Một đề xuất với chương trình học bổng Fulbright Việt Nam

Trước Tết, khi vào Sài Gòn ra mắt sách “Du học không khó”, mình có gặp chị Nguyễn Thị Hạnh – trợ lý chương trình học bổng Fulbright và mấy chị em có đi cà phê. Nhân dịp lâu lắm mới được gặp chị, mình có trao đổi với chị về một đề xuất với chương trình học bổng Fulbright. Nay xin chia sẻ ở đây để mọi người góp ý và cho ý kiến.

 

Đề xuất đó cụ thể là: Hiện nay học bổng Fulbright khi tuyển sinh, vẫn cho phép thí sinh nộp hồ sơ với điểm IELTS tối thiểu là 6.5 nhưng nếu thí sinh đó khi qua vòng Phỏng vấn trở thành người được nhận học bổng thì Fulbright lại yêu cầu thí sinh đó phải thi lấy điểm TOEFL iBT để IIE lo việc sắp xếp trường.

 

Đây sẽ không là vấn đề gì phải bàn, nếu như trước đây các trường ở Mỹ chỉ chấp nhận TOEFL chứ không nhận IETLS. Nhưng tới tháng 2/2013 đã có tới hơn 3000 cơ sở giáo dục (ĐH, Cao Đẳng….vv) đã chấp nhận điểm IETLS. Chi tiết xem tại http://www.ielts.org/pdf/IELTS_USA_Recognition_Feb_2013.pdf

 

Như vậy, việc yêu cầu những bạn được học bổng Fulbright (finalists) phải thi lại để lấy điểm TOEFL iBT là một việc có lẽ không cần thiết, vừa tốn kém ngân sách của Fulbright (Fulbright trả tiền thi TOEFL iBT cho thí sinh) mà lại gây ra sức ép rất lớn cho các bạn finalist, bởi thời gian ôn thi sau khi phỏng vấn rất ít ( khoảng 1 tháng), trong khi đó lại phải ôn cả GRE hoặc GMAT nữa. Thêm nữa, nếu ai đã từng học cả IELTS và TOEFL iBT thì đều thấy rằng các 2 bài thi tuy đều thi kỹ năng tiếng Anh nhưng mà cách thức làm bài thi hoàn toàn khác nhau. Một người thi điểm IETLS cao, chưa chắc đã đạt điểm cao khi thi TOEFL iBT.

 

Do vậy, xin đề xuất với chương trình học bổng Fulbright như sau:

 

1. Vẫn tiếp tục nhận nhận điểm IELTS khi tuyển sinh

 

2. Không bắt buộc finalist phải thi lại để lấy điểm TOEFL nếu trường nộp xin admission chấp nhận IELTS.

 

3. Nếu trường không chấp nhận điểm IELTS thì yêu cầu thi TOEFL iBT như bình thường.

 

 

 

Người đề xuất

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter 09-11

Public Administration

1001 lý do bạn nên apply học bổng Fulbright ngay

1.    Đây chính là thời điểm. Chương trình Học bổng Fulbright cho sinh viên Việt Nam cho năm học 2018 – 2020 đã chính thức lên sóng và sẵn sàng nhận ứng viên.

2.    Fulbright là học bổng danh giá mà chỉ cần có “mác” Fulbrighter trong CV thôi thì cũng đủ oách trước mặt nhà tuyển dụng sau này rồi (trừ khi bạn có thiên hướng khởi nghiệp hoặc trở thành freelancer).

3.     Trong tình hình mà người người đi du học, nhà nhà đi du học và đều trở về với một tấm bằng Thạc sĩ của nước ngoài, thì đi Mỹ học Thạc sĩ miễn phí chẳng phải là một con đường không quá tồi?

4.     Từ 1992 trở lại đây, đã có hơn 500 sinh viên Việt Nam đi Mỹ học với chương trình này, và trở thành thành viên của mạng lưới cựu Fulbrighter có thể sẽ giúp ích bạn sau này.

5.     Có từ 20 đến 25 học bổng toàn phần được cấp mỗi năm, tức là chuyến đi này sẽ không “đơn độc” lắm đâu. Bi, đừng sợ!

6.     Đây là một chương trình học bổng toàn phần, tức là trong quãng thời gian đi học bạn không phải đi làm thêm, chẳng phải xin tiền gia đình mà vẫn được vào học ở một trường nào đó siêu đắt đỏ ở Mỹ (với học phí 0 đồng – không thể oách hơn). Bạn thậm chí còn không phải băn khoăn cho vé máy bay đến và rời Mỹ. Dĩ nhiên là bảo hiểm sức khỏe cũng đã được bao gồm.

7.     Điều kiện ứng tuyển chỉ có một vài dòng thôi, và mới đọc qua thì có vẻ cũng chẳng ghê gớm lắm. Này nhé: công dân Việt Nam, đã tốt nghiệp Đại học (thậm chí còn không ghi rõ yêu cầuxếp loại tốt nghiệp), đã có kinh nghiệm đi làm trong ít nhất hai năm ở thời điểm nộp đơn, và có TOEFL iBT 79 hoặc IELTS 6.5.

8.     Các ngành học đã được gạch đầu dòng rõ ràng (đa số là các ngành trong lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn), cụ thể:

  • Văn chương Mỹ (American Literature)
  • Giáo dục (Education)
  • Quản lý dự án/chương trình (Project/Program Management)
  • Hoa Kỳ học (American Studies)
  • Môi trường học (Environmental Studies)
  • Tâm lý học (Psychology)
  • Kinh tế nông nghiệp (Agricultural Economics)
  • Quản lý công nghệ thông tin/ Hệ thống thông tin (Management of IT/Information system)
  • Hành chính công (Public Administration)
  • Nhân loại học (Anthropology)
  • Báo chí (Journalism)
  • Chính sách công (Public Policy)
  • Kiến trúc (Arrchitecture)
  • Ngôn ngữ/văn chương (ngoài Mỹ) (Language/Literature (non-U.S)
  • Y tế công (Public Health)
  • Nghệ thuật/Điện ảnh học (Art/Film Studies)
  • Luật (Law)
  • Social Work (Công tác Xã hội)
  • Thương mại (mọi lĩnh vực) (Business (all fields)
  • Library Science (Khoa học về Thư viện)
  • Xã hội học (Sociology)
  • Truyền thông (Communications)
  • Đào tạo Ngôn ngữ (Linguistics/Language Teaching)
  • Đô thị/ Quy hoạch (Urban/Community Planning)
  • Phát triển học (Development Studies)
  • Triết học (Philosophy)
  • Phụ nữ/giới tính học (Women/Gender Studies)
  • Kinh tế học (Economics)
  • Khoa học chính trị (Political Science)

 

Nếu bạn vẫn còn mơ hồ về từng lĩnh vực kể trên thì vẫn có thể đọc kỹ hơn tại Blog này. Và hãy liên hệ với văn phòng Fulbright nếu ngành bạn muốn học vắng mặt trong danh sách ưu tiên.

 

9. Bạn thậm chí còn chẳng tốn tiền phí bưu điện để nộp hồ sơ. Mọi ứng viên đều phải ĐĂNG KÝ TRỰC TUYẾN ở đây. Và một “gói” hồ sơ ứng tuyển đầy đủ sẽ phải có:

  • Đơn đăng ký
  • Hai bài luận (mục đích học tập và bài tự luận cá nhân)
  • Ba lá thư tiến cử
  • Bảng điểm và bằng cấp
  • TOEFL iBT và/hoặc là điểm IELTS
  • CV (sơ yếu lí lịch)

 

10. Bởi vì Fulbright không giới hạn độ tuổi như một số chương trình học bổng khác. Và họ công bố (lý thuyết nhé) rằng các ứng viên sẽ được đánh giá dựa trên trình độ và tay nghề làm việc chứ không qua chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, xuất xứ, “đẳng cấp” Xã hội hay kể cả… định hướng giới tính của bạn. Tóm lại là họ không có chuyện bạn bị loại chỉ vì… quá đẹp trai!

 

11. Fulbright không hề giấu diếm công thức làm nên một ứng viên thành công. Trong thông báo chính thức của chương trình, họ ghi rõ rằng bạn chỉ cần rành mạch về định hướng tương lai, chi tiết về mục tiêu học tập và nhất là thể hiện được sự liên kết giữa hai điều trên. Tiềm năng lãnh đạo, nguyện vọng đóng góp những ảnh hưởng tích cực khi về nước, tỏ ra hào hứng với các hoạt động giáo dục và văn hóa Mỹ – Việt và sẵn sàng làm “đại sứ văn hóa Việt” trong quá trình du học sẽ giúp bạn thu phục được thiện cảm của người chấm tuyển. À, tất nhiên là bảng điểm cũng đừng bôi bác quá và phải thạo tiếng Anh nữa nhé!

