, phải làm trả nợ cho xyz. Học bổng nổi tiếng nhất dạng này là Erasmus Mundus, Endeavour và các học bổng trường.Viện trợ không hoàn lại nhưng có điều kiện ràng buộc: Cũng tương tự dạng trên, chỉ khác là thường yêu cầu quay trở lại nước ít nhất 2 năm, tiếp tục làm việc cho công ty/tổ chức xyz mà bạn đang làm trước khi đi học tối thiểu thêm 2 năm nữa v.v.v Học bổng dạng này thường là học bổng của chính phủ, dạng ngoại giao như Fulbright, VEF, AAS (hay ADS cũ), NFP…Vay và phải trả: Loại này là đau lòng nhất đây. Sướng trước khổ sau^^. Cơ bản là cầm tiền đi học rồi sau đó phải trả lại một phần (phù) hoặc toàn phần (oops) dưới nhiều hình thức khác nhau: làm việc tại nước đó (ô cũng hay), trả góp bằng tiền (oops)… Cái này thường được gọi là study loan hơn là scholarship, mặc dù vẫn có chỗ nhập nhằng gọi scholarship. Mỹ có rất nhiều cái dạng study loan và Singapore thì có học bổng kiểu cho vay và “bắt” ở lại làm việc trả nợ.
Vậy bạn thích vay rồi trả (nhỡ đâu có bạn thích được bắt ở lại làm việc ở 1 nước nào đó ^^!) hay là cầm tiền đi học với 1 số ràng buộc hay là tiền phải có mà tự do cũng cần luôn???

II/ Phân loại theo mức cho (vay) tiền

Cái này thì dễ hiểu rồi mặc dù nó cũng muôn hình vạn trạng.Chỉ tài trợ học phí với các mức 25%, 50%, 75%, 100%. Sinh hoạt phí phải tự túc.
Nếu bạn xác định không có khả năng “với” tới học bổng toàn phần, dạng học bổng này không hề tệ, nhất là nếu học ở những nước có sinh hoạt phí rẻ (Đông Âu, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…) hoặc nhiều chính sách hỗ trợ sinh viên (Pháp, Đức…)
Chỉ tài trợ sinh hoạt phí. Tại 1 số nước mà học phí được miễn (Na Uy, Phần Lan, 1 số bang của Đức…) thì được tài trợ sinh hoạt phí nữa sẽ gần như ngang với có học bổng toàn phần (kém phần vé máy bay, bảo hiểm thôi)Tài trợ tất tần tật hay là học bổng toàn phần; thì như tên gọi, học phí có người trả, thuê nhà cũng có người trả, ăn cũng được trả luôn, bay đi bay về được bao, bảo hiểm được đóng. Nói chung là vô cùng sung sướng Dĩ nhiên họ (người trả tiền) cũng tính cả nên sẽ không cho quá nhiều, các học bổng ở Châu Âu cho sinh hoạt phí 1 tháng khoảng từ 800 – 1200 euro. Không đủ để sống vương giả, nhưng thừa đủ để sống như 1 sinh viên “đích thực” và thỉnh thoảng đi du lịch!!!

III/ Phân loại theo mục đích của người chi tiền! (liên quan đến cơ cấu xét tuyển luôn)

Có 2 dạng chính, 1) tìm người tài hay học bổng dạng merit-based và 2) học bổng ngoại giao, trợ giúp phát triển, đào tạo/nâng cao năng lực cán bộ. Mình không nói dạng 2 là tuyển người không có tài đi mà vấn đề là cái người có tài đó phải đáp ứng được yêu cầu ngoại giao, trợ giúp… bla bla đã nêu ở trên!Học bổng tài năng/học bổng merit-based/học bổng tìm người tài (lắm tật^^!)Nguồn? Từ trường là đa số (hầu như trường nào cũng có nhé, chỉ có số lượng là nhiều hay ít thôi), từ chính phủ (khá hiếm), từ các tổ chức khác…Đặc điểm cơ bản? Xét hồ sơ, cho điểm, lấy từ cao xuống thấp. Ứng viên có thể thuộc bất kỳ ngành nào (hoặc 1 ngành cụ thể nào đó), từ bất kỳ nước nào (thực ra đa phần là từ các nước đang phát triển), làm ở đâu không quan trọng (tư nhân, nhà nước ok cả), thường không ràng buộc sau tốt nghiệp (viện trợ không hoàn lại và không điều kiện ^^)
Nói tóm lại cứ có tài là được!!! Đây là học bổng phù hợp cho các bạn làm ở khối tư nhân (thường rất khó xin học bổng dạng 2) hoặc làm trong các ngành ít được ưu tiên cho học bổng chính phủ (ưu tiên = khoa học cơ bản, y công cộng, xã hội, môi trường …)
Ví dụ? Erasmus Mundus của LM Châu Âu, Endeavour của Chính phủ Úc, học bổng Clarendon của Oxford, IPRS (International Postgraduate Research Scholarships) của Úc, OFID scholarship (học bổng từ tổ chức OFID hay OPEC Fund for International Development), Leiden University Excellence Scholarship programme (học bổng của trường Leiden ở Hà Lan………..Link đến list 25 học bổng dạng merit-based nổi tiếng nhấtHọc bổng ngoại giao, trợ giúp phát triển, đào tạo/nâng cao năng lực cán bộNguồn? Đa phần là từ chính phủ, 1 số từ các tổ chức hoạt động trong development sector (World Bank, Asian Development Bạnk – ADB) – cái này thì chỉ các bạn học khối ngành xã hội/phát triển mới biết.Đặc điểm cơ bản + ví dụ đại diện? Bạn phải đáp ứng được 1 số điều kiện tiên quyết (là mục tiêu chính của học bổng) trước khi xét đến cái đoạn có tài hay không! Ví dụ:
Là công dân 1 nước abc nào đó: yêu cầu cơ bản của các học bổng ngoại giao song phương. Ví dụ: học bổng song phương Việt Bỉ BTC, học bổng AAS (tên cũ là ADS) của Úc
Học bổng mà có quota riêng cho 1 nước nào đó (năm 20xx, AAS dành 150 suất học bổng Master cho Việt Nam) thì chắc chắn là học bổng ngoại giao!

Làm trong khối nhà nước: yêu cầu của vô số học bổng chính phủ với mục đích nâng cao năng lực cán bộ cho nước đối tác (ngoại giao). Ví dụ: học bổng Chevening của Anh, AAS của Úc, NFP của Hà Lan…
Làm trong 1 số ngành xyz gì đó (mà ngành đó đang được cần đào tạo thêm cán bộ). Ví dụ: VEF của Mỹ (cho công dân Việt Nam làm trong các ngành khoa học cơ bản toán lý hóa tin và y công cộng), SI của Thụy Điển, NFP (Netherlands Fellowship Program) của Hà Lan (cho khối ngành lâm/nông nghiệp, nước/thủy lợi, food security)…

Vậy là các bạn làm trong khối nhà nước, NGO và học 1 số ngành đặc biệt sẽ có lợi thế ở nhóm học bổng này. Và đã có lợi thế thì chả tội gì mà không nộp và xếp thứ hạng ưu tiên cao hơn để đầu tư thời gian/công sức!
Vậy đó, cũng không quá phức tạp, chỉ có vài dạng học bổng cơ bản thế thôi! Việc tiếp theo là xác định loại nào phù hợp với điều kiện (tài chính, ngành học, lực học) của bản thân để theo đuổi, “đeo bám” nữa thôi.Good luck everybody!—
There is no shame in falling down
The shame is not standing up again!

Tác giả: 5continents4oceans

Hướng dẫn apply vào trường đại học Mỹ từ A-Z

Tác giả: Lê Hoàng Nam
Cuộc sống đại học đầy súc vật khiến bây giờ mình mới có thời gian ngồi viết cái này. Có thể hơi muộn đối với 1518, nhưng với những khóa sau thì mình tin rằng những gì mình viết dưới đây sẽ rất có ích cho các em trước và trong quá trình apply. Trước khi đọc cái này, hãy đảm bảo bạn biết trong quá trình apply có những phần nào yếu tố nào, vì mình sẽ không liệt kê các bước với các loại bài thi các loại giấy tờ ra rồi giải trình quá trình app ở đây đâu ạ.

Mình cũng muốn nói luôn là nếu ai đó muốn hỏi mình cái gì về quá trình app thì hoàn toàn có thể ib, nhưng ít nhất hãy tìm hiểu trước xem trong quá trình này có những cái gì. Chứ ib rồi hỏi mình được “học bổng bao nhiêu %” là mình ghét đó.

Why study in the US?
Đầu tiên, mình muốn nói về mục đích của một bộ hồ sơ apply. Mục đích của nó là để phản ánh học sinh trên nhiều mặt (học tập, HĐNK, xã hội, cá nhân, sáng tạo,…) để qua đó xác định xem học sinh có phù hợp với trường hay không (Laura Clark, cựu nhân viên tuyển sinh tại Princeton, giám đốc tư vấn tuyển sinh tại Ethical Fieldston Culture School).
Trước khi mình đi vào nói về các phần trong quá trình app và bộ hồ sơ, mình muốn nhấn mạnh rằng đây là một quá trình đánh giá đa chiều. Nói cách khác, không một yếu tố nào có khả năng một mình quyết định bạn được nhận hay không. Nên là điểm SAT có kém thì cũng đừng có đến mức tuyệt vọng.
A. Thi chứng chỉ:
  1. IETLS/TOEFL:
Vai trò của IELTS và TOEFL được nói rất rõ trên gần như tất cả các websites trường mình lên: Proof of English Proficiency. Nói cách khác, nó chỉ có vai trò đảm bảo là sang đó bạn giao tiếp được với người ta và chấm hết. Điểm IELTS/TOEFL cao không thể gia tăng khả năng được nhận. Nó chỉ mang tính chất là điều kiện cần thôi. Ví dụ, nếu trên website trường nói là học sinh của họ thường được 100 TOEFL chẳng hạn, thì khi họ nhìn điểm TOEFL họ sẽ chỉ nhìn xem có mấy chữ số, và kết thúc ở đó. 101 và 111 chả khác gì nhau cả.
IELTS và TOEFL là English Proficiency Tests, tức là nó đánh giá khả năng sử dụng tiếng Anh của bạn. Mình rất không thích khái niệm “đi học TOEFL” hay “đi học IELTS” vì tất cả những thứ được đánh giá đều là kĩ năng. Học nghe là học cái mẹ gì? Vểnh tai lên mà nghe chứ có gì mà phải học. Thế nên, cách duy nhất và lí do duy nhất bạn có thể tiến bộ là do làm nhiều. Liên tục sử dụng tiếng Anh ở trong các ngữ cảnh khác nhau để làm quen với nó. Khi bạn đã thật sự thoải mái với cái ngôn ngữ rồi thì nói về thứ bạn thích trong vòng 45s chỉ như một cuộc nói chuyện thường ngày. Hơn nữa, khái niệm “đi học TOEFL” hay “đi học IELTS” còn khiến bạn học với tâm lý beat the test. Do đó, khả năng tiếng anh thật sự của bạn sẽ khó tiến bộ hơn vì bạn đã giới hạn sự tiến bộ của mình vào trong bài thi. Nói đơn giản là, nếu như bài đọc IELTS bạn đọc được mà bài đọc bình thường thì không, thì điều đó chả có ý nghĩa gì cả. Nói tóm lại, IELTS và TOEFL là cái tự học.
Vậy tự học như thế nào? Cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đều được xây dựng trên nền tảng ngữ pháp, nên điều quan trọng nhất là hãy đảm bảo ngữ pháp tiếng Anh của bạn chắc chắn. Nếu ngữ pháp chắc thì khi nghe bạn có thể nghe được cấu trúc câu và thì động từ được sử dụng, và như thế việc nghe hiểu sẽ dễ dàng hơn là đôi khi bắt được từ này từ kia mà không nghe được cấu trúc chung; khi đọc bạn có thể phân tích một câu rất phức tạp nhiều mệnh đề ra rõ ràng chủ vị chính ở đâu, mệnh đề nào bổ nghĩa cho cái gì, khiến việc đọc mượt hơn rất nhiều; khi viết thì rõ ràng là cần ngữ pháp rồi không phải giải thích; và khi nói thì bạn linh hoạt hơn rất nhiều trong cách sử dụng ngôn ngữ, và mình nghĩ rằng khi bạn có thể nói mà đúng ngữ pháp, bạn đã thật sự nắm rất chắc ngữ pháp rồi đó vì điều này yêu cầu xử lí ngữ pháp một cách tức thời và liên tục trong giao tiếp. Nói tóm lại, học ngữ pháp trước khi định đến TOEFL/IELTS hay bất kì loại chứng chỉ nào khác.
Có lẽ phần writing sẽ là cái mà mọi người lo nhất nếu như mọi người tự học như mình nói, và nỗi lo này hoàn toàn chính đáng. Với TOEFL, mình xin nói thẳng luôn writing TOEFL bạn chẳng cần cái gì ngoài việc đúng ngữ pháp cả. Template TOEFL rất đơn giản, đừng sai ngữ pháp và đừng dùng lặp từ/cấu trúc và 30/30 hoàn toàn trong tầm tay. IETLS writing thì khó hơn vì nó hàn lâm hơn và yêu cầu khả năng phân tích và phản biện ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, mọi thứ cũng sẽ rất dễ dàng khi bạn chắc ngữ pháp, và cá nhân mình thấy việc đi học viết IETLS cũng không cần thiết cho lắm vì ở nhiều nơi bạn sẽ dành tầm nửa khóa làm những tờ bài tập dạy bạn cách dùng however với therefore và những thứ tương tự. Template của IELTS hoàn toàn có thể tìm được trên mạng. Đọc vài bài mẫu và ghép chúng lại với nhau tự tạo template riêng của mình. Viết nhiều và nhờ ai đó đọc và sửa. Nếu bạn đã chắc ngữ pháp thì hoàn toàn có thể inbox mình, viết vài bài theo yêu cầu mình đưa ra, và mình có thể dạy bạn cách viết task 2 IELTS khá ổn chỉ trong một buổi tối (về lý thuyết là thế, nhưng thực ra sẽ là vài ngày vì mình cũng phải làm bài tập của mình huhu). Task 1 thì mechanical và analytical hơn, như kiểu đọc biểu đồ địa lý ý. Tập nhiều là ổn.
2. SAT (mình không thi ACT nên mình sẽ không đề cập đến nó):
Ở đây mình sẽ bàn đến reading là chính, vì mình không thi SAT mới nên mình không biết essay SAT mới như thế nào. Mình sẽ không bàn đến phần Toán vì là những Bsians chính hiệu tất cả chúng ta chỉ cần làm nhiều cho quen đề, chứ kiến thức thì không có gì quá tầm cả.
Vì một số lí do nhất định, hồi trước mình đã ngồi phân tích và giải thích key tầm gần 100 bài đọc SAT mới, nên mình nghĩ mình có thể bàn về nó. Điều đầu tiên là again, đây là đọc. Chúi mắt vào mà đọc chứ chả ai dạy được cả. Nên là làm nhiều vào nếu thấy mình kém.
Còn về cách làm bài đọc thì theo kinh nghiệm của mình thì thời gian đọc hiểu là chính trả lời câu hỏi là phụ. Hiểu rồi thì trả lời câu hỏi nhanh như bay. Lúc đọc thì xác định ý chính cả bài và ý chính từng đoạn là gì. Nhiều người không thích bị cái giọng đọc trong đầu nhưng mình nghĩ cái đó tốt vì khi làm thế có thể nhận ra tone và thái độ của tác giả luôn. Vừa đọc vừa phân tích trong đầu kiểu tác dụng của ví dụ này là gì thái độ câu này là gì. Lưu ý là mọi chi tiết đều dùng để làm rõ ý tác giả trong đoạn hoặc cả bài. Để ý những cái transitions. Một điều rất quan trọng mà mình để ý là reading SAT thì bất kể câu hỏi về ý chính hay về một chi tiết cụ thể thì đáp án cũng luôn hướng về main idea/main argument của cả bài hoặc đoạn. Nên là nghĩ rộng ra and look at the overall context.
Về cách học thì đương nhiên là làm hết đề thật trước. Tuy nhiên, vì đây là đọc, sát đề thật hay không cũng không quan trọng lắm trong quá trình luyện. Kiểu, lúc luyện bạn quen làm đề khó thì lúc làm đề thật dễ hơn thì mọi thứ sẽ suôn sẻ hơn rất nhiều. Cá nhân mình thấy reading SAT cũ khó hơn hẳn SAT mới, nên sau khi làm hết đề thật SAT mới có thể tìm đề SAT cũ làm để luyện. Và again, điều quan trọng nhất là: LÀM NHIỀU VÀO.
Mình định nói về SAT II nhưng mình thi mỗi Toán với Văn. Toán thì như đã nói chúng ta là Bsians chúng ta chỉ cần làm nhiều còn kiến thức hoàn toàn trong tầm. Văn thì về cơ bản chỉ là reading ở mức độ khó hơn rất nhiều và yêu cầu làm nhiều làm đi làm lại để tiến bộ.
B. “Học app”:
Học app là học cái mẹ gì? Quá trình app có gì cần học? GPA thì ở trên lớp, thi chứng chỉ đã nói ở trên, thông tin cá nhân về gia đình bản thân HĐNK trên CommonApp tự biết tự điền, thông tin tài chính chỉ quanh quẩn ISFAA, CSS, (2 cái y hệt nhau điền xong một cái chỉ việc ngồi chép sang cái còn lại), COF (1 phiên bản rút gọn của 2 cái kia). Nhờ bố mẹ đi lấy bank statements, employer’s statements hay bất kì giấy tờ gì chứng minh thu nhập và tài sản của gia đình và cứ thế điền vào ISFAA/CSS với scan rồi nộp cho trường. Ngồi một buổi tối với bố mẹ là xong hết. Vậy có gì cần giúp?
Essays.
Essays có 2 vai trò. 1 là để đánh giá khả năng viết của bạn. 2 là để tìm hiểu bạn trên những phương diện khác mà đống điểm chác hay cái list HĐNK không thể truyền tải. Thế nên, quyền hạn của 1 counselor đối với essays của học sinh là như sau (Do mình tổng hợp từ các email với các application counselors và admission officers ở Mỹ):
  1. Grammar check.
  2. Proofreading.
  3. Cutting (đây là mức độ edit trực tiếp lớn nhất mà một counselor được phép làm)
  4. Ngồi nói chuyện tìm hiểu và cãi nhau với học sinh để tìm hiểu và cùng nhau đưa ra những hướng tiếp cận và xử lí bài luận.
Vậy, một counselor tốt là một người không đi qua giới hạn trên, và làm được điều thứ 4 một cách kiên nhẫn, cầu tiến và năng suất. Cái này yêu cầu individual attention cực cao, thế nên mình không ủng hộ các trung tâm mà 1 counselor gánh quá nhiều học sinh (trên 10 là có vấn đề rồi).
Học app không hề rẻ, và trước khi nói gì tiếp thì mình nói thẳng luôn là mình chỉ ủng hộ duy nhất một trung tâm, và mình không khuyến khích việc học app. Đương nhiên mình sẽ không công khai nói đó là trung tâm nào ở đây. Nếu ai muốn biết có thể ib mình trực tiếp để hỏi. Các trung tâm còn lại thì hoặc là vì mình biết quá ít để có thể đưa ra nhận định, hoặc là mình thật sự phản đối.
Bản chất của trung tâm là một doanh nghiệp. Họ làm tiền từ việc giáo dục, và cân bằng giữa 2 cái này không phải dễ. Và rất nhiều khi, trung tâm đặt lợi nhuận lên trên lợi ích học sinh qua những hành động như ép học sinh app trường rank cao để PR, ép tăng mức contri, yêu cầu tài khoản và mật khẩu CommonApp để đôi khi vào nghịch, bẻ essays đi một tẹo hoặc nhiều tẹo,… Không chỉ vậy, rất nhiều trung tâm không dành thời gian tìm hiểu học sinh, thế nên những bài luận viết ra rất nông cạn. Mình nói thẳng luôn là trung tâm viết chưa chắc hay hơn học sinh. Mình đã đọc một essay có vẻ như là final draft của một người qua 1 trung tâm nhất định, và nó hoàn toàn nông cạn chẳng có một tí chất nào. Với tư cách người đọc, mình không thấy ấn tượng chút nào với người viết ra bài luận đó, và mình thấy bực với việc trung tâm có thể để cho người này submit bài này cho các trường. Mình sẽ nói sâu hơn về essays ở phần sau.
Vậy nên tìm kiếm thông tin và giúp đỡ ở đâu? Ôi mình thề mình đéo thể nào hiểu được tại sao ai cũng đến trung tâm với hội thảo các trung tâm để tìm hiểu, trong khi có con mẹ nó một cái TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO DỤC CỦA ĐẠI SỨ QUÁN MỸ được đặt trong Đại sứ quán Mỹ ở Ngọc Khánh, Giảng Võ. Cái nguồn khách quan và updated nhất thì không đến lại cứ đến cái chỗ con mẹ nào? Tên nó là EducationUSA: https://vn.usembassy.gov/education-… . Và trước khi ai đó thắc mắc gì thì mình hoàn toàn không được lợi gì từ việc PR cho EducationUSA, bởi vì đây là tổ chức phi lợi nhuận. Cũng chính vì là tổ chức phi lợi nhuận, mà họ giúp bạn app MIỄN PHÍ. Vâng miễn phí đó ạ! Họ tuân thủ đúng mọi quy tắc đạo đức hành nghề đặt ra bởi Bộ Ngoại giao Mỹ, và là nguồn thông tin khách quan, đầy đủ, updated nhất về các trường đại học Mỹ. Không chỉ vậy, cái thư viện của họ cũng cực kì nhiều tài liệu để bạn có thể ôn thi hay tìm hiểu các thứ.
C. Chọn trường:
Cho mình tầm 30p và mình có thể mổ xẻ và thuyết phục bạn tại sao US News’ College Rankings là một thứ chủ quan, thiên vị nhà giàu và nhiều khi rất vô lí với những tác động rất tiêu cực lên cách các trường đại học hoạt động. Tuy nhiên ở đây mình sẽ không làm điều đó, ai muốn nghe có thể ib mình.
Yếu tố phù hợp là rất quan trọng trong quá trình chọn trường. Mấy cái bạn có thể nghĩ là không quan trọng có khi lại có ảnh hưởng rất lớn. Ví dụ như bạn có thể nghĩ khí hậu không quan trọng lắm vì bạn có thể thích nghi, nhưng đến lúc bạn hắt hơi vì lạnh tụt l quanh năm suốt tháng thì bạn đéo có học hành gì nữa đâu mình thề luôn. Nên để chọn trường, đầu tiên hãy xác định những tiêu chí của bản thân, ví dụ như:
  1. NU hay LAC?
  2. Thành thị to to hay khỉ ho cò gáy?
  3. Nóng hay lạnh?
  4. Coed hay single-sex?
  5. Đông người Việt hay ít người Việt?
  6. Một số môn học hay ngành bạn muốn trường có?
  7. Double major không?
  8. Có cơ hội hay cơ sở vật chất cụ thể nào bạn muốn trường có (co-op, internship, study abroad,…)?
  9. Gần ai đó không?
…… Và rất nhiều thứ khác tùy theo nhu cầu cá nhân của mỗi người.
Điều quan trọng nhất là xác định cho bản thân một tư tưởng giáo dục. Bạn muốn nền giáo dục của mình tập trung vào cái gì? Vào việc học để đi làm kiếm tiền hay học vì học? Hãy xác định một tư tưởng giáo dục cho riêng mình, và đọc nghĩ kĩ về cái mission statement với vision trên website các trường. Điều này rất quan trọng vì cuộc sống đại học khá là vất, thế nên bạn cần phải yêu thích việc học của mình để có thể kéo bản thân qua những sự vất đó. Cho đến giờ mình thấy rất intellectually engaged với những gì mình đã và đang được học và đọc, dù mình ở đây mới được có một tuần.
Điều đó dẫn đến ý tiếp theo của mình: Mổ xẻ lật tung cày nát cái website trường ra, xem nó có thỏa mãn những cái nhu cầu của bạn hay không. Nói cách khác, lục tung cái website để xem bạn có phù hợp với chỗ đó hay không.
Again, “the fit” là một điều rất quan trọng, vì bạn sẽ rất khổ sở ở một nơi không phù hợp với mình. Không chỉ vậy, các trường khi chọn học sinh họ chọn những người họ thấy phù hợp nhất, những người mà có tiềm năng phát triển nhiều nhất ở trường của họ, thế nên việc bạn phù hợp với một trường và thể hiện được điều đó trong hồ sơ rất có lợi cho bạn trong quá trình app.
D. Phản đối US News Rankings hay PR cho Bennington College?
Ở đây mình sẽ không mổ xẻ US News như mình đã hứa ở trên, mà mình muốn nói về trường của mình, Bennington College, được xếp hạng 87 bởi US News trên bảng xếp hạng LACs. Từ khi đến đây, học ở đây 1 tuần, mình đã thấy được rất nhiều về giá trị của nơi này mà trước đây mình chưa hề biết đến.
Đầu tiên là những thứ mà có thể tìm hiểu được trên website. Hệ thống giáo dục của Bennington dựa trên 2 cột trụ chính: The Plan và Field Work Term.
  1. The Plan: Ở Bennington không có major. Trường mình có một đống areas of study, nhưng không có major. Học sinh không declare major của mình, mà nó là một quá trình. Khi ra trường sẽ nhận bằng Bachelor of Arts. The Plan Process là bạn sẽ tự chọn ra những gì mình muốn học, tự xây dựng quá trình học của mình trong suốt 4 năm để phù hợp nhất đối với những mong muốn và dự định của bản thân. Không có core curriculum, không có môn gi bắt buộc cả. Chẳng ai bắt bạn phải học hay làm gì cả, chỉ là bạn có dám học hay làm hay không thôi. Đây là điều rất quan trọng với mình khi đưa ra quyết định chọn Bennington: Tự do và tự chủ. Mức độ tự do của Bennington vượt lên trên mọi trường mình đã tìm hiểu, những nơi mà khoe về tự do trên websites nhưng vẫn giới hạn nó với những thứ như core curriculum hay một số khóa nhất định phải học để đạt major requirements. Sự tự do ở Bennington thể hiện dưới rất nhiều dạng, như việc reading room ở thư viện mở 24/7, hay việc học sinh có thể mượn chìa khóa vào các nơi như computer lab để có thể ngồi làm projects thâu đêm suốt sáng,… Mình cũng muốn nói là với mình tự do là điều rất quan trọng, thế nên mình thấy Bennington hợp với mình. Nếu bạn không muốn sự tự do mà, arguably, có thể hơi quá đà như vậy, thì Bennington có lẽ không dành cho bạn. Cách xây dựng The Plan đương nhiên không đơn giản như việc chỉ học mọi thứ bạn muốn. Xuyên suốt 4 năm bạn sẽ phải xây dựng và cải thiện Plan của mình liên tục, và phải thuyết trình và cãi nhau với 1 committee gồm 3 faculty advisors để bảo vệ/điều chỉnh Plan của mình. Như vậy, bạn có thể xây dựng được một kế hoạch thật sự fulfilling mà không thiếu phần challenging chút nào cả, và quan trọng hơn là bạn đảm bảo được là Plan của mình không như l và khi ra trường mình sẽ thật sự đã học được gì đó.
  2. Field Work Term (FWT): Tự do vãi l thế kia thì nhỡ đâu tốt nghiệp lại toàn học những cái ở đẩu ở đâu không dùng được trong thế giới đi làm thì sao? FWT là một điều duy nhất Bennington có. FWT không phải kì học, mà là kì làm. Học sinh bắt buộc apply đi làm ở bất kì đâu trên thế giới trong vòng 7 tuần trong năm học từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 2. Bất kì đâu, miễn là được nhận. Điều này cho phép học sinh có kinh nghiệm đi làm, học những kĩ năng trong thế giới đi làm, và đưa những kiến thức mình đã học vào thực tiễn. Nó còn giúp học sinh khám phá những lĩnh vực mới một cách thật và trực tiếp nhất. Không chỉ vậy, đây còn là cơ hội cực tốt để xây dựng mạng lưới quan hệ mà sẽ rất có lợi khi bạn tốt nghiệp và phải đi kiếm việc.
Sự kết hợp của The Plan và FWT cho học sinh một mức độ tự do cực lớn, nhưng cũng cho học sinh cơ hội để tự đánh giá những quyết định bản thân đưa ra với cái sự tự do đó. Họ trao cho bạn tự do và trao cho bạn khả năng để điều chỉnh mức độ tự do mình muốn thay vì bị cuốn đi. Họ không giới hạn tự do của bạn, mà để cho bạn tự làm điều đó nếu bạn thấy cần thiết. Đây là một sự kết hợp mà mình thấy rất tinh tế, vì việc trao quyền chủ động vào tay học sinh như vậy thật sự khiến học sinh phải có trách nhiệm với những quyết định của mình: Bạn có tự do quyết định, và bạn có trách nhiệm phải chịu những hậu quả do quyết định mình đưa ra. Đương nhiên, hậu quả ấy sẽ chỉ kéo dài 7 tuần, và trải nghiệm đó sẽ khiến bạn nghĩ lại về những quyết định của bản thân và điều chỉnh một cách hợp lí và cân bằng nhất. Những bài học ấy sẽ rất quan trọng sau khi tốt nghiệp, khi mà bạn thật sự tự chủ tự quyết và những quyết định của bạn có thể theo bạn cả đời.
Sự kết hợp này cũng là một sự đảm bảo rằng học sinh vừa học những gì mình muốn và vừa sẵn sàng cho thế giới sau tốt nghiệp (vì đôi khi những gì mình thích không phải là các ngành đang hot trong thị trường việc làm). Nó vừa tự do vừa đảm bảo, và điều tinh tế nhất đó là cả 2 mặt đó đều do bạn quyết định, chứ không ai khác.
Bây giờ đến những điều mà mình nhận thấy sau 1 tuần học. Từ khi thành lập, Bennington đã luôn là một trường rất progressive và rất đa dạng. Đọc commencement statement trên website là thấy. Phải tầm một nửa trường là LGBTQ+. Những nước mình chưa hề nghe tên đều có người ở đây. Tuy nhiên, trái với khái niệm diversity ở nhiều nơi, Bennington tiếp cận khái niệm này một cách rất khác.
Diversity agenda là cái mà các chiến binh công lý xã hội dựa vào để đưa mọi thứ lên một tầm cao mới. Khi mình mới gặp roommate, roommate (một người da đen) hỏi: “How’s your English?” Ở nhiều nơi, câu hỏi này sẽ được coi là microaggression, một khái niệm rất gây tranh cãi. Tuy nhiên, mình biết roommate không có ý xúc phạm mình hay phân biệt, mà đơn giản là nó không biết. Nó sống ở Mỹ còn mình ở Việt Nam. Làm sao nó biết được ở Việt Nam học sinh phải học tiếng Anh từ lớp 3? Diversity agenda là cái thứ mà các social justice warriors dựa vào để phê phán sự cultural ignorance như vậy và condemn nó as hatred, một điều mà thật sự rất vô lí và cực đoan.
Bài đọc đầu tiên của mình là một bài đọc cho First-year Forum với faculty advisor để hướng dẫn học sinh qua hệ thống giáo dục ở Bennington. Bài đọc đó về total institutions, những nơi mà có một tập thể gần như là cố định sinh hoạt cùng nhau cả ngày trong một thời gian dài. Những nơi như nhà tù, bệnh viện tâm thần, trại tập trung,… Lúc đầu, mình không hiểu mục đích cho lắm, nhưng rồi mình bật ra: “She probably wants us to compare a college campus, particularly Bennington, with a total institution.” Và đấy đúng là điều cô ý làm. Cô ý còn yêu cầu bọn mình phân loại các “wardens” trong “asylum” này và mối quan hệ của họ với “inmates”. Điều mình muốn nói là, cô ý đang khuyến khích bọn mình nhìn nơi này đa chiều hơn, như kiểu cô ý muốn nói “You chose this place, so I assume you must like it. But here, this place has its bad sides, and it may not be all that you think.”
Assignment thứ 2 của cô ý là muốn mình ngồi trong nhà ăn và ghi chú xem mọi người xung quanh làm gì, nói về cái gì, ngồi ở đâu với ai như thế nào. Điều này nói rất nhiều bởi nó cho thấy xã hội và cộng đồng ở đây được xây dựng và hoạt động như thế nào. Người như thế nào thì ngồi một mình? Khi ngồi một mình thì họ ngồi ở đâu? Người như thế nào thì ngồi theo nhóm? Và ở đâu? Lúc nào vắng lúc nào đông? Tóm lại, cô ý một lần nữa muốn bọn mình tìm hiểu thêm về cộng đồng này, về có thể thấy được những kiểu người nhất định, và có thể có một số kiểu có nhiều bạn bè hơn những kiểu khác.
Một lớp khác của mình cũng có một bài đọc mà trong đó tác giả ủng hộ việc miêu tả chân thực không giấu giếm không nói giảm nói tránh bạo lực để thật sự hiểu được nó, chứ không nên cấm kị điều đó. Vì có như thế thì mới giải quyết được bạo lực.
Cái điều mình muốn nói ở đây là trong 1 tuần qua, mình đã được khuyến khích đi tìm sự thật thông qua các bài đọc và bài tập. Mình hơi không muốn dùng từ “sự thật” vì sự thật và thực tại thay đổi liên tục và phụ thuộc vào góc nhìn, nhưng mình không tìm ra từ nào khác. Điều này liên quan mật thiết đến cái diversity agenda mình nói ở trên: They don’t play social justice here. Như việc mình với roommate: Mình khác nó và nó khác mình. Đó là sự thật. Không hiểu nhau là điều hoàn toàn dễ hiểu. Bennington hiểu rằng những sự thật đó cần được phơi bày và cần được hiểu trước khi công lý xã hội có thể trở nên hiệu quả. Thế nên ở đây, trong một bài báo mình đã đọc về Bennington, sự tự do được nâng lên một tầm mới: “Students can say whatever they want.” Và chính sự authentic freedom of expression đó khiến mọi người chọn từ ngữ cẩn thận hơn rất nhiều, vì nó khiến họ hiểu rằng có những sự khác biệt giữa mọi người với nhau, và tất cả đều hiểu rằng họ cần hiểu những những sự khác biệt đó trước bất cứ điều gì khác.
Sự tự do ở Bennington, dù có vẻ hơi quá đà, nhưng chính sự quá đà ấy lại giải quyết những vấn đề mà bản thân nó có thể gây ra. Chính vì những lí do này mà mình tin rằng Bennington thật sự là một hidden gem mà khó có thể thấy được trên bảng xếp hạng của US News, và mình chân thành khuyên và khuyến khích mọi người khi chọn trường hãy thật sự nghiên cứu và tìm hiểu trường, bởi lẽ một con số trên US News không thể nào phản ánh được tất cả các mặt của một ngôi trường.
E. Hoạt động ngoại khóa:
Hoạt động ngoại khóa có một số vai trò như sau. 1 là nó cho trường biết bạn thích gì, đam mê gì, quan tâm gì. 2 là nó cho trường biết bạn cống hiến bản thân đến đâu cho sở thích, đam mê, mối quan tâm đó. Thế nên, một danh sách hoạt động ngoại khóa có chất lượng là một danh sách thể hiện được những sở thích, đam mê, mối quan tâm và sự cống hiến của bạn dành cho chúng. Mình biết trên CommonApp có 10 dòng điền HĐNK, và điều này khiến học sinh cảm thấy áp lực phải điền hết, nhưng áp lực đó là một tưởng tượng.
Khi chọn học sinh, trường không muốn một học sinh toàn diện, mà họ muốn một khóa toàn diện, thế nên họ muốn mỗi học sinh có mặt mạnh khác nhau. Có người hát hay có người đá bóng giỏi, có người hoạt động xã hội có người bú mình trong phòng thí nghiệm,… Thế nên, một danh sách HĐNK mà bạn làm mọi thứ đi khắp nơi không phải là một danh sách tốt.
Thứ 1, HĐNK là tất cả những gì bạn làm ngoài phòng học. Viết blog, chơi guitar, đạp xe 10km chăm sóc cho người bà bị ốm hàng ngày,… Tất cả những cái đó là hoạt động ngoại khóa, chứ không chỉ những hoạt động hay sự kiện hay cuộc thi được tổ chức bởi một đơn vị nào đó. À đó, nhân tiện nói luôn là: Bỏ ngay cái tư tưởng tham gia HĐNK vì cert đi nhé. Mình không hô hào về sự nông cạn của việc này đâu, mà mình sẽ nói thẳng cho bạn về mặt thực tế là gửi cert cho trường là trường ghét cho đó nó đéo nhận đâu.
Thứ 2, chất lượng hơn số lượng. 3 năm gắn bó và cống hiến cho một tổ chức về môi trường tốt hơn là đi khắp một đống tổ chức về môi trường nhưng mỗi cái không quá được 1 năm.
Thứ 3, HĐNK ngoại khóa ấn tượng nhất khi bạn viết được hay về nó, và bạn chỉ có thể viết hay nếu như bạn thật sự yêu thích và thật sự đắm mình vào cái trải nghiệm đó để thật sự hiểu những bài học mình đã rút ra. Mình sẽ nói sâu hơn về việc viết ở phần sau. Ở đây, cái mình muốn nói là: Lãnh đạo hay không, có đi rừng núi hẻo lánh hay không quan trọng bằng việc có hiểu và trân trọng cái mình đang làm hay không.
F. Lãnh đạo:
Đây là một khái niệm rất được trọng vọng trong mắt nhiều học sinh khi apply. Mình thừa nhận, xã hội và giáo dục Mỹ rất coi trọng việc lãnh đạo, nhưng trong quá trình quyết định nhận hay loại thì khái niệm này hơi khác với cách hiểu thông thường của nhiều học sinh Việt Nam. Định nghĩa chính xác có 2 phần:
  • Lãnh đạo không phải là thành lập một tổ chức, làm (phó) tịch của một câu lạc bộ hay sáng lập một dự án.
  • Lãnh đạo là tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng xung quanh.
Điều quan trọng cần hiểu rằng, khi các trường nói rằng họ muốn tìm lãnh đạo, họ muốn tìm người khi tốt nghiệp có tố chất làm lãnh đạo, chứ không phải một người có một danh sách các chức danh. Vậy thì, để sau khi tốt nghiệp trở thành lãnh đạo cần có cái gì? 2 thứ: kĩ năng lãnh đạo – cái mà trường sẽ dạy bạn trong 4 năm, và một ước muốn thay đổi cộng đồng – cái mà trường muốn thấy trong hồ sơ.
Nói rộng ra, trường muốn thấy một đam mê từ phía bạn. Bạn có thể là một người chơi piano xuất sắc và về sau có thể bạn sẽ soạn ra những bản nhạc mang tính quyết định thời đại, nhưng ở tuổi 16 17 khi bạn vẫn đang hoàn thiện kĩ năng chơi piano của mình, việc bạn lãnh đạo một cái gì đó thật sự hơi không cần thiết.
G. Essays:
Mình sẽ copy lại cái vai trò của essays xuống đây. Essays có 2 vai trò. 1 là để đánh giá khả năng viết của bạn. 2 là để tìm hiểu bạn trên những phương diện khác mà đống điểm chác hay cái list HĐNK không thể truyền tải.
Một essay hay là một essay có chất. Một essay có chất là khi bạn thật sự hiểu mình đang viết cái gì, và vì bạn đang viết về bản thân, nó yêu cầu bạn hiểu bản thân và những trải nghiệm của bản thân. Thế nên mình mới nói một counselor thật sự kiên nhẫn và cố gắng tìm hiểu bạn là rất quan trọng, để từ đó bạn có thể đặt ra những câu hỏi từ từng bản draft bạn viết ra, qua đó cải thiện chiều sâu và cái chất của bài essay.
Sáng tạo? Đừng có cố phải viết ra cái gì mới lạ để wow người ta. Người ta đọc essays từ khắp nơi trên thế giới trong rất nhiều năm rồi, chả có gì người ta chưa đọc đâu, nên bạn không có cửa làm người ta bất ngờ đâu. Cố quá thành quá cố đó. Cái mình muốn nói về việc sáng tạo là ý tưởng nào cũng có thể viết được, miễn là bạn đủ hiểu nó, và tìm ra đúng cách để thể hiện nó. Hồi mình viết PS, mỗi lần viết mình thử đi thử lại những format những structure những phong cách viết khác nhau để xem cái nào phù hợp và hiệu quả nhất. Mình bị chị app dập liên tục trong khoảng 2 tháng, mỗi lần bị dập là mình xóa đi viết cái mới. Cho đến khi 2 tuần trước deadline 1/11 mình tìm ra được format hiệu quả (dù tận 1000 từ) và cũng là lần đầu chị ý nói đọc bài thấy thích. 1 tuần sau đó mình có PS chính thức hoàn chỉnh.
Một câu hỏi mình hay được nhận là có nên điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp với hình mẫu trường muốn không. Câu trả lời là không. Và mình sẽ không hô hào rằng bạn muốn được nhận vì chính con người mình hay blablabla,… mà mình sẽ trả lời một cách thực tế hơn. Mỗi trường đều có cái gọi là institutional need. Tức là họ muốn một khóa và một môi trường đa dạng, nên mỗi lúc họ muốn một kiểu học sinh. Hôm nay họ muốn thằng bú mình trong phòng nghiên cứu, ngày mai muốn con nhà thơ, ngày kia muốn thằng lập trình, ngày kìa muốn con hoạt động xã hội,… Cái institutional need này thay đổi liên tục và bạn không thể nào biết được lúc nào trường muốn học sinh kiểu gì. Thế nên cơ hội tốt nhất của bạn là phản ánh chân thực bản thân mình và mong rằng trường đang tìm kiếm một người như mình.
Không có công thức nào để viết essay hay đâu nha. Nếu bạn thật sự hiểu mình đang viết cái gì thì tự khắc nó sẽ hay thôi.
H. Những nguồn giúp đỡ:
EducationUSA là nguồn miễn phí và chính xác nhất bạn có thể kiếm được ở Việt Nam. Bên cạnh đó, hãy hỏi những người khóa trên đi trước, vì họ là một trong những người duy nhất không có động cơ cá nhân để trục lợi từ việc giúp đỡ bạn.
Và sau khi viết ra cái note dài vcl này, để thật sự take it all the way, thì mình muốn đưa bản thân ra giúp đỡ khóa sau. Trừ essay SAT mới với ACT ra nhé, còn lại essay IELTS, TOEFL, hay PS và supps, mình luôn sẵn sàng đọc và nhận xét (dù có thể không phải ngay lập tức). Nếu muốn và sẵn sàng chia sẻ bạn có thể ib mình và mình sẽ đọc và rep ngay khi có thể.
Không chỉ vậy, nếu cho đến bây giờ 1518 có ai không có ai giúp xuyên suốt cả quá trình thì có thể tìm đến mình. Cả các khóa sau 1518 nữa mình sẵn sàng giúp đỡ các khóa sau trong quá trình apply này. Đương nhiên là mình nghĩ các bạn nên đến EducationUSA trước, nhưng mình cũng lo là như vậy sẽ đặt gánh nặng lên vai những chuyên viên ở đó, nên nếu ai muốn mình giúp thì luôn có thể inbox và mình sẽ giúp hết sức có thể.
I. Vài lời cuối:
Quá trình apply đi Mỹ ở Việt Nam hiện giờ như một chiến trường và một cuộc đua, nhưng nó không cần thiết phải như vậy. Mọi người tập trung quá nhiều vào việc so đo mình với người khác trong khi quá trình này là về bản thân bạn, là về tìm được nơi phù hợp với bản thân bạn. Những quan niệm sai lầm về HĐNK, lãnh đạo, essays hay sự thần thánh hóa US News College Rankings khiến cho mọi người tự hại mình theo rất nhiều cách khác nhau. Và trên hết, nhiều người không có được nguồn giúp đỡ tử tế. Cho đến giờ mình đã dành tới 4h đồng hồ để viết ra cái note này với mục tiêu giải quyết phần nào những vấn đề đó. Nếu đọc được xin hãy share để cái note này có thể đến được với các khóa sau nữa mà mình không hề quen biết, nhưng có thể sẽ rất cần được đọc những gì mình viết ở đây.
Chúc 1518 một mùa app may mắn. Và từ 1619, mình mong là với cái note này, các em sẽ sẵn sàng hơn và vững tâm hơn cho những gì phía trước.