 

12. Quan trọng nè – bạn có đến 4 tháng để chuẩn bị hồ sơ.

 

13. Hướng dẫn hồ sơ ứng tuyển đều nằm cả trong Fulbright Booklet. Hoặc nếu có lười biếng không muốn đọc hướng dẫn thì bạn vẫn có một lời chúc may mắn từ Hotcourses! Mạnh dạn ứng tuyển nhé! (Vì đằng nào thì bạn cũng không tốn tiền gửi hồ sơ mà!)

Fulbrighter chia sẻ kinh nghiệm săn học bổng chính phủ Mỹ

Mặc dù đã gần 8 năm kể từ khi được nhận học bổng danh giá Fulbright cho bậc thạc sĩ ngành PR tại trường đại học Ball State – Indiana, Mỹ trong niềm vinh dự và hạnh phúc lớn nhưng những trải nghiệm quý giá ở thế giới có nền giáo dục hàng đầu này đã giúp cô gái xứ Huế Nguyễn Thúy Hạnh trở thành một con người khác với một tinh thần và suy nghĩ hoàn toàn khác.  Đó là một tinh thần dám đương đầu với thử thách, dám tư duy vượt giới hạn (out of the box), là trân trọng sự khác biệt…

Nhân dịp học bổng Fulbright của chính phủ Hoa Kỳ đang tiếp nhận hồ sơ cho bậc thạc sĩ năm học 2017-2018 , sinhvienusa đã có dịp trò chuyện cùng Thúy Hạnh về những kinh nghiệm mà chị đã thành công với Fulbright ngay lần đầu tiên. 

Mặc dù cũng rất lâu kể từ lúc chị nhận được học bổng Fulbright ( 2008) nhưng chị có thể chia sẻ những trải nghiệm khó có được lần hai trong đời này?

Thúy Hạnh: Rất vui khi được có cơ hội chia sẻ những kinh nghiệm về việc tìm kiếm học bổng của mình. Fulbright là học bổng vô cùng uy tín, chú trọng vào việc mang đến một chương trình học chất lượng tốt nhất và nhiều trải nghiệm về văn hóa quý giá cho các Fulbrighter. Những gì các Fulrbighter có được không chỉ là kiến thức chuyên môn về ngành họ theo học mà còn là những trải nghiệm văn hóa, vốn sống, và các kỹ năng mềm vô cùng quý báu. Bản thân mình đã ấp ủ “Giấc mơ Mỹ” từ khi còn ngồi trên giảng đường Đại Học nên sau khi đã “gom” đủ 2 năm kinh nghiệm, mình hào hứng nộp hồ sơ ngay.

Những giai đoạn quan trọng của học bổng Fulbright là Vòng nộp hồ sơ, Vòng phỏng vấn, Vòng thi các chứng chỉ (TOEFL, GRE, GMAT), Vòng chọn trường, và Chuẩn bị lên đường. Ở vòng nộp hồ sơ và phỏng vấn, hãy xem đây là cơ hội để bạn thể hiện bản thân. Hãy tự tin và hãy là chính mình –hãy viết những ước mơ, hoài bão, và những câu chuyện của riêng mình. Đừng viết những gì mà bạn nghĩ người khác sẽ muốn đọc.

Học bổng Fulbright mất hơn 1 năm từ vòng nộp hồ sơ đến giai đoạn lên đường, tuy mất rất nhiều thời gian nhưng phần nào cũng nói lên được sự kỹ lưỡng, chăm chút và chất lượng của học bổng.

 Thời gian ấy, tại sao chị lại quyết định chọn con đường du học Mỹ? 

Lý do mình chọn học bổng ở Mỹ xuất phát từ cả lý do chủ quan và khách quan. Về mặt khách quan, ngành học của mình là Truyền thông (PR) và sau khi tìm hiểu, mình vô cùng hào hứng khi biết ngành PR có nguồn gốc từ Mỹ và được ứng dụng ở Mỹ rất nhiều. Về lý do chủ quan, mình được học về nền văn hóa Mỹ khi còn học đại học, nên cảm thấy khá gần gũi và tự tin sẽ hòa nhập dễ dàng.

Kiến thức hệ thống bài bản về chuyên ngành giúp tôi rất nhiều trong công việc. Tuy nhiên, tôi muốn nói đến một khía cạnh khác. Tôi cám ơn học bổng Fubright rất nhiều ở những kỹ năng mềm, những trải nghiệm về cuộc sống mà nếu không học ở Mỹ, tôi sẽ không bao giờ có được. Hai năm ở Mỹ, tôi học được những thứ vô cùng quý giá, đó là tinh thần đường đầu với thách thức, là suy nghĩ out of the box, là trân trọng sự khác biệt, là sự linh động bởi tôi thấm nhuần được thế giới này phát triển được là nhờ vào một tập hợp những con người khác nhau với những suy nghĩ khác nhau.

Nhiều bạn trẻ cho rằng Fulbright là học bổng rất khó để đạt được, liệu Fulbright chỉ dành những người thực sự giỏi như có thành tích học tập tốt, IELTS/ TOEFL cao, đạt nhiều giải thưởng hay công trình nghiên cứu…?

Thúy Hạnh: Bạn nói đúng ở yếu tố cạnh tranh cao của học bổng Fulbright. Học bổng Fulbright khó bởi sự cạnh tranh công bằng giữa các ứng cử viên. Nếu các học bổng khác dành ưu tiên cho một số khối nhất định (ví dụ khối nhà nước, khối NGO,…), thì học bổng Fulbright mỗi năm dành 20 suất học bổng cho tất cả các khối, các ngành và bất kỳ ứng viên Việt Nam nào. Điều đó có nghĩa, hầu như ngành nào cũng đều có cơ hội tiếp cận học bổng Fulbright, nhưng cũng đồng nghĩa với việc bạn cạnh tranh đồng đều với tất cả những người nộp đơn, ở bất kỳ ngành nào. Ví dụ năm nay trước có đến 4 người theo học ngành Giảng dạy tiếng Anh (TESOL), nhưng năm nay có thể chỉ có một người được nhận học bổng TESOL.

Áp lực và những chờ đợi trong suốt quá trình xin học bổng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, khi tìm hiểu về học bổng Fulbright, tôi quyết tâm theo đuổi đến cùng. Có nhiều bạn nộp học bổng Fulbright đến lần thứ 5 mới nhận được. Tôi may mắn hơn vì được nhận ngay trong lần đầu. Nhưng nếu không, tôi nghĩ mình vẫn sẽ kiên trì đến khi nhận được mới thôi.

Vòng phỏng vấn là vòng quyết định bạn được nhận học bổng hay không. Chị có thể chia sẻ về những áp lực chị đã trải qua trong giai đoạn này? 

Thúy Hạnh: Bạn đừng nên tự tạo nhiều áp lực cho bản thân ở vòng phỏng vấn – mà hãy xem nó là cơ hội để trò chuyện, chia sẻ về những câu chuyện cá nhân, về ước mơ của mình và tại sao mình là người xứng đáng được nhận học bổng. Hầu như các câu hỏi sẽ xoanh quanh những thông tin bạn đã viết từ 2 bài luận hay CV của bạn. Bạn hãy chuẩn bị thật nhiều ví dụ cụ thể bởi Hội đồng xét tuyển sẽ muốn nghe những câu chuyện có thật, những ví dụ cụ thể chứ không phải là những lời lời nhận định chung chung, không thuyết phục. Nếu bạn nói bạn là một con người muốn xây dựng một cộng đồng tốt đẹp, hãy kể về những dự án bạn đã tham gia, hay những vùng đất bạn muốn đến để giúp đỡ những người dân ở đó, và vì sao?

Với những câu hỏi bạn cần thời gian, bạn cứ thẳng thắn nói rằng bạn cần thời gian suy nghĩ. Hội đồng xét tuyển sẽ chỉ đánh giá trên những câu trả lời của bạn chứ không trừ điểm bạn chỉ vì bạn cần thêm thời gian. Nếu bạn bí ở một vài câu hỏi, bạn có thể nói bạn chưa biết, chưa có thông tin, và vì sao. Hãy xem cuộc phỏng vấn chỉ là buổi trò chuyện thân mật với những người muốn biết thêm về bạn.

39182_429926504560_4815903_n

Nguyễn Thúy Hạnh ( Thứ 2 từ trái qua) cùng bạn trong ngày tốt nghiệp tại đại học Ball State – Indiana

Nếu trường hợp không được chọn cho đợt đầu tiên, liệu những lần sau các bạn có cơ hội để đạt được học bổng danh giá này?

Thúy Hạnh: Tôi biết nhiều người theo đuổi học bổng này trong nhiều năm mới đạt được. Thậm chí có người đến lần thứ 5 mới nhận được học bổng. Nếu năm nay bạn chưa may mắn, khi nộp đơn cho sang năm, bạn phải là 1 con người khác. Hãy cập nhật lại CV, hồ sơ, bài luận của mình với các thông tin mới, thành tựu mới, v.v. Nếu bạn đem hồ sơ năm trước của minh nộp lại, chắc chắn bạn sẽ không qua được vòng hồ sơ. Bạn thử nghĩ xem, nếu năm trước bạn không được chấp nhận, và năm nay bạn vẫn là con người đó, liệu hồ sơ của bạn có đủ sức thuyết phục? Một điều quan trọng nữa, hãy mạnh dạn hỏi lý do vì sao bạn không được nhận học bổng và cố gắng để hoàn thiện những điều mình chưa tốt.

Theo chị, trước khi quyết định nộp đơn vào học bổng Fulbright, các bạn cần chuẩn bị những gì? Yếu tố nào giúp ứng viên được chọn hay không?

Thúy Hạnh: Fulbright có nhiều chương trình học bổng và mỗi chương trình có mỗi tiêu chí khác nhau. Tôi xin đề cập đến loại học bổng sau đại học (Thạc sỹ). Có 3 điều bạn cần chuẩn bị khi nộp học bổng Fulbright: Trình độ ngoại ngữ, kinh nghiệm làm việc và tinh thần học hỏi. Về trình độ ngoại ngữ, nếu Tiếng Anh bạn tốt, bạn có lợi thế ở vòng nộp hồ sơ và đặc biệt khi xin vào các trường, bạn sẽ được nhận vào học ở các trường tốt.

Kinh nghiệm làm việc khá quan trọng đối với học bổng thạc sỹ. Các ngành học ở Mỹ thường rất sâu, không học chung chung. Mỗi ngành lại có mỗi chuyên sâu riêng nên nếu bạn có kinh nghiệm làm việc, bạn sẽ biết rõ mình muốn theo đuổi ngành học nào. Ngoài ra, ở các lớp sau đại học, bạn sẽ được thảo luận, trao đổi kinh nghiệm, nhiều hơn việc học lý thuyết. Cho nên việc có kinh nghiệm làm việc sẽ là một lợi thế lớn, giúp bạn học hiệu quả hơn.

Một trong những sứ mệnh quan trọng của học bổng Fulbright là trao đổi văn hóa giữa hai nước. Bạn phải chứng tỏ được mình là một đại sứ giúp hai nước Mỹ và Việt Nam xích gần nhau hơn. Khoan hãy nghĩ nhiều về tính vĩ mô của từ “đại sứ”, đơn giản là sẵn sàng học hỏi những điều tốt đẹp của văn hóa Mỹ, đồng thời giúp những người bạn ở Mỹ hiểu hơn và yêu hơn về một đất nước Việt Nam hòa bình tươi đẹp. Nếu bạn luôn mang trong mình tinh thần học hỏi, hòa nhập cao, bạn sẽ thấy được thời gian học ở Mỹ không chỉ là những ngày bạn đến thư viện, hay lên giảng đường mà đó còn là những chuyến đi khám phá những vùng đất tươi đẹp ở Mỹ, hay tham dự những dịp đặc biệt như lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng sinh cùng những người bạn Mỹ, để hiểu hơn về văn hóa Mỹ, hoặc những buổi trao đổi, giao lưu về văn hóa với người bản xứ về đất nước Việt Nam của mình.

Cảm ơn chị về những chia sẻ thật tâm của mình!

Hạnh Nguyễn Thực Hiện

Tìm hiểu về học Luật tại Mỹ – Master of Law in the USA

LAW – NGÀNH LUẬT

I/ Giới thiệu ngành luật tại Mỹ 

Khác với ở Việt Nam, học luật tại Mỹ là ngành học sau đại học tức là bạn cần có một bằng đại học thuộc bất kỳ ngành học nào trước khi được nhận vào học luật tại các trường ở Mỹ.
Cấp học cơ bản nhất của ngành luật tại Mỹ là Juris Doctor hay JD kéo dài trong 3 năm học. JD là chương trình học dành cho những người muốn hành nghề luật tại Mỹ nên nội dung chương trình học về luật Mỹ. Sau khi tốt nghiệp JD, để hành nghề luật tại Mỹ bạn sẽ thi vào một đoàn luật sư nào đó và có được chứng chỉ hành nghề. (Chỉ có các sinh viên tốt nghiệp JD từ các trường luật được Hiệp Hội Đoàn Luật Sư Mỹ (American Bar Association: http://www.abanet.org/legaled/approvedlawschools/alpha.html) công nhận mới được thi vào đoàn luật sư). Như vậy thời gian học luật ở Mỹ từ sau tốt nghiệp cấp 3 đến khi có thể được phép hành nghề tối thiểu là 7 năm.
Sau khi hoàn thành JD, nếu muốn học chuyên sâu về một lĩnh vực luật nhất định, bạn có thể xin học khóa Master of Law hay LL.M trong 1 năm tương đương với bằng thạc sĩ luật ở Việt Nam. Vì bằng JD đã đủ để hành nghề luật tại Mỹ nên thường sinh viên luật của Mỹ rất ít người theo học tiếp LL.M. Các khóa LL.M của các trường thường được xây dựng cho các sinh viên quốc tế mà sau khi tốt nghiệp sẽ về nước hành nghề nhưng muốn có những kiến thức chuyên sâu nhất định về luật Mỹ và luật quốc tế. Bằng luật ở Việt Nam hay Bachelor of Law được các trường luật tại Mỹ chấp nhận để học chương trình LL.M. Ngoài ra trường hợp bạn không có bằng cử nhân luật nhưng học chuyên ngành luật trong trường đại học và có kinh nghiệm làm việc về lĩnh vực này tại Việt Nam thì nhiều trường ở Mỹ cũng đồng ý cho bạn học LL.M.
Đối với những người muốn học sâu hơn để làm công tác nghiên cứu và giảng dạy thì có các khóa Doctor of Juridical Science hay S.J.D(hoặc J.S.D.). Để được nhận vào học S.J.D bạn cần hoàn thành xong JD và LL.M.
II/ Xếp hạng các trường đại học luật ở Mỹ năm 2008 

Đây là xếp hạng các trường luật tại Mỹ do trang web xếp hạng uy tín Usnews thực hiện
http://www.top-law-schools.com/rankings.html
III/ Hồ sơ xin học và một số gợi ý làm hồ sơ 

1. Tài liệu cơ bản:

Để xin học luật tại các trường đại học của Mỹ ở bất kỳ bậc học nào bạn đều cần các tài liệu sau:

  • Chứng chỉ tiếng Anh: Đa số các trường đại học của Mỹ chỉ chấp nhận chứng chỉ TOEFL nhưng có một số trường chấp nhận chứng chỉ IELTS. Bạn có thể viết thư hoặc liên hệ trước với trường để hỏi về việc chấp nhận chứng chỉ IELTS. Điểm TOEFL tối thiểu cần có để học luật là 600 paper-based hoặc 100 Internet – based. Điểm IELTS tối thiểu cần đạt được là 7.0.
  • Application form: Bạn vào website của trường và download trực tiếp từ các website đó.
  • Resume: Một bản lý lịch bản thân ngắn gọn nêu quá trình học tập và làm việc của bạn.
  • Personal statement/Statement of purpose: Một bài viết dưới dạng tự luận trong đó bạn cần nêu được các thông tin chưa có trong Resume nhưng bạn muốn trường biết để hiểu thêm về bạn. Bạn nên tìm hiểu các yêu cầu và văn hóa của từng trường cũng như các yêu cầu cần có của một sinh viên luật và một luật sư để bài viết của mình thể hiện được rằng bạn đáp ứng được các yêu cầu đó và có thể đóng góp cho trường trong quá trình học tập. Ngoài ra, bạn cũng cần tập trung vào cấu trúc, ngôn ngữ và cách thể hiện của bài viết vì với một sinh viên luật, kỹ năng viết và lập luận là hết sức quan trọng. Bạn có thể tham khảo các hướng dẫn về cách viết Personal Statements tại đây:http://www.top-law-schools.com/statement.htm. Tuy nhiên cũng có một số trường yêu cầu bạn viết tự thuật về bản thân theo một form với các nội dung nhất định do trường đưa ra.
  • Letters of Recommendation: Thư giới thiệu của các giáo sư đã từng dạy bạn tại các trường đại học hoặc những người làm việc gần gũi với bạn tại cơ quan. Bạn sẽ cần tối thiểu 2 thư giới thiệu và các trường đều khuyến khích các thư giới thiệu của các giáo sư đã từng giảng dạy bạn. Trường hợp bạn đã ra trường nhiều năm thì có thể có thư giới thiệu của cơ quan. Khi yêu cầu người viết thư giới thiệu cho mình, bạn cần quan tâm đến hai vấn đề: 1 – Uy tín của người giới thiệu (thày cô giáo hiệu trưởng, hiệu phó, trưởng khoa của bạn hoặc những thày cô đã từng có kinh nghiệm học tập, làm việc hoặc am hiểu về các truờng tại Mỹ, hoặc những người senior trong cơ quan) và 2 – Khả năng những người đó hiểu được bạn, đánh giá đúng bạn và tạo điều kiện cho bạn. Bạn có thể tham khảo các hướng dẫn về letters of recommendation tại đây: http://www.top-law-schools.com/letters-of-recommendation.html.
  • Các tài liệu bổ trợ như: Bảng điểm (transcript) đã được dịch ra tiếng Anh, được công chứng hoặc có dấu của trường đại học của bạn…
  • Financial guarantee: Nếu sau khi được nhận vào học tại trường và không có học bổng toàn phần (bao gồm cả học phí và chi phí ăn ở) để có được giấy nhận học chính thức bạn sẽ cần nộp thêm một bản chứng minh tài chính trong đó thể hiện bạn có đủ khả năng tài chính cho suốt quá trình học của mình.