Hồ sơ du học – sai lầm nhỏ, hậu quả lớn

Một mùa apply mới lại đến, mở đầu bằng siêu học bổng phức tạp + cạnh tranh Erasmus Mundus. Hành trang mà mỗi “chiến binh” cần trang bị cho mình trong cuộc chiến săn học bổng đơn giản gói gọn vào 2 thứ: tinh thần và hồ sơ xin học.


***
Một bộ hồ sơ là tất cả những gì bạn có thể làm để “chào bán” bản thân đối với các trường đại học và ban xét duyệt học bổng. Thành hay bại đa phần từ nó mà ra và đôi khi chỉ một sai lầm nhỏ khi chuẩn bị có thể dẫn đến cay đắng rất lớn.
Hãy cùng điểm qua một số câu chuyện thực tế xoay quanh việc chuẩn bị và nộp hồ sơ để rút ra kinh nghiệm nhé.

Chuyện số 1:
Hồi còn la liếm trên ttvnol (tức là thớt học bổng nào cũng có mặt ý), mình để ý thấy có 1 số bạn không apply SI (học bổng của Thụy Điển) hoặc các học bổng trường của Úc với cùng 1 lý do là “phải nộp phí”. Đúng là số tiền không nhỏ, ~9triệu với SI (không hoàn lại dù kết quả thế nào) và 100-150 AUD đối với các trường ở Úc (hoàn lại nếu được học bổng). NHƯNG không lớn đến mức bỏ qua cả 1 cơ hội! Mình cho rằng suy nghĩ như thế là thiển cận. Có câu “bỏ con săn sắt bắt con cá rô”. Người ta cấp học bổng cả mấy chục ngàn euro, bạn bỏ ra vài trăm để nộp hồ sơ, quá rẻ nếu bạn được học bổng và cũng không quá đắt để “mua” 1 kinh nghiệm để đời dù bạn có chót trượt học bổng đó.
Kinh nghiệm rút ra: Đừng bỏ qua các loại học bổng bắt nộp phí xét tuyển! (nhưng cũng đừng có nhầm với cúng tiền cho các công ty tư vấn du học với lời hứa hẹn xin được học bổng đó nha).

Chuyện số 2:
Lại cũng bạn SI, nhưng có thể suy chung ra cho các loại học bổng bắt nộp hồ sơ qua đương bưu điện (vâng, mặc dù chúng ta đang sống trong thời đại số, mọi thứ đều online, vẫn có nơi đòi hỏi tréo nghoe thế đấy). Ngắn gọn là thế này: nộp hồ sơ (gửi chuyển phát ở bưu điện) khi hạn chót nộp đã cận kề –> hồ sơ thiếu 1 thứ giấy tờ nho nhỏ gì đó –> bị yêu cầu bổ sung –> phải gửi chuyển phát nhanh tốn rất nhiều tiền HOẶC lỡ mất cơ hội nộp học bổng. Dù là kết quả nào thì cũng đều chắc đẹp đẽ gì và hoàn toàn có thể tránh được.
Kinh nghiệm rút ra: Đối với các học bổng phải nộp hồ sơ giấy (không online), đừng bao giờ chờ đến sát hạn chót mới nộp.

Chuyện số 3:
Có kha khá học bổng yêu cầu phải xin giấy nhập học của trường trước, ví dụ như Chevening (Anh), EBF (Groningen, Hà Lan), SI (Thụy Điển), Endeavour (Úc) etc. Trường xét thì nhanh, các học bổng mới có quá trình xét lâu. Trường cũng cho nộp hồ sơ từ rất sớm và nộp lúc nào cũng được không như học bổng chỉ cho nộp trong 1 khoảng thời gian nhất định (1-2 tháng). Sai lầm khi chỉ xin giấy nhập học 1-2 tháng trước hạn chót của học bổng. Sẽ muộn và mất cơ hội (hoặc lợi thế) nộp học bổng nếu như không nhận được giấy nhập học đúng hạn, hoặc trường yêu cầu bổ sung giấy tờ etc.
Kinh nghiệm rút ra: (cũng giống như điểm 2) Xin giấy nhập học càng sớm càng tốt (>3 tháng trước hạn nộp học bổng), VÀ tránh các giai đoạn cao điểm (giai đoạn trường nghỉ giáng sinh cuối tháng 12, đầu tháng 1; lễ phục sinh vào tháng 4; nhiều hồ sơ như tháng 7, 8).

Chuyện số 4:
Thiếu cẩn thận khi làm hồ sơ nhiều khi là một lỗi chết người. Mình ngồi cùng phòng với ông tuyển sinh khóa thạc sĩ. Ổng rất hay đọc trích đoạn SoP của sinh viên lên và bình luận. Có lần thấy ổng đọc lên câu này từ SoP của ai đó “I am confident that I deserved to receive the xyz scholarship from you…” rồi ổng tiếp luôn “but you are applying for the master program in our institute… no sorry you do not deserve anything!”. Đó, khi mà ai đó phải đọc cả trăm cái hồ sơ, họ trở nên vô cùng nhạy cảm với những tiểu tiết nhỏ nhặt 😉
Kinh nghiệm rút ra: Kiểm tra, kiểm tra, kiểm tra kỹ tất cả các tình tiết trong hồ sơ của bạn, mọi thứ phải thật sự thống nhất từ CV, đến LoR, đến SoP. Đảm bảo tên trường, tên học bổng trùng khớp. Đảm bảo SoP viết đúng về cái ngành, trường đang xin. Râu ông nọ mà cắm cằm bà kia là thảm lắm đó 😀
Source: 5 continents 4 oceans

Kinh nghiệm nộp hồ sơ MBA – Harvard Business School

Nguyễn Vũ Đức

Harvard Business School

Major: General Management

IELTS: 8.0

GMAT: 740 (Q50, V41)

Điều gì là quan trọng nhất khi học MBA?

MBA đào tạo về quản lý, nó hướng vào những người có tố chất lãnh đạo tức phải có leadership skill và hồ sơ gồm nhiều thứ như GPA, GMAT, kinh nghiệm làm việc, kinh nghiệm tham gia hoạt động ngoại khóa. Đối với người mới đi làm 1, 2 năm thì người ta chú trọng đến hoạt động ngoại khóa, còn với những người làm lâu năm như anh thì phải có vị trí nhất định nào đó trong công ty. Hồ sơ còn có essay để thể hiện tố chất bản thân và chứng minh năng lực, mô tả về con người mình cũng như leadership skill. Anh nghĩ khi nhìn nhận về hồ sơ MBA, đừng nghĩ cái gì là quan trọng nhất mà phải nhìn một cách tổng thể. Năm vừa rồi ông hiệu trưởng trường Harvard có nói: “Chúng tôi muốn chọn hồ sơ của thí sinh qua cái nhìn tổng thể toàn bộ hồ sơ chứ không phải qua 1 bài luận. Tôi không muốn đây trở thành cuộc thi viết luận”.

Đối với các trường top thì GPA, GMAT cao là yêu cầu tối thiểu mình cần có. Ví dụ vào trường Harvard, trong 9000 hồ sơ nộp thì có quá nửa những người điểm GMAT cao. Các anh chị còn lại muốn cạnh tranh được phải dựa vào kinh nghiệm và essay của họ.

Đối với người Việt Nam đã đi làm lâu năm và có vị trí nhất định trong công ty thì có thể gặp khó khăn trong vấn đề điểm GMAT và tiếng Anh. Vì vậy, khi định hướng du học, nên có kế hoạch ôn luyện để cân bằng rào cản này. Ngoài ra, có lưu ý là trường xét hồ sơ theo khu vực ví dụ khu vực Đông Nam Á, khi đó trường sẽ so sánh hồ sơ của mình với những người trong khuôn đó chứ không so với người ở khu vực khác như Âu Mỹ.

Tiêu chí chọn trường

Có rất nhiều tiêu chí khác nhau như ranking, chương trình học, tỷ lệ có việc làm, location, … Ngoài ra có thể tìm hiểu thêm chỉ tiêu tuyển sinh, profile trung bình của các sinh viên được nhận để đánh giá profile của mình. Với những người đi sau có kinh nghiệm ít hơn thì phải chọn những trường phù hợp, thấy được cái view của mình khác gì so với người khác.

Anh thấy cái fit của mình với trường cũng không phải do trường mà đó là việc tìm câu trả lời cho bản thân mình. Ví dụ trong quá trình nộp thì anh tìm hiểu kỹ về trường Standford và Harvard thì thấy Standford chú trọng đến những đối tượng muốn mở công ty riêng và ít tuyển sinh viên quốc tế còn Harvard chú trọng đến những CEO của công ty lớn và tuyển nhiều sinh viên quốc tế hơn. Vì MBA chỉ có thể học 1 lần trong đời nên chọn trường tốt và phù hợp nhất với mình để học.

Đợt anh apply cũng không có safety schools vì anh xác định nếu không được thì sẽ apply lại. Như vậy sẽ phải đánh đổi thêm 1 năm nữa. Đây cũng là vấn đề cần phải cân nhắc, vì apply ít mình sẽ có thời gian tập trung vào các trường mình thích, còn apply nhiều hơn thì có thể có safety zone nhưng độ tập trung phải phân bổ ra.

Động lực nào thúc đẩy anh sang Mỹ học MBA?

Mong muốn đi du học có trong anh từ lâu rồi. Hồi sinh viên, anh được sang Anh 2 tháng và rất thích văn hóa của họ. Trong đầu anh hình thành ý tưởng muốn sang đó để học Master. Khiý tưởng nhen nhóm, anh chuyển sang học tiếng Anh và định sẽ đi làm 2-3 năm rồi xin đi học ở Úc chứ hoàn toàn không nghĩ mình có thể học ở Mỹ. Nhưng sau đó anh bị công việc cuốn đi do công việc của anh phát triển cũng tốt và cưới vợ rồi có con nên mọi việc bị chìm xuống. Tuy nhiên, anh vẫn thích học tiếng anh, mỗi năm anh học khoảng 2-3 khóa và duy trì như vậy. Thời điểm đó cơ quan anh có chương trình học bổng 165 dành cho đào tạo lãnh đạo, học bổng này không phải là lớn nhưng giúp mình quay lại suy nghĩ đi học. Hơn nữa, đi học theo hình thức được cơ quan cử đi thì rất an tâm và 9 năm đi làm cống hiến không bị lãng phí. Vì vậy, anh bắt đầu tìm hiểu để apply.

Tháng 8 năm ngoái anh mới biết đến GMAT và thấy rất khó khăn, nhưng anh nghĩ cứ cố gắng hết mình và apply. Khi đó anh chuẩn bị hồ sơ cùng 2 anh khác cùng cơ quan, 1 anh là Phó giám đốc, 1 anh là Trưởng phòng. Hai anh này chức cao hơn anh nhiều nhưng lại quá bận nên không sắp xếp để cố hoàn thành hồ sơ đi Mỹ. Mặc dù hiện tại 2 anh này đang học Monash tại Úc là trường tốt nhưng vẫn luôn tiếc vì ít nhất đã không thử apply như anh. Anh thích câu nói rất hay như sau: “Trong một trận chung kết, người thắng sát nút có thể chỉ hơn một chút thôi nhưng người ta sẽ nhớ mãi mãi, còn người thua sát nút có thể chỉ thua sát sao 1 chút thôi nhưng sẽ không ai nhớ người đó cả”. Nhiều khi mình chỉ cố gắng một chút thôi thì kết quả sẽ khác, đó là sự đầu tư của mình để đạt được mục tiêu. Năm vừa rồi anh giành rất nhiều thời gian vào IELTS, GMAT,… và các thứ khác mình phải giảm bớt đi như công việc của mình sẽ không còn được xuất sắc, không được promotion nhanh nhưng mình phải xác định rõ mục tiêu của mình là gì để tập trung.

Cụ thể, trong môt năm vừa qua anh đầu tư rất nhiều thời gian vào GMAT, có thể là thức khuya, xin không đi công tác. Lúc đầu anh học ở Equest 3 tháng, đến tháng 12 anh thi được 550 và đến cuối tháng 1 anh thi được 740. Lúc này anh mới thật sự có tự tin để nộp đơn và được anh Tường ở USGuide khuyến khích tinh thần “You can do it” và cố gắng hết mình xin vào Harvard, Standford. Khi mình có sự nỗ lực và quyết tâm anh nghĩ rằng mọi thứ hoàn toàn là có thể và đặc biệt là với Mỹ. Có người bạn nói với anh rằng: “Anh, Úc, Mỹ khác nhau ở chỗ: Ở Anh và Úc, nếu anh có tiền, anh chỉ cần có IELTS là có thể đi học. Còn ở Mỹ, anh có tiền cũng chưa chắc đã được đi học. Nếu anh được nhận vào trường, thì trường Mỹ sẽ có nguồn cho anh đi học”. Trên đề án học bổng, anh được cho tối đa là 20,000USD và sinh hoạt phí hơn 1000USD/tháng. Với anh nếu được đi Mỹ sẽ phải chi ra rất nhiều tiền, đây cũng là rào cản lớn. Nhưng khi anh apply thành công và trình bày được hoàn cảnh tài chính của mình thì trường cho anh full tuition, anh không phải lo thêm về tài chính nữa.

Anh thấy anh phù hợp với chương trình MBA như thế nào?

Anh thấy trong một xã hội nếu ai cũng là nhà quản lý thì không ai sẽ là môn. Ví dụ, trong nền kinh tế rất cần master về finance. Hay trong doanh nghiệp lớn bao giờ cũng cần CFO về tài chính, CIO về công nghệ thông tin và CEO về quản trị quản lý. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần bộ 3 này. Trong xã hội rất cần những chuyên gia giỏi, tùy mỗi người đánh giá bản thân thích cái gì hơn mà trở thành chuyên gia hay nhà quản lý. Quản lý đôi khi phải giao tiếp rộng, phải uống nhiều. Người thẳng tính thích làm chuyên môn thì không thể làm lãnh đạo. Người thích nghiên cứu sâu cần phải đưa ra các định hướng vì định hướng rất quan trọng. Ngay cả apply MBA cũng vậy, mỗi trường là khác nhau, mỗi trường đều có văn hóa riêng, thế mạnh riêng, do đó cần tìm hiểu trường phù hợp với mình

Khi nộp cho mỗi trường phải viết bài essay và LOR riêng, giấy tờ cần chuẩn bị rất nhiều. Anh quản lý thời gian và công việc này như thế nào? Chia sẻ về việc chuẩn bị hồ sơ của anh.

Chiến dịch của anh bắt đầu từ tháng 7 năm ngoái thế là cũng hơi muộn, anh nghĩ nên chuẩn bị trong tầm ít nhất 6 tháng và nếu chuẩn bị trước 2 năm thì sẽ rất tốt. Vì riêng GMAT anh mất 4 tháng và khi anh thi xong các thứ thì không kịp nộp vào round 1,2. Nộp Round 3 rất rủi ro vì lúc này nguồn kinh phí cho scholarship sẽ ít hơn và gần như là không còn, các trường lớn như Harvard và Standford là 2 trường khác biệt và họ cũng có nhiều fund hơn các trường khác. Việc chuẩn bị nhiều thời gian rất cần thiết vì mình cần nghiên cứu kỹ về trường, gặp gỡ alumni, sinh viên của trường để hỏi han hoặc tham gia các events liên quan để tìm hiểu thông tin rồi networking. Thêm vào đó, quá trình viết essay và nhờ người viết thư giới thiệu cũng rất mất thời gian.

Với khối lượng công việc như thế, mình phải lên kế hoạch cẩn thận. Anh apply vào 3 trường top và không chọn safety schools vì anh xác định năm nay không được thì sang năm apply lại. Anh giảm số trường đi như vậy để có thể đầu tư kỹ hơn vào 3 trường mình chọn. Khi đặt mục tiêu xong, anh viết essay và nhờ người viết LOR. Anh có nhiều kinh nghiệm làm việc nhưng lại không có nhiều hoạt động ngoại khóa, đây là một điểm trừ nhưng anh may là anh có kinh nghiệm làm việc lâu năm cân bằng lại. Nếu các bạn có định hướng du học sớm thì nên tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa từ sớm. Anh thấy cuốn sách “How to get into the top MBA programs”là quyển sách rất hay đặc biệt dành cho những bạn nào có nhu cầu học MBA. Kế hoạch du học phụ thuộc vào từng case của từng người nhưng nếu như bạn có kế hoạch du học càng sớm thì sẽ hiệu quả hơn.

Chia sẻ về vấn đề tài chính và GMAT

Các trường ở Mỹ có học bổng dạng merit-based, nếu các bạn có điểm GPA, GMAT cao thì 90% bạn có thể đạt được học bổng du học Mỹ. Ngoài ra đối với các trường lớn và nhiều fund như Stanford, Harvard thì các bạn không phải lo lắng về học phí vì trường có thể hỗ trợ rất linh hoạt. Đối với MBA, chương trình học của nó rất inclusive, ngoài thời gian học trên lớp bạn còn phải tham gia hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, case study, và cả networking nữa nên thời gian sẽ kín lịch gần như toàn bộ. Vì vậy khó có thể đi làm trong khi đi học, nhưng nếu như bạn không có ràng buộc gì và có mong muốn ở lại Mỹ làm việc thì bạn có thể vay để đi học và trả sau khi đi làm.

Việc xin học bổng đừng nhìn vào khung đánh giá của Mỹ mà sợ, mình phải cân nhắc tùy từng hoàn cảnh, nếu mình tự tin mình giỏi thì kiểu gì mình cũng xin được. Nếu như bạn bỏ đi rủi ro ban đầu để chọn trường lớn thì cơ hội việc làm đầu ra của bạn sẽ rất tốt còn ngược lại về lâu về dài sẽ rất khó cho bạn. Bạn chỉ có cơ hội 1 lần với MBA thôi nên cần cân nhắc kỹ. Một khi anh đã đi theo MBA thì anh đã lên được quản lý rồi, và anh đã lên vị trí quản lý rồi thì anh không thể nghèo được.

Theo anh nên đi làm 2, 3 năm rùi lúc đó mình có vốn tự có tầm 20,000-30,000USD/1năm thì lúc đấy mình yên tâm và tập trung sao cho điểm GMAT cao để được xét hỗ trợ cao. Như người Việt Nam mình thì theo GMAT làm toán rất tốt rồi nếu chịu khó đầu tư thời gian và quyết tâm thì không phải lo. Như anh không phải dân tiếng anh, anh học ở Nga, tiếng anh là tự học, ngữ pháp anh cũng không phải dốt và chính vì anh học GMAT thì tiếng anh của anh mới lên như vậy. Nó không phải là khó, quan trọng là bạn quyết tâm đến đâu. Nếu bạn thực sự có quyết tâm và ham muốn theo đuổi cái đó bạn có thể thức đến 1,2h đêm để cày. Nếu bạn ngồi đến 11h mà thấy buồn ngủ thì bạn chưa thực sự quyết tâm. Ngoài ra, kiến thức và từ vựng khá là quan trọng để mình có thể hiểu về bài, thực ra anh đọc rất nhiều nhưng anh chỉ đọc những thứ mình thích thôi vì mình thực sự có đam mê thì mình mới đọc được. Anh đọc nhiều bản tin về thể thao đặc biệt về bóng đá, anh đọc cả bộ Harry Potter rồi đọc CNN về lĩnh vực tài chính ngân hàng. Đọc các bản tin mình yêu thích nó sẽ ngấm dần, ngấm dần theo thời gian, cách học của anh là như thế chứ anh không nhồi nhét, và mình cứ đọc nhiều theo thời gian kiến thức sẽ tăng lên.

GMAT thì anh học từ tháng 9 đến tháng 11 và đến đầu tháng 12 anh quyết định thi. Khi mà anh thi thử ở nhà thì anh được 600-780 trong 3 lần. Khi tập trung trả lời những câu đầu tiên càng đúng thì điểm càng cao do đó anh tập trung nhiều thời gian làm những câu đầu, nhưng khi làm như vậy thì anh không có thời gian để làm những câu cuối và đây là sai lầm. Khi mình sai 2-3 câu liên tục thì điểm giảm rất mạnh, khi thi anh làm 4-5 câu cuối là đoán hết và anh bị chết là ở chỗ đấy. Đúng sức của anh phải được 660-680, lúc đó anh nghĩ nếu được như thế thì không bao giờ anh phải thi lại nhưng điểm 550 là không thể chấp nhận được. Trong thời gian chuẩn bị thi lại, toán anh phải ôn thêm, anh cũng xem lại chiến lược làm verbal. Phần anh đầu tư thời gian nhiều nhất là phần reading, khi mình đọc nếu như mình không hiểu key bullet thì mình sẽ mất liên tục 3,4 câu như vậy rất nguy hiểm do điểm sẽ giảm rất mạnh. Theo anh, nên dành nhiều thời gian cho 5 câu hỏi đầu nhưng cũng cần cân đối thời gian và không nên cố quá. Mình có thể làm câu này đúng câu kia sai thì điểm vẫn giữ nguyên như thế không bị hạ xuống đáng kể.

Anh nghĩ là với việc luyện thi GMAT nên học song song ở trung tâm để ôn lại và tổng hợp toàn bộ kiến thức và học nhóm với nhau để cùng thảo luận, sức mạnh của tập thể rất hay, tất cả cùng chia sẻ với nhau thì sẽ lên rất nhanh. Nếu bạn nào không có thời gian học nhóm thì nên lên GMATclub. Điểm GMAT thường trên 700 là có thể nộp vào các trường top và 780 điểm thì được full tuition, còn trên 700 có thể được 50% tùy theo khả năng của mỗi người.

Theo anh thì chọn ranking như thế nào cho phù hợp. Có nên nộp nhiều trường không?

Thực ra nộp càng nhiều trường thì độ an toàn cao hơn nhưng đổi lại mình mất thời gian và để làm được hồ sơ của 1 trường anh nghĩ là phải mất vài tuần là tối thiểu. Nhưng anh nghĩ rằng anh nộp 3 trường là hơi ít, nếu anh có thời gian thì nên nộp khoảng 6 trường và nên chia thành nhóm top đầu, top trung tầm top 10 và top an toàn để đảm bảo không bị rớt. Nhiều trường hợp các bạn không nộp trường lớn, bỏ hẳn đi và về sau các bạn rất tiếc khi mà đi học rồi mới nghĩ ước gì hồi đấy mình liều nộp trường đấy vì cũng có mất gì đâu.

Nếu học về kỹ thuật muốn chuyển ngành học sang MBA liệu có khó không?

Thực ra nếu anh học về kỹ thuật mà anh muốn học MBA của trường tốt thì anh cũng phải có chiến lược quản lý rồi, phải có leadership rồi thì người ta mới nhận anh. Có những bạn có nền tảng về kỹ thuật khi học MBA sẽ có lợi thế rất lớn vì chương trình học không khó, thường nó sẽ có lớp học trước cho những ai chưa biết gì về accounting. Khi người ta có chuyên môn về lĩnh vực của họ thì họ sẽ tham gia đóng góp cho lớp và tạo ra view khác cho lớp học rất tốt. Sau này người ta đi làm vẫn trong lĩnh vực đấy nhưng họ sẽ lên vị trí cao hơn như là người tổ chức, nhà lãnh đạo như Bill Gate. Họ không những giỏi về chuyên môn và ý tưởng mà họ còn rất giỏi về việc triển khai ý tưởng, thực hiện ý tưởng và thu hút được nhân tài. Nếu anh cảm thấy anh có tố chất quản lý, anh thích quản lý thì anh chọn MBA còn nếu như muốn phát triển chuyên môn nên học Master chuyên ngành. Cái này có nhiều nơi còn đánh giá cao hơn cả MBA bởi nó thuộc về chuyên sâu và không phải ai cũng làm được.

Chia sẻ về bài luận MBA

Với MBA thì essay rất quan trọng. Trong toàn bộ hồ sơ thì essay là cái mình có thể tác động được, còn như resume và LOR là cái record lại thôi. Viết essay mình phải biết rõ điểm mạnh của mình ở đâu bám vào đó kể ra câu chuyện của mình, điểm yếu của mình cũng cần tô vẽ làm sao nó thành thế mạnh. Nói chung muốn viết gì đó thì mình phải hiểu rõ bản thân mình. Bất kỳ bài essay nào cũng cần kể tình huống và câu chuyện cụ thể, trong đó nêu cách giải quyết và kết quả đạt được, cuối cùng là bản thân em rút ra kinh nghiệm như thế nào và em đã thay đổi như thế nào.

Các trường rất quan tâm đến định hướng của em, em hiểu rõ em muốn đi đâu và khi em đi con đường đó em sẽ rất quyết tâm còn khi bản thân em chưa biết làm gì cả thì trường nó cũng sợ. Trường cũng rất quan tâm đến khả năng em xin được việc hay không. Trong bài essay, tùy từng trường có câu hỏi riêng như của Harvard thì nó hỏi rất rõ ràng rằng: “Bạn hãy kể về chuyện mà bạn nghĩ là bạn đã làm tốt và một câu chuyện mà bạn ước là nó sẽ tốt hơn”. Rõ ràng đó là 2 câu chuyện về lỗi của bạn và thành công của bạn. Còn với Standford thì lại là “đối với bạn cái gì là quan trọng nhất”, đề rất mở và có thể viết về em đã lớn lên như thế nào, cái gì đã làm thay đổi con người em, cái gì đã tạo nên con người em của ngày hôm nay,… Nói chung essay phụ thuộc vào từng trường. Có một số trường hỏi thẳng short term goal và long term goal thì bài luận của mình trả lời thẳng vào câu hỏi hay có những trường sẽ có các loại câu hỏi mà câu trả lời lại cần sự kết nối với nhau. Chính điều này làm cho việc nộp nhiều trường MBA là khó và tốn thời gian.

Anh thấy quá trình làm hồ sơ cũng thay đổi anh rất nhiêu, anh phải tư duy nhiều hơn và nhận thức rõ về bản thân, khi mình xoay sở làm hồ sơ thì mình tiếp xúc với rất nhiều người từ những bạn học cùng GMAT đến những bạn cùng apply. Mình cảm thấy cuộc sống của mình sôi động lên rất nhiều và mở rộng tầm nhìn hơn. Nhiều người nói quá trình làm hồ sơ cho MBA là khó nhưng nếu như mình cảm thấy thích thú thì đó sẽ là một quá trình rất hấp dẫn cũng như khi làm công việc thú vị thì mình sẽ cuốn theo nó và khi đạt được kết quả thì sẽ rất hạnh phúc.

Anh lưu ý thêm trong bài luận không nên bịa câu chuyện vì MBA có yêu cầu riêng và mình cần phải đi sâu vào câu chuyện của chính mình thì mới có sự khác biệt. Rất nhiều người nghĩ rằng mình không có câu chuyện đặc biệt nhưng khi ngồi suy nghĩ sâu và đầu tư thời gian, gạch đầu dòng các điểm mạnh và điểm yếu, các vấp ngã rồi gắn với các câu chuyện mình muốn truyền tải thì sau đó mình sẽ lọc ra những câu chuyện ấn tượng, những câu chuyện đời thường mà thay đổi bản thân mình. Anh nghĩ rằng cái gì thực sự là của mình thì nó mới súc tích, hay và logic. Cách thức viết của anh là ban đầu viết bằng tiếng việt sau đó dịch ra tiếng anh. Thời gian viết bài luận khá lâu, anh sửa đi sửa lại cả chục lần mới ra được bố cục. Sau 1, 2 tuần anh xem lại thì lại muốn sửa và anh cũng nhờ bạn bè, người thân xem hộ để đảm bảo bài luận đúng với mình. Anh nghĩ nên gửi bài cho những người thân với mình vì họ nhiệt tình dù có học MBA hay không, ngoài ra lưu ý ai đọc mà chê mình thì mới tốt còn người nào đọc mà khen ngay thì có thể họ chỉ đọc xã giao thôi. Trường đánh gía bài essay là chủ yếu về ý tưởng chứ không quá nặng về tiếng anh nên việc nhờ người bản ngữ sửa bài cũng không thực sự cần thiết, nhưng cần chú ý không để sai về ngữ pháp và chính tả.

Đa số các trường giới hạn từ cho bài essay, có trường 400 từ, có trường 700 từ thì mình nên viết sát trong khoảng giới hạn đó.

Việc viết về điểm yếu của mình thì bất kỳ ai cũng có một lần vấp ngã, khi anh trải qua sự nghiệp 9 năm thì anh thấy rằng đối với những người thành công sớm thì kinh nghiệm của họ còn non vì khi họ chưa vấp ngã thì có rất nhiều điều họ không thể hiểu được. Trải qua vấp ngã bạn sẽ trưởng thành lên rất nhiều. Với MBA, trường hiểu rất rõ về điều đó. Bạn không nên viết theo kiểu đánh bóng bản thân. Bạn nên viết trên nền tảng nào đó ví dụ như tao quá giỏi, tao được các sếp lớn tin tưởng và tao quên mất bạn bè, đồng nghiệp xung quanh, tao mải mê công việc và sau đó không có sự hỗ trợ từ đồng nghiệp thì tao đã fail rất nhiều, và sau đó tao nhận ra sự quan trọng của bạn bè đồng nghiệp. Ở đây mình đã viết dựa trên nền tảng được các sếp lớn tin tưởng đó là vừa là điểm yếu vừa là điểm mạnh, sau khi suy nghĩ rất nhiều mình hiểu ra vai trò quan trọng của đồng nghiệp, những suy nghĩ như vậy rất thật. Nên có vấp ngã nhưng vấp ngã mà đơn giản quá thì cũng không thuyết phục và trường cũng hiểu là mình chưa có kinh nghiệm từng trải, do đó mình nên chọn những vấp ngã làm thay đổi bản thân.

Nếu giờ có một câu hỏi là định hướng của bạn là làm cho Việt Nam hay làm tại Mỹ thì nên viết trong essay như thế nào?

Anh thấy việc này tùy thuộc vào từng người, như trường hợp của anh đã làm 9 năm và vị trí khá cao, anh lại được hỗ trợ thì chẳng có lý do gì anh lại không quay về Việt Nam làm. Còn có những bạn thích làm việc ở Mỹ và có năng lực thì trường sẽ thuyết phục ở lại, như vậy người đó sẽ có nhiều cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp. Có những người điểm tiếng anh cũng không cao, điểm finance thấp và trường không thuyết phục ở lại thì cũng nên cân nhắc việc ở lại hay không. Như vậy cũng tùy thuộc vào độ thuyết phục của trường mình apply. Có những bạn trẻ làm ở các công ty lớn ở Việt Nam như HSBC cũng ở vị trí khá tốt rồi thì khi bạn ý nói sẽ ở lại Mỹ để làm việc thì sẽ được ưu tiên vì các trường thường kết nối với nhà tuyển dụng.

Khi viết luận theo anh cũng nên tham khảo những bài luận khác. Như anh hồi hè năm ngoái chưa biết gì về hồ sơ thì cũng không biết viết như thế nào. Anh cũng được dạy về cách viết luận của Mỹ là khác văn phong của Việt Nam đặc biệt cách tiếp cận rất thẳng, mở đầu nói luôn ý chính rồi sau đó mới phân tích. Và mình cũng nên tham khảo các bài luận hay để xem cách họ viết như thế nào,cách họ phát triển ý như thế nào. Nên xác định ý tưởng của mình trước rồi mới xem bài mẫu để ý tưởng của mình không bị phân tán khi mình tham khảo các bài mẫu khác.

Khi chuẩn bị LOR cho MBA thì nên viết thế nào?

LOR thì quan trọng ở việc chọn người, khi chọn người viết LOR thì nên chọn người trực tiếp làm việc với mình, hiểu rõ mình, sẵn sàng đầu tư thời gian cho mình để viết hiệu quả nhất. Còn những ông làm to mà viết qua qua thì không giải quyết được vấn đề gì. LOR mỗi trường hỏi riêng về các kỹ năng, và khi nhờ người viết thư giới thiệu mình phải thuyết phục sao cho hợp lý. Anh có nói là “em nộp vào Harvard và Standford và thư giới thiệu của anh đóng vai trò then chốt trong hồ sơ xin học, nó chiếm 50% trong bộ hồ sơ rồi” sẽ khiến thư của mình được đầu tư hơn. Chứ ngay từ đầu mọi người không chú trọng vào nó đâu, chính vì vậy mình cần nhờ những người thân với mình thì họ mới sẵn sàng ngồi nghe và trao đổi với mình để tìm ra ý cho thư giới thiệu.

Thư giới thiệu còn khó hơn essay vì essay do mình tự viết, thư giới thiệu thì do người khác viết. Mình cần chọn đúng người rồi thường xuyên gặp trao đổi và nói dần nói dần cho người ta hiểu. Bạn nào có người thân đi học ở bên Mỹ về mà nhờ được là tốt nhất và người ta quý mình nữa thì họ sẽ đầu tư thời gian để viết vì mỗi trường có câu hỏi khác nhau. Đối với LOR thì lúc nào cũng cần đưa ra dẫn chứng và đưa ra thương hiệu để mỗi người viết thư giới thiệu có lý luận riêng không thể trùng nhau. Trong quy định thì mình không được tự viết thư giới thiệu nhưng mình cũng có thể tự viết trên cơ sở trao đổi giữa 2 bên. Như anh là trợ lý tổng giám đốc nên sếp anh viết cho anh, tầm nhìn và cách viết của anh ý khác nên không thể nào mình viết thay được. Trường đọc sẽ biết ngay nhưng về ý tưởng thì mình có thể lên dàn ý cho sếp xem. Trong quá trình làm LOR, lưu ý cần trao đổi thường xuyên và bám sát quá trình viết.

Về networking thì anh thấy yếu tố nào là quan trọng?

Theo anh nên hiểu rõ về trường, tìm hiểu về những người theo học ở đấy. Khi mà anh nộp các trường top thì anh tìm hiểu và đọc rất nhiều vể alumni của Harvard và Standford, tuy người ta không giúp cho mình về việc viết essay, nhưng trao đổi với người ta giúp cho mình thay đổi quan điểm về trường, về con người ở đấy. Qua bạn bè giới thiệu thì anh thường trao đổi với các bạn Việt Nam ở bên trường đó và họ thường rất nhiệt tình share cho mình, còn alumni thì họ cũng hơi ngại về việc chia sẻ kinh nghiệm. Do đó nên gặp alumni trực tiếp thì sẽ hiệu quả hơn.

Chia sẻ về resume

Anh nghĩ resume độ dài 1 trang là đủ. Anh kinh nghiệm 9 năm nhưng cũng chỉ viết trong 1 trang. Resume của anh gồm 3 phần:

– Phần 1 về quá trình học, để ở đầu;

– Phần 2 là về kinh nghiệm làm việc, anh đưa ra nhiều số liệu và các giải thưởng, thành tích, mình có thể lượng hóa các thành tích để hiệu quả hơn;

– Phần 3 là phần ngoại khóa.

Trong bộ hồ sơ apply MBA thì thường có những giấy tờ gì?

Bộ hồ sơ bao gồm: Essay, LOR, Bảng điểm đại học scan (khi nào mình được nhận vào học thì trường yêu cầu gửi bản gốc) và các giấy chứng nhận trên bản online như GMAT, IELTS và cuối cùng là phỏng vấn. Trường bạn thích nhất không nên nộp đầu tiên mà nên nộp sau 1,2 trường để có kinh nghiệm. Khi phỏng vấn MBA thì mình nên đọc kỹ lại CV, đọc kỹ từng kinh nghiệm, câu chuyện của mình để khi người ta hỏi sâu vào thì mình trả lời được ngay và logic.

Khi phỏng vấn thì nên chú ý điều gì?

Anh nghĩ là giao tiếp con người khá là quan trọng để quảng cáo bản thân vì khi đó mình có nhiệt huyết hơn và không nên quá nặng nề về lý thuyết hoặc nội dung, nếu không thì câu chuyện cũng mất đi sự tự nhiên. Khi mình viết essay, resume thì mình cũng có 1 plan rồi và khi phỏng vấn thì mình cũng theo plan đó thôi, mình đừng quá lo về nội dung đó. Thời gian phỏng vấn cũng khá ít khung giờ và với anh thì vào tầm 12h đêm, vì thế anh phải điều chỉnh lại khung giờ sinh hoạt của mình để có thể tỉnh táo và minh mẫn khi phỏng vấn. Tuy nhiên anh vẫn thích phỏng vấn trực tiếp hơn, gặp trực tiếp sẽ hay và thoải mái hơn. Còn khi không hiểu gì thì mình có thể hỏi người phỏng vấn và ở phần cuối có câu hỏi như là bạn có muốn biết thêm về trường thì mình có thể hỏi còn nếu không hỏi thì cũng không sao.

Kinh nghiệm phỏng vấn visa?

Khi phỏng vấn visa mình chứng minh mình giỏi và sẽ không ở lại là đủ.

Nguồn: Nhóm lửa

Đời du học (Mỹ) không như là mơ

Như đã hứa cách đây không lâu là mình sẽ viết một bài chia sẻ về cuộc sống du học sinh để các bạn ở nhà có một cái nhìn chân thực về đời du học, tránh những mơ mộng hay ảo tưởng để rồi sang đó bị “vỡ mộng” và phải đối mặt với vô vàn khó khăn mà các bạn không lường trước. Bài viết này sẽ tập trung nói về các khó khăn mà du học sinh Việt Nam thường gặp phải khi đi du học. Tuy là có rất khó khăn như vậy, nhưng không phải là không thể làm được, bởi lẽ có bao nhiêu thế hệ đi du học trước đây còn khó khăn, thiếu thốn hơn bây giờ nhiều mà họ vẫn vượt qua được, thì tại sao chúng tại lại không thể phải không nào? Mình mong tất cả các bạn, sau khi đọc bài này, không cảm thấy e ngại, chùn bước mà sẽ tiếp tục tinh thần muốn đi du học, bởi với mình để thành công khi du học, bạn cần có một sự nỗ lực lớn hơn nhiều lần nỗ lực thông thường. Và khi đó, mọi chông gai đều có thể vượt qua hết.

 

Vỡ mộng

Có lẽ chúng ta ở Việt Nam biết đến Mỹ qua phim ảnh là chủ yếu, ở đó nước Mỹ thật đẹp, thật hào nhoáng, hiện đại. Nào là San Francisco với cây cầu Golden Gate nổi tiếng thế giới. Nào là Washington DC với những tòa nhà quyền uy. Hay là Los Angeles với những minh tinh màn bạc. Vâng, cái đó đúng nhưng chỉ là một phần nhỏ của nước Mỹ. Phần còn lại của nước Mỹ, rất tiếc lại không hào nhoáng, lộng lẫy và choáng ngợp như thế. Rất nhiều trường đại học của Mỹ được đặt tại các khu vực khá hẻo lánh, xa trung tâm, nên xung quanh khá là vắng vẻ, buồn tẻ và chán ngắt. Tôi thì học ở tiểu bang Missouri, quả đúng như cách phát âm tên bang, nó khá giống từ “misery” tức là “tội nghiệp”. Sau này, khi có dịp đi qua nhiều bang nông thôn của Mỹ, tôi mới nhận thấy là bên cạnh những thành phố lớn sôi động, náo nhiệt thì nông thôn nước Mỹ rộng lớn còn khá buồn tẻ. Nếu bạn đang sống ở Hà Nội hay Sài Gòn mà bạn phải sang những thành phố nông thôn này, thì chắc chắn bạn sẽ “vỡ mộng” về một Hoa Kỳ lộng lẫy. Ở những thành phố nông thôn của Mỹ, phương tiện công cộng rất hạn chế, không tiện lợi như bus ở HN hay SG. Ăn uống, chợ búa thì xa xôi nên phải có xe hơi, chứ không phải chạy ra đầu ngõ là có ngay phở, bún, miến như ở nhà. Điều này bạn sẽ cảm nhận được sự bất tiện vào mùa đông.

 

 

Tuyết – giấc mơ tan tành

Mình đoán là với các bạn ở Việt Nam, chắc hẳn ai cũng có một ao ước là được nhìn, chạm và chơi với tuyết. Với các bạn gái lãng mạn hơi xíu thì chắc ước mình được sang Mỹ để ném tuyết như anh Bae Yong Jun của Bản tình ca mùa đông, hay tung tăng đi học khi tuyết rơi bay bay như trong phim Truyện tình Harvard. Lúc mới sang, ngày đầu tiên nhìn thấy tuyết, mình cũng vô cùng háo hức, chạy ngay ra ngoài để tuyết rơi vào tay. Sau này đó, thì giấc mơ tuyết tan biến và nhanh chóng trở thành sự căm ghét. Tuyết mới rơi xuống, trắng, bông, sạch. Nhưng sau đó, nó tan chảy ra và trộn vào bùn đất ở đường thì thôi rồi bẩn khủng khiếp. Mà khi có tuyết thì lạnh tê tái, ngày đầu do háo hức còn ra ngoài, đợt sau có tuyết thì thôi nằm trong nhà đắp chăn, đọc sách, nghe nhạc ngắm tuyết rơi ngoài cửa sổ là đủ rồi. Người yêu có rủ đi ném tuyết hay nặn người tuyết, mình cũng xin hoãn. Tuyết cũng khá nguy hiểm nữa, vì nó làm đường rất trơn và thậm chí mặt đường đóng băng nên lái xe rất dễ gây tai nạn. Chính bản thân mình đã có lần được em “tuyết” ép phải trổ tài drift trên mặt đường, may mà không va phải thằng nào chứ không thì mệt.

Du và học

Giờ thì đến chuyện học, nhiều bạn thuộc diện COCC, do bố mẹ thường đi study tour mà study thì ít mà tour thì nhiều, nên nhiễm cái gen, cậy có tiền nên đi du học để giải quyết khâu “oách” là chính nên coi nhẹ việc học hành, đi du học thì có vẻ không quan tâm lắm tới chuyện học mà quan tâm tới du nhiều. Nếu bạn đi du học mà xác định việc học là nhẹ nhàng, rất có thể bạn đã mơ tưởng. Các trường đại học chuẩn (ở đây ý mình là được kiểm định chất lượng, chứ không phải trường rởm bán bằng) có những đòi hỏi khá khắt khe với sinh viên. Trường càng rank cao, nổi tiếng thì đòi hỏi càng khắt khe hơn. Đây cũng là một điểm lưu ý của mình với các bạn khi chọn trường là nên chọn trường phù hợp với năng lực và khả năng của mình. Giống như lượng sức gánh được 50kg thì có thể cố thêm tí gánh bao 60kg, nhưng mà gánh bao 100kg thì coi chừng gãy lưng. Thực tế mình thấy là ở Việt Nam, nói đến du học Mỹ, các bạn chỉ quan tâm tới Harvard, Yale, Princeton hay Stanford, còn mấy trường ít tên tuổi thì lại không quan tâm lắm. Nhưng các bạn thấy là nếu đi học cao học, thì ranking của graduate school trong từng trường đại học đó mới quan trọng, và có rất nhiều đại học tên không nổi lắm, nhưng ngành học cụ thể lại có thể rank cao hơn cả Harvard. Do vậy, khi chọn trường, mình thấy quan trọng nhất là phải chọn trường “phù hợp” với khả năng học tập của bạn chứ không phải giải quyết khâu “oách”. Một sự thật, là sức ép ở các trường đại học nổi tiếng là rất lớn. Các trường hợp sinh viên tự tử do sức ép học tập là chuyện không còn xa lạ. MIT hàng năm vẫn có sinh viên tự tử. Như hồi lên New York University thăm cô bạn, cô bạn tôi dẫn đi thăm thư viện trường, một tòa nhà cao và rất hiện đại. Đang say sưa ngẩng cổ lên ngắm, cô bạn bảo mới rồi có 1 cậu học hành chán, mới nhảy từ trên xuống chết ngay tại chỗ, hic. Còn bản thân mình khi đi du học bên Mỹ thì cũng đã thực sự chứng kiến 2 trường hợp du học sinh Việt Nam phải về nước giữa chừng vì không theo được mà 2 bạn đó ở Việt Nam đều học giỏi và được học bổng sang Mỹ học cả. Lấy dẫn chứng cụ thể thế để các bạn thấy là mình không phải là kể chuyện không có dẫn chứng để hù dọa các bạn. Học đại học và cao học ở Mỹ rất vất vả, cái khổ nhất là phải đọc rất nhiều mà toàn là sách tiếng anh dầy cộp. Nếu không có kỹ năng đọc lướt, bạn sẽ không bao giờ hoàn thành bài đọc mà giáo sư giao mỗi tuần vài trăm trang sách. Do tiếng anh không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta, nên khả năng đọc và tiếp thu của chúng ta chậm hơn tụi Mỹ nhiều, cho dù điểm tiếng anh của chúng ta cao chót vót, do vậy phải có kỹ năng đọc lướt để lấy ý chính, chứ ngồi chăm chú đọc, cả đời du học sinh sẽ chả bao giờ đọc hết được lượng sách yêu cầu. Thế nên, mình thấy mấy em du học sinh sang Mỹ, chả biết trường của mấy em ấy thế nào, hoặc các em ấy học kiểu “thần đồng” gì mà vẫn sản xuất “Vlog” sòn sòn như gà đẻ trứng để chém gió trên mạng ấy mà vẫn học “khá và giỏi” được thì cũng “sợ”  phết đấy. Chả biết học xong về nước làm gì, hay lại tự phong mình cái chức “giáo sư” như cậu cử nhân Đại học nông nghiệp làm ở FPT rồi lên VTV3 “chém gió” thành thần, phán nhăng phán cuội, phản khoa học, phản giáo dục.

 

 

Sick

Lần đầu tiên tôi ra nước ngoài năm 2006, lúc đó tôi mới 22 tuổi và đang học năm 2 đại học, khi đó tôi bị ngộ độc thực phẩm do ăn hải sản và phải vào bệnh viện cấp cứu gấp. Lúc xe cứu thương đến đưa tôi đi, thứ duy nhất tôi mang theo là cuốn từ điển. Bởi lúc đó, trong lúc đau ốm như vậy, đầu óc tôi không còn tâm trí nào để nói tiếng Anh nữa. Lúc đó, tôi chỉ mong được ở Việt Nam được nói chuyện bằng tiếng Việt với bác sỹ và người thân để cảm thấy an tâm. Trong lúc đau, nhiều lúc tôi rất sợ cái cảm giác mình phải chết ở nơi đất khách. Có vẻ hơi dramatic, nhưng chính sự kiện đó khiến tôi sau này khi đi du học rất sợ bị ốm. Do vậy, khi đi du học, tôi mang 1 hộp rất nhiều thuốc mà nhiều loại không dễ mua ở Mỹ vì ở Mỹ nhiều loại thuốc phải có đơn của bác sỹ mới mua được. Đây cũng là lời khuyên của mình với các bạn sắp đi du học là nên mang theo mấy loại thuốc thiết yếu nhất để phòng thân. Hôm nào rảnh, tôi sẽ viết 1 bài chi tiết về những thứ bạn nên mang đi và không nên mang đi khi du học. Việc giữ cho mình một sức khỏe tốt cả về thể chất lẫn tinh thần là một điều tối quan trọng khi đi du học. Tôi nhấn mạnh ở đây là cả sức khỏe tinh thần nữa, bởi có thể thể chất của bạn khỏe mạnh, nhưng sức khỏe tinh thần của bạn không tốt, nó sẽ kéo sức khỏe thể chất xuống nhanh khủng khiếp. Nhiều bạn sẽ thắc mắc sức khỏe tinh thần ở đây là gì? Đó là giấc ngủ, trạng thái hạnh phúc, nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà, sự hưng phấn. Nhiều bạn du học sinh khi mới sang do lệch múi giờ nên hay bị mất ngủ, nhiều người nhanh chóng điều chỉnh cơ thể để thích nghi, nhiều bạn không thể ngủ được. Đây là vấn đề hệ trọng, bên nên đi khám bác sỹ. Bởi nếu mất ngủ dài ngày, thể chất của bạn xuống nhanh khủng khiếp và gây ra hàng loạt hệ quả khác. Rồi nhớ nhà, cô đơn, những cảm giác này thường hay xảy ra với du học sinh khi mới bỡ ngỡ nơi đất khách quê người. Những trạng thái cảm xúc tiêu cực này là bình thường nếu chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng nếu nó kéo dài thì sức khỏe tinh thần của bạn đang có vấn đề cần lưu tâm. Bởi tối nào bạn cũng khóc, cũng buồn thì còn đâu tâm trí mà học. Rồi một điều nữa là cảm giác hưng phấn, cái  này mà không kiểm soát tốt cũng gây ra nhiều hệ quả. Bạn cứ như trên mây, chưa học xong Master đã lo tìm trường PhD. Được nhận vào Harvard là cứ bay bay trên mây do các bạn ở Việt Nam tung hô lên mây xanh mà quên mất Harvard chuẩn bị “vặt lông” trụi con vịt béo tốt ở Việt Nam sang thành con vịt gầy tong teo sau vài năm nhập học…vv Do vậy, cố gắng đừng để dính vào bất cứ một cái “sick” gì như “car-sick”, “home sick” hay real sick (đau ốm vô viện) . Hôm nào rảnh sẽ viết về love sick để giải đáp thắc mắc của một số bạn có gửi message hỏi là có nên yêu hay không? Người yêu ở nhà thì xử lý ra sao? Vv…

 

 

Shock văn hóa

Hồi Việt Nam, xem phim hành động Mỹ thấy bắn nhau chí chóe thích ơi là thích, vì cái thằng diễn viên rõ đẹp trai, cơ bắp, bắn chết xừ nó rồi mà vài tháng sau vẫn ra phim mới, bắn nhau kinh hơn. Vậy mà khi sang Mỹ, thấy súng ống là sợ phát khiếp, vì tụi Mỹ này nó xài súng thiệt, đạn thiệt, bắn 1 cái là mình lên tin tức trên CNN hay NBC được một lần là hot và mãi không có lần 2 đâu các bạn ạ. Ngày đầu tiên sang Mỹ, khó ngủ, bật ti vi lên xem bị shock khi xem chương trình thực tế mô tả các buổi mà cảnh sát Mỹ rượt đuổi những kẻ trộm cắp xe hơi, hay cướp có vũ trang. Thấy cảnh đấu súng thật khủng khiếp, bắn chết  ngay tại hiện trường chứ không bắn đẹp như phim mình thực sự được cảm nhận cái culture shock đầu tiên khi sang Mỹ. Rồi thực tế là khi đi du học, bạn sẽ thấy rất nhiều những cú shock văn hóa khác.

Rồi còn nhiều chuyện shock lắm, như chuyện cướp, trấn lột, rồi “hấp diêm” các bạn nữ sinh đi học về khuya mà trường mình thường hay xảy ra như cơm bữa. Rồi chuyện sex tự do của tụi Mỹ ủng hộ “rân chủ”. Rồi chuyện ở Mỹ, bố mẹ, ông bà mà già nó tống ra nhà dưỡng lão hoặc sống một mình xa con cái. Rồi chuyện người nghèo ở Mỹ học hành đàng hoàng đứng ăn xin ở ngã tư, hè phố, phải sống bằng tem phiếu trợ cấp của chính phủ. Nhiều chuyện sẽ làm bạn khá ngạc nhiên và shock đó.

Kỳ thị chủng tộc

Kỳ thị chủng tộc là vấn đề có tính lịch sử của nước Mỹ. Ngay ông tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ – Obama còn bị không ít kẻ đe dọa giết thì những người phó thường dân còn bị kỳ thị thế nào. Ở ngay trường mình, hồi đó là năm 2010 khi mình vẫn đang học, có 2 cậu sinh viên Mỹ trắng, mang rải những gói bông trắng trước cửa trung tâm văn hóa của người da đen trong trường để biểu thị sự kỳ thị những người da đen trước đây đều là nô lệ tại các đồn điền trồng bông. Sau đó, vụ này bị làm ầm ĩ lên do người da đen ở Mỹ khá đông và khá đoàn kết nên 2 cậu sinh viên bị cảnh sát  bắt và trường buộc phải cho  nghỉ học. Nói rõ thế để các bạn thấy ngay bây giờ sự kỳ thị chủng tộc là khá rõ và đậm ở Mỹ, không chỉ giữa người da trắng với người da đen, mà còn cả da trắng với da vàng như người châu Á chúng ta nữa.

Tôi không biết các bạn khác cảm nhận thế nào, chứ tôi thấy người da đen (trừ tụi đầu trộm, đuôi cướp) khá thân thiện và hòa đồng với dân da vàng Việt Nam, hơn là tụi da trắng. Tụi da trắng thường look down người châu Á. Một điều đáng buồn nữa là chính dân Việt cũng kỳ thị dân Việt. Cụ thể là một số người dân Việt người gốc miền nam dạt sang Mỹ sau biến cố năm 1975 vẫn còn ôm lòng thù hận nên họ rất ghét người việt gốc Bắc, họ thường gọi là dân Bắc Kỳ để thể hiện sự kỳ thị và căm thù. Khi tôi sang bang California chơi, tới khu Little Saigon lại nhớ lời cô bé học ở Mỹ dặn là anh cứ nói tiếng Anh đừng nói tiếng Việt để tránh bị họ ghét hoặc không ưa mình. Khi tôi đến khu Phước Lộc Thọ nổi tiếng, tôi chả dám hé răng nói nửa câu tiếng Việt. Đang chụp ảnh ở ngoài khu Phước Lộc Thọ, có 1 em việt kiều, rõ là xinh xắn, đáng yêu chạy ra hỏi chuyện rồi còn tạo dáng để mình chụp nữa, xong rồi em hỏi mình bằng tiếng Anh, mà mình thì đang ú ớ chưa nghĩ ra gì thì trả lời. Kể mà không có sự kỳ thị Nam – Bắc thì chắc là mình đã quen được em xinh tươi Việt kiều. Sau đó ra ngồi uống café ở quán Việt, kêu ly cà phê cũng phải nói bằng tiếng Anh, cảm thấy rất buồn khi ngồi uống cà phê như là ở sài gòn, ngắm những ông cụ cỡ 50-60 ngồi đánh cờ tướng giết thời gian mà thấy thương cho một thế hệ, giờ sống nơi đất khách, đợi ngày gần đất xa trời .

Tụi dân Mỹ thì thể hiện sự kỳ thị với dân da vàng thì rõ rồi. Nhiều khi đi đường, nó thấy mình nó nói mấy câu gì đó mà mình biết là nó chửi hoặc nói đểu mình, nhưng mà tốt nhất là giả vờ như không nghe thấy. Đừng nghĩ mình 120 điểm TOEFL mà quay lại văng các loại hình ra với nó để thể hiện trình độ tiếng Anh là mình ngon hay khả năng nghe nói tốt. Dẫu sao mình không có sức để mà văng “fuck” với tụi Mỹ được, nó khỏe lắm. Với cả, làm nó nổi điên lên mà rút súng ra thì không khéo lên trang nhất báo địa phương mục “cáo phó” cũng nên =)). Thôi thì quân tử “tránh voi chả xấu mặt nào” hehe.

Reverse Culture Shock – hay là Shock văn hóa ngược

Ôi zời, chưa hết shock vì những gì xảy ra bên Mỹ, thì vèo 1 cái đã học xong, phải về nước phải hứng chịu cái gọi là “shock văn hóa ngược”. Đó chính là cái biểu hiện khi bạn shock khi chứng kiến những gì khi trở lại Việt Nam. Điều đầu tiên là “thất nghiệp ngắn hạn” đó là khi về bạn không có việc làm ngay. Đó có thể là vì bạn tự nguyện “thất nghiệp” do không chọn được việc ưng ý, hoặc là “thất nghiệp khi đang có việc” là khi bạn chấp nhận làm tạm ở một chỗ khá tệ so với kỳ vọng của bạn với tấm bằng bạn có được. Ví dụ, có bằng Harvard mà làm nhà nước lương 2,5 triệu/ tháng có thể coi là “thấp nghiệp khi đang làm việc”. Nhiều bạn trước khi đi du học về cứ nghĩ là khi mình về, chắc mình ghê lắm đây, chắc phải có công ty trải thảm đỏ từ sảnh đến quốc tế sân bay Nội Bài đón, nhưng thực tế là không phải vậy. Nhiều bạn về, thời gian đầu khá vật vã tìm việc. Bởi việc bạn có một cái bằng sau 2 năm học ở Mỹ đồng nghĩa với việc bạn sẽ hụt mất 2 năm kinh nghiệm gần nhất tại Việt Nam. Mà bây giờ, ở Việt Nam người ta tuyển dụng bắt đầu coi trọng kinh nghiệm rồi. Sẽ có lúc bạn sẽ nghe thấy họ nói bóng gió rằng “sợ học Mỹ về, toàn kiểu Mỹ không, không phù hợp với văn hóa Việt Nam” cho mà xem. Hơn nữa, nếu thằng sếp học hành lẹt đẹt, chắc chả bao giờ muốn tuyển 1 thằng học Mẽo về để cãi mình và dạy mình phải làm gì. Khổ thể, làm sếp là phải sĩ , làm quân thì phải dốt và ngoan. Sau chuyện việc làm được giải quyết là đến chuyện “hôn nhân” khi mà chưa có ai thì việc phải nghe “ca cải lương” của các cụ nhà là một cú shock khá lớn với du học sinh về nước. Khổ nỗi, là cũng hăng hái, nhiệt tình đi tìm “một nữa” lắm, nhưng khổ cái học xong về nước già xừ nó rồi, lại thêm cái bằng Mỹ nữa, làm các “một nửa” đang còn available đếch dám tiếp cận vì trong bụng nghĩ “anh/em ấy có bằng Mẽo, chắc gì đã ưa 1 đứa đại học trong nước” như mình. Và đã giỏi lại còn thêm đẹp nữa, đúng là cái tội. Mà cái tuổi nó đuổi xuân đi, nên sau khi học xong về nước không có người yêu là một cú shock văn hóa ngược khá mạnh mà phải trải qua mới thấy sức ép từ nhiều phía nó lớn thế nào. Nào là bố mẹ thì không nói, còn thêm bạn bè đứa nào cũng up ảnh con cái xinh xắn lên facebook, nhiều khi lúc đó mình nghĩ các bạn đi du học sẽ thấy sự đánh đổi khá nhiều khi quyết định đi du học, nhưng sự hy sinh nào chả có mất mát, được cái này mất cái kia. Mình thì tin vào duyên, chả việc gì phải lo nghĩ nhiều, cứ ăn chơi cho đời phớ lớ, đến Chí Phèo còn có Thị Nở huống chi ta ở bển mới về, hehe. Rồi còn nhiều chuyện shock ngược lắm, như văn hóa đường phố, văn minh đi đường, rồi chuyện tình cảm, chuyện đối xử giữa người với người nơi công cộng, nơi làm việc. Shock lên shock xuống luôn, shock mãi thành quen, hết shock luôn ấy mà. Không có gì phải lo lắng quá.

Chuyện tiền bạc

Ngày trước, tôi có một cô bạn, cô này thì thích đi du học “crazy” luôn, kiểu như là sống chết cũng phải sang Mỹ du học. Tôi thì khuyên rằng khi nào đảm bảo tài chính (hoặc là có tiền, hoặc là có học bổng full) hẵng sang, nhưng không nghe. Sau này sang Mỹ, tôi có tình cờ đọc blog của cô ấy thì thấy cũng rất khổ, phải đi quét cứt gà ở trang trại của người Mỹ, phải đi nhặt táo, hái dâu để làm thêm có thêm thu nhập. Quả thực rất vất vả. Tôi thì may mắn được học bổng toàn phần Fulbright nên không phải làm thêm để kiếm sống, nhưng xung quanh tôi, những bạn được trường miễn học phí, sang đó phải làm Trợ lý giảng dạy (TA) hay trợ lý nghiên cứu (RA) cho giáo sư để được trả lương hàng tháng để dùng vào trang trải sinh hoạt phí như thuê nhà, ăn uống, đi lại thì khá vất vả. Mà cũng khá là mệt mỏi và mất thời gian đó, chứ không êm đẹp như bạn nghĩ đâu. Bạn cứ hình dung, bạn đi học cả ngày, rồi về phải chấm bài cho giáo sư, chuẩn bị đề thi, soạn giáo trình…vv thì còn sức đâu mà học mà chơi nếu không cố gắng gấp 2 lần người khác. Dẫu sao thì TA, RA vẫn còn là nhẹ nhàng và trí tuệ hơn rất nhiều những việc tay chân khác mà sinh viên Việt Nam làm khi đi du học rồi. Tụi Mỹ khi tôi sang đó, nó nói là có những loại việc nó xếp vào dạng 3D (dirty, cái gì nữa tự nhiên quên rồi, đại loại là kiểu bẩn thỉu, rẻ mạt, tay chân) mà tụi Mỹ trắng không làm thì dành cho tụi nhập cư làm, kiểu như lao động tay chân. Sinh viên việt Nam sang du học thì làm đủ thứ nghề để sống, chủ yếu là bưng bê, lau dọn, tay chân là nhiều vì mình không phải dân bản xứ, cho dù TOEFL 120 nó vẫn không đánh giá tiếng anh của mình bằng một thằng nói lắp người Mỹ. Do vậy, bạn nên đảm bảo làm sao để tài chính không phải là một sức ép quá lớn khi đi du học. Vấn đề tiền bạc sẽ làm bạn hết sức đau đầu và mệt mỏi ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý học hành của du học sinh. Nhiều bạn, do gia đình cũng khó khăn, sang đấy mới thấy chi phí tốn kém và đắt đỏ như thế nào, nhưng cũng không dám email về xin bố mẹ vì thương bố mẹ quá, sợ bố mẹ phải đi vay nợ cho mình đi học nên thành ra hoàn cảnh rất khó xử. Do vậy, lời khuyên của mình là hãy tìm cho mình một nguồn tài chính đảm bảo để không phải suy nghĩ quá nhiều về chuyện tiền bạc khi đi du học. Khi đó, đầu óc của bạn sẽ có nhiều thời gian để tập trung vào suy nghĩ học hành hơn.

Kết luận:

Đi du học là một quyết định táo bạo và quan trọng và bạn nên cân nhắc kỹ khi đưa ra quyết định này, bởi có thể bạn sẽ phải mất nhiều thứ đáng giá khác. Ví dụ, bạn đang làm một vị trí rất tốt, cơ hội thăng tiến cao, lương cao mà bỏ đi du học thì sau khi đi du học về rất có thể bạn cho dù có bằng cao hơn nhưng khó có lại vị trí mà nhiều người mơ ước như trước nữa. Hoặc là đang yêu, đi du học đành chia tay, sau này về lại tiếc nuối vì người yêu đã lập gia đình và sống hạnh phúc, còn mình thì có tấm bằng từ quê hương Obama nhưng tối đến chả ma nào đến rủ đi hẹn hò. Hoặc là đang có chồng, có con, đùng đùng đi du học  một mình, chồng ở nhà buồn quá sang tâm sự với con bé đồng nghiệp thế là chả hiểu tâm sự thế nào, bụng con bé kia càng ngày càng to. Và hàng tỉ các mất mát khác. Nhưng mà có sự hy sinh nào mà không có mất mát ít nhiều. Do vậy, lời khuyên của mình là các bạn nên cân nhắc kỹ khi đi du học để chọn được phương án có lợi nhất trong các phương án có thể. Mình khuyên các bạn nên đi du học khi còn trẻ, và khi chưa vướng bận tình yêu và gia đình. Như đã nói ở trên, bài viết này viết ra không phải để “hù dọa” các bạn mà để giúp các bạn có đầy đủ thông tin để đưa ra một cái “informed decision” tốt nhất cho mình. Dẫu có muôn vàn khó khăn, thử thách, thậm chí là “mất mát”, nhưng mình vẫn luôn động viên các bạn nào có ước mơ du học, hãy đi du học, bởi nó sẽ thay đổi cuộc đời bạn khá nhiều, và giúp bạn không còn là “con ếch ngồi ở đáy giếng Việt Nam” nữa. Và điều quan trọng nhất vẫn là “chỉ cần có một ước mơ”, rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đó.

Chúc các bạn may mắn!

 

Trần Ngọc Thịnh

New Zealand ASEAN Scholarship for Vietnam 2018

The New Zealand ASEAN Scholar Awards (NZAS) recognise New Zealand’s close cultural, economic, and geographic ties with Southeast Asia. They seek to empower individuals with the knowledge, skills and qualifications to contribute to the economic, social, and political development of their region. These scholarships are offered for postgraduate level study only.

NZAS are funded by the New Zealand Aid Programme, the New Zealand Government’s international aid and development programme. They are managed by the Ministry of Foreign Affairs and Trade.

The New Zealand Aid Programme offers scholarships to people from Viet Nam who are motivated to make a difference at home.

Applications open from 1 February 2018 to 30 March 2018. Read Application dates for more information.

Eligibility

Applicants from all eligible countries must meet the following conditions to be eligible for a New Zealand Scholarship:

I will be at least 18 years old at the time I start the scholarship.
I am a citizen of a participating country (as listed above) and I am residing in and applying for a scholarship from my country of citizenship.
I confirm that I am not also a citizen or permanent resident of any the following countries: New Zealand, Australia, Israel, South Korea, Japan, USA, any European Union country, Qatar, United Kingdom, Canada, Saudi Arabia and the United Arab Emirates. (Note: This criteria does not apply to people from Niue, Cook Islands and Tokelau who are New Zealand citizens, and it also does not apply to NZ-Samoan dual citizens.)
On 31 December 2018, my country will have been my main country of residence for the last two years or more (unless you are a member of the diplomatic corps or a dependent of a member of the diplomatic corps).
I confirm that I am not currently serving in the military.
I expect to meet immigration requirements for a student visa to New Zealand or the Pacific Island country I will study in (i.e. medical checks, etc.).  Check the following websites for further information:

I expect to meet the academic entry requirements (including English language ability) for my preferred programme of study and institution. Refer to the website of your preferred institution to confirm entry requirements.
I confirm that I have not previously had a New Zealand Scholarship terminated because of poor academic performance (within the past 5 years) or breach of scholarship contract.
I intend to return to my country for two years or more at the end of my scholarship to contribute to my country’s development.
I have at least one year full-time (two year’s part-time) work experience relevant to my career and/or preferred qualification unless I am applying straight from secondary school or during my first year of tertiary study (for countries offered undergraduate study).

(Part-time work is defined as up to 29 hours per week, Full-time work is defined as 30 plus hours per week).

Priority sectors

We want scholars who are interested in studying subjects that can improve the social and economic development of your country. We’ve chosen priority sectors that can help your country and that New Zealand has expertise in.

If you can show that your study is connected to any of these sectors, you are more likely to be selected.

These are the priority sectors:

Agriculture development

  • Agri-business: agricultural economics, agri-business management, agricultural systems and management, rural development, logistics, supply chain and distribution management, value chain development, agriculture marketing, international agribusiness
  • Agriculture production: animal science, veterinary nursing, plant science, horticultural science, soil science
  • Agriculture trade and technology: phytosanitary, bio-security, biotechnology, agricultural trade
  • Post-harvest: food production, food sciences/technology, post-harvest processing, food storage and packaging, food safety

Renewable energy

  • Solar, hydro-electric and wind energy, energy engineering and renewable energy distribution systems,
  • Market reform and sector management, including energy economics and energy efficiency

Disaster risk management

  • Reducing risk: hazard and vulnerability assessment, risk management, natural resource management, geology, geotechnical engineering, water resource management
  • Readiness: disaster preparedness at national level or community level including public education
  • Response: disaster response and emergency management
  • Recovery: economic and social recovery from disasters
  • Climate change adaptation: including planning for infrastructure, land use and water use

Public sector management

  • Economic policy: public financial management, government budgeting, tax reform, public sector auditing, statistics, demography
  • Education: policy, qualifications management and reform, educational quality assurance, meeting workforce needs
  • Public sector leadership: legal reform, public administration, public policy and management, public sector leadership and governance, human resource capacity development, information management
  • International trade and business, trade facilitation, trade policy

Private sector development

  • Business/private sector management and leadership, small and medium sized enterprises (SMEs) development, entrepreneurship, marketing, accountancy
  • Business finance, commerce

Read the What You Can Study page to see examples of qualifications for these subjects.

Selection Preferences

We are guided by both the Priority Sectors (above) and Selection Preferences when shortlisting candidates.

Make sure you understand our Selection Preferences. Including:

  • Preference will be given for study at Masters level
  • Under the ‘private sector development’ area, preference will be given to applicants interested in developing particular capabilities rather than generalist management and business administration
  • Applications from across Viet Nam are welcome, including cities and rural areas, and from ethnic majority and minority groups

Contact us

We get many enquiries that can be answered by reading the extensive information on our website. For example, see EligibilityHow to Apply or Frequently asked questions.

For questions which are not answered by the information on this website, submit an online enquiry here (external link).

Cái giá của việc du học bậc cao học – Long D Hoang

“Lợi thì có lợi nhưng răng không còn”.

Du học cao học đương nhiên không phải du lịch kiến thức đến xứ thiên đường. Ở bài trước, tôi đã liệt kê ra một số lợi ích của việc du học. Bài này sẽ bao gồm một số cái giá phải trả khi du học cao học.

Chú ý: tôi sẽ không nói về cái giá về sức khỏe và thời gian cho chính việc học. Tôi đã nói khá kĩ về việc này ở trong một bài viết khác. Các bạn có thể xem ở: https://goo.gl/b9Sg54 [1]

Những gì tôi viết trong bài đó chỉ đúng trong trường hợp người ta thực sự đi học ở một trường nghiêm túc về học thuật hàn lâm với mục tiêu phát triển tư duy phản biện và khoa học lẫn kĩ năng nghề nghiệp. Nó sẽ không đúng với trường hợp chỉ đi học để lấy các kĩ năng nghề nghiệp thực tế, hoặc đi học để trải nghiệm cho biết.

1.  Học phí và sinh hoạt phí

Trước hết, học phí ở các trường đại học tốt ở các nước nói tiếng Anh như Vương quốc Anh, Mỹ, Úc rất cao.

Các khóa học ở các trường đại học TỐT (Ví dụ như các trường trong Russell Group) ở Vương quốc Anh thường có học phí ngưỡng dưới khoảng trên dưới 18,000 – 25,000 bảng ở các ngành phổ biến như kinh doanh, marketing, truyền thông. Ở các ngành thuộc khối STEM (Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật, Toán học), học phí ngưỡng dưới có thể thấp hơn thế một chút. Còn với các khóa học thực sự hot như MBA và ở các trường tốt, học phí loanh quanh 40,000, thậm chí lên tới trên 50,000 bảng cũng là chuyện bình thường.

Sinh hoạt phí thay đổi theo từng thành phố và từng nước. Sau đây là học phí hàng năm (chung tất cả các bậc) và sinh hoạt phí hàng năm cho sinh viên Việt Nam, chia theo từng nước. Đây chỉ là thông tin mang tính tham khảo để định hướng ban đầu và hình dung được chi phí du học có thể lớn tới mức nào [2] [3] [4] [5] [6]. Các phí này không bao gồm phí vé máy bay, phí visa, và phí cho những người phụ thuộc.

Chú ý:

  • Ở các ô có 1 loại học phí, đây là phí trung bình cho tất cả các bậc học
  • Ở các ô có 2-3 loại học phí, học phí được xếp theo thứ tự đại học, cao học, tiến sĩ.
  • Học phí ở Pháp là học phí trung bình của các trường công.
Quốc gia Học phí cho sinh viên quốc tế (USD) Sinh hoạt phí (USD)
Anh (Vương quốc) 12300 – 4306011930 – 51700 14800 (ngoài London)18700 (trong London)
Áo 780 11000 – 13000
Ai-len 1080010500 – 11400 7500 – 12870
Bỉ 960 – 4820 11050 – 12300
Ca-na-đa 2054013250 12000
Đan Mạch 6500 – 17350 12200
Đức Miễn phí10,800 8700
Hà Lan 6500 – 13008670 – 21660 10400 – 14300
Mỹ 33215
Na Uy Miễn phí cho các trường công, ngoại trừ chương trình đặc biệt 13600
Nga 3900 – 7700 7920 – 9120
Thụy Điển 10500 – 17500 11200
Thụy Sĩ 49098 17750 – 27600
Tây Ban Nha 797 – 15001430 – 1620 11800 – 14400
Phần Lan Tối thiểu $1600 10400
Pháp 200280

425

10500
Úc 23400 cho bậc đại học16000 – 29600 cho bậc cao học

11200 – 29600 cho bậc tiến sĩ

15820
Ý 920 – 11001600 17300

Riêng ở Mỹ, chi phí thay đổi rất nhiều theo từng nơi học. Theo College Board, tổng học phí và sinh hoạt phí một năm ở bậc đại học như sau:

  • Community college: $17000
  • Trường công 4 năm và sinh viên không phải người cư trú vĩnh viễn trong bang: $39890
  • Trường tư 4 năm: $49320

Riêng ở các trường thuộc nhóm đầu (top-tier), tổng chi phí một năm sẽ loanh quanh 60 nghìn – 65 nghìn USD. Tức là đâu đó 1 tỷ 200 triệu đồng, hoặc 1 tỷ 300 triệu đồng.

2.  Chi phí cơ hội: Thời gian và kiến thức

Tiền – thời gian – sức khỏe. Tài nguyên chính của chúng ta nhìn chung xoay quanh và luận chuyển ở 3 dạng này.

Ngoại trừ các bạn có “học bổng toàn phần” utachi-batacho, sẽ có mấy hình thức sau để trang trải chi phí du học:

Vay nợ: vay rồi học xong thì trả nợ cả vốn lẫn lãi. Đương nhiên cách này đồng nghĩa với việc bạn phải chịu một sức ép tài chính và tinh thần từ khoản nợ khổng lồ. Bạn sẽ không có nhiều lựa chọn sau khi về nước ngoài việc lao vào làm mà trả nợ trong khoảng 3 năm, 5 năm, hoặc lâu hơn tùy khoản nợ. Trong trường hợp này: tài chính ở dạng số âm, nhưng có thời gian và sức khỏe cho việc học và khám phá tất cả những gì hay nhất của trường học. Nên nhớ rằng giá trị lớn nhất của trường học là các kĩ năng tư duy và áp dụng lý thuyết dài hạn, các môn học khai sáng bản thân, chứ không phải kĩ năng thực hành. Nhưng cần nhiều thời gian mới hấp thụ được các lợi ích này.

Vừa học vừa làm: Cách này nhìn chung chỉ khả thi ở các nước có chính sách miễn học phí hoặc học phí vô cùng thấp cho sinh viên quốc tế như Pháp hay Đức. Tuy nhiên sinh viên BUỘC phải biết tiếng bản địa để có thể được hưởng chính sách này. Thông thạo tiếng bản địa cũng là điều kiện đầu tiên để có thể có việc làm thêm. Việc làm thêm đủ để trang trải sinh hoạt phí cũng ngốn của bạn kha khá thời gian. Sinh viên sẽ khó có đủ thời gian và sức khỏe để học cho tốt và lấy bằng xuất sắc (cái này gần như là chắc chắn nếu như bạn đang học ở một trường tốt). Tiền có – thời gian ít – sức khỏe âm. Thời gian và sức khỏe để hoàn thành nội dung khóa học còn thiếu, chứ đừng nói đến tìm hiểu các môn rất hay khác, như Luật, Nhân quyền, hoặc đơn giản như môn Viết chẳng hạn.

Học bổng một phần, vừa học vừa làm: Lựa chọn này thực ra cũng chả hơn lựa chọn trên là mấy nếu như người học chọn một trường có học phí cao. Thường mọi người sẽ kết hợp với vay nợ hoặc tài chính gia đình để chi trả phần học phí còn lại, và đi làm thêm để có sinh hoạt phí Tuy nhiên có một ưu điểm là người học có thể học ở nước nói tiếng Anh và dễ kiếm việc làm hơn. Tất nhiên việc làm thêm để trang trải sinh hoạt phí cũng chẳng dễ dàng gì và kết quả cũng y hệt như trên. Tiền có – thời gian ít – sức khỏe âm.

Học bổng toàn phần: Lựa chọn này là tối ưu cho những người may mắn. Lợi ích của nó thì không cần nói nhiều: có nhiều lựa chọn cho việc sử dụng thời gian hơn hẳn các trường hợp kia.

Nhưng, để được một học bổng toàn phần không hề dễ dàng. Lao tâm khổ tứ và cần may mắn, hoặc rất nhiều may mắn.

3.  Chi phí cơ hội: Sự nghiệp

Lúc người ta cảm thấy ý chí và kiến thức của mình phù hợp nhất để du học cao học, cũng là lúc sự nghiệp của họ đã có thành tựu nhất định. Ít ra người ta đã có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên.

Đi du học lúc này chính là chấp nhận chi phí cơ hội: từ bỏ vị trí, lương bổng, cơ hội thăng tiến suốt những năm trước đã cố gắng gây dựng. Ngoài nước Anh, các chương trình cao học ở các nước khác yêu cầu khoảng 2 năm. Trong 2 năm đó, những người cạnh tranh với chúng ta ở Việt Nam có thể đã đi được những bước khá dài về sự nghiệp. Họ ở vị trí khác, lương bổng khác, triển vọng khác, thậm chí tư duy ở tầm cũng khác. Chí ít họ cũng tích lũy được hơn người đi học 2 năm kinh nghiệm.

Một số người lập được những cam kết với công ty hoặc cơ quan để đảm bảo khi quay về Việt Nam vẫn có nơi làm việc, nhưng số này không nhiều và họ cũng vẫn phải chấp nhận từ bỏ các cơ hội khác. Tất nhiên nếu bạn nào đó luôn có những mối quan hệ (gia đình) tốt sẵn để không phải lo công ăn, việc làm khi trở về, thì họ gần như chẳng phải đánh đổi gì về sự nghiệp cả. Số này đương nhiên là hiếm.

4.  Chi phí cơ hội: Nguy cơ học không đúng thứ cần học

Không phải ai cũng chọn được thời điểm phù hợp để du học. Tôi nhận được khá nhiều tin nhắn nhờ tư vấn cách chọn trường, cách săn học bổng từ những bạn còn chưa biết tại sao mình cần đi học. Rất tréo ngoe ở chỗ, các bạn ấy quá chắc chắn và nhiệt huyết với lựa chọn du học của mình, trong khi biết rất ít về du học, thậm chí biết rất ít về việc học. Cuối cùng các bạn đi du học về mà không áp dụng được kiến thức gì đã học. Các bạn trở về Việt Nam bắt đầu từ số 0 trong khi bạn bè cùng trang lứa đã có 2 năm kinh nghiệm.

Nguyên nhân đầu tiên của việc này là vấn đề hướng nghiệp ngay từ bậc phổ thông rất kém.

Nguyên nhân thứ hai là thông tin đa dạng nhưng không đa chiều. Thông tin đa số bị thao túng bởi lợi ích. Mà việc các bạn lựa chọn du học có vẻ đem lại nhiều lợi ích hơn cho người cấp tin.