2. Đối với học JD.

Để xin học JD, bạn cần trải qua kỳ thi LSAT, là kỳ thi bắt buộc đối với các sinh viên muốn học JD tại các trường đại học luật của Mỹ do Law School Admission Council (LSAC: http://www.lsac.org/index.asp) của Mỹ tổ chức. LSAT được xây dựng để đánh giá khả năng đọc hiểu và lập luận của bạn. Các thông tin chi tiết về LSAT và bài thi mẫu các bạn tham khảo tại website chính thức của LSAC:http://www.lsac.org/LSAT/about-the-lsat.asp.
3. Đối với học LLM.

Để xin học LLM, bạn không cần phải thi LSAT nhưng ngoài các tài liệu cơ bản nêu ở phần 3.1, một số trường còn yêu cầu bạn viết các bài luận với các chủ đề nhất định để gửi kèm hồ sơ. Một số trường có thể yêu cầu bạn chuẩn bị một nghiên cứu nhỏ (Research proposal) thể hiện dưới dạng tóm tắt về một vấn đề luật nhất định do bạn tự lựa chọn.
4. Đối với học SJD

Để xin học SJD, bạn cần có bằng JD của Mỹ (hoặc bằng Luật tương đương ở nước ngoài) và bằng LLM (với kết quả học tập tốt nhất có thể) từ các trường Luật đã được công nhận tại Mỹ. Một số trường như Harvard, Yale, Stanford, Cornell … về căn bản chỉ xét duyệt hồ sơ của các ứng viên tốt nghiệp LLM từ chính trường của họ. Một số trường khác (University of Pennsylvania) chấp nhận xét duyệt hồ sơ của các ứng cử viên tốt nghiệp LLM từ các trường khác, với điều kiện các trường ấy phải là những trường luật hàng đầu tại Mỹ. Nên chú ý rằng chương trình SJD chỉ có ở một số trường luật hàng đầu và không phải trường luật hàng đầu nào cũng tuyển sinh viên SJD (Georgetown, Northwestern, Virginia, Texas Austin, Boston… đều là những trường luật có tiếng nhưng không có chương trình SJD). Trong số ít những trường có SJD, một số chỉ tuyển ứng viên cho vài lĩnh vực nghiên cứu cụ thể.
Một trong những nội dung quan trọng nhất của hồ sơ dự tuyển là bản đề cương luận án (Dissertation Proposal) dài khoảng từ 5,000 đến 10,000 từ tùy theo quy định của từng trường. Về cơ bản, đề cương này phải giới thiệu được vấn đề bạn sẽ nghiên cứu trong quá trình học SJD, các luận điểm chính trong nghiên cứu của bạn, phương pháp nghiên cứu, dự đoán các khó khăn sẽ gặp phải trong quá trình nghiên cứu, tổng kết và đánh giá toàn bộ các công trình nghiên cứu và xuất bản khác từng viết về đề tài liên quan và nêu bật nghiên cứu của bạn sẽ khác với các công trình ấy như thế nào; quan trọng nhất là bạn chỉ ra được kết quả của luận án của bạn sẽ là những đóng góp độc đáo (original contribution) đối với lĩnh vực cụ thể mà bạn đang nghiên cứu. Một số trường đòi hỏi bạn phải nộp cả một bản thảo của một chương nhất định trong nghiên cứu của bạn. Các chương trình SJD thông thường chỉ nhận từ 1-2 ứng cứ viên mỗi năm, vì vậy hãy chứng tỏ tính độc đáo trong nghiên cứu của bạn và chỉ rõ những đóng góp của bạn qua công trình nghiên cứu của mình.
Một số trường yêu cầu bạn nộp một bài viết mẫu (writing sample) mà bạn thấy ưng ý. Đa số các trường đều yêu cầu bạn phải tự liên hệ với giáo sư của trường và nhận được sự chấp thuận của giáo sư sẽ hướng dẫn bạn trong thời gian bạn theo học chương trình SJD trước khi nộp đơn để trường xem xét.
IV/ Cách thức nộp hồ sơ 

1. Đối với học JD.

Khi bạn nộp hồ sơ xin học JD hầu hết các trường đều yêu cầu bạn nộp hồ sơ qua Law School Data Assembly Service (LSDAS:http://www.lsac.org/Applying/lsdas-general-information.asp) của LSAC. LSDAS sẽ nhận toàn bộ hồ sơ của bạn, tập hợp, xử lý thông tin và gửi các thông tin cần thiết về trường mà bạn xin học.
2. Đối với học LL.M và S.J.D

Các sinh viên xin học hai khóa học này sẽ nộp trực tiếp hồ sơ cho trường theo hình thức gửi qua bưu điện hoặc gửi bằng hệ thống online tùy từng trường.
V/ Nội dung chương trình học 

1. Chương trình JD

Chương trình học JD kéo dài trong 3 năm full-time hoặc 4 năm part-time. Trong năm đầu tiên, sinh viên sẽ học các lớp về các kỹ năng nghiên cứu, viết và lập luận cũng như các môn luật bắt buộc về các ngành luật cơ bản nhất của hệ thống luật Mỹ như dân sự, hình sự, hiến pháp, hợp đồng, tài sản và quyền sở hữu và bồi thường trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trong các năm thứ 2 và thứ 3 sinh viên có thể lựa chọn những môn học về các ngành luật khác nhau mà mình quan tâm.
Trong các năm thứ 2 và thứ 3, sinh viên sẽ có cơ hội để tham gia thực hành các kiến thức của mình thông qua các hoạt động như diễn án, soạn thảo luật, tham gia vào các phiên tòa v.v…
Sự khác biệt lớn trong việc dạy và học luật ở Mỹ và ở Việt Nam thể hiện ở hai điểm:

  • Phương pháp học Case-method: Thay vì học các văn bản luật thành văn như ở Việt Nam, các sinh viên trong các trường của Mỹ sẽ tìm hiểu các quy tắc của luật thông qua rất nhiều các vụ việc và phán quyết đã có của tòa án với mục đích giúp cho sinh viên hiểu được sâu sắc cách thức áp dụng các quy tắc này trong các vụ việc khác nhau và từ đó có thể biết được cách xử lý với các trường hợp khác sẽ gặp trong thực tế. Cách học này đòi hỏi ở sinh viên nỗ lực tự học và tự nghiên cứu và các giờ học thường là các buổi thảo luận rất thú vị trong đó các giáo sư thường chỉ đóng vai trò là người điều khiển và khuyến khích sự tranh luận của sinh viên.
  • Yêu cầu rất cao về khả năng tư duy: Khả năng tư duy logic được đặt lên hàng đầu trong việc đánh giá sinh viên tại các trường luật của Mỹ. Mục đích cuối cùng của việc dạy và học luật không phải là nhớ và thuộc các điều luật mà nhằm dạy cách “tư duy như một luật sư” (thinking like a lawyer) với yêu cầu cao về khả năng phân tích và lập luận của sinh viên.