Nguyên nhân thứ ba là các bạn muốn du học mà không chuẩn bị các kĩ năng có giá trị dài hạn cho việc học và sinh sống ở nước ngoài như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nghiên cứu và viết hàn lâm (hàn lâm, không phải IELTS), kĩ năng tư duy phản biện, kĩ năng ngôn ngữ.

Nguyên nhân thứ tư là các bạn không tìm hiểu bản thân lẫn thử qua các công việc kĩ càng trước khi quyết định. Lý do đi du học các bạn thường đưa ra là:

  • Lấy bằng cấp (thậm chí lên PhD) cho xong một thể kẻo sau này già rồi quên mất, ngại học lắm => Ơ thế đi học lấy kiến thức và kĩ năng hay đi học để lấy cái bằng thạc sỹ về làm đồ trang sức thế? Đi học PhD để làm nghiên cứu hay làm tư vấn hoặc R&D chuyên sâu, hay là mang cái danh PhD cho oai thế?
  • Lấy bằng cấp cho xong kẻo sau này vướng bận vợ chồng con, không có cơ hội đi học => Nghe có vẻ có lý, nhưng thực ra cũng là ngụy biện, vì mục đích cơ bản của việc đi học như này vẫn là lấy cái bằng cấp cho xong để khoe cho oai. Chẳng qua là muốn lấy sớm cho dễ lấy.
  • Du học để trải nghiệm => nếu các bạn chấp nhận được việc không biết cách học cho hiệu quả, học xong không biết dùng kiến thức và kĩ năng để làm gì, thì du học để trải nghiệm cũng là ý kiến không tồi.

Các bạn mà mình khuyến khích du học ngay sau khi tốt nghiệp là những bạn thật sự đã có kinh nghiệm nghiên cứu và đam mê nghiên cứu. Môi trường đại học ở Việt Nam đủ để cho các bạn thử nghiên cứu và đưa ra quyết định du học thạc sỹ chuyên về nghiên cứu hàn lâm.

Còn các trường hợp khác, lời khuyên của mình là cứ đi du học nếu chấp nhận được nguy cơ (gần như chắc chắn) học không đúng thứ cần học, không đủ kĩ năng để tận dụng lợi ích của khóa học, hoặc tệ hơn là học một khóa hoàn toàn không phù hợp với ngành mình muốn làm sau này.

Rất tiếc, trong hầu hết các trường hợp người ta có lựa chọn ít hiểu biết (ill-informed choice) như vậy, mọi nỗ lực khuyên bảo của mình không có tác dụng.

5.  Sốc văn hóa ngược và những nguy cơ bất định

Việc du học mà học không đúng thứ cần học như trên dễ dàng dẫn đến việc thất nghiệp hoặc học xong ở nước ngoài rồi vẫn đi làm nghề không phù hợp ngành học. Kết quả là không áp dụng bao nhiêu công sức và kĩ năng cứng học được ở nước ngoài. May mắn là sẽ vẫn áp dụng được các kĩ năng mềm đã học hoặc phát triển được, nếu như khóa học và bản thân người học tạo điều kiện phát triển các kĩ năng này. (Nếu người học không học thì đương nhiên chỉ còn cách ngửa mặt lên trời mà cười nhá 😊 )

Một vấn đề nữa khiến cho các tân thạc sỹ thất nghiệp là bằng cấp “cao không tới, thấp không thông”. Không phải công việc nào cũng cần tới bằng thạc sỹ để làm tốt. Nhiều công việc chỉ cần kiến thức ở bậc đại học và kinh nghiệm 2 năm để làm được. Chưa kể, cái mác thạc sỹ thường gắn liền với ấn tượng không hay về mức lương mong muốn. Qualified là tốt, underqualified hay overqualified đều là không tốt. Lúc này, câu chuyện lại quay về kĩ năng giao tiếp và “bán thân” (selling one’s self) có tốt không, có biết cách thương lượng không. Nếu tính toán kĩ và xa hơn, du học sinh thực ra đã phải hiểu rõ thị trường lao động trong ngành mình muốn làm việc sau này rồi mới đi học. Có như vậy mới tránh được những nguy cơ bất định như thế này.

Vấn đề thứ ba là sốc văn hóa ngược. Từ hồi về nước, mình đi xe máy chậm, cẩn thận và tập trung hơn trước rất nhiều. Ở Anh giao thông rất an toàn và mọi người đi rất đúng luật, nên khi về Việt Nam mình không thể quen được với cách đi của dân mình và lúc nào cũng trong trạng thái tập trung.

Đó mới là việc nhỏ. Việc to là mình không thể quen lại được cách làm việc của cơ quan cũ, một viện nghiên cứu thuộc Bộ Xây dựng. Chưa kể là câu chuyện nhân sự. Những người thuộc nhóm trí thức trẻ, hay ủng hộ mình hoặc ít ra trung lập, đều đã chuyển công tác hết. Sau một thời gian mình chính thức ngừng công việc ở đó và tiếp tục công việc nghiên cứu kiến trúc với tư cách độc lập và tự do 😊(Mặc dù lúc đề tên ở cái publication vẫn đề tên cơ quan vào chứ không để trống, cảm giác như thế thì nó “ăn cây nào rào cây nấy” hơn)

6.  Cái giá của thời gian và công sức chuẩn bị

Để đi du học được, cần phải chuẩn bị rất nhiều kiến thức và kĩ năng mềm mà nhiều người không nói cho du học sinh (hoặc bố mẹ của du học sinh). Chưa kể có những người phải chuẩn bị hồ sơ để xin học bổng toàn phần nữa. Thời gian chuẩn bị những thứ đó ít thì 5-7 năm, còn nhiều thì không bao giờ là đủ. Nếu nói chân tình rằng nên chuẩn bị du học từ lúc nào, tôi sẽ nói là ngay từ bây giờ.

Bạn bè tôi và tôi nhiều người chưa bao giờ đi ra khỏi Việt Nam, sao lại không có một chút xíu e ngại nào khi bước chân lên đất Anh?

Tại sao có người không được học viết luận cũng không làm luận văn ở đại học, mà sang Anh chưa bao giờ ngán ngại các môn phải viết nhiều?

Tôi bắt đầu học nói tiếng Anh lúc 15 tuổi, mà trước lúc sang Anh đã có thể nói với giọng rất giống người Anh? (Bây giờ thì đang cố tình nói không giống người Anh 😊))

Tất cả những thứ đó nằm xa hơn mấy câu chuyện ngoại ngữ hay điều kiện kinh nghiệm rất nhiều, và cái giá cho nó cũng không ít.

Muốn biết thì hãy … đọc phần tiếp theo.

Tài liệu tham khảo

[1] L. Hoang, “My UK Episode 3: “No pain, no gain”,” 2017. [Online]. Available: https://goo.gl/b9Sg54.
[2] L. Bridgestock, “How Much Does it Cost to Study in the US?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-us.
[3] S. Collier, “How Much Does it Cost to Study in Canada?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-canada.
[4] S. Collier, “How Much Does it Cost to Study in Europe?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-europe.
[5] J. Playdon, “How Much Does it Cost to Study in Australia?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-australia.
[6] J. Playdon, “How Much Does it Cost to Study in the UK?,” 2017. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/student-info/student-finance/how-much-does-it-cost-study-uk.

 

Các “cách” làm giảm cơ hội được học bổng – Long D Hoang

* Cảnh báo:

Bài này tiếp tục nói về thái độ trước, trong, và sau khi săn học bổng. Người viết sẽ nói thẳng. Mọi người cân nhắc trước khi đọc. Người viết không chịu trách nhiệm về việc có ai đó đọc xong rồi cảm thấy khó chịu.

* Chú ý:

  • Quan điểm của người viết: Không làm bất cứ việc gì với thái độ “liều ăn nhiều” – cầu may mắn. Không ai muốn trao cơ hội cho người không đủ nghiêm túc như vậy cả.
  • Bài viết dựa trên kinh nghiệm đọc và phản biện cho hàng trăm hồ sơ xin học bổng (cả đạt và không đạt). Khi tôi viết “nhiều người”, ý là nhiều người mà tôi đã được biết qua các hồ sơ trên.
  • Bài mang thể hiện quan điểm và bức xúc cá nhân.

Ai không đồng ý với những điều trên này hoàn toàn có thể dừng đọc tại đây.


Ở bài trước, tôi đã nói về cách tính toán cơ hội khi săn học bổng. Bài này sẽ dành cho những trường hợp tạm gọi là “thiếu hụt về nhận thức” khiến cho cơ hội đạt học bổng giảm đi. Thực ra đây chỉ là việc tổng kết và nhắc lại những gì mình đã nói (nhiều nội dung trùng với phần 2). Tuy nhiên tôi nhận thấy mình cần nói lại để đập tan nhiều ảo tưởng kì cục của nhiều người.

Chú ý: ngay cả khi mắc tất cả các lỗi này, người ta vẫn hoàn toàn có khả năng lấy được học bổng. Tuy nhiên khả năng đó rất thấp, và khi đó việc được học bổng hoàn toàn do may mắn.

1.   Du học khi kinh nghiệm chưa đủ về chất và lượng

Những người chưa đủ kinh nghiệm rất khó xin được học bổng. Bởi vì không có kinh nghiêm thì không thể biết được mình cần kiến thức gì, cần chọn khóa học nào cho chính xác. Mà khi chính mình còn không biết thì làm sao thuyết phục được ban xét duyệt học bổng.

Một số trường hợp dạng này:

Du học khi kinh nghiệm chưa đủ lượng

Một điều thường thấy: các bạn muốn du học thạc sỹ ngay sau khi tốt nghiệp đại học mà lại muốn có cả học bổng toàn phần nữa. Những trường hợp này đương nhiên không có chút kinh nghiệm làm việc nào nên không biết chọn khóa học phù hợp.

Những ứng viên có thể chọn được khóa học phù hợp để học tiếp luôn bậc thạc sỹ hầu như đều theo hướng nghiên cứu khoa học chứ không phải thực hành. Họ đã có kinh nghiệm cộng tác nghiên cứu hoặc tự nghiên cứu ở bậc đại học, nên nắm rõ ngành mà họ muốn tiếp tục nghiên cứu ở bậc cao hơn. Hầu hết những học bổng thạc sỹ không yêu cầu kinh nghiệm làm việc toàn thời gian (full-time) cũng dành cho những ứng viên như vậy.

Du học khi kinh nghiệm chưa đủ chất

Những người này thường có khoảng 1-3 năm kinh nghiệm, nhưng chỉ có 1 năm kinh nghiệm liên quan đến ngành dự định học. Hoặc có nhiều hơn 1 năm kinh nghiệm nhưng vị trí làm việc chỉ là thực tập sinh, hoặc tình nguyện viên bán thời gian.

Với kinh nghiệm như vậy, khả năng ứng viên xác định được một khóa học phù hợp, hoặc xây dựng được một kế hoạch làm việc hợp lý sau khi kết thúc khóa học là rất thấp. 1 năm kinh nghiệm không đủ để đảm bảo ứng viên sẽ tiếp tục được với ngành đã chọn. Vị trí thực tập sinh cũng có áp lực trách nhiệm và mức độ đóng góp khác hẳn, không thể so với những người làm việc chính thức toàn thời gian. Mà ban xét duyệt là những người phỏng vấn rất sắc sảo. Họ dễ dàng khai thác những điểm không chắc chắn ở ứng viên.

Tóm lại: Nếu ứng viên không có định hướng nghiên cứu, cũng chẳng phải người có nhận thức thiên tài, thì cứ đi làm trong một ngành suốt 2 năm, ở vị trí toàn thời gian đã, rồi hãy tính đến xin học bổng toàn phần. Ứng tuyển học bổng ở trạng thái kinh nghiệm chưa đủ chất hay lượng là một trong những hành động ngớ ngẩn, phí phạm thời gian nhất của người đi học.

2.   Không chuẩn bị kĩ càng

Không lên kế hoạch từ trước

Một kế hoạch săn học bổng hoàn chỉ thường được thực hiện trong tầm 5 – 7 năm mới có thể tạm đảm bảo sức cạnh tranh tối đa. Thời gian này bao gồm 2 – 4 năm học tiếng Anh, 2 năm vừa học tư duy và viết luận, vừa suy nghĩ thật kĩ về công việc mình muốn theo đuổi trong tương lai, 1 năm làm hồ sơ.

Việc lên kế hoạch này đảm bảo được 3 yếu tố:

  • Ngay cả khi không dành được học bổng, ứng viên vẫn có những kĩ năng có giá trị dài hạn, có thể áp dụng vào nhiều công việc khác nhau.
  • Ứng viên có đủ thời gian để hoàn thiện từng phần của bộ hồ sơ với chất lượng tốt, tránh tình trạng phải học tiếng Anh, thi chứng chỉ, làm giấy tờ bổ sung cùng lúc.
  • Dành được trọn vẹn thời gian từ khi cổng ứng tuyển mở cho đến hạn đóng hồ sơ để tập trung vào việc viết bài luận. Đây là phần quan trọng nhất khiến hồ sơ xin học bổng trở nên khác biệt, nhưng lại chỉ có thể bắt đầu khi cổng ứng tuyển mở.

Không chuẩn bị tốt kĩ năng ngôn ngữ

Để có thể viết được một hồ sơ xin học bổng tốt tốt, và học tập tốt ở nước ngoài, ứng viên cần khả năng sử dụng tiếng Anh ở mức độ C1 trong khung tham chiếu CEFR. Vì vậy, hãy đọc can-do statement của trình độ C1 trong khung tham chiếu CEFR và đối chiếu xem mình đã đạt C1 chưa. Nếu chưa đạt thì nhất quyết phải cố học thật sự cho đạt.

Hiểu sai về yêu cầu ngôn ngữ

  • Coi điểm IELTS là thang đánh giá chính xác khả năng sử dụng tiếng Anh của mình. Rất tiếc, điều này không chính xác. Điểm IELTS sẽ phản ánh đúng khả năng sử dụng tiếng Anh chỉ trong điều kiện người đi thi chỉ cần làm thử vài bài để quen với quy cách và dạng bài của IELTS. Bài thi này sẽ không phản ánh đúng khả năng sử dụng tiếng Anh nếu như ứng viên dành vài tháng luyện thi, ứng viên phải dùng các mẹo làm bài, hoặc ứng viên chỉ cố gắng dùng các từ ngữ hoặc cách diễn đạt học thuật để ăn điểm mà không thực sự hiểu chúng. Tôi sẽ nói kĩ hơn về vấn đề này ở một bài khác với các chứng cứ khoa học phù hợp.
  • Coi ngôn ngữ như điều kiện cần chứ không quan trọng. Nhiều ứng viên chỉ cố mau mau chóng chóng thi được IELTS 6.5, đạt điều kiện cần là xong. Đáng ra các ứng viên phải hiểu rõ mình làm sẽ làm được gì với trình độ ngôn ngữ đang có, chứ không nên dựa vào điểm số. Thực tế là đầy người đã xin được học bổng rồi vẫn còn chật vật với giao tiếp hàng ngày và viết luận ở các nước nói tiếng Anh, cho nên đừng tưởng bở.

Không chuẩn bị kĩ năng tư duy và diễn đạt

Việc không rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện và kĩ năng diễn đạt (nói và viết) sẽ dẫn đến 3 vấn đề:

  • Bài luận xin học bổng có chất lượng rất thấp.
  • Khi đi phỏng vấn không hiểu câu hỏi và không diễn đạt sao cho thuyết phục. Ban phỏng vấn luôn là những người rất sắc sảo. Họ sẽ hỏi những câu ứng viên không bao giờ nghĩ ra nổi. Chỉ có tư duy tốt và khả năng làm chủ diễn đạt mới có thể giúp ứng viên tự quyết định được số phận.
  • Được học bổng nhưng khi đi học kết quả không tốt. Đơn giản là: không có tư duy phản biện tốt và khả năng viết thật tốt thì làm sao viết nổi những bài luận 3000 – 5000 từ. Chuyện ứng viên được học bổng chính phủ hẳn hoi mà vẫn diễn đạt kì cục không phải chuyện hiếm (tôi không tiện nói ra, ai đọc được thì tự biết mà sửa).

3.   Kĩ năng thu nhập thông tin kém

Có 3 kĩ năng thu thập thông tin quan trọng gồm: literacy, computer literacy, và Internet literacy.

Khi ứng viên đọc không kĩ và hiểu không trong sáng, thì sẽ suy diễn ra thông tin không có thật. Ví dụ như rất nhiều người cho rằng Chevening luôn ưu tiên người đang làm cho khối nhà nước và cũng không thèm đọc quy định của Chevening để kiểm tra lại. Hoặc một số người đến giờ vẫn cho rằng Chevening có các ngành ưu tiên, trong khi quy định này đã bị gỡ bỏ từ năm 2015.

Bên cạnh đó, sự thụ động trong việc tìm kiếm thông tin sẽ giới hạn nhận thức và hiểu biết của ứng viên về các loại học bổng. Thực ra thông tin về học bổng hiện nay rất nhiều và rất kỹ (Ví dụ như blog này). Các ứng viên chỉ cần đọc các blog và đọc kỹ các thông tin trên trang chính thức của học bổng là đã đủ thông tin về điều kiện cần và đủ của học bổng rồi.

Còn sự yếu kém trong sử dụng máy tính và Internet để thu thập thông tin sẽ dẫn đến việc thông tin ứng viên tìm được chẳng có gì khác biệt cả. Mà nếu thế thì làm sao thuyết phục được ban xét duyệt rằng lý do lựa chọn khóa học của mình chân thật và thật sự khác biệt?

Đi đánh trận, không hiểu rõ về đối phương mà cứ xông lên, thì dù thắng hay thua cũng đều dở cả. Thắng cũng không biết tại sao mà thua cũng không biết vì sao.

4.   Chọn trường một cách hời hợt

Một lỗi cơ bản của các ứng viên khi nói lý do chọn trường: chọn trường vì thành tích của trường. Ví dụ: tôi chọn trường này vì trường có ranking cao, có mấy giải Nobel, có bao nhiêu công trình nghiên cứu trên Nature hoặc Science.

Những thành tích đó không hề đảm bảo việc khóa học sẽ đem lại những kiến thức hay kĩ năng có ích. Và “có ích” hay không, nó phải liên quan chặt chẽ tới lý do đi học và kế hoạch sau khi học. Rất nhiều hồ sơ không thể hiện được các mối liên quan chặt chẽ và riêng biệt này. Hoặc hồ sơ sẽ chỉ giải thích tại sao muốn đi học, hoặc sẽ chỉ giải thích tại sao chọn trường học đó với các lý do hời hợt.

5.   Viết bài luận kém

Lỗi cơ bản của người Việt Nam là dài dòng. Trích một phần Long đã nói về lỗi này trong Phần 2:

Ví dụ: Yêu cầu là “Outline why you have selected your chosen three university courses, and explain how this relates to your previous academic or professional experience and your plans for the future”

Rất thường xuyên, người viết kể lể ra một lô một lốc tình hình Việt Nam đang ra sao, mất tầm 150 từ. Sau đó các ứng viên kể lể cái ngành chung chung mình học là cái chung chung gì, mất thêm 150 từ. Sau đó kể nốt tôi học ngành đó để rồi tôi làm ra cái gì, mất nốt 150 từ. Mà bài luận giới hạn 500 từ. Cuối cùng còn chả nhắc nổi cái tên khóa học với tên trường cho ra hồn.

Lỗi thứ 2 là thích dùng từ “đao to búa lớn” và học thuật. Đây thực ra là điều tối kỵ trong viết, thậm chí với viết học thuật. Mục tiêu quan trọng nhất của việc viết là khiến người đọc hiểu đúng điều mình muốn họ hiểu. Và để đạt được mục tiêu đó, từ ngữ CÀNG THÔNG DỤNG VÀ GIẢN DỊ CÀNG TỐT.

Lỗi thứ ba là hay sử dụng tính từ để nói về mình hoặc sản phẩm của mình. Đây cũng là điều tối kỵ trong viết hồ sơ xin học bổng. Bởi vì đó là cách viết khoe khoang, dùng cảm giác chủ quan của mình để “nhét chữ vào mồm người đọc”. Một bài viết tốt và khách quan sẽ sử dụng nhiều động từ để mô tả những gì mình đã làm, còn người đọc sẽ tự đánh giá tố chất của ứng viên.

6. Không biết cách tham khảo ý kiến

Về mặt này, ứng viên thường hay mắc 2 lỗi: không tham khảo ý kiến, hoặc tham khảo ý kiến không đúng người đúng việc.

Không tham khảo ý kiến (sớm)

Lỗi này thì … chả còn gì để nói. Bây giờ thông tin rất dễ tìm. Ứng viên có thể liên lạc với các alumni dễ dàng thông qua mạng facebook. Vậy thì tại sao không tham khảo ý kiến của họ trước khi apply học bổng một vài tháng? Tôi ước tính 50 – 80% học giả mới của các học bổng chính phủ đều tham khảo ý kiến của alumni đấy.

Tham khảo ý kiến không đúng người, đúng việc

Thứ nhất, đa số alumni chỉ giải đáp được thông tin về điều kiện cần để duyệt học bổng và thông tin phụ khác như học tập, sinh hoạt, ăn ở. Còn các tiêu chí đủ thì … nói thật chứ nhiều khi chính họ còn chả biết tại sao họ đạt thì ai mà dám nói chắc cho ứng viên được. Nếu muốn biết tiêu chí học bổng ra sao, phải xem alumni là người thế nào, chứ đừng nghe những cái alumni tự nói.

Thữ nữa, đừng mặc định là alumni nào cũng sắc sảo trong tư duy và viết luận xin học bổng (hai kĩ năng này liên quan chặt chẽ với nhau). Thậm chí rất ít người giỏi kĩ năng này. Cho nên đừng trông mong rằng họ sẽ cho ứng viên thông tin đặc biệt giá trị nào về cách viết luận hay phản biện được bài luận cho bạn. Hãy tham khảo thông tin từ chỉ 1, cùng lắm là 2 người mà ứng viên thấy thực sự có tư duy phản biện tốt. Tôi đã có những trải nghiệm với những người tự xưng mình vừa là thầy, vừa là alumni nhưng kĩ năng viết và tư duy rất kém, tư cách lại còn … (mời đọc post trước để biết thêm chi tiết)

7.   Không nghiêm khắc với bản thân

Thái độ này mới chính là nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề kể trên.

Không khiêm tốn

Bệnh chung của rất nhiều người chưa hoặc đã đạt học bổng là “bệnh tưởng”.

Tưởng mình đã dùng tiếng Anh tốt lắm, tỉ mỉ cẩn thận trong câu từ lắm. Nói thật, xưa nay tôi chỉ thấy nhóm các bạn học ngành luật mới thật sự đáng được gọi là chính xác tỉ mỉ về câu từ tiếng Anh. Còn lại, hiếm vô cùng.

Tưởng mình đã điều tra được nhiều thông tin tốt lắm. Thực ra, phàm cái gì có sẵn trên mạng, mình tìm ra thì người ta cũng tìm ra.

Tưởng mình đã có động lực và kế hoạch đủ tỉ mỉ. Kiểm tra cái kế hoạch này thực ra khá dễ, cứ dùng tiêu chuẩn SMART mà xét.

Bonus: Một số người tưởng học bổng là cái chứng nhận tài năng cá nhân. Rồi được học bổng xong không thèm cảm ơn người đã tận tình hướng dẫn mình (cái này bạn tôi đã bị chứ tôi thì chưa, may quá). Thực tế là: cái học bổng phần nhiều chứng nhận mình may mắn hơn vài trăm người khác, chứ không chứng nhận cho những gì mình đóng góp được cho cộng đồng. Còn người hướng dẫn mình dù sao cũng là senior fellow của mình, còn gặp nhau dài dài thì nên khiêm tốn biết cách cư xử với nhau.

Liều ăn nhiều

Cứ nộp hồ sơ, thậm chí nộp hồ sơ nhiều lần trong khi biết rõ rằng kinh nghiệm mình chưa đủ. Hoặc biết trình độ ngôn ngữ của mình tầm thường, kĩ năng tư duy, động lực và kế hoạch của mình cũng chẳng có gì vượt trội mà vẫn tặc lưỡi “thôi kệ cứ nộp, liều ăn nhiều”.

Vấn đề là, với thái độ và cách chuẩn bị như vậy, việc đạt được học bổng hoàn toàn dựa vào may mắn. Ngay cả khi được học bổng, việc “cố đấm ăn xôi” như vậy không thể gọi là “hard work pays off” hay “resilience” được. Về lâu dài, thái độ như vậy cũng không thể khiến một người đi xa được, và anh ta sẽ nhanh chóng phí phạm cơ hội mà thôi.

Lười và thụ động

Lỗi này là bệnh chung của người Việt Nam rồi. Biết bao nhiêu thứ cần chuẩn bị như ở trên kia tôi đã nói, nhưng không đủ quyết tâm để làm.

Ban xét duyệt đủ sắc sảo để phát hiện ra tất cả những thái độ trên. Hiển nhiên là bất đắc dĩ lắm họ mới phải trao học bổng cho các trường hợp như vậy.

 8.  Hậu quả

Tự tạo cho ban xét duyệt cơ hội từ chối mình

  • Đã xin học ngành không liên quan chút nào đến ngành học ở bậc đại học, mà lại không có kinh nghiệm phù hợp thì tại sao chúng tôi (ban xét duyệt) không chọn người có kinh nghiệm phù hợp hơn?
  • Kinh nghiệm làm việc của bạn không đủ chất và lượng thì tại sao chúng tôi không chọn người có kinh nghiệm tốt hơn?
  • Tiếng Anh của bạn còn non kém, tại sao chúng tôi không chọn người cùng ngành, cùng kế hoạch và động lực làm việc, nhưng tiếng Anh tốt hơn bạn? Với tiếng Anh tốt hơn, họ rõ ràng dễ thành công trong khóa học sắp tới hơn bạn mà.
  • Bài luận của bạn còn hời hợt, tại sao chúng tôi không chọn người có tư duy và chuẩn bị kĩ càng hơn bạn?
  • Đam mê và động lực của bạn cũng chân thật đấy, nhưng người khác cũng chả kém hơn bạn đâu. Sao tôi phải chọn bạn?
  • Bạn không nói được rằng mình sẽ đem lại lợi ích gì cho chúng tôi, vậy tại sao chúng tôi không chọn người đem lại nhiều lợi ích cho chúng tôi hơn bạn.

Những thứ trên không thể bù trừ cho nhau. Bởi vì, làm sao có thể nói một người có kinh nghiệm tốt đáng được học bổng hơn một người có đam mê lớn? Hơn nữa, trong hàng trăm hàng nghìn hồ sơ ứng tuyển, sẽ chẳng thiếu gì những hồ sơ tốt trên tất cả các mặt: bằng cấp, kinh nghiệm, tư duy, động lực, kế hoạch. Hiển nhiên, bằng cấp không bằng người, kinh nghiệm cũng ngắn ngủi không chất lượng bằng người, chỉ có đam mê nhưng lại là thứ chả so sánh hơn kém được, thì chỉ có trông vào may mắn mới được học bổng chứ sao nữa.

Tự giới hạn khả năng phát triển kiến thức và kĩ năng

Nhìn thẳng vào vấn đề: với kĩ năng tiếng Anh chỉ ở dạng vừa đủ, tư duy phản biện kém, khả năng viết luận kém, thì liệu ứng viên (ngay cả khi đã có học bổng) tận dụng được các tài nguyên con người, vật chất và phi vật chất ở khóa học thạc sỹ sắp tới như thế nào? Chuyện ứng viên học hành lớt phớt không phải chuyện hiếm. Những ai đã từng đi Úc theo học bổng AAS đều biết cộng đồng sinh viên ở Úc (bao gồm cả học giả AAS) phân chia rất rõ ràng. Một nhóm những sinh viên chăm chỉ và chuẩn bị tốt sẽ dành nhiều thời gian cho việc học và đạt được kết quả rất tốt (hầu như High Distinction). Nhóm còn lại là những người trình độ tự học và nghiên cứu thấp, tiếng Anh yếu, dù có học bổng cũng chỉ đi học để lấy điểm Pass rồi dành thời gian còn lại đi … làm thêm. Tôi không nói đâu là sai hay đúng, nhưng con đường nào tạo được lợi ích dài hạn hơn cho họ thì hẳn mọi người thấy rõ.

9. Làm sao để nổi bật giữa hàng trăm hàng nghìn bộ hồ sơ?

Dễ lắm. Làm sao để ban xét duyệt không có cơ hội từ chối mình. Là loại bỏ tất cả những lỗi trên

Một bộ hồ sơ tốt cần phải hội tụ tất cả mọi yếu tố thì người ta mới không có cơ hội từ chối mình. Năm ngoái tôi có hướng dẫn cho 12 bộ hồ sơ khác nhau cho nhiều học bổng hỗ trợ phát triển dành cho Việt Nam, trong đó có 7 bộ hồ sơ thành công. Trong những hồ sơ thành công đó, những bộ nào không cực kì may mắn thì lại có sự chuẩn bị rất kĩ lưỡng và đầy đủ, từ kinh nghiệm, kĩ năng cho đến thái độ.

Dĩ nhiên, chọn chuẩn bị hay trông vào may mắn thì tùy từng người. Nhưng sự “ngây thơ” và thái độ hời hợt không giúp ai tiến xa được đâu, chứ đừng nói làm ra được sản phẩm gì giúp đỡ người khác.

Hồng Thuận- Cô gái Chevening dành trọn tâm huyết để giúp đỡ người khuyết tật

1.Bạn vui lòng giới thiệu 1 chút về bản thân để các bạn đọc giả được biết thêm về bạn. Bao gồm: tên, (các) học bổng đã đạt kèm theo năm và trường-ngành học, sở thích của bạn, v..v..

Chào các bạn,  mình tên là Hồng Thuận là Chevening scholar của năm học 2015-2016.  Hiện mình đang học tại the University of York (UK) về Applied Human Rights ( Ứng dụng quyền con người trong thực tiễn). Chevening là học bổng gần nhất mình đạt được, ngoài ra trước đó, năm 2008, mình có đạt được học bổng Peace Scholarship, học về Development Studies tại ĐH Flinders – Nam Úc. Năm 2011, mình có dành được cùng lúc 2 fellowship là Youth Fellowship và Fellowship for Educators của World Peace Initiative Foundation tại Thái Lan để học về xây dựng Hoà bình và giải quyết xung đột cùng với 15 bạn trẻ khác đến từ khắp các châu lục. Năm 2014, mình được mời tham gia World Peace Summit tổ chức tại Seoul – Hàn Quốc  trong đó có sự góp mặt của các nhà lãnh đạo thế giới và người giành giải Nobel Hoà Bình khi đó là chị Tawakkul Abdulsalam Khaled Karman người Yemen. Trong dịp này, mình cũng gặp lại bạn bè của mình từng học tại Thái Lan trước đó. Rất tình cờ, cả 2 cũng là Chevening scholars và là Peace agents! Đôi khi, minh nghĩ học bổng đến với mình ngoài sự tình cờ thì cũng là những ấm ủ và chuẩn bị trước đó rất lâu. Sự tình cờ chỉ đến khi bạn đã miệt mài học tập, làm việc, chuẩn bị thật kĩ càng và đủ lâu trước đó. Ngoài sở thích chính là được đi du lịch, được gặp gỡ các bạn bè năm châu bốn bể, học hỏi về những nền văn hoá khác biệt, mình còn có sở thích “phụ” là Yoga, chạy bộ, thiền, và đọc sách về giáo dục. Đi tình nguyện, giúp đỡ mọi người và thi thoảng viết lách, đây cũng là một trong những sở thích của mình. Thực ra mình nghĩ, sở thích cũng thay đổi và lớn lên  theo thời gian giống y như con người của chính mình vậy.

 

2.Bạn có thể chia sẻ điểm chung của những bạn đã từng đạt học bổng không?

Điểm chung lớn nhất mình quan sát thấy của những bạn từng đạt học bổng du học hay học bổng chính phủ đó là họ biết rõ bản thân mình muốn gì, cần gì và tại sao. Họ có động lực mạnh mẽ và lớn lao, và thường đó là những động lực rất trong sáng và mang lại lợi ích không chỉ cho các bạn mà còn cho cộng đồng. Bên cạnh đó, họ cũng là đặt ra những mục tiêu rõ ràng, cụ thể và theo đuổi mục tiêu không ngừng nghỉ, ngay cả khi họ gặp thất bại. Đó là tính kỉ luật và bền bỉ.  Dù các chương trình học bổng có thể có đòi hỏi khác nhau, kiến thức về lĩnh vực chuyên môn khác nhau, hay mục tiêu khác nhau, mình nghĩ những người đạt học bổng đều có những điểm chung nhất định. Biết rõ về chính mình, hiểu cặn kẽ về chương trình mình muốn theo đuổi, mục tiêu cao nhất, và sau cùng là luôn bồi dưỡng chuyên môn, rèn luyện ngoại ngữ và các kĩ năng cần thiết để đi đến thành công. Bền bỉ theo mình là yếu tố vô cùng quan trọng  và có tính quyết định nhất để đi đến thành công. Khiêm tốn để biết và nhận ra yếu kém của chính mình cũng là yếu tố khiến họ vượt qua được nhiều rào cản.

3.Lời khuyên tốt nhất của bạn dành cho các bạn đang trên con đường tìm kiếm học bổng là gì?

Xác định mục tiêu, chuẩn bị thật kĩ, cứ đi rồi sẽ đến, đừng bao giờ ngại chông gai và thất bại!

4.Bạn có thể kể về những điều thú vị về các Chevening Scholars hoặc thú vị về nước Anh không?

Với học bổng chính phủ Anh- Chevening thực sự có quá nhiều sự thú vị mà mình không biết kể sao cho hết nhưng mình nghĩ không ai có thể phủ nhận được rằng Chevening có một network rất mạnh với bạn bè đến từ khắp nơi trên thế giới. Họ là những người tài năng và có phẩm chất. Ví dụ như cô bạn cùng trong campus của mình người Afganishtan đã cho mình thấy bài học kiên cường về sự giành giật giữa công lý cho phụ nữ ở một nước Hồi giáo  nơi mà phụ nữ  bị coi thường, bị thấp hơn nam giới, chịu nhiều thiệt thòi và bất công. Bạn vừa là một Chevener nhưng cũng là Fulbrighter, bạn rất hiền lành nhưng cũng rất nhạy cảm, dễ xúc động và giàu lòng trắc ẩn. Hay như cậu bạn Chevener người Nam Phi là nhà báo cho tờ Forbes.  Cậu rất nhiệt tình chia sẻ về những suy nghĩ về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheird cho mình nghe, giải thích cho mình biết về cuộc giải phóng hoà bình mà Nam Phi giành được, những hệ luỵ mà người da đen còn gặp lại. Câu chia sẻ nhưng với cái nhìn nhiều chiều, sâu sắc. Nói chuyện với cậu mình luôn thấy thú vị.  Về cơ bản, mình nghĩ mỗi một Chevening scholar đều cho mình nhiều bài học, đôi khi là một phẩm chất tự nhiên của con người sau thời gian mài dũa, đôi khi là những kiến thức về lịch sử, kinh tế, giáo dục, v.v, đôi khi là một hành động chăm sóc và thể hiện nhiều yêu thương…

 

Nước Anh đối với mình  lại là một câu chuyện khác. Nước Anh làm mình yêu mến nhất là thiên nhiên, cách con người bảo vệ thiên nhiên và sống cùng với thiên nhiên. Bốn mùa ở nước Anh đối với mình thật vô cùng kì diệu, chỉ cần ngắm nhìn sự thay đổi của thiên nhiên theo thời gian, những bông hoa được nở rộ và thay đổi liên tục trong mùa, thiên nhiên có thể làm mọi thứ trở nên thật trang hoàng và lộng lẫy dưới nắng ấm. Nước Anh làm mình hiểu con người không thể tách rời khỏi thiên nhiên và đối xử tệ với thiên nhiên. Nhìn cách một người lớn tuổi chăm sóc một mảnh vườn nhỏ cũng đủ cho mình một bài học thấm thía về bảo vệ môi trường, bảo vệ trái đất.

Nước Anh cũng cho mình gặp con người thú vị như hai bác Charles và Jenny mình từng kể với các bạn của mình. Ngay lần đầu gặp hai bác đã thấy ấn tượng đặc biệt là nét thanh tú, nền nã và lịch lãm. Khi mình hỏi ra mới biết bác trai từng làm giảng viên ở trong trường mình học mà bác đã nghỉ hưu được 6-7 năm rồi. Bác gái thì từng là giáo viên dạy tiếng Đức. Hai bác đều có con lớn và rất thành đạt. Một sống ở London, một ở Edinburgh. Hai bác thường đi lại thăm và chơi cùng con cháu nhưng vẫn sống chủ yếu ở York. Hai bác rất yêu York. Sau hôm gặp mình, bác gái mời mình tới nhà uống trà chiều rồi tặng mình cuốn sách mà mình yêu thích. Ngắm nhìn bữa trà chiều mà bác gái chuẩn bị thôi mà mình chỉ muốn thốt lên: Trời ơi, đồ ăn đẹp, đồ uống đẹp, mà ngôi nhà của bác cùng mảnh vườn được cắt xén kĩ lưỡng cũng đẹp nữa. Chiều hôm ấy, hai bác lấy xe đưa mình từ kí túc sang nhà hai bác chơi, ngồi nói chuyện mà cũng hết 3 tiếng đồng hồ. Lúc đưa về nhà, trời đổ mưa to, bác gái lái xe, bác trai cầm ba lô to đùng của mình rồi bảo: ” Love, con để đấy, bác cầm ba lô cho con, để con mặc áo khỏi ướt!” đâu vào đấy rồi là ôm hôn mình thật chặt. Hai bác còn dặn thêm: “con ơi, đợi hai bác đi London về rồi lại gặp con nhé!”. Mình chạy vội vào nhà cho khỏi ướt rồi bảo: “dạ, con chào bác! con mong sớm gặp lại hai bác!” mà lòng thấy ấm áp vô cùng.

Love là từ thường được dùng ở York khi thể hiện lịch sự và yêu quý một ai đó, không nhất thiết là giữa người yêu với nhau.

5.Vì sao bạn chọn ngành này?

Mình nghĩ khi nói về quyền con người, hay công ước Liên Hợp Quốc, không phải người Việt Nam nào cũng hiểu hết được ý nghĩa và thực thi Công ước trong thực tiễn. Học về quyền con người mình mong là mình có một cách nhìn khác đối với những vấn đề mà VN đang gặp phải, hiểu được sự khác nhau từ lý thuyết cho tới thực tiễn trong cách tiếp cận, hiểu và thực hiện vấn đề. Học về quyền cũng giúp mình có cái nhìn bình đẳng hơn về con người bất kề quốc tịch, màu da, địa vị.

hoc-bong-du-hoc-Anh

6.Môn nào trong ngành học này làm bạn ấn tượng hoặc thú vị nhất? vì sao?

Mình thấy môn nào cũng khó, vì liên quan tới Luật, Chính trị, rồi lại cùng một ít văn hoá và kiến thức của từng quốc gia nữa, có lẽ khó và thú vị đi đôi với nhau.

7.Ngành học của bạn đã/sẽ hỗ trợ cho công việc hiện tại hoặc tương lai của bạn như thế nào?

Mình nghĩ trước hết là giúp cho mình hiểu sâu hơn về công ước, sau đó, nếu mình có thể hỗ trợ được đồng nghiệp cũng như người khuyết tật ở VN hiểu và thực thi công ước là mong ước của mình rồi.

8.Ngành học của bạn sẽ hỗ trợ nhiều cho đối tượng người khuyết tật. Vậy trong tương lai, nếu có bạn khuyết tật nào muốn xin học bổng Chevening, bạn có thể hỗ trợ guide cho họ apply học bổng này không?

Đương nhiên là được rồi!

9.Bạn có thể cho 1 cái nhìn tổng quan về tình hình người khuyết tật tại VN không?

Mình nghĩ số lượng người khuyết tật ở Việt Nam là rất lớn,  vì lí do lịch sử  chiến tranh của Việt Nam nhưng vì nhiều lí do khác: tai nan, kiến thức về an toàn lao động, bệnh tật. Người khuyết tật ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận về y tế, giáo dục và việc làm. Vấn đề khuyết tật đôi khi lại nằm ở chính người không khuyết tật. Ví dụ như trên thế giới họ nhìn việc người khuyết tật tham gia vào việc làm, y tế, giáo dục hay xây dựng các công trình tiếp cận là một việc làm không tốn nhiều chi phí mà mang lại lợi ích cho nhiều người, và để tăng sự hoà nhập và bình đẳng trong xã hội thì ở Việt Nam, cái nhìn về khuyết tật vẫn nằm trong cái khung của từ thiện và y tế. Người khuyết tật khi giữ một vị trí cao thì bị coi là “lạ lùng”  hay hôn nhân của người khuyết tật thì được cho là “cổ tích”.  Mình nghĩ mọi người nên nhìn dưới một lăng kính khác: ai cũng bình đẳng như nhau và có quyền mưu cầu hạnh phúc như nhau.

10.Bức tranh người khuyết tật tại nước ngoài ra sao và bạn có học hỏi được gì từ họ không?

Ở Anh nơi mình đang theo học, mình có thể nhận thấy người khuyết tật cũng bị kì thì và ít cơ hội việc làm tuy  nhiên sự kì thị này tinh tế hơn và không dễ dàng nhận thấy. Điều này mình quan sát sau khi tới thăm một tổ chức giành cho người khuyết tật tại York, ngoài ra mình còn  nói chuyện và phỏng vấn với một số lãnh đạo nhóm của người khuyết tật ở York của thành phố và trường Đại Học. Nhưng điểm làm cho Anh khác ở Việt Nam đó là người khuyết tật ở đây rất chủ động, họ chủ động trong việc đề bạt ý kiến, đưa những kiến nghị gửi lên Quốc Hội hay viết lá thư gửi Nữ hoàng. Thứ hai là họ rất tự tin trong khi tiếp xúc với người không khuyết tật khác, nếu họ có điểm mạnh nào, họ cũng không ngừng bồi đắp cho mình kiến thức về mảng đó và đi xin việc như bất kì người bình thường khác. Họ tham gia tập kịch, tổ chức các hoạt động xã hội, lên radio nói về vấn đề của mình. Hoạt động của họ rất phong phú. Trong trường Đại Học và các công trình công cộng, gần như 100% có công trình tiếp cận cho người khuyết tật. Các nhóm sinh viên làm việc về mental health, về disability còn lập ra Hội, nhóm, tổ chức các buổi vận động để người bình thường khác hiểu về vấn đề mà người khuyết tật gặp phải trên nhiều kênh khác nhau. Ngoài ra, họ còn đưa ra những dự báo về các dạng khuyết tật mới mà còn nhiều người chưa hiểu và công bố. Họ đi tìm các tiếng nói đồng tình và ủng hộ họ từ rất nhiều phía khác nhau. Anh cũng có Luật rất chặt chẽ khi làm việc với trẻ tự kỉ, hoặc tăng động giảm chú ý. Những người tham gia dù chỉ là tình nguyên viên cũng đòi hỏi phải có giấy chứng nhận đặc biệt. Mình rất tiếc khi không tham gia được hoạt động này vì thông tin mà mình biết khá muộn, và mình phải mất thêm thời gian nếu muốn có giấy chứng nhận về security record.

Một điểm chung mình học được từ người khuyết tật ở York đó Thái độ và cách tiếp cận vấn đề.

11.Việc đầu tiên khi bạn trở về VN làm việc, bạn muốn làm hoặc triển khai điều gì từ những gì bạn học?

Mình muốn được tiếp tục làm nghiên cứu thêm về quyền giáo dục cho trẻ em gái khuyết tật và đóng góp vào thực thi công ước Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật trong thực tiễn.

Xin chân thành cảm ơn bạn Đỗ Thị Hồng Thuận- Chevening Scholars 2015/2016. Chúc bạn với những kiến thức và network từ chương trình học tại Anh sẽ mang lại nhiều điều mới mẻ và giúp xóa nhòa khoảng cách với người khuyết tật tại VN và trên thế giới.

Lợi ích của việc du học bậc cao học – Long D Hoang

Du học bậc cao học không giống như bậc đại học. Đại học là một bước nền tảng mà đa số mọi người (ít nhất là ở Việt Nam) sẽ trải qua. Hoặc nếu không học đại học mà đi làm, đa số người ta cũng sẽ … quay lại học đại học sau một thời gian.

Còn cao học không như thế. Bước tiếp thêm 1-2 năm nữa là một ván cược lớn hơn, bởi vì người ta phải chấp nhận bỏ dở những gì đã xây dựng được trong những năm làm việc trước đó. Hoặc nếu đi du học khi chưa có kinh nghiệm làm việc, xác suất chọn ngành không phù hợp là rất cao.

Tréo ngoe thay là rất nhiều người khi được hỏi tại sao lại chọn khóa học đó lại đưa lại rất nhiều câu trả lời hồn nhiên.

Thực ra chọn học cao học (hay bất cứ khóa học nào cũng thế thôi), người ta sẽ phải trải qua mấy bước:

  1. Biết mục đích và nguyện vọng của mình.
  2. Biết khóa học đem lại lợi ích gì.
  3. So sánh xem mục đích và lợi ích có khớp nhau không.
  4. Đánh giá mình có đủ khả năng để thu nhận và phát huy hết những lợi ích đó không. Nếu chưa đủ thì cần làm gì, bỏ ra bao nhiêu nữa để có đủ khả năng.
  5. Dựa trên phân tích chi phí – lợi ích rồi mới quyết định đi học.

Phần 5 của loạt bài về du học này sẽ được viết thành 3 phần nhỏ (hoặc có thể mình sẽ viết 2 phần tiếp theo thành phần 6 và phần 7): lợi ích của việc du học bậc cao học, một số mục đích phổ biến khi du học và so sánh chúng với lợi ích, và một số việc cần chuẩn bị để đảm bảo tận dụng được khóa học tốt.

Chú ý: Bài viết này chỉ dành cho những bạn đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam.

Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu

Một môn cực kì phổ biến mà gần như ai học cao học ở Anh cũng phải động vào đó là (Advanced) Research Methods. Nếu như ở Việt Nam, môn này được nhiều bạn học cho qua, thì ở Anh đó là môn phải học nếu muốn tốt nghiệp. Hồi học kì 1 ở University of Nottingham, mình được một giáo sư “cứng” về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội đứng lớp (sau cùng thì người ta vẫn xếp kiến trúc vào khoa học xã hội). Phương pháp của bà là 50% bài giảng, 50% workshop. Sau 10 tuần, sinh viên sẽ từng bước thực hành xây dựng đề cương nghiên cứu. Bài tập hết môn là viết một cái đề cương nghiên cứu dài 3,500 từ (hơi ít).

Đến kì 2, sinh viên sẽ ngay lập tức được áp dụng phương pháp lẫn kiến thức nguyên lý, chỉ số, chỉ báo vào môn Case Study. Tức là sẽ chủ động tự làm tất tần tật các công đoạn của một nghiên cứu nhỏ: lập đề cương và kế hoạch, đem dụng cụ và bảng hỏi ra thực địa để khảo sát, tổng hợp và phân tích thông tin, báo cáo định kì. Kết thúc là một cái báo cáo nghiên cứu viết theo format của một bài báo nghiên cứu khoa học.

Sang kì 3, sinh viên sẽ được tống vào mặt nhiệm vụ: nghiên cứu và viết một luận văn (ở Anh gọi là dissertation) dài 20,000 từ trong vòng hơn 3 tháng. Mục đích cuối cùng của Case Study và Dissertation không phải là để cho có, mà còn nhắm đến việc công bố ở dạng các bài báo nghiên cứu khoa học.

Cần chú ý một chút: các khóa thạc sỹ ở Anh thường xuyên hướng tới các môn dạy tư duy-phương pháp nghiên cứu và các môn khai phóng hàn lâm. Còn các khóa học thạc sỹ ở Mỹ lại hướng tới các kiến thức và kĩ năng để giữ các vị trí công việc chuyên nghiệp hơn.

Xây dựng mối quan hệ

Việc xây dựng mối quan hệ tốt với các giáo sư thông qua công việc trong chính chuyên ngành của họ thường ít được sinh viên đại học ở Việt Nam chú ý. Các bạn sinh viên học khoa học tự nhiên có vẻ khá hơn chút, chịu khó làm trợ lý nghiên cứu cho các thầy. Còn lại nhìn chung việc này không quá phổ biến.

Học cao học ở nước ngoài là cơ hội để các bạn … sửa sai, nhất là những bạn muốn làm nghiên cứu. Chỉ cần các bạn nhiệt tình, giáo sư sẽ hỗ trợ tận răng cho việc nghiên cứu của bạn. Sinh viên ở khóa mình thường xuyên được giáo sư hỗ trợ chuyển luận văn và case study thành các bài báo nghiên cứu. Hồi mình mới về Việt Nam, thầy chủ động nhắn mình gửi abstract cho hội nghị khoa học PLEA 2017. Sau đó suốt mấy tháng, trò viết, thầy duyệt, đi đi lại lại nhiều lần. Thầy sửa từ ý tưởng đến cả câu từ. Ai đã quen Long đủ lâu sẽ biết trình tiếng Anh và độ kĩ tính của Long gớm ghiếc thế nào. Thế mà thầy còn sửa cho đỏ toẹt cả bài. Lại có thêm một bài học nữa về chuyện “Know your audience”.

Xong nhiều lúc làm việc với bên hội đồng khoa học của hội thảo mà chỉ muốn … bóp cổ cái đứa đang viết email trả lời mình. Nhưng do thầy nhiệt tình quá nên mình lại bấm bụng. Cuối cùng cũng đăng được bài báo khoa học trên Kỷ yếu hội nghị.

Trường hợp như mình không hề hiếm. Tính đến nay đã có tầm 20 người được thầy cô mình hướng dẫn như vậy rồi. Có người tốt nghiệp xong 1 năm đã có bài nghiên cứu đăng trên Springer. Học trò đều là first author hẳn hoi, các thầy cô chỉ là second & third authors thôi.

Không chỉ trong nghiên cứu, các thầy cô còn sẵn sàng giới thiệu mình với các đơn vị hành nghề hay các cơ hội học tập khác. Việc các sinh viên đứng đầu khóa được các công ty kiến trúc tuyển dụng và bảo lãnh visa cho ở lại Anh là việc thường xuyên, gần như năm nào cũng có ở khóa mình. Còn sinh viên đi học PhD cũng không phải khó (nói thật, trong mắt mình là dễ) khi đã có mối quan hệ và các công bố khoa học như trên.

Thử sức trong phạm vi trường học

Các cơ hội để thử sức có thể đến từ bất cứ đâu. Bạn có thể tham gia các cuộc thi chuyên ngành, tham gia các câu lạc bộ (club hoặc society) của sinh viên, hoặc thử sức ở các vị trí làm việc cho trường. Nhiều bạn bè của mình trong lẫn ngoài cộng đồng Chevening đã làm trưởng khóa, tình nguyện viên, hoặc đại sứ sinh viên quốc tế cho trường.

Cái hay ở chỗ: các thầy cô hết sức hỗ trợ. Cô giáo môn Project 2 của mình thậm chí còn lấy chính đề bài của một cuộc thi kiến trúc quốc tế làm 1 trong 3 đề bài của môn học. Sinh viên nào chọn đề bài đó sẽ được hỗ trợ để chuyển đồ án thành một poster gửi đi dự thi luôn.

Hồi đó đội mình giành được giải nhất toàn UK (thực ra là vì chả có đứa nào thèm gửi bài dự thi thôi, mình đoán thế). Đội mình, cùng đội giải nhì được đi tham gia vòng chung kết ở Belarus. Không phải chuyện đi thi được giải hay không, mà là lần đầu tiên mình được đến khu vực các nước Liên Xô Cũ.

Mình được nói chuyện với những người mà cái gì cũng chỉ quy ra được Ruble hoặc US Dollar, thậm chí ít người trong số họ nói tiếng Anh giỏi. Họ không hề nghèo, thậm chí rất giàu. Nhưng họ nghèo cái khác.

Rồi mình được học hỏi những cách làm đồ án rất giàu cảm hứng. Họ thể hiện đồ án tốt đến nỗi mà thầy dẫn đoàn phải bảo “Tao tưởng như mình ngửi được không gian chúng nó vẽ ra”. Đó là cái mà mấy đứa học ở UK thiếu.

Cuối cùng là nhận ra tại sao hình như chả sinh viên kiến trúc nào ở mấy trường tốt ở Anh đi thi. Mà rộng hơn ra thì, có vẻ như chỉ có sinh viên Việt Nam hay các nước còn ở vùng trũng về học thuật mới vui vầy với nhau trong các cuộc thi quốc tế.

… và ngoài trường học

Đến Belarus là lần đầu tiên mình biết được dân Kazakhstan toàn người lai Á-Âu. Có những trường hợp đặc biệt như kiểu bố người Hàn Quốc, mẹ người Nga, và giờ cả nhà ở Kazakhstan :)) Và vì là con lai nên họ rất đẹp. Chỉ kì cục là riêng đám con trai Kazakh lại hơi bị … khiêm tốn về ngoại hình.

Đó cũng là lần đầu tiên được ờ trong khách sạn Marriott ở Minsk trong 3 ngày, ăn uống party bằng voucher của khách sạn hoặc được ban tổ chức chiêu đãi. Ai muốn đi chơi sẽ có xe đón rước đến tận trung tâm thành phố.

Hay ho hơn, một số bạn may mắn có cơ hội thực tập hay làm việc bán thời gian ở các vị trí phù hợp với ngành học. Một người bạn của mình đã từng thực tập marketing ở International Students House tại London. Các sinh viên ngành Environmental Design của mình cũng được giới thiệu cho nhiều công việc cộng tác với các công ty trong ngành trong các dự án rất thú vị, như tái sinh một khu ở đã bị bỏ hoang chẳng hạn. Sau các kinh nghiệm như vậy, khả năng được các công ty tuyển dụng đương nhiên rất cao.

Quan trọng hơn cả: những cơ hội này rất phù hợp với mục tiêu học hỏi chuyên ngành, và nó sẽ đến với những người chịu bỏ công sức làm việc nghiêm túc.

Chuẩn hóa kiến thức và bằng cấp

Nói gì thì nói, một lợi ích hết sức thực tế của việc đi học nước ngoài là lấy một bằng cấp được thế giới công nhận.

Ở Anh, có 24 trường nằm trong một nhóm gọi là Russell Group, gồm các trường đại học dẫn đầu UK luôn đảm bảo duy trì chất lượng nghiên cứu tốt nhất và dạy-học vượt trội, cùng với các mối liên kết mạnh với khu vực công và hành nghề tư nhân. Hầu hết các trường này nằm trong top 100 hoặc 150 của các bảng xếp hạng QS và THE. Rất nhiều học giả Chevening đã chọn học tại các trường này. Đặc biệt UCL và LSE – các trường hàng đầu về khoa học xã hội, kinh tế học, luật, đều có tới cả trăm Chevener theo học mỗi năm.

Từ chỗ tốt nghiệp ở các trường thậm chí còn chả được xếp hạng, đến chỗ được vào top 100 hoặc thậm chí top 10, là một bước nhảy vọt rõ ràng.

Hơn nữa, một bộ kiến thức vững vàng là hành trang … xóa mù dài hạn. Điểm mạnh của kiến thức này không phải là nó có tính thực dụng cao, học xong là áp dụng được ngay. Điểm mạnh của nó là những người thực sự hiểu và biết cách tư duy sẽ vận dụng nó vào được mọi vấn đề. Phương pháp tư duy nghiên cứu khoa học xã hội mà tôi được học là một trong những thứ như vậy.

Tự do để học, học để tự do

Việt Nam chưa có đủ tài nguyên để sinh viên được có tự do học thuật. Cách tổ chức và quy định chương trình không cho phép sinh viên khám phá nhiều môn tự chọn. Và ngay cả khi có cơ hội, sinh viên cũng không được chọn những môn có tính khai phá tư duy như nhân quyền hay nhân chủng học. Chưa kể là cơ sở vật chất và con người còn hạn chế.

Còn ở Anh, nhiều chương trình thạc sỹ có các môn tự chọn để sinh viên thoải mái chọn theo hướng nghiên cứu hoặc phát triển nghề nghiệp của họ. Ví dụ như một người học về Educational Leadership & Management ở UCL hoàn toàn có thể chọn môn “vĩ mô” như Values, Vision and Moral Purpose hoặc môn “vi mô” như Developing Personal Leadership Skills.

Sinh viên cũng có quyền hẹn gặp với bất cứ giáo sư nào trong các khung giờ giáo sư tiếp sinh viên. Chỉ cần đến phòng của giáo sư và điền tên mình vào khung giờ đó. Việc tiếp và giải đáp thắc mắc của sinh viên là trách nhiệm của các giáo sư.

Trường cũng cung cấp một loạt khóa học ngắn hạn miễn phí gọi là in-sessional courses. Rất nhiều khóa học trong đó hỗ trợ phát triển các kĩ năng mềm thực dụng như: tiếng Anh (yeah, lại tiếng Anh), viết luận văn, viết luận. Mình cũng đã tham gia hai khóa học về presentation và dissertation writing như vậy.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu ở các đại học tốt thì phong phú khỏi phải nói. Sinh viên có thể sử dụng tài khoản sinh viên để truy cập vào hầu hết các kho bài nghiên cứu khoa học trên thế giới, đọc và download hoàn toàn miễn phí. Thư viện có hàng chục nghìn đầu sách với đủ kiểu vị trí ngồi học. Bạn được quyền ồn ào ở chỗ học nhóm. Còn ở khu đọc chuyên ngành hoặc phòng đọc riêng, người ta giữ yên lặng đến mức nghe thấy tiếng thẻ rơi trên thảm.

Và nếu bạn chọn một trường thuộc “nhóm tốt”, bạn sẽ thấy chương trình của họ tập trung nhiều vào việc phát triển con người có tư duy độc lập và phản biện, để nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và tự do hơn. Họ không muốn tạo ra các nô lệ cho công việc chỉ đi học để lấy công cụ thực dụng làm việc. Cái gọi là môi trường học thuật mà người ta ca ngợi ở các nền giáo dục tiên tiến, thực chất là từ mục tiêu tạo ra con người biết cách suy nghĩ, khám phá, phát triển và thuần thục chính bản thân.

Tóm lại, các lợi ích của việc du học bậc cao học ở Anh (và có thể ở các nước phát triển khác) là:

  • Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu.
  • Xây dựng các mối quan hệ.
  • Thử sức để học hỏi trong và ngoài trường học.
  • Nâng cao và chuẩn hóa kiến thức lẫn bằng cấp.
  • Học để tự do.

Hi vọng các bạn cảm thấy phần này bổ ích mặc dù nó hơi dài. Hẹn gặp lại ở phần tiếp theo, liên quan chặt chẽ tới phần này 😀

Tính toán cơ hội khi xin học bổng – Reckoning the odds – Long D Hoang

Bài này sẽ chỉ ra các nguyên tắc cơ bản cần xem xét trước khi xây dựng chiến lược săn học bổng.

*Chú ý: Đây là những phân tích để cung cấp góc nhìn rất thực tế về việc săn học bổng, chứ không phải để ngăn cản hay làm nhụt chí các bạn. Ngôn từ và quan điểm tôi viết ra sẽ đi ngược lại ý thích hay quan điểm của nhiều người. Nhưng mọi câu chuyện tôi nói đều là có thực.

Người chưa được học bổng nên đọc để hiểu hơn về cơ hội và khả năng của mình.

Người vừa mới được học bổng cũng nên đọc để hiểu hơn tại sao mình đạt học bổng, tránh việc đưa ra những thông tin hay quan điểm thiếu cơ sở khiến cho nhiều người khác tốn công sức vô ích.

*Các học bổng được nhắc đến ở đây là học bổng bậc thạc sỹ do các chính phủ hoặc quỹ đa chính phủ cấp.

Nguyên tắc 1: Mỗi học bổng có một bộ tiêu chí riêng

Các tiêu chí năng lực bên trong: là các yếu tố bên trong mà ứng viên hoàn toàn có thể trau dồi và thay đổi để đạt các tiêu chí này

  • Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn
  • Nền tảng kiến thức và khả năng nghiên cứu (ở ngành ứng tuyển)
  • Khả năng tư duy và giao tiếp
  • Các kĩ năng, phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu. Ví dụ: động lực cá nhân, khả năng lãnh đạo, kĩ năng tạo mối quan hệ, khả năng làm đại sứ văn hóa.

Trong đó, 3 yếu tố chuyên môn, học thuật, và tư duy là có thể so sánh được tương đối rõ ràng giữa ứng viên này với ứng viên khác dựa trên số năm kinh nghiệm, thành tích học và ngành học, và các bài luận xin học bổng. Tuy nhiên, nếu các ứng viên có ngành ứng tuyển khác nhau, việc so sánh cũng tương đối khó.

2 yếu tố động lực và phẩm chất cá nhân rất khó có thể so sánh và hoàn toàn dựa trên đánh giá cảm tính.

Các tiêu chí bên ngoài: là các yếu tố bên ngoài được mặc định từ khi sinh ra hoặc ứng viên ít có khả năng thay đổi.

  • Đa dạng quốc tịch, đa dạng văn hóa, đa dạng miền địa lý (3 tiêu chí): nhiều chương trình học bổng không công khai điều này, nhưng chắc chắn họ luôn hướng tới sự đa dạng quốc tịch, đa dạng văn hóa, và đa dạng về miền địa lý. Erasmus Mundus là một trong những chương trình hiếm công khai việc họ sắp xếp các geographical windows (các suất học bổng cố định cho các vùng địa lý ngay cả khi ứng viên không hoàn toàn đạt yêu cầu về học thuật)
  • Quan hệ ngoại giao giữa các nước: các học bổng cho phép ứng viên quốc tế, bất kể quốc tịch, ứng tuyển đều có tính chất ngoại giao nhất định. Ví dụ: trong suốt 10 năm từ 2006 đến 2015, người Việt Nam luôn nằm trong nhóm 2 nước được nhiều học bổng Endeavour nhất, thậm chí còn thường xuyên giành nhiều nhất. Nếu chỉ xét các yếu tố chủ quan, thì không thể nào người Việt Nam có nhiều suất như vậy. Chúng ta chắc chắn không thể giỏi tiếng Anh hay có trình độ học thuật tốt hơn ứng viên Ấn Độ được.
  • Ưu tiên cho các vùng khó khăn. Ví dụ: Việt Nam là một “vùng trũng” của thế giới về học thuật. Vì thế các sinh viên Việt Nam chắc chắn luôn được ưu tiên một số suất nhất định trong học bổng Erasmus Mundus (tôn chỉ của Erasmus Mundus là trao đổi học thuật, đặc biệt là đào tạo học giả cho các vùng còn đang kém phát triển).
  • Ưu tiên ngành. Ví dụ: học bổng BBS ưu tiên ứng viên học ngành quản lý và xử lý nước. Ứng viên có thể không hẳn giỏi chuyên môn hay tư duy tốt hơn ứng viên ngành khác, nhưng anh ta là ứng viên khá nhất dự định học ngành xử lý nước, vậy thì anh ta phải được học bổng thôi.
  • Các tiêu chí ưu tiên khác về profile: là người khuyết tật, đang làm việc cho cơ quan nhà nước cấp Bộ, đang hoặc sẽ làm việc cho NGO, người thân làm chính trị – ngoại giao.
  • May mắn.

Mỗi học bổng có một cách quy định riêng biệt về trọng số của các tiêu chí trên. Ví dụ: Chevening coi trọng tiêu chí lãnh đạo, Fulbright coi trọng tiêu chí đại sứ văn hóa, AAS coi trọng profile và triển vọng đóng góp cho nhà nước, Erasmus Mundus coi trọng khả năng học thuật, Endeavour lại có tính ngoại giao cực mạnh. Đặc biệt, không phải lúc nào tiêu chí năng lực cũng là tiêu chí quan trọng nhất.

Muốn xin học bổng, trước hết phải tìm hiểu được chính xác bộ tiêu chí của học bổng.

Nguyên tắc 2: Người được học bổng là người phù hợp nhất, chứ không phải người giỏi nhất

Chính xác hơn, người được học bổng là người thể hiện được rằng họ là lựa chọn phù hợp nhất với học bổng.

Phù hợp nhất tức là sao? Ví dụ nhé:

  • Là ứng viên giỏi lãnh đạo nhất cho học bổng ưu tiên lãnh đạo tương lai.
  • Là ứng viên “naïve” nhất cho học bổng ưu tiên các đại sứ văn hóa.
  • Là ứng viên khá khẩm nhất đến từ vùng Đông Nam Á.
  • Là ứng viên DUY NHẤT ứng tuyển một chương trình thuộc Erasmus Mundus mà đến từ Châu Á.

Có nghĩa là họ KHÔNG NHẤT THIẾT phải người giỏi nhất về chuyên môn, hay học giỏi nhất, hay có động lực lớn nhất, hay giỏi lãnh đạo nhất.

Ví dụ:

  • Đỗ Hữu Chí được học bổng Fulbright với GPA vừa đủ điểm tốt nghiệp.
  • Một số học giả Chevening năm 2015 được học bổng với điểm loanh quanh 7.0 – 7.6
  • Một bạn được học bổng Erasmus Mundus ngành lâm nghiệp, mặc dù ngành học và kinh nghiệm làm việc chẳng liên quan gì đến lâm nghiệp.

Chúng ta thường tìm hiểu học bổng thông qua profile, hoặc may mắn hơn là bài luận của những người đã dành được học bổng. Nhưng những việc đó sẽ không giúp ích được nhiều cho việc chuẩn bị hồ sơ, nếu như chúng ta không biết được TẠI SAO họ giành được học bổng (hay họ được chọn do đáp ứng được tiêu chí nào), và NHỮNG ỨNG VIÊN CẠNH TRANH là ai để so sánh hồ sơ dựa trên hệ quy chiếu của học bổng.

Tóm lại, mục đích của việc tìm hiểu hồ sơ thành công là xem người ta có gì phù hợp với tiêu chí, có gì vượt trội so với những người cạnh tranh, chứ không phải xem người ta giỏi như thế nào. Nói cách khác, “giỏi” là phải được so sánh với đúng hệ quy chiếu của học bổng, chứ không phải “giỏi” vì anh ta được học bổng.

Nguyên tắc 3: Muốn thành công cần cả năng lực và rất nhiều may mắn

3 yếu tố năng lực, tiêu chí học bổng, và may mắn có vai trò rất khác nhau trong mỗi trường hợp săn học bổng thành công (hoặc không thành công). Sẽ rất hàm hồ khi dựa vào việc một người được học bổng mà khái quát ra quy luật, kiểu như: Anh ta được học bổng toàn phần vì anh ta năng lực và phẩm chất cá nhân tốt, hay coi nhẹ vai trò của may mắn trong học bổng.

Để hiểu hơn về vai trò của các yếu tố này, hãy xét các trường hợp sau.

Giả sử phổ năng lực của các ứng viên cho một học bổng tuân theo đúng quy luật phân bố 5% thực sự kém – 90% năng lực trung bình sàn sàn như nhau – 5% vượt trội hẳn, xuất sắc.

Trường hợp 1: số suất học bổng vừa đúng bằng số lượng 5% ứng viên. Nếu tiêu chí chủ yếu của học bổng là năng lực, công việc lựa chọn sẽ rất đơn giản: trao học bổng cho đúng 5% xuất sắc. Ví dụ: có 200 hồ sơ và sau 3 vòng xét tuyển người ta lọc ra được 10 người thực sự vượt trội hơn hẳn 190 người còn lại về nền tảng kiến thức, kinh nghiệm, tư duy, và phẩm chất cá nhân. Số học bổng là 10 suất => lấy đúng 10 người đó.

Trường hợp 2: số suất học bổng nhiều hơn 5% ứng viên. Ngay cả khi tiêu chí chủ yếu là năng lực, ban xét duyệt vẫn không thể chọn ra đủ số người để trao học bổng. Khi đó họ chỉ có lựa chọn: chọn thêm từ những người không thực sự đạt yêu cầu dựa trên các yếu tố ưu tiên bên ngoài hoặc bốc thăm ngẫu nhiên. Ví dụ, có 300 hồ sơ ứng tuyển, 15 người thực sự xuất sắc đạt yêu cầu, còn hơn 200 người còn lại chỉ sàn sàn như nhau. Số suất học bổng là 30. Vậy 15 người còn lại sẽ được chọn do may mắn chứ không hẳn do năng lực tốt.

Trường hợp 3: Số suất học bổng ít hơn nhiều so với 5% ứng viên. Khi đó họ buộc phải lựa chọn trên yêu tố ưu tiên bên ngoài hoặc bốc thăm ngẫu nhiên trong số 5% đó để chọn ra người được học bổng. Ví dụ, có 10,000 hồ sơ ứng tuyển mà chỉ có 10 suất học bổng. Vậy thì trong 500 người ổn nhất, vẫn phải bốc thăm ra 10 người may mắn. Hoặc, người ta phải dùng một tiêu chí không liên quan đến năng lực để lọc ứng viên ngay từ những vòng đầu tiên.

Các trường hợp trên mới chỉ xét các học bổng coi tiêu chí năng lực là quan trọng nhất. Thực tế, không phải khi nào học bổng nào cũng coi tiêu chí năng lực là quan trọng nhất, như trường hợp dưới đây.

Trường hợp 4:

Một ứng viên không học và làm gì liên quan đến lâm nghiệp được học bổng EM ngành lâm nghiệp.

Bất kể bạn này có động lực hay tầm nhìn đến mấy, chắc chắn trong hàng nghìn hồ sơ phải có hàng chục người khác có kiến thức, có kinh nghiệm nhiều hơn và cũng có động lực và tầm nhìn tốt. Vậy câu trả lời ở đây chỉ có thể là: không phải lúc nào năng lực cũng là yếu tố quyết định. Chuyện này xảy ra không chỉ với EM đâu, mà còn với nhiều học bổng quốc tế khác với số lượng hồ sơ lên tới hàng chục nghìn.

Nguyên tắc 4: Biết ưu tiên học bổng dựa trên điều kiện thực tế

Có một sai lầm rất kì cục và phổ biến: săn học bổng mà không có sự ưu tiên.

  • Viết một bộ hồ sơ chung để ứng tuyển cho tất cả các học bổng, không quan tâm mấy đến sự khác nhau về tiêu chí => không biết ưu tiên công sức và thời gian cho đúng học bổng phù hợp với mình, cũng không biết ưu tiên thể hiện tố chất nào cho học bổng nào.
  • Dành nhiều hi vọng cho các học bổng như nhau => không biết ưu tiên tâm trí cho đúng học bổng, để đến khi trượt cái học bổng không phù hợp với mình thì lại thất vọng tràn trề.

Việc ưu tiên phải dựa trên (1) sự phù hợp của tiêu chí học bổng đối với năng lực cá nhân, và (2) tỉ lệ giữa số suất học bổng và số lượng hồ sơ.

Ưu tiên thế nào?

  • Ưu tiên số 1: học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp với năng lực cá nhân, số suất học bổng nhiều hơn 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: với những học bổng này, khi có năng lực thực sự vượt trội (thuộc nhóm 5%), bạn chắc chắn sẽ được học bổng.

Nhược điểm: phải nằm trong số 5% mới tự quyết định được số phận, không thì hoàn toàn chỉ cầu may.

  • Ưu tiên số 2: học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp năng lực cá nhân, số suất học bổng xấp xỉ 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: với những học bổng này, khi có năng lực thực sự vượt trội (thuộc nhóm 5%), bạn chắc chắn sẽ được học bổng.

Nhược điểm: phải nằm trong số 5% mới được học bổng.

  • Ưu tiên số 3: các học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp năng lực cá nhân, số suất học bổng nhiều hơn 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: không cần quá giỏi, may mắn hơn người khác một chút nữa là được học bổng.

Nhược điểm: không tự quyết định được số phận, đỗ cũng chẳng biết tại sao mình đỗ.

  • Không ưu tiên: các học bổng có số suất học bổng ít hơn nhiều so với 5% tổng số hồ sơ, các học bổng không đặt tiêu chí năng lực lên hàng đầu. Lý do không ưu tiên: giỏi đến mấy cũng chỉ kiểm soát được 30% cơ hội (thông qua viết hồ sơ và bài luận), phần còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào sự may mắn (ứng viên cạnh tranh có xuất sắc không, ban xét duyệt bốc trúng mình không, có ai cạnh tranh cùng vùng miền không)

Kết luận: Săn học bổng đòi hỏi những tìm hiểu và tính toán chiến lược, cơ hội kĩ lưỡng dựa trên thông tin thật chứ không phải quan điểm kiểu: “Tôi cho rằng/Tôi nghĩ rằng…”. Tức là phải tìm hiểu rất nhiều trường hợp khác nhau, nhất là những trường hợp trượt học bổng, chứ không phải cứ nhìn vào những trường hợp thành công. Không kém phần quan trọng: cần liên tục nâng cao năng lực của bản thân để vào nhóm 5%, thậm chí 2%. Càng có kiến thức nền tảng tốt, kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu dày dạn, tư duy và khả năng đặc biệt tốt, càng có nhiều khả năng quyết định số phận hồ sơ. Ngược lại, thiếu đi một thứ trong những thứ trên, phần trăm may mắn cần thiết sẽ lại phải tăng lên một phần.

Trước khi ứng tuyển, hãy tự hỏi mình có kiến thức chuyên ngành phù hợp không (không nhất thiết phải có bằng cấp)? Có kinh nghiệm phù hợp không? Tư duy đã ở trong nhóm 5% chưa hay vẫn mù mờ cảm tính, thiếu phản biện như hàng triệu người Việt Nam khác?

Trả lời được các câu trên, các bạn sẽ có cái nhìn thực tế hơn về bản thân và cơ hội của bản thân, bất kể đã được học bổng hay chưa.

Bonus: hồi tôi làm hồ sơ ứng tuyển Chevening, tôi tính toán thế này:

  • Background: bằng đại học về kiến trúc, phù hợp với ngành Environmental Design định ứng tuyển.
  • Kinh nghiệm và năng lực công việc: 3 năm, đã có kinh nghiệm thiết kế công trình nhỏ lẫn thi công công trình siêu cao tầng.
  • Tư duy và khả năng trình bày bằng tiếng Anh (viết và nói): ổn, tự tin không mấy người cùng ngành có thể cạnh tranh.
  • Khả năng lãnh đạo: lãnh đạo được cái đời mình *kidding* suốt 2 năm làm giám sát liên tục phải “huých” các đội nhà thầu đảm bảo chất lượng, giữ tinh thần trách nhiệm trong công việc.
  • Số lượng hồ sơ và số suất học bổng Chevening: vô tình tìm được ở đâu đó số lượng hồ sơ xấp xỉ 200, mà số lượng suất học bổng sẽ khoảng 30.

Kết luận: hoàn toàn có quyền tự quyết định số phận :v

Con đường đến với nước Mỹ – Xin tiền tư bản đi học!

Tháng 7 này, người lữ hành là tôi sẽ khăn gói quả mướp đến xứ sở của những cây xương rồng cao hơn đầu người, xứ sở của giống mèo Bob cat hoang dại có năng lực siêu nhiên trèo được lên ngọn cây xương rồng đầy gai để tránh kẻ thù, xứ sở của sa mạc, của cát, của Grand Canyon. Tôi sẽ đến Arizona làm nghiên cứu sinh ngành Government and Public Policy, tại trường University of Arizona. Vì gần đây có nhiều bạn hỏi tôi về cách thức xin học bổng tiến sỹ, tôi mạo muội viết bài này để kể về quá trình gian nan của mình. Tôi hi vọng sẽ phần nào giúp ích được cho những bạn đang khao khát nuôi giấc mơ Mỹ 🙂

Để xin được một suất học bổng tiến sỹ ở Mỹ, đặc biệt là các ngành xã hội, bạn phải chiến đấu với nhiều ứng viên nặng ký ở khắp nơi trên thế giới. Đây thực sự là một quá trình rất cạnh tranh. Theo như tôi tìm hiểu, thường 1 trường không bao giờ nhận quá 10% số ứng viên nộp hồ sơ. Đối với 1 số ngành như kinh tế, sự cạnh tranh còn cao hơn nữa. Nhiều bạn hỏi mình có bí kíp thần kỳ nào để vượt qua được bao nhiêu hồ sơ như vậy. Bí quyết của tôi là SỰ CHÂN THÀNH + SỰ QUYẾT TÂM + MỘT KẾ HOẠCH CỤ THỂTôi xin chia sẻ kế hoạch và từng bước apply. Lưu ý bài viết này phù hợp nhất cho những bạn đang nung nấu ý định xin tiến sỹ ngành xã hội mà đặc biệt là political science hoặc/và public policy. Tôi không rõ về quy trình apply ngành kỹ thuật nên tôi không chắc bài viết có thể phù hợp.

Thời gian chuẩn bị:   8– 12 tháng. Deadline các trường thường là tháng 12- tháng 1. Mình bắt đầu rục rịch chuẩn bị từ tháng 4, tháng 5.

Số trường cần nộp: Để chắc chắn bạn nên nộp khoảng 5-8 trường. Tôi nộp 7 trường và hiện đã được nhận 4 trường, còn 1 trường chưa có kết quả.

Tài chính: 1500-2000 USD. Mỗi tháng tôi trích 1 ít tiền lương để vào 1 tài khoản riêng để khi nộp đơn khỏi sốt ruột hehe. Chi phí bao gồm lệ phí của các trường, thi các thể loại GRE, Tiếng Anh, nộp bảng điểm, nộp điểm GRE, điểm tiếng Anh.

Hồ sơ tiến sỹ gồm những gì và chuẩn bị ra sao:

Các thể loại statements (bài luận):

Đây có thể được coi là phần quan trọng nhất trong hồ sơ của bạn. Đây là cơ hội duy nhất dể bạn thể hiện bản thân bạn trước hội đồng tuyển sinh. Tuỳ từng trường, bạn có thể sẽ phải viết academic statement of purpose, personal statement và diversity statement. Nếu trường nào yêu cầu bạn chỉ viết một bài luận là personal statement, thì mặc định đó là statement of purpose. Vậy sự khác nhau giữa các bài viết này là gì?

Statement of purpose:  Đây là nơi bạn phải trả lời được cách câu hỏi sau: Lĩnh vực nghiên cứu bạn quan tâm là gì (Viết phần này có lẽ là khó nhất vì bạn phải thể hiện là mình có một kiến thức nhất định về lĩnh vực mình muốn theo đuổi, làm sao viết một cách cụ thể, nhưng không cụ thể đến mức khiến người ta nghĩ bạn không cởi mở cho những ý tưởng mới). Định hướng nghề nghiệp trong tương lai của bạn là gì? Vì sao việc học tiến sỹ lại giúp bạn đi theo con đường này? Bạn đã chuẩn bị cho con đường này như thế nào (các nghiên cứu bạn đã từng tham gia trước đây, bài viết đc đăng, vì sao bạn phải chọn trường này mà không phải trường khác, etc?). Khác với statement of purpose khi bạn nộp hồ sơ học master, đây gần như là letter bạn viết để apply cho 1 vị trí nghiên cứu chuyên nghiệp.

Personal statement/diversity statement:  Đây là cơ hội để bạn chia sẻ những kinh nghiệm, trải nghiệm của bản thân, background ( văn hoá, gia đình, giáo dục, etc.) đã hình thành nên con người bạn hiện nay như thế nào? Con người bạn sẽ đóng góp thế nào vào sự đa dạng của trường? Những trải nghiệm trong cuộc sống của bạn (học thuật, hoặc không liên quan đến học thuật) ảnh hưởng thế nào đến quyết định bạn đi học tiến sỹ.

Độ dài tuỳ của mỗi bài luận tuỳ thuộc từng trường nhưng giao động khoáng 2-5 trang.

Khi tôi bắt tay vào viết các bài luận này, tôi đã lên mạng tìm nhiều các bài mẫu để tham khảo. Tôi đã đọc rất nhiều profile đẹp, tôi còn nghĩ ” trời, profile họ đẹp thế này, làm sao để mình cạnh tranh được đây”. Tôi hoang mang lắm khi nghĩ đến tỷ lệ nhận của trường thấp và đọc các bài viết hay. Đọc hết forum này đến forum khác, đọc tips này đến tips khác, đầu óc tôi trở nên mụ mị và mất tự tin. Nhưng rồi đến một ngày, tôi tĩnh tâm lại và nhớ tới lời động viên của thầy supervisor ở Anh, thầy đã nói với tôi “Thầy tin em có khả năng, và em sẽ đỗ những trường em muốn”, thầy còn nói “write something that makes you unique”. Nhớ đến lời thầy, tôi không đọc nữa. Và tôi đã tìm thấy một thứ gia vị cho bài viết của mình, đó là SỰ CHÂN THÀNH. Một người chị mà tôi vô cùng ngưỡng mộ cũng thường hay bảo tôi rằng không có gì đáng giá hơn sự chân thành. Và thế là câu chữ cứ tuôn ra. Trong bài personal statement, tôi viết về passion của mình đối với việc làm research, việc được đi, quan sát và viết. Tôi kể về những cảm xúc của mình khi lần đầu được tiếp xúc với những thông tin khác với những gì tôi được biết, được dạy. Tôi đã rất buồn, mất niềm tin, thậm chí đã khóc, nhưng nỗi buồn dần bị thay thế bởi sự phấn khởi được học cái mới, được nhìn thế giới bằng một góc khác đi- sinh động hơn, đa chiều hơn và khách quan hơn. Tôi tâm sự trong bài rằng những trải nghiệm ấy khiến tôi không còn là một con người bướng bỉnh chỉ tin rằng trắng-đen, tốt-xấu là rõ ràng. Nó cũng khiến tôi bớt phán xét hơn, và bao dung hơn với mọi người. Cuốn tiểu thuyết 1984 của George Orwell có tác động rất mạnh đến suy nghĩ của tôi, và tôi đã chia sẻ điều ấy trong bài. George Orwell viết một câu thực sự rất ám ảnh, đó là “Who controls the past, controls the future. Who controls the present controls the past”. Tôi chia sẻ rằng “I feel this sentence whenever I think about….”. Một bạn đã khuyên tôi nên dùng động từ khác vì “feel” nghe mạnh quá, nhưng tôi vẫn quyết định giữ vì tôi biết đó mới thật sự là tôi. Tôi viết về niềm vui, cảm xúc khi được đến thăm The Little Sai Gon và quan sát cuộc sống của người Việt Nam ở đó.