2. Chương trình LLM

Chương trình LL.M kéo dài trong một năm với hai kỳ. Tùy trường, nội dung chương trình có thể có những môn bắt buộc như lớp dạy kỹ năng luật sư (legal writing & legal research), lớp giới thiệu hệ thống luật pháp của Mỹ, v.v. Ngoài ra có những chương trình thạc sỹ chuyên sâu về một ngành thường yêu cầu học một số lớp trong lĩnh vực chuyên môn hay những lĩnh vực liên quan. Mỗi trường có yêu cầu khác nhau về số tín chỉ (credit hours) cần thiết để tốt nghiệp, thường 20-30 tín chỉ (mỗi môn tương đương từ 3-5 tín chỉ).
Một số trường cũng yêu cầu sinh viên viết luận văn tốt nghiệp.
3. Chương trình SJD

Chương trình SJD thường không quy định quá chặt chẽ về thời gian tốt nghiệp, điều này phụ thuộc vào tiến độ học tập và nghiên cứu của bạn, mặc dù đa số các trường đều yêu cầu bạn hoàn thành luận án trước năm năm. Một số ít trường xem ba năm là con số chuẩn và khuyến khích (nhưng không bắt buộc). Thông thường, năm đầu tiên sẽ là thời gian dành cho việc lên lớp (coursework). Năm thứ hai là thời gian bạn bắt đầu nghiên cứu và tham gia vào các hội thảo để bắt đầu giới thiệu nghiên cứu của mình. Năm thứ ba thường là thời gian hoàn thành bản thảo luận án, và nếu được thông qua, bảo vệ luận án trước Hội đồng luận án SJD. Một số trường yêu cầu bạn phải trải qua một kỳ thi sau khi kết thúc năm đầu tiên để chính thức xem xét chấp thuận bạn là một nghiên cứu sinh và cho phép bạn tiến hành nghiên cứu luận án. Một số khác không có quy định này, nhưng yêu cầu bạn phải nộp các bài viết nghiên cứu và báo cáo cụ thể ở mỗi giai đoạn để trường xét duyệt và thông qua.
VI/ Học phí và các nguồn hỗ trợ tài chính 

Học phí của một năm học từ 35.000$ – 50.000$.
Việc xin được học bổng toàn phần để học luật ở Mỹ là tương đối khó so với các ngành khác đặc biệt là bậc học J.D. Để trang trải cho việc học tập và sinh hoạt trong quá trình học bạn có thể có các nguồn tài chính sau:

  • Tự túc: bố mẹ, gia đình, bản thân, vay ngân hàng…
  • Trường luật: Các trường luật ở Mỹ thường có các quỹ hỗ trợ tài chính cho sinh viên hoặc trao các học bổng (một phần hoặc đôi khi toàn phần) cho sinh viên dựa trên thành tích học tập và nhu cầu tài chính của từng sinh viên. Các trường cũng có chương trình Teaching Assistantship hoặc Research Assistantship cho sinh viên theo đó sinh viên quốc tế được nhận vào các chương trình này sẽ được đóng học phí như sinh viên Mỹ (tức là tiền học phí sẽ giảm đi một nửa) và nhận một khoản tiền làm việc theo giờ nhất định). Ngoài ra, các trường đều có chính sách cho sinh viên vay tiền để học. Bạn nên nghiên cứu các thông tin về hỗ trợ tài chính trên các website của trường.
  • Một số học bổng LLM của các trường:
  • Freeman Foundation (UHawaii):

http://www.hawaii.edu/law/fileadmin/page_file_mounts/llm_international/Freeman_Foundation-flyer.pdf

  • American University’s Washington College of Law (WCL):

http://www.wcl.american.edu/ilsp/llm_scholarships.cfm

VII/ Một số lời khuyên cho bạn khi xin học luật tại Mỹ 

  • Bạn nên tìm cách liên hệ trước với các giáo sư trong các trường đại học luật để có được sự hỗ trợ từ các giáo sư trong quá trình nộp hồ sơ xin học vì hầu hết các giáo sư luật này đều là những người trong các ban tuyển sinh của trường. Để có được các contacts với các giáo sư bạn có thể thông qua các cách thức sau: Tham gia các hội thảo của khoa hay của trường có các giáo sư nước ngoài tham dự, tham gia các công việc hoặc hoạt động trong lĩnh vực luật có các giáo sư hoặc luật sư nước ngoài có thể giới thiệu các contacts cho bạn, tham khảo từ thày cô, bạn bè đã từng học luật ở Mỹ hoặc thậm chí có thể viết thư trực tiếp đến các địa chỉ email của các giáo sư để trên website của trường.
  • Bạn nên có các liên hệ với những người có uy tín đã từng học trong các trường luật của Mỹ hoặc tốt hơn là những người từng học tại trường mà bạn đang xin học (alumni của trường) vì như vậy bạn có thể có cơ hội xin được thư giới thiệu uy tín cũng như các hỗ trợ về mặt kinh nghiệm xin học cũng như học tập tại trường.

Tìm hiểu về Master of Public Affairs

Khi mọi người hỏi tôi học ngành gì, tôi trả lời là tôi học “Public Affairs”. Có rất nhiều người không hiểu học Public Affairs là học cái gì và sau này làm gì? Bài viết này nhằm giải đáp câu hỏi trên. Mục đích của bài viết để tránh mọi người hiểu lầm là học “Public Affairs” là về làm nhà nước, làm công tác tiếp dân. Đồng thời, bài viết cũng cung cấp thông tin cho các bạn dự định đăng ký học Master in Public Affairs có một cái hiểu đầy đủ về ngành học để có thể lựa chọn phân ngành dựa vào năng lực, kinh nghiệm và sở thích của mình.
Master in Public Affairs được chia thành 3 phân ngành chính:

  • Public Administration/Management
  • Public Policy
  • Nonprofit Management

Ở một số trường đại học của Mỹ, ba phân ngành này được phân tách khá rõ. Một số trường thì chuyên đào tạo về 1 trong 3 phân ngành. Một số trường khác thì đạo tạo cả ba phân ngành, sinh viên sẽ được lựa chọn phân ngành mà họ muốn. Như vậy, khi đăng ký vào một trường nào đó, điều quan trọng là bạn phải nghiên cứu chương trình giảng dạy của trường để xem các môn học có thực sự là những cái bạn muốn học không. Vì cùng ngành học Public Policy, có trường dạy môn này, có trường dạy môn khác. Do đó, đừng có nhìn vào cái tên mà lựa chọn vội vàng, tránh tình trạng “treo đầu dê, bán thịt chó”.

Vậy đâu là sự khác biệt của 3 phân ngành trên:

  • Public Administration/Management: được dịch ra là “Quản trị công hay Quản lý công”. Ngành học này sẽ đào tạo ra những người làm công tác quản lý tại các cơ quan của nhà nước. Làm quản lý là làm cái gì? Tức là làm quản lý về nhân sự, về tài chính, về kế hoạch của một cơ quan nhà nước. Làm quản lý xét ở khía cạnh nào đó thì là làm sếp, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn sẽ là lãnh đạo, vì để trở thành lãnh đạo, bạn cần phải có một số yếu tố khác nữa. Chính vì lẽ đó mà ở một số trường dạy Public Administration có dạy một môn gọi là Leadership. Các môn học bắt buộc với ngành Public Administration là quản trị nhân sự, quản lý tài chính, quản lý dự án. Như vậy, thì nếu MBA đào tạo nhà quản lý ở các doanh nghiệp, thì MPA đào tạo nhà quản lý ở các cơ quan của chính phủ.

 

  • Public Policy: được dịch ra là “Chính sách công”. Ngành này đào tạo ra những cán bộ làm chính sách. Bao gồm thiết kế chính sách, phân tích chính sách và đánh giá chính sách. Công việc thiết kế chính sách là công việc của lập pháp, giống như hoạt động của Quốc hội. Họ sử dụng các công cụ nghiên cứu để thiết kế một chính sách cụ thể nào đó. Còn công việc phân tích chính sách là công việc sử dụng các công cụ nghiên cứu để phân tích xem chính sách đó sẽ có tác động đến xã hội như thế nào? Cần bao nhiêu kinh phí? Bao nhiêu năm để thực hiện? Còn đánh giá chính sách, là một công việc sử dụng công cụ phân tích như thống kê, xác suất để đánh giá hiệu quả của một dự án, tác động của nó đối với xã hội về mặt kinh tế, văn hóa, chính trị….vv Như bạn có thể thấy, ngành Public Policy sử dụng rất nhiều các công cụ phân tích, do đó các môn học bắt buộc của phân ngành này là kinh tế vi mô, vĩ mô, xác suất, thống kê, các công cụ đánh giá khác.

 

  • Nonprofit Management: được dịch ra là “Quản lý Phi chính phủ”. Ngành học này sẽ đào tạo ra những người làm công tác quản lý tại các tổ chức phi chính phủ. Để hiểu tổ chức phi chính phủ là tổ chức như thế nào? hoạt động ở những lĩnh vực gì? nguồn vốn ở đâu? vv…xin các bạn đọc bài viết của mình ở địa chỉ http://tranngocthinh.wordpress.com/2009/07/17/pcp-ngo-august-30-2007/.<span> </span>

Ở các nước phát triển, thì tổ chức phi chính phủ rất phổ biến, còn ở Việt Nam thì tổ chức phi chính phủ còn bị hạn chế do xã hội dân sự ở Việt Nam mới bắt đầu manh nha. Các tổ chức phi chính phủ là một loại hình tổ chức có những đặc điểm riêng biệt, do đó khâu quản lý cũng có những đặc thù riêng. Tuy là ngành mới có, nhưng đang phát triển mạnh mẽ với nhiều lợi thế cạnh tranh. Xem thêm ở bài viết trên.

Hiện nay, ba trụ cột chính trong xã hội hiện đại là Chính Phủ – Doanh Nghiệp – Xã Hội Dân Sự, do đó ngành học Public Affairs có tính áp dụng rất cao ở cả ba trụ cột này. Thêm vào đó, ba trụ cột này có mối quan hệ, gắn chặt với nhau nên tính tương tác rất lớn. Vì vậy học Public Affairs, bạn có thể làm việc được ở Nhà nước, doanh nghiệp hay ở Phi chính phủ. Điều này hoàn toàn vào năng lực và sự thích nghi môi trường của bạn. Điều đó để thấy rằng ngành Public Affairs có sự linh hoạt rất cao, hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân bạn. Public Affairs là một ngành học rất rộng, do đó không thể nào tham vọng học hết được, và chương trình thạc sỹ 2 năm cũng không thể nào dạy hết. Do đó khi lựa chọn ngành học cụ thể, phải căn cứ vào năng lực, trình độ và niềm đam mê sau này. Hiện tại tại Việt Nam, ngành Public Affairs đang rất thiếu người vì Việt Nam mới bắt đầu đào tạo ngành này một cách bài bản một vài năm trở lại đây. Là một nước đang phát triển, chập chững xây dựng nên ngành Public Affairs đòi hỏi một lượng lớn nguồn nhân lực.

Đối với mỗi người học, câu hỏi thường trực là học xong sẽ làm cái gì. Xin minh chứng một số cá nhân học Public Affairs đã thành danh. Xin lưu ý, ví dụ không có nghĩa là ai học Public Affairs cũng sẽ thành công như những cá nhân trong ví dụ này.

Đây là danh sách những cá nhân kiệt xuất đã từng học Public Affairs http://www.naspaa.org/alumni/distinguished.asp. Trong danh sách này bạn có thể dễ dàng nhận ra Ban Ki Moon – Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Felipe Calderon – Tổng thống Mexico, Robert Zoellick – Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, các vị bộ trưởng, thủ tướng, quan chức hàng đầu chính phủ khác.

Còn ở Việt Nam, người học MPA mà nổi tiếng nhất phải nói tới Nguyễn Thiện Nhân. Ông Nhân học Public Affairs tại University of Oregon theo học bổng Fulbright. Ông Nhân hiện tại là Phó thủ tướng Chính phủ Việt Nam.

Thay cho lời kết, hy vọng bài viết này sẽ giúp ai chưa hiểu về Public Affairs sẽ có cái nhìn rõ hơn về ngành này. Đối với những ai dự định theo học Public Affairs, sẽ định hướng rõ hơn về sự nghiệp của mình. Chúc các bạn thành công với sự nghiệp sau khi tốt nghiệp ngành Public Affairs.

Trần Ngọc Thịnh
September 05, 2010
Columbia, MO

Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm apply học bổng Fulbright

FULBRIGHT EXPERIENCE Q&A WORKSHOP

(HỘI THẢO CHIA SẺ KINH NGHIỆM APPLY HỌC BỔNG FULBRIGHT)

USGuide and COF are pleased to announce the Fulbright Experiences Q&A workshop,
held on 19 April , 2009 at Van Viet Bar in Hanoi.
This program is to give you experiences and tips in the process of Fulbright Scholarship Application and to help you become a successful Fulbrighter 2010

[IMG]

Time: 9:00 a.m -11:00 a.m Sunday, 19 April, 2009
Location: Van Viet bar, 27A Tran Binh Trong

Guest speakers:
1. Ms. Le Huong – Fulbrighter, American study
2. Mr. Nguyen Ngoc Thinh- Fulbrighter, Public administration
3. Mr. Hoang Ha – Fulbrighter, Computer Science
4. Ms. Nguyen Thuy Linh- Fulbrighter, MBA
5. Mr. Ly Lam Duy- Fulbrighter, MBA

and valued guest from Fulbright Scholarship, USGuide and COF

Targeted audiences: 30-40 USGuide/COF members and others

WORKSHOP AGENDA

9:00- 9:05: Program Introduction
9:05- 9:20: Brief overview about USGuide, COF, Fulbright programs and advice for workshop participants
9:20-10:45:
– Self introduction by guest speakers, highlighting background and strengths as Fulbright applicants
– Q&A session
10:45-11:00: Break into smaller groups to facilitate discussion between speakers and interested students

Please send your registration form to: hapt@us-guide.org (cc: minhphuong.doan@us-guide.org)
Deadline: 18 April 2009

Priority for whom sending registration form soon, with following information:
1. Personal profile: full name/major/ occupation/ working place (school)& contact details
2. US study plan: US-study period/ Fulbright application period (2010 or?)
3. TOEFL/GMAT scores (if have)
4. Questions for speakers and guests/ programmes (if have)

Welcome your registration and participation in this workshop

 

Nội dung tóm tắt do 1 bạn tham gia ghi lại

 

MỞ ĐẦU

Thịnh trình bày lý do của buổi họp mặt:

· Chia sẻ thông tin nhằm tạo nên một sự cạnh tranh lành mạnh giữa các semi-finalists

· Tạo network giữa các Fulbrighters hiện tại và trong tương lai

Thịnh giới thiệu các bạn finalists năm ngoái và semi-finalists năm nay

Thịnh nói về mức độ cạnh tranh của học bổng Fulbright (có khoảng 600 hồ sơ, chọn ra khoảng 60 người vào vòng phỏng vấn, và cuối cùng sẽ có 20-25 người đươc chọn làm Fulbrighters)

NỘI DUNG CHÍNH (Q&A)

1.Có rất nhiều người apply vào các ngành khác nhau, Fulbright phân chia ngành như thế nào?
Phân chia ngành không cố định, thay đổi theo từng năm. Lưu ý có một số ngành không có trong danh sách của Fulbright, tuy nhiên nếu bạn chứng minh được khả năng của mình cũng như ngành học của bạn phù hợp với tiêu chí của chương trình thì bạn hoàn toàn có thể qua được vòng interview. (Giang-Journalism)

Fulbright tập trung vào các ngành khoa học xã hội, vì vậy những ngành liên quan đến khoa học xã hội thì bạn đều có thể apply được. Trong hồ sơ, bạn cần thể hiện rõ mức độ quan tâm của mình đến ngành nghề mình sẽ theo đuổi để thuyết phục ban giáo khảo. Ban giám khảo chấm điểm hồ sơ sẽ bao gồm 2 người Việt và 2 người nước ngoài, các bạn hãy bình tĩnh và cố gắng thể hiện tốt nhất năng lực của mình. (Duy-MBA)

So sánh Fulbright với một số học bổng khác, ví dụ học bổng ADS và Chevening (giành 50% chỉ tiêu cho khối nhà nước). Riêng Fulbright thì rất công bằng, tất cả các đối tượng đều được quyền apply, năm nay có cả những người là giáo viên cấp II cũng là Fulbrighters. Fulbright lựa chọn dựa trên năng lực cá nhân, nếu hồ sơ bạn thật sự mạnh, bạn hoàn toàn có khả năng thành công dù ngành của bạn không có chỉ tiêu. (Thịnh-MPA)

2.Một hồ sơ mạnh là hồ sơ như thế nào?

Fulbright đánh giá một ứng cử viên dựa trên rất nhiều yếu tố. Fulbright muốn tìm kiếm một change agent (một người có thể tạo ra sự thay đổi). Điều bạn cần chứng minh đó là bạn sẽ là một change agent. Trong qúa trình hoàn thiện hồ sơ, bài luận cũng là một yếu tố rất quan trọng. Ngoài ra, khi các bạn có những thành tích hay hoạt động xã hội, các bạn cũng nên thêm vào. Các bạn cũng cần trình bày được tại sao các bạn lựa chọn Fulbright, và nếu như bạn được học bổng Fulbright thì các bạn sẽ làm gì với học bổng đó (Thịnh-MPA)

Về hồ sơ, đối với Fulbright không có gì là không quan trọng, và không có gì là quá quan trọng. Không nên xem nhẹ bất cứ cái gi, không có một yếu tố nào hoàn toàn quyết định, tuy nhiên có mấy điểm bạn cần lưu ý khi làm hồ sơ. Thứ nhất, các kinh nghiệm của bạn phải phù hợp và quá trình học tập của bạn có liên quan đến ngành bạn xin học. Thứ hai, future plan của bạn cũng hết sức quan trọng, qua đó họ sẽ đánh giá khả năng của bạn có phù hợp với future plan không và future plan đó có phục vụ cho lợi ích của VN hay không. Bạn phải cân nhắc giữa điều gì VN đang cần, điều gì bạn có thể làm được, điều gì phù hợp với kết quả học tập cũng như quá trình làm việc của bạn. Thứ ba, Fulbright không tìm kiếm người giỏi nhất mà tìm kiếm người phù hợp nhất với tiêu chí mà học bổng đưa ra. Tôi biết rất nhiều người đã trở thành semi-finalists, đó là những cực kỳ giỏi nhưng sau khi nghe tin họ trượt tôi cũng hơi sốc. Khi tôi hỏi những người phỏng vấn lý do tại sao bạn đó không thành công, họ trả lời rằng bạn này chưa sẵn sàng hoặc bạn này có mục tiêu không rõ ràng. (Nam-Law)

3.Quyết định cuối cùng chọn finalists được đưa ra dựa trên hồ sơ hay là kết quả cuộc phỏng vấn? Tỉ lệ tầm quan trọng của 2 yếu tố này thế nào?