Nhiều bạn đang muốn apply đi học hỏi tôi nên viết statments thế nào, tôi chỉ có một lời khuyên như thầy tôi đã khuyên tôi: Viết về những gì khiến bạn là bạn của ngày hôm nay với tất cả sự chân thành. Có bạn bảo tôi nhưng bạn không có câu chuyện gì đặc biệt cả. Tôi không tin! Đằng sau mỗi con người là một câu chuyện, một trải nghiệm không ai giống ai, hãy KỂ CÂU CHUYỆN CỦA BẠN.

Letter of recommendation (thư giới thiệu): Thư giới thiệu là một phần CỰC KỲ quan trọng của hồ sơ. Thông thường, các trường yêu cầu 3 thư giới thiệu đối với hồ sơ tiến sỹ. Hãy chọn 3 người hiểu bạn, đánh giá cao bạn và nhờ họ viết thư. Khoảng 3 tháng trước deadline, tôi viết email cho những người tôi muốn nhờ họ viết thư, tôi hỏi họ nếu họ có thể viết cho tôi một STRONG recommendation letter. Tôi không muốn một lá thư bình thường, tôi muốn một lá thư có sức nặng. Bạn đừng ngại khi phải hỏi như thế, nếu họ không thể viết strong cho bạn, họ sẽ nói rõ ràng như vậy. Khoảng 1,5 tháng trước khi deadline, tôi gửi cho họ statements của mình, CV, và một số ý tôi muốn có trong thư. Đừng ngại khi phải gửi cho họ một số ý, các giáo sư rất bận nên sẽ đánh giá cao điều này. Dựa vào những ý đấy họ sẽ viết dựa trên trải nghiệm làm việc với bạn hoặc dạy bạn. Dù bạn trúng tuyển hay không, cũng nên viết một note cảm ơn (mình khuyến khích là viết tay) để thể hiện sự biết ơn vì họ đã bỏ thời gian, công sức viết cho bạn :).

Writing sample (bài viết mẫu): Đây cũng là một phần CỰC KỲ quan trọng vì ban tuyển sinh muốn đánh giá khả năng viết của bạn- một kỹ năng không thể thiếu nếu muốn học PHD. Khi tôi hỏi một thầy về vai trò của writing sample, thầy đã trả lời tôi thế này “We are primarily using the writing sample to judge the strength of your writing style. We will ask ourselves: How well prepared do we believe you are to be writing on the PhD program?”. Vậy chọn bài writing sample thế nào? Trước hết, bạn cần chú ý đến yêu cầu của từng trường: độ dài của bài là bao nhiêu (ngành của mình thường là 20-25 trang), có cần phải là original research hay không, có cần phải viết đúng chủ đề ngành học mà bạn đang apply hay không? Từ đó lựa chọn bài tốt nhất và phù hợp nhất. Tôi chọn một bài term paper được các thầy đánh giá cao, chỉnh sửa lại theo comments của thầy. Bài term paper đó của tôi chỉ có 10 trang nhưng yêu cầu của các trường là 20-25 trang vậy là tôi phải đọc thêm literature để viết thêm, tìm thêm các ý mới, vv. Nếu có thời gian hãy gửi bài cho một giáo sư hoặc một người nào đó trong lĩnh vực của bạn đọc lại.

GRE, TOEFL: Tôi sẽ chia sẻ về phần này trong một bài khác, hiện tôi đã buồn ngủ quá rồi 🙂

Có nên liên hệ với giáo sư trước khi apply: Học tiến sỹ ở Mỹ, bạn phải học coursework trước khi bạn được tự làm một nghiên cứu độc lập (hay còn gọi là luận văn tiến sỹ). Coursework sẽ chuẩn bị cho bạn kiến thức sâu về ngành mà bạn học và phương pháp nghiên cứu khoa học. Qua quá trình học coursework, ý tưởng nghiên cứu của bạn sẽ thay đổi ít nhiều. Như vậy trường thường không bắt buộc bạn phải liên hệ với các thầy trước khi apply. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi, việc liên hệ trước với trường và các thầy có rất nhiều ưu điểm. Thứ nhất, các thầy sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bạn không thể tìm thấy trên website, từ đó bạn sẽ phần nào biết được trường đó có phù hợp với bạn không. Thứ hai, bạn sẽ cho trường thấy bạn là một thí sinh nghiêm túc, có định hướng rõ ràng, và dám take initiative. Có bạn hỏi tôi làm thế nào để viết thư mà các thầy sẽ trả lời? Tôi viết cho nhiều thầy ở các trường khác nhau mà tôi apply, và gần như tôi nhận được tất cả hồi âm và cuối cùng đều có Skype với họ. Bí quyết của tôi không gì khác ngoài SỰ CHÂN THÀNH. Bạn rất khó nhận được hồi âm nếu các thầy cảm nhận được là bạn có một mẫu thư và gửi cho một loạt giáo sư khác nhau. Trước khi liên hệ với một giáo sư, tôi thường đọc một số bài báo mới nhất của thầy, note ý và viết ra một vài câu hỏi. Trong thư đầu tiên, tôi nói ngắn gọn về mình đặc biệt là research interest của mình, rồi nhắc đến một số bài báo của thầy, và thể hiện mong muốn được nói chuyện với thầy để xem chương trình học đó có phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của mình không. Khi nói chuyện, tôi cũng hỏi những câu hỏi liên quan đến những sinh viên thầy đang hướng dẫn, cách thầy làm việc với sinh viên (thầy hướng dẫn bao nhiêu người, tần suất thầy gặp sinh viên, thầy mong muốn gì ở sinh viên, etc). Những thông tin này ít nhiều giúp tôi hình dung phong cách thầy làm việc với sinh viên, và xem có phù hợp với phong cách và nguyện vọng của tôi không. Bạn có thể liên hệ với cả PHD director của chương trình. Thầy sẽ cung cấp cho bạn thông tin chi tiết về quá trình tuyển sinh, học bổng, chương trình học, những tố chất mà chương trình cần có ở thí sinh, etc. Thầy cũng có thể recommend cho bạn giáo sư phù hợp để bạn liên hệ. Khi chuẩn bị nói chuyện với thầy ở Arizona nơi tôi sẽ học, tôi có đôi chút hồi hộp. Nhưng từ ngay giây phút đầu tiên khi thầy cất tiếng chào, tôi nhận ra thầy là một người Anh (vốn khá có cảm tình với người Anh, nên tôi tự nhiên thấy rất thoải mái). Câu chuyện cứ thế tuôn trào, tôi chia sẻ những mơ ước, nguyện vọng của mình. Thầy nói là “kế hoạch của em rất tốt và rõ ràng, thầy khuyên em nên apply, thầy đã nói chuyện với rất nhiều bạn nhưng có nhiều bạn thầy khuyên chưa nên apply hoặc không nên apply vì không phù hợp, thầy không muốn họ tốn 80 USD mà”. Tôi cũng nói chuyện với thầy PHD Director ở Colorado, thầy thì có phong cách Mỹ chính hiệu :)). Khi thầy chia sẻ là mỗi năm chỉ nhận 1-2 sinh viên quốc tế vì sinh viên quốc tế khá tốn kém haha. Lúc thầy nói vậy, tôi nghĩ làm sao đến lượt mình. Thật sự rất bất ngờ, trường lại nhận tôi. Lúc tôi nói rằng tôi sẽ không đến Colorado mà đến Arizona, thầy đã trả lời rằng Arizona cũng rất tốt, và rằng “tôi và em sẽ có lúc gặp nhau” :D. Tôi tin rằng những buổi Skype như thế này cũng giúp tôi khá nhiều trong quá trình apply.

Quá trình nộp hồ sơ thật sự dài và mệt mỏi. Nhiều lúc mệt mỏi, mắt díp lại mà vẫn phải ngồi làm việc, tôi lại nghĩ tại sao thân phải làm tội đời như vậy?. Nhưng rồi tưởng tượng đến ngày được đặt chân đến nước Mỹ, được theo đuổi đam mê của mình, tôi lại quên hết cả mệt mỏi và những cơn buồn ngủ để 6 tháng ròng rã học GRE, viết bài luận, liên hệ với trường :). Ngày nhận được kết quả tim tôi như vỡ oà sung sướng, cuối cùng tôi đã làm được. Có một em gái hỏi tôi “chị làm thế nào mà đi làm về vẫn chuẩn bị hồ sơ được,? Tối về em buồn ngủ lắm nên không thể làm gì được”. Nhắn nhủ đến em: Hãy tưởng tượng giờ này một năm sau em đang ở đất nước ấy, em đang đi giữa những con người, cảnh vật xa lạ đang chờ em khám phá, tưởng tưởng đến cảm giác khi em chạm tay vào giấc mơ ấp ủ bấy lâu, rồi EM SẼ TÌM CÁCH ĐỂ LÀM ĐƯỢC!

Tôi biết mấy năm tới con đường sẽ nhiều chông gai, nhưng cứ đi rồi sẽ đến!

Chả hiểu sao khi viết bài này tôi lại nghĩ đến phim La La Land có lẽ vì tôi thấy đồng cảm. Đời ngắn lắm, hãy cứ ước mơ, hãy cứ theo đuổi cái gì con tim mình muốn mặc cho người ta cho rằng bạn không có năng lực, người ta khuyên bạn nên làm những thứ mà họ cho là đúng, người ta tìm cách hạ thấp bạn và ngay cả khi xã hội quay lưng với bạn. Dù sao hãy cứ ước mơ!

Du học và những trải nghiệm vô giá – Trương Thanh Mai

Tuần trước, tôi đi uống cafe với một em gái tôi tình cờ quen trong một khoá học online. Chúng tôi chọn một quán cafe mặt bàn hướng ra Hồ Tây, phía trên là tán phượng xanh đung đưa nhẹ theo chiều gió. Chúng tôi vừa ngắm mặt Hồ Tây được tưới tắm bởi ánh đèn vàng từ các cột đèn bên đường chiếu xuống, vừa tâm sự đủ thứ chuyện từ nội dung bài học, bộ phim mới nhất trên rạp, những định hướng tương lai, chuyện mèo và chuyện du học. Khi nói đến chuyện du học, bất chợt em hỏi tôi “Có bao giờ chị hối tiếc vì đã đi du học không?”. Chưa bao giờ thoáng nghĩ đến việc đó, tôi hoàn toàn bất ngờ trước câu hỏi này. Nhận ra vẻ bối rối của tôi, em kể tiếp rằng em luôn muốn được đi du học và đang tìm học bổng nhưng em không nhận được sự động viên và ủng hộ từ gia đình. Bố mẹ không muốn em bỏ công việc ổn định đang làm, và khuyên em nên ở nhà lấy chồng, sinh con, tiếp tục công việc nhàn hạ hiện tại. Bố mẹ lo sợ rằng khi học xong, về nước em sẽ phải làm lại từ đầu tất cả. Như vậy liệu có đáng không? Lời khuyên của bố mẹ tác động đến em rất nhiều. Từ một người đầy quyết tâm, em trở nên hoài nghi chính ước muốn của mình. Tôi nhớ cách đây khoảng một năm rưỡi, tôi gửi tin nhắn cho một anh bạn đã từng học ở Mỹ để hỏi về kinh nghiệm apply học bổng tiến sỹ. Câu đầu tiên mà anh nói với tôi là “ô, thế không lấy chồng mà lại đi học à”. Mỗi khi có ai hỏi tôi có nên đi du học không khi đã hai lăm, hai sáu tuổi mà vẫn chưa có gia đình, hoặc khi có ai khuyên tôi nên lấy chồng thay vì đi học, tôi cảm thấy rất kỳ lạ. Rõ ràng “lấy chồng” và “đi học” là hai biến độc lập, không cái nào phụ thuộc cái nào mà 🙂

Tôi luôn tin rằng khi một ai đó muốn phát triển bản thân bằng việc đi học dù ở độ tuổi nào thì đó nên là điều được khuyến khích hơn là bị phản đối. Sống ở một nền văn hoá Á Đông, ta thường hay quan tâm lo lắng đến hình ảnh của mình trong mắt mọi người, ta sợ ta sẽ “lệch chuẩn”. Ta thường quan tâm rất nhiều đến việc người khác nghĩ gì về mình, và đôi khi để những quyết định của mình bị ảnh hưởng bởi người ngoài. Nhưng dần dần tôi học được rằng lời khuyên của người khác chỉ mang ý nghĩa tham khảo, còn quyết định hoàn toàn nằm ở bản thân mình. Vì sao? Vì chắc chắn người khác không có đủ thông tin về bản thân ta như ta: Họ không biết ta thật sự yêu thích gì, ta muốn gì, điều gì mới làm ta vui và hạnh phúc, ta mong muốn gì trong tương lai, ta có những trải nhiệm như thế nào, vân vân và vân vân. Quan điểm của tôi có thể hơi ích kỷ, nhưng tôi tin rằng mọi quyết định trong cuộc đời mỗi người trước hết phải mang lại niềm vui và hạnh phúc cho bản thân người đó. Bạn có thể hi sinh nếu bạn hài lòng với lựa chọn đó, nếu sự hi sinh làm bạn thấy vui và hạnh phúc, còn nếu không nó hoàn toàn cần được xem xét lại! Càng ngày tôi càng nhận ra rằng tình yêu diệu kỳ và lớn lao nhất là tình yêu dành cho chính bản thân mình. Học cách yêu thương bản thân là một quá trình gian nan đầy thử thách bởi thực sự hiểu những ước muốn, và cảm xúc của bản thân thật sự không hề đơn giản. Tôi chợt nhớ đến bài hát “The greatest love of all” của Whitney Houston, trong đó có một đoạn rất hay:

Because the greatest love of all is happening to me

I’ve found the greatest love of all inside me

The greatest love of all is easy to achieve

Learning to love yourself

It is the greatest love of all

Tôi đã nghe bài hát này nhiều lần mà lúc nào cũng nguyên vẹn cảm xúc như lần đầu tiên. Rồi tôi tự hỏi đã bao nhiêu lần tôi để những lời nói của người ngoài, những chỉ trích, nhưng lời đùa cợt vô duyên, những gì người khác nghĩ về tôi ảnh hưởng đến tâm trạng và sự an nhiên trong lòng.

 

Trở lại câu hỏi trên “Tôi có bao giờ hối tiếc khi đi du học không?”. Chắc chắn là không rồi. Và hôm nay tôi xin chia sẻ những bài học tôi đã học được trong quá trình đi du học. Đây là những tài sản vô giá mà tôi sẽ không đánh đổi vì bất cứ điều gì khác!

  1.   Du học dạy tôi tin hãy luôn tin vào mặt tốt của con người

Tôi và một người bạn đến sân bay Heathrow London gần mười hai giờ đêm một ngày giữa tháng chín mấy năm trước. Sau khi lấy hành lý, chúng tôi tìm đường đến khu tàu điện ngầm để bắt tàu về Brighton. Mặc dù đã biết trước rằng Heathrow là sân bay rộng nhất nước Anh, tôi vẫn thấy choáng ngợp trước sự đồ sộ của nó. Để đến được khu tàu điện ngầm, chúng tôi phải đi qua bao nhiêu bậc thềm, thang cuốn, tựa như đi vào một cái mê cung bất tận. Với hai vali to, túi xách và ba lô lỉnh kỉnh, chúng tôi như hai con thỏ lạc giữa một khu rừng rộng lớn, đang tha một đống thức ăn dường như quá sức với cơ thể về tổ để ăn dần cho cả mùa đông. Cứ ngỡ lên được tàu rồi là chúng tôi có thể thảnh thơi, chợp mắt và khi tỉnh dậy là được mùi dịu ngọt của gió biển Brighton chào đón. Nào ngờ tôi bị say tàu, có lẽ là hậu quả của một chuyến đi dài, mất ngủ, đói và lệch múi giờ. Chúng tôi quyết định xuống tàu. Nhưng vừa đặt chân xuống nhà ga, tôi hoàn toàn mất khái niệm về thời gian và không gian. Tôi đang ở đâu thế này? Một nơi bên dưới lòng đất, tối đen và sâu hun hút, xung quanh chỉ lèo tèo một vài bóng người. Cảm giác dừng lại ở một nơi “cảnh vực hư vô” khiến tôi rùng mình. Nhưng tôi mệt đến mức thậm chí không suy nghĩ được gì, chỉ đứng yên một chỗ chờ cơn say đi qua. Bất ngờ một người đàn ông cao, mặc một bộ đồng phục có lẽ là màu đen đến hỏi nếu ông có thể giúp gì chúng tôi. Rồi ông xách giúp tôi hành lý và đưa chúng tôi đi tìm khách sạn. Chúng tôi phải đi một đoạn khá xa, vì ông muốn chọn cho chúng tôi một khách sạn tử tế và không quá đắt đỏ. Nếu không có người giúp đỡ, không biết tôi sẽ phải trải qua đêm đầu tiên ở nước Anh như thế nào nữa. Về đến khách sạn, chúng tôi ngủ một giấc đã đời, và sáng hôm sau bắt Taxi đi Brighton.

Trước khi đến Anh, tôi đã được “cảnh báo” là người London không thân thiện, không cởi mở đâu, họ thậm chí còn thô lỗ và lạnh lùng. Nếu tôi để những định kiến này che mờ mắt thì có lẽ tôi đã cao chạy xa bay khi ông ấy muốn giúp đỡ chúng tôi. Thật sự thì khi ông dẫn chúng tôi đi tìm chỗ nghỉ, đôi lúc tôi cũng có cảm giác gờn gợn, nhưng rồi tôi lại tin vào trực giác của mình “Đây là người mình có thể tin được”.

Tất nhiên bạn cũng sẽ gặp những người làm bạn không ưa. Có đôi lúc bạn sẽ cáu kỉnh muốn tay đôi “cãi nhau” với lũ trẻ con gọi bạn là người Trung Quốc và …đuổi bạn về nước. Hay lắm khi bạn bực mình vì một người lái xe bus nói giọng địa phương không đủ kiên nhẫn trả lời bạn khi bạn nói “Pardon” đến lần thứ 2! Nhưng tôi tin là những người mà bạn không ưa không phải là một mẫu đủ lớn đại diện cho con người nơi đây. Và thậm chí dù họ có làm cho bạn khó chịu đi nữa, lựa chọn có để những người ấy ảnh hưởng đến cảm xúc chung của bạn về nơi này hay không hoàn toàn phụ thuộc vào bạn.

  1.    Du học dạy tôi rằng một cộng một không nhất thiết phải bằng hai

Thật sự, tôi đã gặp khủng hoảng tâm lý sau khi học ở Anh được một, hai tháng. Có lúc tôi còn nghĩ  “hay là Chevening chọn nhầm mình, mình dốt thế sao lại được nhận học bổng”. Dần dần tôi nhận ra rằng sự “khủng hoảng” của tôi đến từ việc tôi luôn tìm kiếm một câu trả lời cụ thể cho mọi câu hỏi được đưa ra. Tôi luôn tự hỏi mình và đã từng hỏi thẳng thầy “Kết luận cuối cùng là gì hả thầy, thế nào mới là đúng? Thế nào mới là sai? Điều này là đúng hay sai?”. Ban đầu câu trả lời của thầy không làm tôi hài lòng “Tuỳ từng trường hợp chứ, lúc này nó có thể đúng, lúc khác nó có thể sai”. Nhưng rồi càng học (không chỉ từ sách vở, mà còn từ những cuộc thảo luận với bạn bè đến từ nhiều nền văn hoá khác nhau), tôi nhận ra rằng kỳ vọng hiểu rõ một sự vật hiện tượng là tốt hay xấu của tôi là không tưởng. Một học thuyết có thể đúng ở giai đoạn này vì hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc ấy cho phép nó được thực hiện, nhưng ở một giai đoạn khác nó không còn phù hợp nữa. Và tôi cũng không thể kỳ vọng một chính sách hay chương trình phát triển nào chỉ đem lại điều tốt mà không có những mặt hạn chế. Nghe đơn giản là vậy, nhưng đây là một bài học đầy “đau đớn” đối với tôi. Tôi hoài nghi những niềm tin, và hệ giá trị mà tôi tin tưởng trước đây. Nhưng tôi biết những “đau đớn” ấy là không thể thiếu nếu tôi muốn trưởng thành. Quá trình “learn” và “unlearn” này còn giúp tôi lớn lên rất nhiều về mặt con người. Trước đây tôi thường vội vàng kết luận một ai đó là tốt hay không tốt chỉ dựa vào cách hành xử của họ một hoặc hai lần. Và nếu tôi đã nghĩ một ai đó là không tốt thì rất khó để tôi thay đổi quan điểm của mình. Những bây giờ tôi tin rằng ai cũng có mặt tốt và mặt xấu, chỉ là ta có đủ kiên nhẫn để hiểu và đặt mình vào vị trí của họ mà suy xét hay không thôi. Ngày trước tôi có thể bực bội khó chịu và đôi khi tranh cãi đến cùng để bảo vệ quan điểm của mình. Nhưng rồi tôi dần học cách tôn trọng sự khác biệt. Tôi không thể kỳ vọng mọi người đều suy nghĩ như tôi, chia sẻ các quan điểm và giá trị giống hệt tôi bởi đơn giản mỗi người có một phông văn hoá, gia đình, giáo dục, và quá trình trưởng thành khác nhau.

Tôi vẫn nhớ mỗi lần gặp nhau ở thư viện để nộp bài essays, chúng tôi thường hay đùa nhau “Viết xong luận chưa, kết luận thế nào?”. “Thì context-specific (tuỳ vào hoàn cảnh), không có one-size-fits-all solution (giải pháp phù hợp cho mọi trường hợp), thế chứ sao”. Rồi chúng tôi đều cười!!

DSC00486

DSC00485

  1.    Du học dạy tôi luôn đón nhận những điều bất ngờ

Một lần tôi hỏi cô bạn người Indonesia cùng lớp “Tên cậu hay thật ấy, đây là họ à?”. Tôi vừa hỏi vừa chỉ vào chữ thứ hai trong phần tên trên một mẫu đơn cô ấy đang điền. “Không, vùng của tao, người ta không có họ”, cô trả lời một cách hoàn toàn bình thản. Tôi tròn xoe mắt nhìn cô ấy một cách đầy ngạc nhiên. Họ của một người, đó là điều tôi chưa bao giờ hoài nghi. Chả phải họ là thứ để xác định người đó thuộc về gia đình nào, họ là thứ gắn kết tất cả những người có chung dòng máu chảy trong huyết quản suốt cả chiều dài lịch sử của gia đình ấy hay sao. Tôi buột miệng hỏi “Thật kỳ lạ, nếu vậy khi đặt tên cậu và tên bố cậu cùng một chỗ thì không ai biết được đây là hai người thuộc cùng một gia đình à?”. Để đáp lại sự tò mò của tôi, cô ấy trêu “nhưng mà tớ thấy thế mới là bình đẳng giới ấy, cậu chẳng lấy họ mẹ mà cũng chẳng theo họ bố”. Chúng tôi cùng cười lớn!

Khi ở một chỗ quá lâu, tôi thường quên mất là ngoài kia có nhiều điều thú vị như thế. Hãy đi và cảm nhận!

  1.    Du học dạy tôi yêu những điều nhỏ bé xung quanh

Khi sống ở một đất nước khác trong một thời gian ngắn mà bạn biết rồi đến một ngày bạn sẽ phải nói lời chia tay với nơi ấy, đã bao giờ bạn bạn hình dung vị trí của mình trên mảnh đất ấy chưa? Bạn nghĩ mình là một khách du lịch, một du học sinh, một kẻ hành khất, một người nhập cư, hay đơn giản chỉ là một người Việt Nam đang ở nước ngoài? Còn tôi, mỗi khi lang thang bên bờ biển Brighton hoặc đi bộ quanh khu campus xinh đẹp, tôi luôn cảm thấy mình là một kẻ ở trọ. Tôi ở trọ Brighton, tôi ở trọ nước Anh! Vì biết rằng sẽ có ngày chia xa, tôi muốn tận hưởng hết hương vị, màu sắc, và những nét đặc trưng ở nơi ấy. Đi du học đâu chỉ dạy cho ta những thứ to tát như các học thuyết kinh tế, học thuyết phát triển, phương pháp nghiên cứu, tư duy phản biện, vân vân và vân vân, ta còn có cơ hội hiểu được chính mình, và trân quý những điều nhỏ bé xung quanh. Đôi khi tôi chỉ muốn để các giác quan cảm nhận và lưu giữ những điều giản dị như sự ngọt ngào của một tách cream tea (bao gồm trà và sữa nóng, scones – một loại bánh, kem và mứt) tại một nhà hàng bên bãi biển, màu sắc tươi vui của đám thuỷ tiên khi chớm hè, mùi ngọt nồng của gió biển Brighton, màu xanh của trời hè, màu bạc của nắng, màu đỏ của xe bus đặc trưng Anh, tiếng kêu léo nhéo của lũ Hải Âu, giọng nói trầm bổng lên xuống như hát của một người Anh. Bây giờ mỗi khi nghe một bài hát trong album Hunting Party của Linkin Park, tôi vẫn tưởng tưởng ra căn phòng trọ của mình- một căn phòng nhỏ bé cửa sổ hướng ra khu vườn xanh biếc nơi đôi khi có một vài chú mèo và thỏ đến chơi đùa. Tôi vẫn nhớ mỗi khi mưa tôi sẽ bật Linkin Park thật to, và để tâm trí hoàn toàn thư giãn, trốn chạy khỏi các bài luận, và chồng sách báo cần đọc.

Trong số các địa danh mà tôi đã đến thăm ở Anh, tôi thật sự ấn tượng Isles of Wight. Khi đang viết những dòng này, màu xanh biếc của nước biển, màu rực rỡ ánh bạc của nắng và cảm giác se lạnh của gió ở nơi đây vẫn hiện lên sinh động trước mắt tôi, và cảm giác như vẫn chạm được vào tôi. Khi đi bộ trên triền đồi giáp biển, tôi có cảm tưởng như mình là một nhân vật trong những bức tranh phong cảnh mà tôi đã từng thấy người ta treo ở các quán ăn sang trọng, hay các buổi triển lãm tranh. Tôi không ngừng thốt lên “Đẹp quá”. Tôi thích ngắm những con thuyền nhỏ xíu hiện ra như một chấm nhỏ trên bức tranh phong cảnh non nước hữu tình ấy. Khi ngắm nhìn khung cảnh ấy, tôi tự hỏi “Không biết người đang điều khiển con thuyền kia có thấy cô đơn không?”, “Liệu cảnh đẹp tuyệt điệu kia có phần nào giúp họ tạm quên cảm giác cô độc và những muộn phiền đời thường hay không?”.

“Tôi có yêu Hà Nội không”, câu trả lời là “Có”. Nhưng tình yêu tôi dành cho Hà Nội đã qua thời kỳ trăng mật rồi, tôi không còn hồi hộp, hứng khởi trước những điều bé nhỏ của Hà Nội nữa. Tôi biết Hà Nội chẳng tự dưng rời bỏ tôi, và tôi cũng không bỏ Hà Nội. Hà Nội sẽ vẫn ở đấy chờ tôi về. Chính vì thế tôi đã từng luôn chần chừ. Tôi chần chừ đến một bảo tàng mà tôi luôn muốn đến, tôi chần chừ đến một quán cafe mà tôi biết rất đặc biệt, tôi chần chừ làm nhiều điều với Hà Nội vì tôi biết Hà Nội luôn hào phóng cho tôi cơ hội thực hiện những điều ấy bất cứ khi nào tôi muốn. Nhưng với nước Anh, tôi biết tôi sẽ phải rời xa nàng mà không rõ ngày tái ngộ. Vì thế tôi muốn tận hưởng, muốn ghi nhớ, muốn lưu giữ mọi thứ bằng mọi giác quan. Thật kỳ lạ, nước Anh cũng dạy tôi cảm nhận và yêu Hà Nội sâu sắc hơn. Tôi chợt thấy giờ đây mình cũng yêu ánh nắng dịu nhẹ một ngày chớm hè Hà Nội, mùi hoa sữa nồng nàn của mùa thu, cảm giác se se lạnh sau một cơn mưa dịu dàng bất chợt. Có nhiều điều tôi không thích nơi đây, nhưng đó là quy luật của một mối quan hệ rồi. Biết đâu nếu tôi sống ở Brighton lâu như tôi sống ở Hà Nội, tôi lại chẳng liệt kê được đầy điểm xấu ở nơi đó ấy chứ.

DSC03816

DSC03814

DSC03849

  1.    Du học giúp tôi khám phá ra một khả năng mới của bản thân

Tôi luôn nghĩ rằng tôi không biết nấu ăn. À, thì tôi có thể nấu được những món ăn hàng ngày, nhưng những món phức tạp đòi hỏi sự tỉ mẩn và khéo léo thì tôi thường đầu hàng vô điều kiện. Ấy thế mà thời gian học ở Anh, hoàn cảnh xô đẩy khiến tôi nhận ra rằng nấu ăn cũng thú vị và tôi nấu cũng không đến nỗi quá tệ. Bọn tôi thường hay tổ chức Potluck dinner vào những dịp đặc biệt như khi một đứa chuyển nhà, sau khi thi xong, hay đơn giản là hứng lên thì rủ nhau tụ tập. Bữa tối sẽ được tổ chức ở nhà một đứa nào đó, ai tham dự thì sẽ mang một món đến góp chung. Trong mỗi dịp như thế, tôi thường nghĩ chả nhẽ mình chỉ làm những món bình thường thôi. Thế là tôi lao vào tìm hiểu cách nấu phở, nấu những món thịt bò và gà đặc biệt mà ở nhà tôi chưa bao giờ làm. Lúc hội bạn ăn và tấm tắc khen ngon, tôi càng hăng hái tìm hiểu và khám phá những món ăn mới. Đôi khi là những món đơn giản nhưng tôi cũng phải cách tân một chút, vì nếu nấu theo đúng kiểu Việt Nam sẽ không phù hợp với khẩu vị của bạn bè. Ví dụ món nem. Ở nhà ta thường nấu với thịt lợn nhưng trong hội bạn mỗi đứa một kiểu: đứa thì không ăn thịt lợn, đứa thì không ăn thịt bò, đứa thì ăn chay, đứa thì ăn cay, đứa thì không. Nên tự nhiên tôi lại học được cách làm mới cho những món ăn đơn giản.

Tôi chợt nhớ đến một dịp mà tôi phải nấu nhiều chưa từng thấy. Ở khoa tôi, cứ cách một vài tháng chúng tôi lại tổ chức continent party (tiệc châu Âu, châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á). Khi đến tiệc của châu lục nào thì những đứa ở châu lục ấy sẽ tổ chức một bữa tiệc giới thiệu các món ăn ngon, những điều đặc trưng về văn hoá của châu lục ấy. Tiệc châu Á được tổ chức vào cuối tháng tư, vì đó là bữa tiệc cuối cùng nên cả bọn châu Á chúng tôi muốn làm một điều gì đó thật đáng nhớ và đặc biệt. Cả khoa chỉ có tôi và một đứa nữa là người Việt Nam, nhưng chúng tôi vẫn quyết định làm nem rán, và thịt gà cho …gần hai trăm người ăn. Khi nghĩ về thời gian ở Anh, tôi luôn nhớ đến những bữa tiệc như thế này. Nó gắn kết chúng tôi lại với nhau. Dù bây giờ mỗi đứa một nước nhưng có dịp lại rủ nhau tụ họp. Tôi thích nhất là cảm giác có bạn bè ở gần như khắp mọi nước trên thế giới. Khi đi du lịch đến nước nào, tôi biết cũng sẽ có một người bạn sẵn sàng đưa mình đi chơi, giới thiệu cho tôi những chỗ ăn ngon và địa điểm đặc biệt mà một khách du lịch bình thường khó có thể biết được. Và rồi, chúng tôi sẽ hàn huyên ôn lại những kỷ niệm đã có ở Anh. Đúng như những lời chúng tôi đã trao nhau trước khi kết thúc khóa học “This is not the end, this is just the beginning of a friendship”.

DSC02919

Đấy, tôi lại đi lan man khỏi nội dung của phần này mất rồi. Vậy đi du học không chỉ khiến bạn nhận thấy bản thân có thể làm được nhiều điều hơn bạn nghĩ mà bạn còn có thêm bạn bè ở khắp nơi nữa đấy.

6. Du học dạy tôi bớt định kiến

Niềm tự hào dân tộc mãnh mẽ thường khiến người ta đánh giá quá cao dân tộc mình và có những định kiến không hay về các dân tộc khác. Ta càng dễ sa lầy vào định kiến nếu ta ở quá lâu một chỗ và tất cả những gì ta biết về nơi khác là qua một ai đó kể cho ta nghe, qua truyền thông báo chí (vốn chỉ tập trung khai thác những tin giật gân không mấy hay ho ở những nơi khác), hoặc qua sách vở được viết một cách hời hợt một chiều. Tôi cũng đã từng có những định kiến như thế. Nhưng rồi tôi nhận ra những câu kiểu như “Bọn châu Phi thì abcxyz”, “bọn trung đông/hồi giáo thì abcxyz”, “Tây thì ai cũng lịch sự”, “Tây thì ai cũng thông minh”, vân vân, thật sự rất phiến diện. Tôi đã gặp những người Anh vô cùng bất lịch sự, suốt ngày uống rượu bia, chửi bới và tôi cũng từng là nạn nhân của sự vô văn minh ấy. Tôi cũng có rất nhiều bạn là người hồi giáo, người châu phi. Họ đều thông minh, tốt bụng và nhiệt tình. Nghĩ lại những định kiến của mình trước đây, tôi thấy sao mình hẹp hòi và ích kỷ thế nhỉ. Khi ta giữ định kiến về người khác, thì chính bản thân ta cũng trở thành nạn nhân của những định kiến. Một người bạn Hàn Quốc có lần thổ lộ với tôi “Nếu không gặp cậu, thì tớ cũng không thích người Việt Nam đâu”. Rồi bạn ấy kể người ta hay nói dân Việt Nam sang Hàn Quốc toàn ăn cắp, sang Anh thì đi trồng cỏ, bao nhiêu dự án phát triển đổ vào Việt Nam mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Thôi ta cứ đi với một tâm trí mở nhất có thể!

Đây là những bài học tôi đã học được trong quá trình đi học. Hi vọng bài viết có thể truyền cảm hứng cho những bạn đang trăn trở tìm học bổng du học. Tôi tin rằng chỉ cần bạn muốn thì chắc chắn bạn sẽ làm được!!

 

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (Phần 3)

Phần 3: Fallacy Busted – Những quan niệm sai lầm về học bổng chính phủ

Như tên của bài viết, mình sẽ nói về những nhầm lẫn hoặc sai lầm mà mọi người hay mắc phải khi nghĩ đến hoặc ứng tuyển học bổng chính phủ.

1. Điểm IELTS/TOEFL là một tiêu chí quan trọng khi xét duyệt hồ sơ, cho nên điểm này càng cao thì hồ sơ càng dễ được chọn.
=> Thực tế là điểm bài thi chuẩn hóa Tiếng Anh của các bạn chả có ý nghĩa gì hết ngoài chuyện nó chứng minh được bạn đủ khả năng để đi học ở nước nói tiếng Anh. Chẳng thiếu gì những người đã được nhận học bổng chính phủ mà điểm IELTS chỉ đạt mức tối thiểu. Một số chương trình thuộc Erasmus Mundus khẳng định rằng mức điểm số IELTS hay TOEFL không bao giờ là tiêu chuẩn xét duyệt hồ sơ của họ và ứng viên chỉ cần qua mức sàn là được. Ban xét duyệt hồ sơ của đại học Nottingham đã khẳng định với mình là điểm IELTS của bạn chỉ cần đạt 6.5, còn lại thì 8.0 hay 8.5 cũng chẳng khác gì 6.5 cả, tức là hồ sơ của bạn sẽ không “đẹp” lên vì cái điểm IELTS. Học bổng AAS cũng khẳng định tiếng Anh của ứng viên có tốt hay trung bình thì ban giám khảo cũng chẳng dựa vào trình độ tiếng Anh để đánh giá chất lượng hồ sơ.
Tóm lại, ngoại trừ một số rất ít chương trình nêu rõ rằng điểm bài thi tiếng Anh cao là lợi thế (thường là các chương trình học về báo chí hay học bổng Fulbright), điểm bài thi IELTS của bạn chỉ cần 6.5, không cần cao hơn.
2. – Các học bổng phát triển như Chevening, Fulbright, AAS, v.v không chào đón, không cấp học bổng cho ứng viên đến từ khối tư nhân.
– Ứng viên từ các công ty tư nhân có rất ít cơ hội với học bổng phát triển.

=> Cái này sai hoàn toàn. Bà Karen Maddocks, làm việc trong Văn phòng Khối Thịnh vượng chung của Anh quốc năm 2007, cho biết:

Học bổng này (học bổng Chevening) không chỉ dành cho viên chức nhà nước hoặc những ai làm việc tại Hà Nội. Chúng tôi rất khuyến khích tất cả những ai làm việc cho mọi lĩnh vực, ở mọi nơi trên cả nước VN nộp hồ sơ thi. Tất cả ứng cử viên đều được đánh giá hoàn toàn dựa trên khả năng, theo tiêu chuẩn của chương trình Chevening. <careerbuilder.vn, URL: http://careerbuilder.vn/en/talentcommunity/hoc-bong-chevening-khuyen-khich-moi-ung-vien-xuat-sac.35A50171.html>

Nếu bạn nào vào Chevening alumni directory để tra cứu về ứng viên Việt Nam thì sẽ thấy một đống ứng viên đã được học bổng khi làm ở các công ty tư nhân. Mình biết một anh được giành được học bổng Chevening lúc đang self-employed. Anh này cũng được học bổng AAS khi làm cho một công ty tư nhân của Úc.
Tóm lại là bỏ ngay cái ý nghĩ học bổng phát triển không “chơi” với khối tư nhân đi nhé.

3. GPA cao là một tiêu chí quan trọng khi xét tuyển hồ sơ, cho nên điểm này càng cao càng dễ được chọn
=> Cái này chỉ đúng với học bổng tài năng (merit-based) thôi nhé. Còn với học bổng hỗ trợ phát triển, điểm GPA thực ra không mấy quan trọng. Nó chỉ chứng minh ứng viên đủ khả năng để hoàn thành khóa học tương lai thôi. Ban xét duyệt học bổng phát triển không tìm người học giỏi, mà họ tìm kiếm những người có thể tận dụng những gì thu được sau thời gian du học để làm lợi cho nước nhà và mối quan hệ song phương. Thực tế, điểm của người viết bài này có mỗi 7,6 so với một đống hồ sơ của các bạn nộp ngành kinh tế, truyền thông, xã hội, toàn bằng giỏi với điểm trên 8,0. Nếu điểm GPA quan trọng thì tác giả chắc “tách tành tạch” từ vòng hồ sơ của Chevening rồi chứ đâu có ngồi đây mà chém gió được. Anh Đỗ Hữu Chí, được học bổng Fulbright năm 2010 có điểm tốt nghiệp đại học thấp đến mức mà theo anh nói thì: “Điểm ra trường của tôi đâu như được nhỉnh hơn 5 phẩy một chút (lạy Phật, vừa đủ)…”

4. Cần phải có một bộ CV “đẹp”, tức là nhiều dự án và các hoạt động xã hội sẽ thì hồ sơ mới có tính cạnh tranh cao. Cho nên cứ tham gia nhiều hoạt động vào để hồ sơ “đẹp”.
=> Cái này cũng chỉ đúng với học bổng merit-based. Với học bổng hỗ trợ phát triển thì chưa chắc. Như đã nói ở trên, học bổng phát triển tìm kiếm người có khả năng làm lợi cho mối quan hệ song phương. Khả năng này do tố chất con người quyết định. Cái thể hiện rõ nhất và nhiều nhất những tố chất đó là bài luận cá nhân chứ không phải bảng thành tích hoạt động. Hơn nữa, ban xét duyệt hồ sơ muốn biết bạn học được gì từ những kinh nghiệm và hoạt động xã hội chứ không phải những bảng liệt kê thành tích khô khan.
Bản thân mình cũng chẳng tham gia hoạt động xã hội nào. Kinh nghiệm làm việc thì cũng như các bạn là tốt nghiệp rồi đi làm 3 năm thôi. ^^ Nhưng vẫn lấy được học bổng.
Thế nên là bây giờ thay vì dành thời gian đi hoạt động xã hội với mục đích làm đẹp hồ sơ, thì hãy chuyên tâm vào làm việc và phát triển khả năng nghề nghiệp và các kĩ năng mềm cho tốt đi. Có được học bổng hay không thì về lâu về dài bạn cũng được lợi.