Sẽ không thể nói yếu tố nào quan trọng hơn. Trước khi phỏng vấn bạn, người ta đọc hồ sơ của bạn rất kỹ nên khi phỏng vấn bạn,họ sẽ dựa trên cả hai. Ví dụ bài luận của bạn rất hay nhưng là do bạn nhờ người khác viết. Khi vào phỏng vấn bạn không thể hiện được đúng những gì bạn đã viết trên SoP thì người phỏng vấn sẽ nhận ra ngay. (Thịnh-MPA)

Theo những thông tin từ chị Hạnh (trợ lý chương trình) và thầy Thảo (giám đốc chương trình), mình có cảm nhận rằng những người hỏi mình họ đã đọc rất kỹ hồ sơ của mình, và họ sẽ đặt ra những phản biện ví dụ như họ băn khoăn điểm gì, họ muốn làm rõ cái gì, họ muốn hỏi cái gì về mình. Đến khi phỏng vấn, tất cả những câu hỏi đó họ sẽ dồn về phía mình để mình làm rõ hơn bộ hồ sơ. Họ hỏi rất kỹ về kế hoạch tương lai của mình. Họ cũng hỏi nhiều câu hơi khó khăn cho mình. Tuy nhiên, có những người có hồ sơ rất mạnh, thể hiện cả một quá trình phấn đấu học tập và làm việc rất tốt nhưng chỉ vì trả lời phỏng vấn không được thông minh và sắc sảo, không thể hiện được hết bản thân mình (có thể thời điểm đó phong độ của họ không tốt) như thế cũng rất là tiếc bởi vì nhiều khả năng là sẽ bị đánh trượt. (Duy-MBA)

4.Thái độ khi phỏng vấn, mình nên rất là tự tin hay là tự tin vừa vừa thôi?

Phỏng vấn chỉ có một lần duy nhất, nên mình phải chuẩn bị làm sao ở thời điểm đó phong độ của mình là tốt nhất. Một bí quyết nữa đó là nên thành thật với bản thân mình, nghĩ gì thì trả lời như thế. Không nên nghĩ đến những chủ đề quá xa xôi với bản thân. Mình hiểu ở mức độ nào thì mình trả lời ở mức độ đấy, không nên tham vọng quá. Tuyệt đối đừng phóng đại. Tự nhiên, hết sứcthành thật. Trả lời thông minh và ngắn gọn. (Duy-MBA)

Thái độ khi phỏng vấn là điều rất cần cân nhắc. Mình chuẩn bị cho buổi phỏng vấn rất kỹ, mình đặt ra tất cả các câu hỏi, làm mock interview khoảng 30 lần với rất nhiều người. Gần như mình phủ kín các câu hỏi nhưng trước khi phỏng vấn thì mình hơi băn khoăn đó là có nên tỏ ra tự tin hay không. Mình nghĩ đây là một con dao hai lưỡi, phong cách tự tin của bạn sẽ tạo ấn tượng với người phỏng vấn, tuy nhiên họ cũng sẽ expect nhiều hơn ở bạn. Có thể họ sẽ hỏi những câu hỏi khó hơn. Một câu trả lời đầu tiên mà bạn làm cho họ không hài lòng, hình ảnh của bạn sẽ bị giảm hẳn xuống. Nếu bạn hơi nervous, họ sẽ nghĩ rằng có thể bạn này chuẩn bị rất tốt nhưng hôm nay hơi bồi hồi một chút thôi. Hôm đó mình chọn phong cách tự tin. Việc đầu tiên là mình bắt tay họ và đưa cho họ card visit. Mình ngồi xuống ghế cũng rất thoải mái, tuy nhiên mình cũng hơi sợ. Phương án đó nên thận trọng khi sử dụng. (Nam-Law)

Về thái độ, quan trọng nhất là các bạn phải thể hiện sự tự tin. Các bạn nhớ là khi các bạn trở thành semi-finalists là các bạn đã rất xuất sắc rồi, các bạn đã đi được nửa chặng đường tới đích. Mình nghĩ các bạn hãy thể hiện thái độ tự tin, nhưng làm sao đừng quá tự tin. Khi bạn được hỏi, hãy bình tĩnh, suy nghĩ kỹ và trả lời. Đừng lộng ngôn, đừng nói gì mình không biết. Cuộc phỏn g vấn thường kéo dài từ 30-60 phút, rất stressful. Các bạn sẽ giống như là bị tấn công, và các câu hỏi rất nhiều. Các bạn nên chuẩn bị tinh thần. Các bạn nên lưu ý điều chỉnh EQ của mình ở mức độ vừa phải thôi. (Thịnh-MPA)

Hai lỗi mà thầy Thảo nói với mình. Một số bạn khi đến ngồi phỏng vấn thì quá tự tin, chân gác lên đùi, sau đó thì tiếng chuông điện thoại reo lên. Một số bạn khác thì cứ ngồi ở mép ghế, thể hiện là bạn ý rất e dè, thiếu tự tin. Các bạn cứ ngồi thoải mái, tươi cười trò chuyện với họ. Đó là 2 lỗi cơ bản thầy Thảo có nhắc. Một điểm nữa để chứng tỏ mình tự tin đó là người VN mình rất ngại đặt câu hỏi, đặc biệt là khi phỏng vấn có thể các bạn cũng không rõ câu hỏi của người ta là gì nhưng các bạn cũng chẳng dám hỏi lại. Khi các bạn không hiểu cái gì, các bạn cứ tự tin hỏi lại. (Hương-TESOL)

Theo mình thì không nhất thiết bạn phải tỏ thái độ như thế nào. Mình cứ bình thường thôi, nếu mình tự tin thì mình cứ tỏ ra như vậy. Nếu mình là người khiêm tốn thì mình cứ như vậy. Trong quá trình phỏng vấn, mình nên quan tâm tới người đối diện với mình. Các bạn có thể hỏi “Ông (bà) có nghe tôi nói rõ không?” vì khi phỏng vấn khoảng cách giữa người phỏng vấn và mình không quá gần. Nếu mình nói quá bé hay quá to nó đều có tác động khác đến người nghe. Tốt nhất làm thế nào để người ta nghe vừa giọng mình thôi. Thứ hai, nếu bạn nào đã đọc nhiều về văn hóa Mỹ sẽ thấy không bao giờ người ta tì khuỷu tay lên trên mặt bàn, không bao giờ bắt chéo chân trong những cuộc phỏng vấn quan trọng . Eye contact cũng rất quan trọng. Có hai người phỏng vấn, hai người đó sẽ liên tục đặt câu hỏi với mình. Nên mình làm thế nào để chuyển mắt từ người này sang người kia rất firm, chứ không phải mình đảo mắt lia lịa hoặc là tập trung vào người đang hỏi mình thôi mà quên mất người kia đang ngồi nghe và chăm chú chép. (Giang-Journalism)

Khi vào vòng phỏng vấn, các bạn nên chuẩn bị một câu hỏi để hỏi ban giám khảo. Thực tế là có rất nhiều câu hỏi hay và mình chuẩn bị trước, khi mình hỏi người ta sẽ cảm thấy thú vị. Một điều nữa là trong quá trình phỏng vấn người ta ghi chép rất nhiều thế cho nên các bạn hết sức chú ý câu trả lời của mình. Nên vạch ra nhiều ideas để trả lời, để cho người ta thấy mình có những ý tưởng thế nào, dựa trên đó họ chấm điểm. Họ sẽ so sánh ý tường của mình với những người khác, nếu mình không có nhiều ý tưởng thì mức độ cạnh tranh của mình sẽ kém. (Duy-MBA)

Điều cuối cùng mình muốn lưu ý các bạn đó là speaking skill, sẽ không giống như toefl đâu. Các bạn nên rèn luyện để trả lời đối thoại bằng tiếng Anh để làm sao cái việc các bạn thể hiện bằng lời nói cũng như hành động thể hiện được sự tự tin. Ví dụ bạn đã hiểu câu hỏi, bạn nghĩ ra rất nhiều ý tường hay những các bạn không thể diễn đạt được điều đó, hoặc là các bạn diễn đạt một cách ấp úng thì người ta không thể thấy bạn thực sự thể hiện khả năng của mình. Mình khuyên các bạn nên rèn luyện speaking, đặc biệt là những bạn nào không học chuyên về ngoại ngữ và lo lắng về tiếng Anh của mình thì các bạn nên tập trung vào đấy một chút. (Thịnh-MPA)

5.Nếu như ban giám khảo hỏi mà mình không biết thì mình nói thế nào?