5. – Nếu định học lên bậc cao hơn ở một ngành không phù hợp với ngành đã tốt nghiệp ở bậc đại học thì không xin được học bổng?=> Không đúng. Đỗ Hữu Chí tốt nghiệp Kiến trúc mà sang Mỹ học về Comic Arts đấy thôi. Hoặc, anh Đinh Quang Anh học Kiến trúc rồi sang Úc học về Sustainable Development vẫn được học bổng AAS.

6 – Những người được nhận các học bổng toàn phần của chính phủ đều (cần phải) là những người xuất sắc? (xuất sắc trong học tập, trong công việc, trong hoạt động xã hội)
=> Không đúng. Ban xét học bổng tìm người phù hợp với học bổng nhất chứ không phải tìm người xuất sắc nhất về học tập hay công việc. Việc phù hợp hay không phù hợp dựa trên tiêu chí tuyển chọn của học bổng đó. Với học bổng dạng merit-based như EM hay Endeavour thì ban xét duyệt đúng là tìm những người có thành tích học tập và làm việc xuất sắc, có khả năng nghiên cứu khoa học tốt, nhưng đơn giản chỉ vì tiêu chí của họ là tìm người như vậy. Với học bổng Chevening, người ta tìm người có tố chất lãnh đạo và tiềm năng gây ảnh hưởng khi trở về nước. Với học bổng Fulbright, người ta tìm kiếm người có khả năng làm đại sứ văn hóa cho Việt Nam tại Mỹ, có tiềm năng lãnh đạo và khả năng thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa hai nước. Với học bổng AAS, người ta tìm kiếm những cá nhân từ ngành và vùng nhất định có khả năng thay đổi ngành và vùng đó (thường xuyên ưu tiên cho vùng sâu vùng xa và nông thôn). Cho nên nếu một ngày đẹp trời, bạn vô tình được gặp một người từng được hb AAS và thấy người này nửa câu tiếng Anh cũng không nói được cho ra hồn mặc dù đã được học ở Úc, thì cũng đừng lấy làm lạ. (Chuyện này là có thật, và có không ít khi mà quota dành cho Nhóm 1 và 2 của AAS rất nhiều). Cho nên, không phải cứ xuất sắc là được chọn, không phải cứ xuất sắc mới nên ứng tuyển học bổng, và không phải được chọn là xuất sắc. Họ chỉ xuất sắc ở mảng mà học bổng đó muốn họ xuất sắc thôi ^^.

Các bạn thấy đó, con đường đến với học bổng chính phủ thực ra rất rộng mở. Mỗi người đều có lựa chọn phù hợp với khả năng của bản thân.
Có thể bạn sẽ cho rằng những trường hợp được học bổng mà tôi kể trên là những trường hợp đặc biệt (outlying cases). Có thể họ là những người đặc biệt, xuất sắc về tư duy hay phẩm chất. Nhưng điều mình muốn nhấn mạnh ở đây là chỉ cần bạn có thế mạnh về 1 trong các mặt: thành tích, tư duy, networking, tính cách. Những ví dụ mình kể đều là những người chỉ dùng một thế mạnh mà đã thành công.
Bản thân mình là một người coi trọng tư duy và kinh nghiệm hơn thành tích học tập ở Việt Nam. Bởi vì, thử làm một so sánh nho nhỏ, một bên là cái bảng điểm đại học không thể nào thay đổi được, bên kia là kĩ năng tư duy và học hỏi từ trải nghiệm mà bạn có thể tích lũy mỗi ngày sau khi tốt nghiệp. Bạn nghĩ đầu tư vào cái nào cho hiệu quả lâu dài và bền vững hơn?
Hy vọng các bạn đã tìm được những thông tin có ích.

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (Phần 1)

Bản thân mình đã muốn viết về việc xin học bổng lâu rồi nhưng chưa có thời gian, thông tin cũng như “credit” để viết. Bây giờ, khi đã được chọn vào Main List của học bổng Chevening, mình quyết định sẽ viết một hướng dẫn đầy đủ nhất có thể cho những ai có ý định xin học bổng chính phủ. Điều này cũng phù hợp với nhu cầu của nhiều bạn mình quen hoặc đã từng giải đáp thắc mắc về học bổng. Mình nghĩ một số thông tin ở đây còn có ích đối với những người định xin các loại học bổng khác ở cấp độ thạc sĩ nữa.

Phần 1: Phân loại, những yếu tố cần thiết khi xin học bổng và cách lựa chọn học bổng chính phủ

Các cách phân loại dưới đây hoàn toàn do tác giả đề xuất mà không dựa trên một nguồn tham khảo nào. Ngoại trừ học bổng tài năng (merit-based) và học bổng hỗ trợ phát triển, các tên gọi loại học bổng khác đều do tác giả đề xuất.

1. Phân loại học bổng

1.1 Phân loại dựa trên điều kiện giới hạn ứng viên

  • Học bổng cạnh tranh quốc tế: Học bổng này cho phép mọi ứng viên quốc tế, không phân biệt quốc gia, ứng tuyển. Theo đó, những người ứng tuyển các học bổng dạng này sẽ phải cạnh tranh với ứng viên trên toàn thế giới. Một số học bổng cạnh tranh quốc tế: Erasmus Mundus của Ủy ban Châu Âu (EC), Endeavour của Chính phủ Australia, học bổng OFID, học bổng Eiffel của Pháp, học bổng MEXT của Nhật Bản.
  • Học bổng (hỗ trợ) phát triển: học bổng phát triển ở Việt Nam là học bổng do một quốc gia tài trợ, trao cho các cá nhân triển vọng ở Việt Nam dựa trên những bản kí kết hợp tác phát triển giữa quốc gia này với Việt Nam. Những người ứng tuyển các học bổng này chỉ phải cạnh tranh với các ứng viên Việt Nam. Một số học bổng phát triển có thể kể đến bao gồm: học bổng Fulbright của Mỹ, học bổng Chevening của Anh, học bổng AAS (tên gọi trước đây là ADS hay AusAID) của Úc, học bổng BBS (tên gọi trước đây là BTC) của Bỉ, học bổng Irish Aid của Ireland.

1.2 Phân loại dựa trên tiêu chí lựa chọn

  • Học bổng tài năng (merit-based): học bổng được trao dựa trên tài năng, học lực, khả năng nghiên cứu, và cả nguyện vọng cống hiến xã hội. Dĩ nhiên, để chứng minh bạn có học lực hay khả năng nghiên cứu xuất sắc, có tài năng đặc biệt, hay có nguyện vọng cống hiến cho cộng đồng, cho xã hội, bạn cần có nhiều thành tích tương ứng và có giấy chứng nhận để chứng minh những phẩm chất này. Học bổng tài năng của chính phủ thường xuyên là học bổng cạnh tranh quốc tế (Erasmus Mundus, Endeavour, Eiffel của Pháp, v.v)
  • Học bổng tiềm năng: học bổng được cấp cho những người có tiềm năng thực hiện những nhiệm vụ mà cơ quan, tổ chức cấp học bổng giao phó như: trở thành đại sứ văn hóa tại nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển của ngành, địa phương và đất nước, trở thành nhà lãnh đạo cơ quan quản lý hoặc ngành trong tương lai, xúc tiến mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và đất nước nơi ứng viên học. Các học bổng tiềm năng có thể kể đến: học bổng BBS, học bổng Chevening, học bổng Irish Aid.
  • Học bổng tiềm năng – tài năng: học bổng được trao cho những người có cả tài năng đã được chứng minh qua thành tích và tiềm năng được thể hiện qua các bài luận. Một số ví dụ về loại học bổng này: học bổng Fulbright, học bổng AAS.

2. Những yếu tố cần thiết khi xin học bổng

Sau 1 năm ứng tuyển cùng lúc cả 5 học bổng chính phủ (có cả merit-based và phát triển), mình đúc kết ra 5 yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình xin học bổng chính phủ bao gồm: sự may mắn, thành tích học tập và hoạt động, khả năng tư duy và viết luận, khả năng network, và phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu.

  • May mắn: Yếu tố này đôi khi mang tính quyết định, đặc biệt đối với những học bổng có giới hạn ngành học. Ví dụ: học bổng Erasmus Mundus có hơn 100 chương trình học dành cho nhiều ngành khác nhau và sự thành công của ứng viên từ Việt Nam có khi chỉ phụ thuộc vào việc người đó ngẫu nhiên chọn đúng chương trình có ít ứng viên. Mình đã từng apply 2 chương trình thuộc EM là STeDe và 4CITIES nhưng sau đó xin rút lui khỏi SteDe vì mình hoàn toàn không thấy hứng thú với nó nữa. Trớ trêu thay, SteDe năm đó ít ứng viên đến nỗi trong quá trình xét tuyển, giáo sư phải mail cho mình yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, mặc dù lúc đó mình đã hủy hồ sơ. Tất nhiên mình từ chối, và học bổng EM cho STeDe năm đó thuộc về một bạn ít tuổi hơn mình, cũng tốt nghiệp ĐH Kiến trúc HN. Nếu xét về các phẩm chất và sự phù hợp với chương trình, mình có nhiều lợi thế lúc đó vì đã có chứng nhận 2 năm làm việc trong một dự án nghiên cứu khoa học cấp quốc gia về quy hoạch đô thị bền vững (STeDe là chương trình học về quy hoạch vùng bền vững), ngoài ra còn có cả IELTS 8.0 và DELF B2, mà STeDe nói rất rõ là sẽ đánh giá cao ai có khả năng sử dụng tốt cùng lúc 2 ngôn ngữ Anh và Pháp 🙂 Nhưng mình đã không ứng tuyển STeDe, để rồi bị rejected trong chương trình 4CITIES (năm nay 4CITIES có hơn 900 hồ sơ ứng tuyển).
    Một trường hợp khác, một bạn (mình biết bạn này nhưng xin phép được giấu thông tin cá nhân) được nhận vào một chương trình cũng thuộc EM. Nhưng khả năng sử dụng tiếng Anh của bạn đó thì … thậm chí còn không đủ để tự phát biểu về công việc mình làm. Vậy đó, các bạn đừng nghĩ để được học bổng cần có những phẩm chất cao siêu gì. Đôi lúc, may mắn là tất cả những gì bạn cần.
  • Thành tích học tập và hoạt động: các thành tích này bao gồm điểm đại học, bài báo, báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu, và thành tích hoạt động xã hội. Dĩ nhiên, điểm đại học càng cao, càng nhiều bài báo và báo cáo khoa học phù hợp với ngành định học, thành tích hoạt động xã hội phong phú là những lợi thế khi ứng tuyển học bổng. Ví dụ về các bạn đã thành công trong việc tìm học bổng nhờ các thành tích tốt thì rất nhiều. Các bạn có thể xem trong cơ sở dữ liệu về ứng viên được học bổng EM mỗi năm ở trên trang facebook Erasmus Mundus Vietnam.
  • Khả năng tư duy và viết luận: khả năng tư duy sẽ được thể hiện qua những suy nghĩ về ngành chuyên môn và xã hội mà bạn tích lũy trong suốt quá trình từ khi bạn bắt đầu có ý thức (nói cách khác, từ lúc bạn đi nhà trẻ) cho đến khi bạn ứng tuyển học bổng. Tư duy này càng độc đáo, sâu sắc, dài hạn, thiết thực cho ngành và xã hội thì khả năng bạn được chọn càng cao. Tất nhiên, bạn phải có khả năng viết luận tốt để thể hiện những điều đó một cách thuyết phục trong những bài luận cá nhân khi xin học bổng. Một ví dụ điển hình cho việc tư duy và viết luận dẫn đến thành công là chính tác giả :)) GPA rất thấp (7.6) nếu so với các bạn học ngành kinh tế và xã hội (thường là 8.4, thậm chí trên 9.0), không có hoạt động xã hội, không có hoạt động nghiên cứu nào đáng kể, không có một giải thưởng nào. Chỉ bằng bài luận và mình đã thuyết phục được ban xét tuyển của Chevening 🙂
  • Khả năng network: là khả năng tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ có lợi, cụ thể ở đây là có lợi cho hoạt động xin học bổng. Những trường hợp thường thấy nhất là network với các giáo sư có uy tín trong ngành và trên thế giới để xin được những thư giới thiệu hoặc được trực tiếp giới thiệu cho các học bổng. Đối với học bổng dạng merit-based như Erasmus Mundus hay Eiffel, những sự giới thiệu này cực kì có giá trị. Có bạn chỉ có GPA rất thấp nhưng được sự giới thiệu của các giáo sư hàng đầu ở Châu Âu mà được học bổng EM rồi đấy. Thậm chí, có bạn ứng viên học bổng Đại sứ quán Pháp còn quen biết cả thành viên của ban phỏng vấn 😉
    Networking không phải là điều gì đó xấu. Ngược lại, nó giúp cho các bạn tiếp cận được nhiều cơ hội và thông tin hơn, đồng nghĩa với việc thúc đẩy sự công bằng về cơ hội và minh bạch thông tin. Theo điều tra của đài ABC năm 2013, 80% công việc được tìm thấy thông qua networking.
  • Phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu: các học bổng phát triển thường yêu cầu ở những ứng viên những phẩm chất đặc thù phù hợp với mục tiêu và tinh thần của học bổng đó. Ví dụ, học bổng Chevening muốn chọn những người có tố chất lãnh đạo, có tiềm năng trở thành người dẫn đầu ngành chuyên môn hoặc quản lý trong tương lai; học bổng Fulbright muốn tìm kiếm những người có khả năng thúc đẩy sự trao đổi văn hóa Việt-Mỹ; hoặc, học bổng AAS luôn có một quota nhất định cho những ứng viên đến từ các Ủy ban nhân dân, các bộ và cơ quan ngang bộ, các ứng viên người dân tộc thiểu số hoặc từ vùng khó khăn. Thực tế, có những người được học bổng AAS, được sang Úc rồi trở về Việt Nam mà vẫn không sử dụng được Tiếng Anh ở mức độ nghe, nói, đọc, viết cơ bản 😉

3. Lựa chọn học bổng

Viêc lựa chọn học bổng phụ thuộc vào việc bạn có yếu tố nào trong 5 yếu tố trên.

  • Bạn có thành tích học tập và hoạt động tốt: bạn phù hợp với học bổng merit-based.
  • Bạn có khả năng tư duy và viết luận tốt: bạn phù hợp với học bổng tiềm năng.
  • Bạn có khả năng network tốt: bạn phù hợp với mọi loại học bổng. Tuy nhiên theo kinh nghiệm và thông tin mình có được, bạn cần có thêm 1 trong 4 yếu tố còn lại thì khả năng được chọn mới cao ^ ^.
  • Bạn có cả thành tích học tập và hoạt động lẫn khả năng tư duy và viết luận: bạn phù hợp với tất cả mọi loại học bổng.
  • Bạn có may mắn: mình không còn gì để nói ngoài câu: “Biết được mình sẽ gặp may thì còn gọi gì là may mắn nữa.”
  • Bạn có phẩm chất đặc thù mà một học bổng nào đó yêu cầu: bạn đặc biệt phù hợp với học bổng đó. Cứ mạnh dạn ứng tuyển.

Nên nhớ, việc bạn sở hữu chỉ 1 trong 5 yếu tố trên cũng đủ để bạn ứng tuyển học bổng rồi.

Kinh nghiệm xin học bổng làm nghiên cứu sinh PhD ở Úc (Australia)

Có nhiều người hỏi nên mình viết bài này chia sẻ tất cả những gì mình biết để mọi người tham khảo, ai biết gì thêm hoặc chỗ nào chưa đúng thì góp ý nhé. Mình là một phụ nữ, có một em bé, khi mình bắt đầu PhD là lúc bé 18 tháng tuổi và ở nhà với bố. Đó thực sự là một quyết định vô cùng khó khăn đối với mình và rất nhiều người phụ nữ khác. Lý do mình quyết định đi lúc này là vì: bắt đầu sớm thì kết thúc sớm, con càng lớn càng cần mẹ chăm sóc và dạy dỗ. Khi mình xong thì con cũng khoảng 5 tuổi và chuẩn bị vào lớp 1. Trong việc này, mình luôn biết ơn sự đồng lòng của người bạn đời và cha mẹ đã giúp mình chăm sóc con trong khoảng thời gian không ngắn chút nào. Với công nghệ hiện đại ngày nay (điện thoại giá rẻ gọi về VN khoảng 500 đồng/phút, Skype, video call của Yahoo Messenger và hàng không giá rẻ), sự xa cách giữa người đi và ở cũng được rút ngắn nhiều.

Làm nghiên cứu sinh là một chặng đường gian khổ, khác hẳn với việc học coursework mà chưa chắc người bước vào đã nhận được kết quả cuối cùng. Sinh viên PhD thường bảo nhau “Chúng ta không phải loài người” là không sai tí nào đâu nhé. Vì thế cần phải cân nhắc cẩn thận khi quyết định có đi làm PhD hay không.

Bước 1: Quyết định đi làm nghiên cứu sinh, trước tiên hãy tự đặt câu hỏi cho mình:

– Mình đang hay sẽ giảng dạy bậc đại học không?

– Mình đang hay sẽ làm công việc tư vấn, hay muốn có một vốn hiểu biết rất sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào không?

– Mình đang hay định làm công việc nghiên cứu không?

Nếu cả ba câu trên mà KHÔNG thì có thể việc làm nghiên cứu sinh là không cần thiết.

Bước 2: Quyết định làm PhD trong nước hay nước ngoài

Có nhiều yếu tố cần được cân nhắc khi chọn làm PhD trong nước hay nước ngoài, nhưng chủ yếu là do yếu tố ràng buộc công việc hiện tại và gia đình chứ theo mình điều kiện làm nghiên cứu ở VN chẳng thể so sánh được với nước ngoài rồi. Ngoài ra, một cân nhắc không kém phần quan trọng: Mình có dự định di cư sang Úc không?

Bước 3: Xem xét liệu mình có được chấp nhận làm PhD?

Điều kiện để được chấp nhận học thường là: có bằng Master dạng research hoặc MPhil hoặc Master dạng coursework nhưng có làm luận văn tốt nghiệp hoặc có bằng Honour hoặc làm công việc nghiên cứu với thời lượng đáng kể (cái này hơi khó vì bằng đại học của VN ít được công nhận ở nước ngoài).

Vì vậy nếu ai chỉ có bằng Master dạng coursework thì khi xin học, trường có thể yêu cầu phải dự một khóa qualifying program trong vòng 6 tháng trước khi nhập học chính thức vào PhD.

Làm PhD có 2 dạng:

– thầy có project và tuyển PhD vào làm nghiên cứu. Khi đó thầy sẽ đăng thông báo tuyển PhD và tìm ứng viên có đủ khả năng và thích thú làm đề tài đó. Nếu ứng viên tự thấy background của mình phù hợp, bản thân thấy thích thú đề tài thì gửi thư trực tiếp cho thầy. Trường hợp này chỉ cần chuẩn bị CV và viết motivation letter cho tốt, không phải chuẩn bị proposal vì đề tài đã có sẵn. Nếu thầy chấp nhận thì sau đó làm thủ tục xin học với trường, tức là bỏ qua được bước 4,5 và 7.

– mình tự tiến hành một nghiên cứu độc lập của mình dưới sự hướng dẫn của thầy và tự xin nguồn tài trợ. Trường hợp này sẽ tiến hành tuần tự từ bước tiếp sau đây.

Bước 4: Viết proposal (định hướng nghiên cứu)

Nếu xin PhD ở Mỹ thì viết cái Statement of Purpose nêu lý do tại sao mình muốn làm nghiên cứu sinh ở trường đó và lĩnh vực nghiên cứu dự kiến là gì. Còn ở Anh và Úc thì khi viết định hướng nghiên cứu cần phải có cả literature review. Khổ nỗi ở VN làm gì có cơ sở dữ liệu hay sách vở gì để mà viết phần này đâu. Nhớ hồi mình gửi cái proposal cho GS John Tribe ở Surrey University, UK (TBT tạp chí Annals of Tourism Research), ông ý đáp lại chê là chỉ bằng cái proposal của MBA, đề nghị viết rồi gửi lại ông ấy xem, hic. Viết trả lời ông ấy là tôi sẽ cố gắng cái thiện cái proposal nhưng sau đấy lặn luôn vì biết với những gì mình có trong tay thì là một điều gần như không thể.

Xin nhớ cho là cái mình viết trong proposal không phải là cái mình sẽ làm sau này, có tới 99,9% trường hợp sang đến nơi, sau khi thảo luận xong với thầy là đổi lần thứ nhất, sau khi đọc cho nát sách và ra cái research question là có thể lại thay đổi vài lần nữa, rồi ngay cả khi đã bảo vệ xong confirmation (phải làm trong vòng 1 năm kể từ ngày nhập học) trong quá trình thu thập và xử lý số liệu lại thay đổi tiếp. Vì thế khi viết proposal đừng lo là mình sẽ gặp phải khó khăn gì với đề tài này, cứ chọn cái nào dựa trên sở thích của mình, hợp với xu hướng của thế giới và VN. Nếu không biết tìm ở đâu thì chịu khó hỏi bạn bè, người có kinh nghiệm, ai cùng ngành với mình đang làm PhD ở nước ngoài, thảo luận trên các group, forum, hay đánh bạo email cho người nào đó trong ngành của mình trên thế giới, mặc dù chẳng quen biết gì.

Có một câu chuyện hài hước cười ra nước mắt ở lĩnh vực du lịch, một người đã bị một hội đồng xét duyệt Tiến sỹ ở VN đánh trượt với lời phê đề cương nghiên cứu quá tệ. Người đó đã gửi đề cương nghiên cứu ra nước ngoài, được trường chấp nhận và dành học bổng danh tiếng nhất của nước đó.

Bước 5: Xin thầy hướng dẫn

Thực ra bước 4 gắn liền với bước 3 vì với cái mình định làm xin mỗi thầy (có từng thế mạnh riêng) mình phải lái lái đi thì họ mới quan tâm. Khi xin thầy hướng dẫn, cần tìm hiểu cho kỹ:

– kinh nghiệm, trọng tâm nghiên cứu (research interest) và danh tiếng của người đó về lĩnh vực mình muốn làm à lên hỏi bác Google là ra hết

– trọng tâm nghiên cứu và danh tiếng của ngành tại trường nơi người đó đang ngồi ở đấy à lên website của trường mà tìm hay hỏi bạn bè. Chú ý là ranking của trường không quan trọng bằng ranking của riêng ngành mình quan tâm. Ví dụ chả ai biết Griffith là trường nào ở Úc, nhưng nói đến tourism thì mọi người đều biết (là ở nước ngoài thôi).

– cá tính của người đấy thế nào, nhiều thầy giỏi thì giỏi nhưng mà đối xử với trò tệ lắm à lân la hỏi người nào đang làm PhD ở đấy, hay email cho cựu PhD của người đó mà hỏi (chỉ cần cái tên thôi lại hỏi bác Google là ra)

Xin kể cả nhà nghe chuyện đi xin thầy hướng dẫn của mình, tiếp tục câu chuyện ở trên.

Trong một buổi hội thảo du học Anh ở New World, lơ ngơ thế nào lại hỏi được contact của một ông GS ở Chichester Uni. Ông này khá nổi tiếng về các nghiên cứu ở VN và cũng interest với nghiên cứu của mình, nhưng khổ nỗi là ông ấy vừa chuyển từ Metropolitan Uni về đây, mà ở đây chưa nhận PhD về tourism.

Tiếp tục với một bà giáo ở ĐH Queensland . Tìm thấy bà ấy do search một hồi trên mạng, đã từng ở VN, thích thú nghiên cứu về tourism ở VN, rất nhiệt tình giúp mình làm cái literature review bằng cách gửi luôn một cái proposal của học trò bà ấy có đề tài na ná như của mình, bảo mình xem có cái nào cần và viết lại (không được chép nguyên xi đâu). Sau đấy mình có được cái proposal nhìn khá chuẩn, giờ vẫn biết ơn bà ấy.

Hè 2007 ra HN gặp senior MBA, Mr C bảo “Ở Úc thì Griffith là trường hàng đầu về du lịch”. Thế là lại lặn lội nghiên cứu website, xem trọng tâm nghiên cứu của nó là gì, tìm người hướng dẫn. May quá anh C giới thiệu cho chị H chỗ anh ấy vừa qua Griffith được mấy tháng, thế là mình có người hỏi xem ai là người hướng dẫn tốt. Bài học từ dì M và anh làm mình quá hiểu có thầy hướng dẫn tệ thì khổ thế nào. Chị H giới thiệu cho hai cái tên, mình nhắm mắt chọn luôn người có cái mác Professor.

Viết email cho ông GS hướng dẫn bây giờ, giới thiệu bản thân, gửi kèm CV, proposal vào tối thứ 6 thì sáng thứ 2 đã nhận được email ngắn gọn:

Dear …,

Thank you for your interest in having me supervise your PhD. thesis. I am willing to be your supervisor, should your application be accepted.

I have sent this communication to Dr. …, who is our contact faculty for PhD applications here on the Gold Coast campus.

I look forward to working with you.

Sincerely,

Mừng quá sức tưởng tượng, sau này mới biết ông ấy vừa từ Mỹ về lại trường, chưa có sinh viên PhD nào cả. Càng search mới biết ông ấy hàng đầu thế giới về ecotourism. Quan trọng hơn hết là trong vốn hiểu biết bao la của ông ấy về ecotourism thì VN là con số 0, nên ông ấy rất quan tâm. Thế mới thấy sự trùng lặp giữa cái mình muốn làm với interest của thầy quan trọng thế nào.

Câu chuyện về thầy hướng dẫn chưa hết đâu nhé, nó chỉ kết thúc khi chính thức biết tin mình nhận được học bổng đi học. ‘Không thầy đố mày làm nên’ nhưng không có tiền thì đố mày đi đâu được.

Bước 6: Nộp hồ sơ xin học và chờ

Các tổ chức cho học bổng thường yêu cầu phải được một trường nào đó chấp nhận học đã, nên phải có CoE trong tay thì mới đi hộp hồ sơ xin học bổng (trừ trường hợp xin học bổng của trường song song với việc xin học; học bổng 322 hay ADS có thể xin trước rồi mới xin học ở trường). Xin học PhD không có deadline, trường nhận hồ sơ quanh năm.

Mỗi trường mỗi khác, UQ cho phép nộp hồ sơ online (hoành tráng chưa) và phải trả admission fee là 60AUD, báo hại phải đi nhờ người trả bằng thẻ Visa/Master card hộ. Nhưng nộp xong chờ dài cổ nửa năm chả thấy trả lời trả vốn gì. Hội thảo du học Úc mình đã đến thẳng quầy hỏi, họ cho email, viết email hỏi thế mà vẫn lặn tăm.

Griffith yêu cầu gửi hồ sơ giấy trắng mực đen bằng đường bưu điện, nhưng lại không phải trả tiền nộp hồ sơ gì hết. Do cái thói lề mề cố hữu của mình, lại phải gửi chuyển phát nhanh mất 500 nghìn, 5 ngày tới Úc. 28/10 họ nhận được hồ sơ của mình (ngay trước deadline xin học bổng của trường có 2 ngày) thì tới cuối tháng 12 trả lời qua email đã chấp nhận và gửi Thư chấp nhận học CoE (certificate of enrolment). Cầm cái này có thể đi xin visa được rồi.

Sang đây thì có người lại than phiền xin học 2 trường trên thì Griffith lặn tăm, UQ trả lời.

Bước 7: Xin học bổng

Tới mục này, mình chỉ xin chia sẻ kinh nghiệm tìm học bổng PhD ở Úc. Có các lựa chọn sau cho người Việt mình:

– Học bổng 322 của nhà nước: 1,000AUD/tháng (12,000AUD/năm), vừa cho 1 người (chi tiêu trung bình bên này cho 1 người khoảng 700AUD/tháng), nghe mọi người kêu hay bị chậm, ràng buộc sau khi học xong phải trở về nước, không có hỗ trợ gì cho con nhỏ nếu mang theo, khi làm thủ tục hay bị lằng nhằng. Tuy nhiên xin học bổng 322 là dễ được nhất, miễn là được một trường nào đó trên thế giới nhận là được. Lưu ý PhD có thể đi làm trợ giảng ở các ĐH của Úc để có thêm thu nhập. Thông báo về học bổng 322 được gửi về các trường đại học hàng năm.

– Học bổng phát triển của chính phủ Úc dành riêng cho Việt Nam (ADS): 20,000AUD/năm. Học bổng này ràng buộc PhD sau khi học xong phải trở về nước, có hỗ trợ tiền gửi trẻ 5 tuổi trở xuống 50%, bao gồm cả tiền vé máy bay và visa. Không phải ngành nào đi làm nghiên cứu sinh cũng xin được học bổng này, mọi người vào đây tham khảo nhé http://www.ausaid.gov.au/scholar/studyin.cfm

– Học bổng cho các nhà lãnh đạo ( ALA ): 26,800AUD/năm (nghe nói hàng năm có review và tăng tiền), ràng buộc sau khi học xong phải trở về nước, cho 4 năm, có cho tiền trang trải ban đầu 5000$ để mua vé máy bay, phí visa, tiền đi dự hội thảo/field trip 2000$/năm, có hỗ trợ tiền gửi trẻ 5 tuổi trở xuống 50%… Học bổng này chú trọng đến những người có tiềm năng trở thành lãnh đạo sau này, nên ai có kinh nghiệm làm lãnh đạo hay khả năng chứng minh mình có tài lãnh đạo nhiều khả năng được. http://www.ausaid.gov.au/scholar/ala.cfm . Việt Nam nằm trong danh sách các nước được ưu tiên cho học bổng này, nên người Việt có nhiều khả năng được.

– Học bổng Endeavour: là học bổng cao nhất của Bộ GD Úc. Học bổng này không ưu tiên Việt Nam mà các ứng viên phải cạnh tranh trên toàn cầu. Ai có thành tích học tập xuất sắc, có công trình nghiên cứu, có thành tựu gì nổi bật thì có khả năng được học bổng này. Endeavour cho toàn bộ học phí, living allowance 30,000AUD/năm, tiền ổn định ban đầu 4000$ cho vé máy bay, phí visa, không có hỗ trợ gửi trẻ… và không có ràng buộc sau khi học xong phải trở về nước và vừa được nâng lên 4 năm. http://www.endeavour.deewr.gov.au/

– Học bổng của chính phủ Úc thông qua các trường (gọi nôm na là học bổng của trường): 20,000AUD/năm, hỗ trợ một phần tiền vé, không hỗ trợ phí làm visa, không ràng buộc phải về nước sau khi học xong. Tham khảo học bổng này phải vào trang web của từng trường nghiên cứu. Khi nộp hồ sơ học cho trường, thường có mục để đánh dấu vào xin học bổng của trường. Học bổng của trường cho 3 năm, nhưng có thể kéo dài tối đa 6 tháng nữa.

– Ngoài ra còn nhiều dạng học bổng khác, cần phải vào website thông báo học bổng của từng trường để tìm hiểu.

Endeavour, AL A , ADS có thời hạn nộp hồ sơ khoảng tháng 6,7 hàng năm, vì vậy ai muốn xin các học bổng này thì phải có CoE sẵn sàng trước tháng 6 hàng năm. Nói tóm lại cần khoảng 1 năm kể từ khi bắt đầu khởi động ôn tiếng Anh, thi IELTS và tất cả các bước ở trên.

Xin hết và chúc may mắn!

 

Nguồn: https://dohuehuong.wordpress.com/2009/08/06/kinh-nghiem-xin-hoc-bong-lam-nghien-cuu-sinh-phd-o-uc-australia/

HỌC BỔNG DU HỌC CẤP 3 – ÚC

Rất nhiều người hỏi mình về học bổng du học cấp 3, thì hôm nay may quá biết được học bổng này, mọi người tham khảo nhé:

– Trường: Pennisula Grammar
– Học bổng: Peninsula Grammar’s International Scholarship
– Giá trị: 100% học phí
– Đối tượng: Hoàn thành lớp 10 ở Việt Nam
– Tiêu chí lựa chọn: Điểm tổng kết cả năm, điểm các môn Toán, Lý, Hoá, và Tiếng Anh
– Thể lệ: Nộp hồ sơ và phỏng vấn.
– Deadline: Tháng 7 năm 2018

– Link: http://www.tps.vic.edu.au/international-scholarships.html

Các bậc phụ huynh nghiên cứu cho con em mình nhé. Ngấp nghé hay xa xa cũng bắt đầu chuẩn bị là vừa 

Scholarship program for the Executive Master in Development Policies and Practices

Dear Sir or Madam,

We are very pleased to announce that the online application for the Executive Master in Development Policies and Practices (DPP) for 2018-2019 is now open (http://dpp.graduateinstitute.ch/home.html). The deadline for the application is March 15, 2018.

The DPP is an international Executive Master program jointly organized by the Geneva-based Graduate Institute of International and Development Studies (IHEID) and the Asian Institute of Technology in Vietnam (AITVN). The program is designed for development practitioners, Asian and Expatriates, working for national, international, public or private organizations in the Greater Mekong countries (mainly Cambodia, Laos, Myanmar, and Vietnam). The program is divided in 3 Modules that lasts 2 full-time months and 4 part-time months at the participants’ place of work.

–       Module 1 (full-time): July – August 2018 in HanoiVietnam (5 weeks)

–       Module 2 (part-time): September – December 2018 (4 months at the participants’ place of work)

–       Module 3 (full-time): January – February 2019 in Geneva (3 weeks in Geneva gathering all participants from other regions)

 

The criteria for admission are:

  • Þ        Professionals who currently hold or aspire to hold key positions in a development or international cooperation role, in public or private-sector, NGOs or civil society associations
  • Þ        University degree (minimum 3 years) and several years of professional experience (or an equivalent combination of training and experience)
  • Þ        Support of the candidate’s organization
  • Þ        Proficiency in English. Knowing Spanish and/or French is a plus
  • Þ        Optimal age: between 30 and 45 years

An introduction workshop of the DPP program will be held in Da Nang on Friday, 12 Jan 2017 Grand Mercure Da Nang hotel, Lot A1, Green Island, Hoa Cuong Bac, Hai Chau, Danang City, and in Can Tho on Monday, 15 Jan 2018 at AIT campus, Learning Resource Center, Can Tho University, Campus II 2-3 Street, Ninh Kieu District, Can Tho. For further information and to register to the workshop, please contact Ms. Bich Diep at: diep@aitcv.ac.vn, 0936262684 or Ms. Pham Thuy at pthuy@aitcv.ac.vn, 0983437728.

We do hope that this program is of interest to your organization and your partner institutions. We would highly appreciate your help in disseminating the program information to all potential candidates.

Sincerely yours,

Dr. Nguyen Huong Thuy Phan

Academic Coordinator – Head of Region – Southeast Asia;

Graduate Institute of International and Development Studies

FAQ New Zealand Scholarship

Do you offer scholarships for citizens of my country?

The New Zealand Aid Programme offers scholarships to citizens of a number of developing countries for full-time tertiary level study in New Zealand.  A full list of eligible countries can be found here.

As a small country, we focus on providing educational opportunities to our neighbours in the Pacific, as well as to selected developing countries in Asia, Africa, Latin America, the Caribbean and other developing regions.

Where can I study?

For Tertiary education Scholarships, you can study at one of ten eligible New Zealand universities and institutes of technology. A full list of eligible institutions is available here.

For selected Pacific countries only, Tertiary Scholarships are available for study in the Pacific region; otherwise, study in another country is not supported.

It is important to find a tertiary institution that will meet your personal as well as academic needs.  Each institution specialises in different subjects.  There are a number of places you can find additional information:

  • Information on some relevant qualification options can be found on each of the country pages on our website.
  • The websites of New Zealand and Pacific universities have a variety of information on what you can study, and what it’s like to study there.
  • For more information on studying in New Zealand visit Study in New Zealand (external link)
  • For information on cost of living in New Zealand visit New Zealand Now (external link)
  • For Short Term Training Scholarships, study at diploma and certificate level are available at a range of New Zealand institutions (note, these Scholarships are only available in selected Pacific countries and Timor Leste). For more information about where you can do a Short Term Training Scholarship click here.

What subjects and qualifications can I study?

The types of qualifications available and priority subjects vary for each country and are listed on the information page for your country or region. For some countries, only postgraduate scholarships are available, and for other countries both undergraduate and postgraduate scholarships are available.

Scholarships are offered in priority sectors that are most relevant to the development needs of your country. This is so you can contribute to making a real and positive difference to your country on your return home at the end of your scholarship.

Preference will be given to candidates intending to study within the priority sectors for their country.  Applications outside these areas may be considered where they demonstrate a clear link between your intended area of study and the sustainable economic development of your home country.

What are ‘priority sectors’?

Priority sectors are areas in your country where a skill shortage has been identified by your government, which are a priority for investment in order to improve social and economic development of your country, and/or where New Zealand has particular expertise.

Study directly related to these priority sectors is preferred so that your country gets the most out of the investment made in training someone through a New Zealand Scholarship.

What types of scholarship are available?

The main types of scholarships available for full-time tertiary level study in New Zealand are:

Two other scholarship types are available:

Where can I get a scholarship application form?

We encourage online applications. Most eligible countries are able to apply online at this website from February 2018.

Read Application dates and method and How to apply for more details on the application process.

While we prefer you to apply online, we understand not all locations have access to the internet. Paper applications are available for certain countries.

You will need to contact the New Zealand High Commission or Embassy in your country to obtain a paper application form.  Contact information for each New Zealand High Commission or Embassy can be found here.

Do I need an offer of place at an institution before I apply?

For New Zealand Scholarships you do not require an offer of place at your selected institution before you apply.  If you are shortlisted for a scholarship we will seek a place at the institution you have requested in your application form on your behalf. However for PhD applicants and Masters by Thesis applicants, when you reach the shortlisting stage, you will need to have a Letter of Support from your proposed supervisor.

What does the scholarship cover?

The entitlements of the Scholarship include full tuition fees, a living allowance (paid fortnightly), an establishment allowance, medical and travel insurance, travel between your home country and New Zealand at the start and end of your scholarship, home leave or reunion travel for some eligible scholars, pastoral and academic support at your institution, and assistance with research and thesis costs for most postgraduate research students.

  • A top quality education at one of New Zealand’s world-class tertiary institutes or a major Pacific education institution.
  • Fully funded tuition
  • Financial support including a fortnightly living allowance, an establishment allowance, medical and travel insurance, travel to and from your home country at the start and end of your scholarship, home leave or reunion travel for some students, and assistance with research and thesis costs for most postgraduate research students.
  • Personal and academic support: We have international student advisors to help and support you with any issues with your scholarship, study or well-being.  When studying in New Zealand you will also have the assurance of the Code of Practice for the Pastoral Care of International Students which sets minimum standards to ensure international students in New Zealand are well informed, safe and properly cared for by their education provider.
  • Help getting prepared:  To help you get prepared for studying in New Zealand, you’ll have a pre departure briefing in your home country, and you’ll get support when you arrive in New Zealand.  We also offer a programme in New Zealand to help you prepare for academic studies here.

Can I bring my family with me to New Zealand?

The Scholarship does not provide any funding for you to bring your family with you to New Zealand or to support them while they are here.

The scholarship funding is not sufficient to cover the costs of supporting a family in New Zealand. You cannot bring any family members with you unless you have access to other funds. More information is available here.

If you decide to bring your family with you to New Zealand, Immigration New Zealand will require evidence of funds when your dependants apply for visas. For more information, visit Immigration New Zealand (external link).

What is the deadline for applications?

The deadline for application and the application process varies between countries/regions. Please check Application dates and method to confirm the deadline for your country/region. For most countries applications will close in March 2018.

Where do I send my application form? Can I apply online?

You are able to apply online through this website from February 2018.

If you do not have internet access and can only apply using a paper application, and you are from a country which allows paper applications, you must submit this to your nearest New Zealand High Commission or Embassy to arrive no later than 15 March 2018.

Contact information for each New Zealand High Commission or Embassy can be found here.

  • All applications and supporting documents must be sent in hard copy to the address listed on the information page for your country
  • Applications sent by email will not be accepted
  • Ineligible applications will not be accepted
  • Incomplete applications will not be accepted.

I don’t have an IELTS or TOEFL score. Can I still apply for a scholarship?

Yes, you can still apply for a scholarship, however you will not be successful unless your English language ability is good enough to be able to study at an English speaking institution.

If you are shortlisted for a scholarship, you will be asked at that stage to sit the appropriate English language test.  However, if you already have IELTS or TOEFL test scores which are no more than two years old you can enter them on your application.  You will not be disadvantaged if you have not sat the test when you apply.

IELTS is the International English Language Testing System. TOEFL is the Test of English as a Foreign Language.   These are the two tests we use for assessing scholarship applicants.

As a general rule, for those wishing to complete a postgraduate qualification an overall IELTS score of 6.5 and no band less than 6.0 is the minimum required.  For those wishing to complete an undergraduate qualification an overall IELTS score of 6.0 and no band less than 5.5 is the minimum required.  For those wishing to complete short term vocational training an IELTS score of 5.5 is the likely minimum.  Similarly, a TOEFL score of 80 on the internet-based test is required for undergraduate study and 90 for post graduate study.

Do I have to return to my home country at the end of my study?

Scholarships are for people who want to make a difference at home. All New Zealand Scholarships recipients and their families must return to their home country for at least two years at the conclusion of their study.

The purpose of the scholarship is to provide academic training so that you can gain new skills and knowledge to assist in the social and economic development of your country on your return home at the end of the scholarship.

I want to begin study this year / I want to begin study late next year. When do I need to apply?

There is only one selection round per year for all tertiary scholarships, and applicants apply in one year for study beginning the following year. For example, all applications received in the 2018 selection round will be considered for study beginning in 2019.

The expectation is that you will commence study in semester 1 (usually February/March). However, some programmes only commence in semester 2 (June/July). The main academic year in New Zealand starts in February/March. The application deadline is the same for all applications, regardless of intended start date of study.

I don’t meet the criteria to apply. Are there other scholarships I can apply for?

There are a range of other scholarships available to international scholars for study in New Zealand.

Visit Study in New Zealand (external link) for more information.  You may also wish to check the Scholarships Office of the education institution at which you wish to study.

Who can I contact for more information?

Read the information on the website carefully, including the information page for your country and the scholarships home page. If there is a specific question not answered by our website, you can email us via our Enquiry Form (external link)

Sách “Bí quyết học và thi IELTS”

Các bạn đang cầm trên tay cuốn sách “Bí quyết học và thi IELTS”, cuốn sách thứ ba trong dự án Tủ Sách Du Học do Trần Ngọc Thịnh khởi xướng biên soạn với sự tham gia của Nguyễn Thảo Nguyên. Tủ Sách Du Học là một dự án sách với mục tiêu chính là để cung cấp thông tin, định hướng và trợ giúp các bạn học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh về vấn đề du học. Cuốn sách “Bí quyết học và thi IELTS” mà các bạn đang cầm trên tay là một sản phẩm hợp tác giữa Knowledge Link và British Council tại Việt Nam. Cuốn sách này là cuốn cẩm nang đầu tiên bằng tiếng Việt nhằm chia sẻ những kinh nghiệm và lời khuyên xung quanh việc học và thi IELTS từ các cao thủ IELTS – những người đạt điểm thi từ 8.0 trở lên. Đây là những câu chuyện người thật, việc thật sẽ giúp cho độc giả có những lời khuyên quý báu và thiết thực cho quá trình ôn luyện và thi cử IELTS của mình.

Cuốn sách này gồm 4 phần chính:

Phần I: Giới thiệu chung về kỳ thi IELTS: Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về kỳ thi ILETS với những thông tin về cấu trúc bài thi, thời gian phân bổ cho từng phần thi và hệ thống thang điểm đánh giá. Trong phần này, chúng tôi sẽ đưa ra một so sánh giữa bài thi IELTS và bài thi TOEFL để giúp các bạn có cái nhìn đa chiều nhằm lựa chọn cho mình bài thi phù hợp nhất. Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ chỉ ra những cơ hội dành cho những bạn thi IELTS trên toàn thế giới với danh sách các trường đại học, tổ chức chấp nhận điểm IELTS trên toàn thế giới.

Phần II: Bí quyết ôn luyện IELTS: Trong phần này, chúng tôi sẽ chia sẻ với các bạn những bí quyết và kinh nghiệm ôn luyện IELTS để các bạn có thể đạt được điểm cao. Phần này chúng tôi chia ra thành các phần nhỏ để chia sẻ bí quyết ôn luyện như cách học từ vựng hiệu quả, ngữ pháp, và bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ giới thiệu với các bạn danh sách các tài liệu ôn luyện IELTS theo sự gợi ý của các chuyên gia IELTS tại Hội đồng Anh Việt Nam

Phần III: Bí quyết dành điểm cao trong kỳ thi IELTS: Phần này ngoài việc chia sẻ rất tỉ mỉ những bí quyết và kinh nghiệm để đạt điểm cao trong 4 phần thi của bài thi IELTS là nghe, nói, đọc, viết, chúng tôi còn đem đến cho bạn đọc những lời khuyên mà các bạn cần phải lưu ý trước khi vào phòng thi. Ở phần này, chúng tôi cũng có những chia sẻ từ các chuyên gia IELTS của Hội đồng Anh về những lỗi hay gặp phải trong từng phần thi của các thí sinh IELTS. Bên cạnh việc đưa ra những phân tích, chúng tôi còn đưa ra những ví dụ hết sức cụ thể để các bạn dễ hình dung và ghi nhớ.

Phần IV: Chia sẻ của những cao thủ IELTS: Phần này chúng tôi sẽ phân tích dựa trên dữ liệu về các bạn đạt điểm cao 8.0 trở lên trong kỳ thi IELTS để chỉ ra đâu là bí quyết thành coogn của các cao thủ. Ngoài ra trong phần này cũng có một số bài phỏng vấn một số cao thủ IELTS để các bạn có thể lắng nghe những chia sẻ kinh nghiệm, bí quyết người thật, việc thật.

Phần V: Các cơ hội IELTS: Phần này sẽ chứa đựng các thông tin về các học bổng dành cho các bạn thi IELTS. Ngoài ra chúng tôi còn cung cấp cho các bạn danh sách các trang web, diễn đàn, blog hay về IELTS để các bạn tham khảo.

 

Mua sách online tại Vinabook.com và các hiệu sách ở Đinh Lễ (Hà Nội) hoặc Phương Nam (Saigon)

Cơ hội đi Mỹ MIỄN PHÍ 2 năm kèm trợ cấp ngàn USD/ tháng

Bạn muốn đi Mỹ MIỄN PHÍ cho bản thân bạn và cả gia đình??

Bạn muốn nhận được bằng Master của những trường đại học hàng đầu bên Mỹ

Không những thế còn được nhận trợ cấp từ 1500-2000 USD/ tháng để trang trải sinh hoạt phí

và cơ hội giáo dục miễn phí cho con bạn từ lớp 1 đến lớp 12, bạn còn chần chừ gì nữa mà không tìm hiểu học bổng Fulbright – học bổng danh giá của Chính phủ Hoa Kỳ cho người Việt Nam.

Điều kiện để nộp hồ sơ khá đơn giản có 4 yêu cầu chính 

1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship) –> không có 2 quốc tịch

2. Have at least one undergraduate degree – đã có bằng đại học ở Việt Nam

3.  Có tối thiểu 2 năm kinh nghiệm tính từ ngày ghi trên bằng đại học tới ngày hết hạn nộp hồ sơ.

4. Có điểm tiếng Anh tối thiểu là TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Những đối tượng sau đây sẽ không được nộp hồ sơ 

  1. Người đã được nhận học bổng Fulbright

  2. Người đang sống và học tại Hoa Kỳ

  3. Người có bằng cử  nhân hay Thạc sỹ ở Đại học của Mỹ trong vòng 3 năm trở lại đây

  4. Nhân viên của phái đoàn ngoại giao Mỹ tại Việt Nam và những người thân thuộc bao gồm những người đang làm việc hoặc 1  năm sau khi kết thúc làm việc

  5. Người đã nhận học bổng cao học trong vòng 5 năm trở lại đây hoặc sắp nhận học bổng cao học khác.

Danh sách những ngành học được cho học bổng

Các bạn có thể tìm hiểu về các ngành học được cấp học bổng tại link này

Short introduction to Study Subjects in Vietnam Fulbright Student Program

Ngành nào có nhiều cơ hội dành học bổng hơn, các bạn đọc bài viết này 

Nộp ngành gì dễ được học bổng Fulbright???

Hồ sơ xin học bổng bao gồm 

  1. Hai bài essays (study objectives and personal statement)
  2. Ba thư giới thiệu
  3. Bằng đại học và bảng điểm (cho mỗi Đại học mà bạn theo học)
  4. Điểm TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Sơ yếu lý lịch

Nộp hồ sơ online tại địa chỉ https://iie.embark.com/apply. Hướng dẫn cách nộp hồ sơ tại địa chỉ https://vn.usembassy.gov/wp-content/uploads/sites/40/fvst2019-application-guidelines.pdf

Tiêu chí lựa chọn

Không phân biệt giới tính, màu da, ngành nghề, xuất thân, tổ chức mà hoàn toàn dựa vào năng lực và thành tích. Ưu tiên cho những ai chưa có kinh nghiệm trước đó với nước Mỹ. Một ứng viên thành công sẽ cần phải hội đủ các yêu cầu sau:

  • Mô tả rõ ràng và chi tiết mục tiêu học tập, thể hiện một sự kết nối rõ ràng giữa mục tiêu học tập với mục tiêu tương lai thông qua các bài luận
  • Có kinh nghiệm làm việc sâu rộng trong lĩnh vực dự định nộp hồ sơ và hiểu biết đầy đủ về ngành học
  • Thể hiện tiềm năng lãnh đạo dựa trên hoạt động ở trường, hoạt động ngoại khóa, cộng đồng và các hoạt động  nghề nghiệp khác
  • Thể hiện sự cống hiến cho Việt Nam và tiềm năng mang lại sự thay đổi tích cực khi quay về
  • Đóng góp thúc đẩy hiểu biết giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Mỹ thông qua các hoạt động trao đổi giáo dục và văn hóa
  • Sẵn lòng trở thành đại sứ văn hóa của Việt Nam
  • Thể hiện thành tích học tập xuất sắc và khả năng Anh ngữ tốt.

Khung thời gian 

  • Tháng 1/2018: Thông báo học bổng
  • Ngày 15/5/2018: Hết hạn nộp hồ sơ
  • Tháng 6 &7/ 2018: Xét duyệt hồ sơ và lựa chọn người vào vòng phỏng vấn
  • Tháng 9/ 2018: Phỏng vấn và lựa chọn người trao học bổng
  • Tháng 10 &11/2018: Người được học bổng thi lại GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • Tháng 11/2018 – Tháng 3/ 2019: Nộp hồ sơ cho các trường bên Mỹ
  • Tháng 4 & 5/2019: Xác nhận việc sắp xếp trường
  • Tháng 5/2019: Hội thảo định hướng trước khi lên đường
  • Tháng 6 & 7/2019: Kiểm tra sức khỏe và xin Visa
  • Tháng 7&8/2019: Lên đường sang Mỹ nhập học.

Cơ hội mà học bổng Fulbright đem lại 

  • Được vào học những trường danh tiếng của Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được nhận trợ cấp từ 1200 -2000 USD/ tháng để trang trải chi phí ăn học
  • Được hỗ trợ xin visa rất dễ dàng
  • Được tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa bên Mỹ rất thú vị
  • Được được vợ/ chồng và con cái theo, visa diện J2 có thể đi làm
  • Được cơ hội cho con cái từ lớp 1 đến lớp 12 học tại Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được cho vé máy bay và bảo hiểm y tế trong suốt quá trình học
  • Được gia nhập mạng lưới Fulbrigther khắp toàn cầu một network rất giá trị
  • Và được rất nhiều thứ khác nữa vô giá

 

Vậy còn chần chừ gì nữa mà không nộp hồ sơ nào các bạn ơi. Đừng lo lắng, đừng sợ sệt. Hãy mạnh dạn thử sức mình, nếu được ta ăn mừng, nếu chưa được năm sau ta thử sức tiếp.

Nếu trong quá trình nộp hồ sơ, bạn có thắc mắc gì, các bạn có thể liên hệ với mình. Trong quá trình chuẩn bị làm hồ sơ, viết luận, xin thư giới thiệu, các bạn muốn mình tư vấn thì chủ động liên hệ với mình. Contact của mình ở dưới đây

Email: tranngocthinh@gmail.com

Facebook:  www.facebook.com/tranngocthinh

Fanpage: www.facebook.com/tranngocthinh287

 

Chúc các bạn may mắn có được suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng ngàn USD/ tháng nhé.

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter Public Administration

AY 2009-2011

Ngành nào từ trước đến nay được nhiều học bổng Fulbright nhất??

Mặc dù trong FAQ (Tài liệu hỏi đáp), Fulbright Vietnam trả lời rằng không có quota cho từng ngành học được tài trợ.

“Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits”

Thực tế là Fulbright không phân bổ quota cho từng ngành học. Nhưng nhìn qua số liệu thống kê của học bổng Fulbright Vietnamese Student Program từ năm 1992  đến 2015 thì có thể thấy một sự phân bổ không đồng đều số lượng người nhận học bổng theo ngành học như sau

Đứng đầu là ngành Business, đây chính là nhóm nộp ngành MBA gồm nhiều phân ngành nhỏ như Marketing, Finance, Accounting, MIS…vv. Nhóm này đứng đầu với 112 người được học bổng/ 527 người được học bổng Fulbright từ 1992 đến 2015. Chia bình quân cho 23 năm, thì mỗi năm có gần 5 người nộp MBA được học bổng trong sốtrung bình 20 người được học bổng Fulbright hàng năm.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng trong 23 năm. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Hầu hết những bạn được học bổng ngành TESOL mà tôi biết đều là giảng viên dạy tiếng Anh ở những trường đại học công lập lớn của Việt Nam.

Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Ngành kinh tế cũng có nhiều người được vào những trường top như Williams College – số 1 nước Mỹ về Development Economics hay Harvard, Columbia..vv

Một điều thú vị là ngành Public Administration (quản trị công) khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng.  Những người theo học ngành này thì có người làm trong khối nhà nước, có người làm ở các tổ chức phi chính phủ. Tôi còn biết có bạn làm phóng viên của 1 đài truyền hình cũng được học bổng ngành này.

Đây cũng là ngành mà tôi đăng ký theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

 

Ngành tiếp theo, có nhiều người được học bổng là ngành Truyền thông (Communications)/ Báo chí (Journalism) với 36 người được học bổng, đa phần đều là nhà báo, phóng viên.

Ngành Luật có 33 người được học bổng. Đối với  những ngành khác, bạn có thể nộp hồ sơ xin học bổng trái ngành so với ngành học ở bậc đại học. Ví dụ bạn tốt nghiệp đại học Ngoại giao, nhưng xin học bổng về Public Admin hay Public Policy thì được. Riêng ngành Luật thì nếu bạn không có bẳng cử nhân Luật, bạn sẽ không thể apply xin học bổng ngành Luật. Những người được học bổng ngành luật đa phần là Luật sư. Nổi tiếng nhất chắc là anh Lê Công Định, Trương Trọng Nghĩa.

Ngành chính sách công (Public Policy) và Y tếcông cộng (Public Health) đang là một ngành rất hot ở Việt Nam và rất mạnh của Mỹ. Trước đến giờ Việt Nam chưa có đào tạo chính sách công bài bản, bởi lẽ chính sách chủ yếu làm ra trong phòng lạnh nên Mỹ muốn giúp mình phát triển nhân lực trong mảng chính sách công.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

Như vậy qua một số con số thống kê trong vòng 23 năm qua, chúng ta đã có một bức tranh khá rõ về những ngành học nào có nhiều khả năng được học bổng Fulbright. Điều này không có nghĩa là những ngành khác không có cơ hội. Học bổng Fulbright khuyến khích tất cả các bạn theo đuổi đam mê của mình chứ không có một ưu tiên cho ngành nào cả. Chỉ cần bạn thật xuất sắc thì bạn vẫn có thể được học bổng, mặc dù số liệu cho thấy xác suất thành công của những ngành ưu tiên như MBA và TESOL vẫn cao hơn rất nhiều những ngành khác.

Xin chia sẻ một số thông tin để các bạn tham khảo khi lựa chọn nộp hồ sơ cho học bổng Fulbright.

 

Source of Data: Dữ liệu sử dụng trong bài viết này là từ thông tin được công bố công khai của chương trình Fulbright Vietnam.

Disclaimer: Tất cả những nội dung tôi viết trên đây là quan điểm của cá nhân tôi, không đại diện cho chương trình Fulbright tại Việt Nam.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter 2009-2011 – Public Administration

www.tranngocthinh.com

Phóng sự VTV về cuốn sách Du học không khó

Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ Trần Ngọc Thịnh ra mắt cuốn sách Du học không khó. Bài viết sau đây xin giới thiệu tới các bạn cuốn sách này với hi vọng nó sẽ là một cuốn cẩm nang tốt cho các bạn trẻ.

Du học từ lâu đã là điều mong ước của rất nhiều bạn trẻ Việt Nam. Tuy nhiên, con đường đi tới ước mơ cũng lắm chông gai, có rất nhiều rào cản phía trước như tài chính, ngôn ngữ và học thuật. Vậy làm thế nào để vượt qua những rào cản đó? Làm thế nào để có thể hiện thực hóa giấc mơ du học của mình? Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ có trong cuốn sách mang tựa đề Du học không khó.

Du học không khó là ấn phẩm đầu tay của tác giả trẻ Trần Ngọc Thịnh. Cuốn sách được viết bởi rất nhiều công sức và tâm huyết của một cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright để dành tặng cho tất cả những bạn trẻ Việt Nam có ước mơ du học nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu.

Bên cạnh những câu chuyện người thật, việc thật về những gương điển hình du học sinh vượt khó, cuốn sách cũng chia sẻ hết sức tỉ mỉ những kiến thức, kinh nghiệm để giúp các bạn trẻ có thể hiện thực hóa ước mơ du học của mình. Tác giả sẽ chia sẻ những cách thức để vượt qua các rào cản chính trên con đường du học. Cuốn sách cũng gợi ý những bí quyết trong việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn để dành được những suất học bổng du học.

Cuốn Du học không khó được tổ chức một cách chặt chẽ và mạch lạc, giúp người đọc dễ hình dung và học hỏi. Các chia sẻ được viết rất tỉ mỉ và cặn kẽ kèm theo sự phân tích và ví dụ minh họa để độc giả dễ dàng hình dung ra các yêu cầu khi du học.

Mục đích chính của cuốn sách là để động viên, khích lệ tinh thần các bạn trẻ Việt Nam hãy lên đường đi du học để lập thân, lập nghiệp và phụng sự Tổ quốc với mục đích đem kiến thức, kinh nghiệm học được từ nước ngoài đem về góp phần dựng xây đất nước thực hiện đúng lời dặn dò của thế hệ cha anh để xóa nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.

Mời các bạn theo dõi lại nội dung trên qua video sau đây:

Nguồn: http://vtv.vn/doi-song/du-hoc-khong-kho-cam-nang-cho-cac-ban-tre-144152.htm

Chàng trai 8X “gây bão” với sách “Du học không khó”

(Soha.vn) – Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ, Th.S Trần Ngọc Thịnh sẽ ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Là cựu du học sinh Mỹ theo chương trình học bổng Fulbright của Hoa Kỳ. Anh từng là giảng viên đại học và hiện đang làm tư vấn độc lập cho các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Thạc sỹ, tác giả cuốn sách
Thạc sỹ, tác giả cuốn sách “Du học không khó” Trần Ngọc Thịnh.

Du học để lập thân, lập nghiệp

– Xin chào Thịnh, lý do nào mà bạn lại viết sách về du học?

Trần Ngọc Thịnh: Sau khi được học bổng Fulbright, mình mới thấy được sự vất vả, khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, kinh nghiệm chuẩn bị cho con đường du học. Vì vậy, trước khi qua Mỹ, mình bắt đầu viết blog để chia sẻ những kinh nghiệm, bí quyết với hy vọng giúp các bạn đi sau.

Cho tới tháng 6/2013, mình mới quyết định chuyển sang dùng Facebook vì WordPress tương tác không cao. Và chính khi đó, mình đã được các bạn trên cộng đồng Facebook gợi ý viết một cuốn sách giúp các bạn quyết tâm theo đuổi giấc mơ du học với tựa đề “Du học không khó”.

– Điều gì là động lực thúc đẩy bạn trong suốt quá trình thực hiện nó?

Trần Ngọc Thịnh: Là một chuyên gia tư vấn phát triển, mình cho rằng con người là yếu tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Ví như Nhật Bản, dù nghèo tài nguyên nhưng con người chịu khó và sáng tạo đã giúp Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc trên thế giới. Cách đây 300 năm khi Nhật còn là một nước phong kiến, Fukuzawa Yukichi – một nhà tư tưởng người Nhật đã khuyến khích thanh niên Nhật sang các nước phương Tây học hỏi và đem kiến thức, thành tựu công nghệ, khoa học kỹ thuật về áp dụng cho Nhật Bản. Chính vì lẽ đó, nước Nhật đã đi lên và trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

Vậy thì Việt Nam có “rừng vàng biển bạc”, dân số đông, thanh niên thông minh, giỏi giang tại sao lại không thể? Mình cho rằng cách duy nhất để có thể đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu là học hỏi cái hay, cái mới để đem về vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam.

–  Với “Du học không khó”, thông điệp mà bạn muốn gửi đến các bạn trẻ Việt Nam là gì?

Trần Ngọc Thịnh: Thông điệp của cuốn sách cũng chính là tên cuốn sách. Du học đã trở nên đơn giản hơn đối với các bạn học sinh, sinh viên. Nếu bạn thực sự có quyết tâm, biết nỗ lực, có kế hoạch chuẩn bị và được định hướng đúng đắn thì giấc mơ du học sẽ không còn quá xa vời.

Cuốn sách
Cuốn sách “Du học không khó” của chàng trai 8X Trần Ngọc Thịnh.

– Điều gì đặc biệt ở cuốn sách “Du học không khó” khiến nó khác các trang mạng, diễn đàn, thông tin trên mạng?

Trần Ngọc Thịnh: Cuốn sách này ra đời xuất phát từ nhu cầu, mong đợi của độc giả – những người theo dõi Facebook Page của mình từ lâu. Mình viết cuốn sách này cũng từ gợi ý của họ nên mình cố gắng viết những gì mà các bạn hay hỏi nhất hay gặp khó khăn nhất.

Điểm đặc biệt của cuốn sách cũng chính là sự tương tác. Ngay từ bìa sách tới nội dung cuốn sách đều được độc giả chia sẻ, góp ý từ đầu.

Hơn nữa, cuốn sách này ngoài cung cấp thông tin, còn có những câu chuyện người thực, hiện thực mang tính khích lệ, động viên và truyền cảm hứng các bạn trẻ để quyết tâm thực hiện ước mơ du học.

Cuốn sách này đặc biệt là mình không bán sách ở những hiệu sách mà phân phối thông qua hệ thống cộng tác viên phân phối tại các trường đại học.

– Tại sao lại không bán ở hiệu sách?

Trần Ngọc Thịnh: Cuốn sách gắn với một dự án Quỹ học bổng mà mình phát động từ khi còn học đại học. Mình muốn trích một phần lợi nhuận để gây dựng một quỹ học bổng giúp cho những bạn có hoàn cảnh khó khăn nhưng học giỏi và có quyết tâm du học.

Mình muốn phát triển hệ thống phân phối riêng để giữ được phần lợi nhuận để làm học bổng. Nếu bán ở hiệu sách, thì lợi nhuận không còn nhiều để làm quỹ học bổng. Thông qua hệ thống phân phối là các bạn SV tại các trường đại học, mình sẽ mang sách đến tận tay các bạn sinh viên.

– Có người cho rằng, việc Thịnh kiến nghị cuốn sách “Xách ba lô lên và đi” của Huyền Chip là để PR cho sách của mình, Thịnh nghĩ sao?

Trần Ngọc Thịnh: PR giống như một con dao hai lưỡi vậy. Một cuốn sách được độc giả đón nhận hay không là do nội dung sách. Cuốn sách có giá trị, chứa đựng nhiều thông tin bổ ích, ý nghĩa thì không cần PR cũng sẽ được độc giả đón nhận. Còn nếu viết sách bậy bạ, lừa bịp độc giả mà lại PR thì sẽ bị độc giả phản ứng giống như cuốn sách kể trên. Mình không PR bản thân và cũng không cần PR sách của mình bằng một nhân vật tai tiếng, một vụ scandal. Việc mình làm, ai theo dõi vụ việc từ đầu sẽ hiểu mục đích và ý nghĩa của nó.

“Đời du học không như là mơ”

– Hiện nay, có một số bạn trẻ đang đi du học như là một trào lưu, là mốt để được bằng bạn, bằng bè, mà kết quả lại không được nhưng mong muốn. Thịnh đánh giá như thế nào và có lời khuyên gì cho các bạn đó?

Trần Ngọc Thịnh: Trong một bài viết gần đây trên Facebook Page của mình có tên “Đời du học không như là mơ”, mình có nói về khó khăn mà các bạn trẻ đi du học gặp phải. Mình nghĩ, các bạn cũng không nên quá mơ tưởng về đời sống du học.

Trong cuốn sách này của mình cũng đề cập đến việc cái lợi và bất lợi ở từng giai đoạn khi bạn du học cũng như đưa ra lời khuyên khi nào bạn nên đi du học, cụ thể như sự chuẩn bị kỹ về mặt tài chính, tâm lý, sức khỏe, học vấn…. Một phần trong cuốn sách, mình cũng có trao đổi với phụ huynh về những điều cần khi quyết định cho con đi học.

Trần Ngọc Thịnh (ngoài cùng bên phải) muốn chia sẻ kinh nghiệm du học với các bạn trẻ.
Trần Ngọc Thịnh (ngoài cùng bên phải) muốn chia sẻ kinh nghiệm du học với các bạn trẻ.

– Vậy theo Thịnh nhận định những bạn trẻ đang chuẩn bị du học thiếu điều gì?

Trần Ngọc Thịnh: Ba điều: thông tin về học bổng, hệ thống giáo dục ở nước ngoài, những chia sẻ của người đi trước, và định hướng trong chọn trường, chọn ngành học phù hợp. Theo mình, điều quan trọng nhất là các bạn chọn được trường, ngành, học bổng phù hợp nhất với năng lực, sở trường, chuyên môn của các bạn.

– Việt Nam thanh niên giỏi, du học sinh đông, nhưng tại sao vẫn chưa phát triển?

Trần Ngọc Thịnh: Mình nghĩ một trong những lý do mà Việt Nam hay những nước đang phát triển gặp phải chính là hiện tượng “chảy máu chất xám”. Rất nhiều thanh niên du học nước ngoài mà không quay trở về. Vấn đề đặt ra là làm sao chúng ta kêu gọi, thu hút những nhân tài này quay trở về đóng góp cho sự phát triển đất nước.

– Mình được biết cuốn “Du học không khó” là một cuốn trong dự án về series sách du học mà bạn đang viết, bạn có thể bật mí cho các bạn độc giả được không?

Trần Ngọc Thịnh: Series sách về du học được mình ấp ủ từ lâu, bởi hiện nay sách về chủ đề này còn khá ít. Cuốn sách “Du học không khó” là cuốn đầu tiên được xuất bản. Sắp tới sẽ cố một số cuốn chia sẻ về kinh nghiệm săn học bổng, trải nghiệm của du học sinh Việt Nam khắp mọi miền thế giới…

Mục đích của series sách về du học này là giúp các bạn trẻ Việt Nam có một cái nhìn khách quan, chân thực về du học. Từ đó gây dựng một phong trào thanh niên Việt Nam đi du học để dựng xây đất nước. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trên trang web của Hội thích du học www.thichduhoc.net.

Cảm ơn Thịnh vì những trao đổi thú vị!

Sách phát hành từ ngày 24/12/2013, tại các đại lý phân phối chính thức, chi tiết xem tại http://phanphoi.duhockhongkho.com

Lễ ra mắt tại Hà Nội: 13h30 – 17h30 ngày 28/12/2013 tại Tầng 2, Thư viện Hà Nội, số 47 Bà Triệu

Ngoài ra, còn có lễ ra mắt tại Đà Nẵng và TP HCM trong tháng 1/2014. Thông tin cập nhật tại website chính thức của cuốn sách: www.duhockhongkho.com

Capstone Vietnam (capstonevietnam.com), Kansas State University (k-state.edu),  Lane Community College ( http://www.lanecc.edu/ ) và Hotcourses Vietnam (hotcourses.vn) hân hạnh là nhà tài trợ cho lễ ra mắt của cuốn sách “Du học không khó”.

Nguồn: http://soha.vn/xa-hoi/chang-trai-8x-gay-bao-voi-sach-du-hoc-khong-kho-20131220235658048.htm

Fulbrighter Trần Ngọc Thịnh ra mắt sách ‘Du học không khó’

 Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ Trần Ngọc Thịnh ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Du học không khó là cuốn sách đầu tay của tác giả trẻ Trần Ngọc Thịnh. Cuốn sách được viết bởi rất nhiều công sức và tâm huyết của một cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright để dành tặng cho tất cả những bạn trẻ Việt Nam có ước mơ du học nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu.

Tran Ngoc Thinh ra mat sach 'Du hoc khong kho' hinh anh 1
Sách được ra mắt vào ngày Giáng sinh 24/12.

Mục đích chính của cuốn sách là để động viên, khích lệ tinh thần các bạn trẻ Việt Nam hãy lên đường đi du học để lập thân, lập nghiệp và phụng sự tổ quốc để có thể đem kiến thức, kinh nghiệm học được từ nước ngoài đem về góp phần dựng xây đất nước thực hiện đúng lời dặn dò của thế hệ cha anh để xóa nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.Bên cạnh, những câu chuyện người thật, việc thật về những gương điển hình du học sinh vượt khó, cuốn sách cũng chia sẻ hết sức tỉ mỉ những kiến thức, kinh nghiệm để giúp các bạn trẻ có thể hiện thực hóa ước mơ du học của mình. Tác giả sẽ chia sẻ những cách thức để vượt qua các rào cản chính trên con đường du học. Cuốn sách cũng có những bí quyết trong việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn để dành được những suất học bổng du học.

Cuốn sách này cũng là một dự án thiện nguyện mà tác giả phát động nhằm gây quỹ học bổng nhằm hỗ trợ cho các bạn trẻ Việt Nam có thành tích học tập tốt , có ước mơ du học nhưng gặp phải những khó khăn, trở ngại trong quá trình theo đuổi giấc mơ du học của mình. Một phần lợi nhuận từ việc bán sách sẽ được dùng để gây quỹ học bổng. Ngoài ra, tác giả còn vận động thêm từ các nhà tài trợ khác.

Trần Ngọc Thịnh.
Sinh ngày 28/7/1984 tại Hải Dương
Anh là một blogger nổi tiếng với nhiều bài viết chia sẻ về du học và học bổng. Các bài viết chia sẻ về học bổng Fulbright của anh được nhiều người quan tâm tới học bổng danh giá này tham khảo khi nộp hồ sơ. Anh là cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright niên khóa 1999-2011. Anh có bằng Thạc sỹ về Quản trị hành chính công và Quản lý Phi chính phủ.
Công việc chính hiện nay của anh là là chuyên gia tư vấn độc lập cho các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như WB, IFC, ILO, IFAD, ADB…vv Ngoài ra, anh còn là một nhà báo tự do, các bài viết của anh về nhiều chủ đề khác nhau thường xuất hiện trên các báo.
Dự án phát triển và hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội Việt Nam.

Nguồn: https://news.zing.vn/tran-ngoc-thinh-ra-mat-sach-du-hoc-khong-kho-post379523.html

DU HỌC KHÔNG KHÓ – CHIA SẺ TỪ MỘT FULBRIGHTER TÂM HUYẾT

Du học, từ lâu đã là điều mong ước của rất nhiều bạn trẻ Việt Nam. Tuy nhiên, con đường đi tới ước mơ cũng lắm chông gai, có rất nhiều rào cản phía trước như tài chính, ngôn ngữ và học thuật. Vậy làm thế nào để vượt qua những rào cản đó? Làm thế nào để có thể hiện thực hóa giấc mơ du học của mình? Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ có trong cuốn sách sắp ra mắt vào cuối tháng 12/2013 mang tựa đềDu học không khócủa tác giả Trần Ngọc Thịnh, cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright niên khóa 2009-2011. Hotcourses Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với tác giả về cuốn sách sắp ra mắt của anh.

 

tác giả Trần Ngọc Thịnh

Chào Trần Ngọc Thịnh, anh có thể cho biết ý tưởng về cuốn sách Du học không khó đã được anh nung nấu từ bao giờ?

Vào thời điểm năm 2009, khi đăng ký học bổng Fulbright mình đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin học bổng, kinh nghiệm chuẩn bị cho con đường du học. Vì thế, ngay sau khi được học bổng Fulbright, trước khi qua Mỹ mình bắt đầu viết blog để chia sẻ những trải nghiệm, khó khăn mình đã vượt qua để giúp các bạn đi sau. Và hy vọng thông qua những bài viết trên blog của mình, các bạn sinh viên có thể học và áp dụng điều gì đó hữu ích cho bản thân.

 

Khi học xong chương trình thạc sỹ và về nước vào năm 2011, mình vẫn duy trì blog và mời bạn bè cùng viết, cùng chia sẻ. Mãi cho tới tháng 6/2013, mình mới quyết định chuyển sang dùng Facebook vì WordPress tương tác không cao. Và chính khi đó, mình đã được các bạn trên cộng đồng Facebook gợi ý viết một cuốn sách giúp các bạn quyết tâm theo đuổi giấc mơ du học.

 

 

Điều gì đã truyền cảm hứng cho anh viết cuốn sách này?

Theo mình, con người là yếu tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Ví như Nhật Bản, dù nghèo tài nguyên nhưng con người chịu khó và sáng tạo đã giúp Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc trên thế giới. Vậy thì Việt Nam “rừng vàng biển bạc” tại sao lại không thể? Quan điểm của mình cho rằng, các duy nhất để có thể đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu là phải sang các cường quốc năm châu để học hỏi cái hay, cái mới để đem về vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam. Đó là con đường phát triển giáo dục và đầu tư vào con người hiệu quả nhất với một nước đi sau như Việt Nam.

 

Câu chuyện truyền cảm hứng cho mình chính là cuốn sách Khuyến học của Fukuzawa Yukichi, một nhà tư tưởng người Nhật. Cách đây 300 năm khi còn là một nước phong kiến, ông đã khuyến khích thanh niên Nhật sang các nước phương Tây học hỏi và đem kiến thức, thành tựu công nghệ, khoa học kỹ thuật về áp dụng cho Nhật Bản. Chính vì lẽ đó, nước Nhật đã đi lên và trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

 

 

Anh có thể bật mí cho độc giả một chút về nội dung xoay quanh cuốn sách được chứ?

Các bạn có thể tìm hiểu nội dung chi tiết của cuốn sách tại địa chỉhttp://noidung.duhockhongkho.com. Tuy nhiên, xin bật mí với cả bạn là cuốn sách này có nội dung chính là khích lệ, cổ vũ tinh thần đi du học trong các bạn trẻ. Với rất nhiều thông tin, câu chuyện truyền cảm hứng sẽ giúp các bạn trẻ định hình được đam mê và thêm quyết tâm. Ngoài ra, cuốn sách còn có những chia sẻ, hướng dẫn hết sức tỉ mỉ, cặn kẽ giúp các bạn có ước mơ du học biết cách để chuẩn bị cho việc giành được những học bổng để hiện thực hóa giấc mơ du học của mình.

 

 

Theo anh, cuốn sách Du học không khó có nét đặc sắc nào không thể lẫn so với các cuốn sách khác cũng viết về đề tài này?

Ảnh cuốn sách

Sách về đề tài du học hiện nay rất ít, chủ yếu là các diễn đàn (forum) trên mạng mang tính chất chia sẻ chung, tổng hợp kinh nghiệm. Điểm yếu của các diễn đàn là thông tin bị pha loãng, một thread vài trăm trang thì chỉ có vài trang có nội dung hữu ích, khiến việc tiếp cận thông tin bị hạn chế rất nhiều.

Cuốn Du học không khó được tổ chức một cách chặt chẽ và mạch lạc hơn, giúp người đọc dễ hình dung và học hỏi. Các chia sẻ được viết rất tỉ mỉ và cặn kẽ kèm theo sự phân tích và ví dụ minh họa để độc giả dễ dàng hình dung ra các yêu cầu khi du học.

Ngoài ra, cuốn sách với vai trò truyền cảm hứng sẽ giới thiệu những tấm gương người thật việc thật. Họ là những người thực sự nỗ lực trong hành trình theo đuổi giấc mơ du học để câu chuyện của họ sẽ trở nên gần gũi hơn với các bạn du học sinh tương lai.

Cuối cùng là những trải nghiệm du học, những chia sẻ của riêng mình với tư cách là một du học sinh tâm huyết với việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm với các bạn trẻ có ước mơ du học.

Du học là một con đường đầy chông gai và có rất nhiều rào cản như tài chính, ngôn ngữ, văn hóa, học thuật… Anh có lời khuyên nào cho các bạn du học sinh tương lai?

Đúng là con đường đi tới ước mơ du học có rất nhiều rào cản, nhưng như thông điệp của cuốn sách, du học sẽ không khó nếu bạn có quyết tâm, ý chí, nỗ lực để thực hiện ước mơ của mình. Không có cái gì dễ dàng cả. Một sự chuẩn bị chu đáo với một kế hoạch chi tiết và tỉ mỉ sẽ giúp các bạn lường trước được những khó khăn để dễ dàng vượt qua. Lời khuyên của những người đi trước là hết sức hữu ích. Mình hy vọng rằng cuốn sách của mình sẽ giúp các bạn vượt qua được những khó khăn và rào cản một cách dễ dàng để các bạn có thể thấy rằng, du học không hề khó như các bạn hay nghĩ.

Nhiều người rất băn khoăn ở bước chọn ngành học. Theo anh việc chọn ngành học cần lưu ý những gì?

Việc chọn ngành học là một bước trên con đường sự nghiệp sau này. Điều này được quyết định rất lớn bởi đam mê. Cuốn sách Du học không khó có hẳn một phần viết về đam mê: Tìm kiếm, xác định, theo đuổi đam mê. Nhiều bạn thắc mắc, học một ngành, nộp hồ sơ du học một ngành khác có được không? Câu trả lời là hoàn toàn được miễn là bạn chứng minh được đam mê của mình với ngành mà bạn dự định nộp hồ sơ du học. Theo mình, việc xác định đam mê là rất quan trọng và cần thiết, bởi chỉ có đam mê mới có thể giúp bạn có một kế hoạch du học thành công.

Anh có thể chia sẻ suy nghĩ của bản thân về việc ở hay về của du học sinh?

Đi du học và ở lại làm việc không phải là việc xấu. Ai cũng muốn vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn, thu nhập cao hơn. Nhưng mình cho rằng du học sinh nên cư xử đàng hoàng và sòng phẳng. Tức là, nếu khi xin học bổng và có ký cam kết học xong quay về thì bạn phải quay về, không thể viện lý do này nọ để tìm cách thoái thác cam kết trước đây.

Là một cựu du học sinh, mình cho rằng đóng góp được cho đất nước, không nhất thiết là cứ phải về đất nước. Nếu ở Việt Nam không có điều kiện để bạn phát huy những gì mình đã được học khi đi du học, thì bạn có thể ở lại nước ngoài để phát huy tài năng và làm rạng danh đất nước. Nhưng nếu về Việt Nam, thì những việc bạn làm sẽ có tác động trực tiếp hơn tới sự phát triển của quốc gia. Nếu không thu hút được du học sinh quay về, Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng “chảy máu chất xám”. Do đó làm thế nào để thu hút tri thức du học sinh là một vấn đề chính sách đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước.

Điều gì làm anh tâm đắc nhất và muốn gửi gắm đến người đọc nhất qua cuốn sách Du học không khó?

Là một chuyên gia tư vấn phát triển, mình có một trăn trở làm thế nào để tìm con đường cho đất nước thay đổi đi lên một cách bền vững. Mình tin rằng, chỉ có đầu tư vào giáo dục, đầu tư vào con người thì tương lai Việt Nam mới sáng lạn. Mình hy vọng rằng, cuốn sách đầu tiên trong series sách về chủ đề du học mà mình đang viết này sẽ truyền cảm hứng và tạo dựng nên một phong trào du học trong các bạn trẻ để có ngày càng nhiều hơn các bạn trẻ Việt Nam xách ba lô lên đường tới các nước tiên tiến học tập, trau dồi tri thức để khi quay trở về tạo nên sức mạnh tổng hợp của tri thức, kỹ năng, trình độ và tư duy hiện đại, xây dựng một đất nước Việt Nam to đẹp hơn, giàu mạnh hơn.

Anh có thể chia sẻ một chút về những tác phẩm sắp ra đời trong series sách về du học của mình?

Cuốn sách Du học không khó không phải là cuốn sách du học đầu tiên mình viết, nhưng lại là cuốn đầu tiên mình xuất bản. Cuốn sách đầu tiên mình viết là về những chia sẻ xung quanh cuộc sống của du học sinh ở bên Mỹ. Sắp tới, sẽ là một cuốn sách mang tên “Săn học bổng” với các bài phỏng vấn, chia sẻ của các chuyên gia, các bạn đã được nhận học bổng danh giá để giúp các bạn có ước mơ du học nhưng không biết bắt đầu từ đâu để dành được một suất học bổng.

Cảm ơn anh Thịnh về cuộc trò chuyện, chúc anh thành công trong sự nghiệp và cuộc sống.

P/S: Mọi người có thể đặt mua sách “Du học không khó” tại đại chỉ:https://www.vinabook.com/du-hoc-khong-kho-p59339.html

 

Các bạn cũng có thể đọc các bài viết khác của anh Thịnh tại www.tranngocthinh.com hoặc giao lưu trực tiếp với tác giả trên Fan Page Trần Ngọc Thịnh

error: Content is protected !!