Mình nghĩ rằng nên nói là tôi không biết và đề nghị ông bà giải thích cho tôi. Nên chân thật nói rằng mình không biết. Họ rất nice, họ có thể giành thời gian giải thích cho mình.(Thịnh-MPA)

Câu này cũng có người gặp. Năm nay cũng có một người được hỏi là “Giữa $100,000 và học bổng Fulbright thì bạn chọn cái nào?” Bạn đó không trả lời được, bạn ấy nói “$100,000 là một số tiền rất lớn đối với tôi, trong khi Fulbright cũng là một chương trình rất thú vị. Tại thời điểm này tôi ngồi đây tôi chưa quyết định được cái gì quý giá hơn. Tôi xin nợ câu trả lời này.” Cô bé đấy vẫn đỗ. Bạn ấy gặp lại đúng người hỏi trong buổi giao lưu với các thầy cô giáo, chính người đã phỏng vấn bạn ý có nói rằng “May mà em nói rằng em không biết, chứ nếu mà em trả lời là $100,000 hay là Fulbright mà em không thuyết phục được tôi thì em cũng bị trượt.” (Duy-MBA)

6.Cấu trúc của một cuộc phỏng vấn?

Một cuộc phỏng vấn sẽ có 2 phần: phần đầu là phần họ hỏi các bạn rất nhiều, phần hai là phần các bạn hỏi lại. Nếu như phần đầu các bạn cảm thấy bị đuối, thì phần hai là phần để gỡ điểm cho các bạn. Do vậy các bạn nên hỏi những câu hỏi thực sự smart, tránh hỏi lan man thì các bạn có thể gỡ điểm rất nhiều. Và kinh nghiệm của chính bản thân mình, phần đầu của mình trôi qua rất nhanh nhưng phần kéo lại chính là phần mình hỏi ban giám khảo. Và hai người phỏng vấn mình (giống như mình hỏi đúng cái mà họ muốn) họ nói say sưa, kể hết chuyện nọ đến chuyện kia, mình ngồi nghe rất là thích thú (giống như kiểu good listener). Vì vậy các bạn lưu ý phần bạn hỏi lại là phần các bạn thể hiện bản thân rất nhiều đấy. (Thịnh-MPA)

Có một điểm nữa các bạn đã và đang đi làm rồi nên lưu ý, họ sẽ hỏi rất sâu vào công việc của mình. Ví dụ như làm về ngân hàng hay chứng khoán, người ta có thể hỏi là “bây giờ gửi vào ngân hàng nào lãi suất cao nhất” hay “đầu tư chứng khoán đầu tư cổ phiếu nào là sinh lời nhất”. Nhiều khi người ta muốn đóng vai trò là khách hàng và mình là người tư vấn. Hôm mình phỏng vấn bị một cô yêu cầu kể về một ngày làm việc điển hình. Mình nên làm chủ công việc của mình để khi người ta hỏi mình có thể trả lời thật tốt. Đặc biệt nên cập nhật những thông tin trên phương tiện báo đài mà gần đây nó hot, phải rất cẩn thận vì người ta có thể hỏi những câu hỏi như thế. (Duy-MBA)

7.Đối với từng ngành, mình nên nhấn mạnh điều gì trong hồ sơ và phần phỏng vấn của mình?

Các ngành nghề khác nhau thì có những đặc thù khác nhau. Ví dụ như ngành xã hội thì rất khó được điểm cao, vì vậy các ngành có những tiêu chí rất khó so sánh. Vì vậy để vào được đến vòng trong, các hồ sơ phải đáp ứng được tiêu chí là hết sức hấp dẫn, logic, có tình thuyết phục, và người ta đánh giá được triển vọng của mình. Làm thế nào để người ta đánh giá là mình có triển vọng và sau này khi mình trở về VN thì mình có thể gây tầm ảnh hưởng đến những người khác. Về MBA, với kinh nghiệm là việc của mình bạn có thể biết được những bất cập trong ngành của mình, có rất nhiều thứ người ta có thể hỏi bạn. (Duy-MBA)

Như mình nói Fulbright họ mong muốn tìm người thể hiện cái trăn trở, khao khát của bạn và bạn nói rằng Fulbright sẽ giúp tôi giải quyết những vấn đề đó. Khi mình apply MPA, mình cũng nói những quan tâm của mình trong bộ hồ sơ ví dụ như về chính sách ở VN, các chương trình của chính phủ, xóa đói giảm nghèo… Mình nói rằng mình muốn học ngành này để khi trở về có thể áp dụng vào thực tế. Nếu bạn muốn focus vào điều gì đấy, thì trong hồ sơ bạn cũng nên nói luôn định hướng nghiên cứu của mình vào lĩnh vực gì, ở góc độ thế nào. Nếu bạn càng specific, càng clear thì họ sẽ thấy rằng con đường bạn lựa chọn là con đường đã được định hướng rõ ràng rồi, có nhiều supporting points trong lựa chọn đó chứ không phải là một lựa chọn hú họa, thích thì chọn. (Thịnh-MPA)

Nói về làm bài luận, có mấy điểm cần lưu ý với các bạn. Khác với các bạn xin học bổng trực tiếp ở trường, đó là những học bổng tìm kiếm những người xuất sắc nhất, còn với Fulbright, họ tìm kiếm những người phù hợp nhất. Cách tiếp cận truyền thống nhất đối với học bổng Fulbright đó là bạn chọn một vấn đề gì trong ngành của bạn, bạn cho là cái đó bất cập, bạn nói rằng tôi cần phải đi học về để tôi góp phần vào sửa cái bất cập đó. Ví dụ mình chọn cách tiếp cận là hệ thống văn bản pháp luật ở VN được ban hành rất nhiều, nhưng có nhiều lộn xộn. Tôi đã đóng góp nhiều cho vấn đề góp ý các văn bản pháp luật nhưng tôi nghĩ là nếu tôi có được kiến thức sâu rộng hơn từ Mỹ về tôi sẽ góp ý tốt hơn. Bạn hãy gắn bạn với sự phát triển của đất nước. Một cách tiếp cận khác, có một bạn viết về việc bạn ấy thích ban nhạc F4, đi một hồi đến khổ cuối bạn ấy khóa lại là tôi muốn học về bảo vệ bản quyền. Tất cả những điều trên tường chừng như không có vẻ liên quan thì một khổ cuối khóa lại tất cả những điều đó lại. Nhưng phải rất cẩn thận khi tiếp cận theo cách này vì nó đòi hỏi nhiều thời gian đầu tư và cả sự sáng tạo. Bình thường thì mình khuyên các bạn nên đi theo cách tiếp cận truyền thống kia. (Nam-Law)

8.Làm thế nào để khống chế sự căng thẳng?

Không nên nghĩ ngợi qua nhiều, bởi vì mình càng nghĩ nhiều về chủ đề phỏng vấn thì mình càng thấy run. Mình sợ người ta hỏi những câu hỏi khó mà nó vượt quá tầm hiểu biết của mình, nếu cứ theo cái hướng đấy thì cảm thấy rất là mất tự tin. Và tốt nhất cứ để cho đầu óc nhẹ nhàng, thư thái, mình biết đến đâu thì mình trả lời đến đấy. Bạn cứ yên tâm trong buổi phỏng vấn họ sẽ tạo cho mình một không khí hết sức thân thiện. Fulbright khác các học bổng khác ở chỗ là họ tạo cho mình một không khi mà mình có thể là mình, mình sẽ cảm thấy rất thoải mái, không bị gò bó, ép buộc gì hết. Mình cứ nghĩ theo hướng là người ta chỉ hỏi những câu hỏi để làm rõ hồ sơ của mình, không có gì phải căng thẳng cả. Có một câu hỏi quan trọng nữa là “Bạn có về VN hay không?” Đương nhiên sẽ phải về nhưng người ta vẫn cứ hỏi câu đấy. (Duy-MBA)

Một bí quyết khác đó là chuẩn bị thật kỹ. Trước khi bạn đi phỏng vấn, hãy chuẩn bị tất cả những câu hỏi họ có thể hỏi, đồng thời sau khi trả lời những câu hỏi đó lại nghĩ ra những câu hỏi có thể liên quan đến câu trả lời của bạn. Mình cũng soạn ra đến hàng trăm câu hỏi, nhưng vẫn bị lọt 2-3 câu. Nhưng mình cũng học thuộc quá nên sợ là đi phỏng vấn không được tự nhiên. Bạn cũng nên nhờ những người khác làm mock interview cho bạn, nó sẽ tạo cho bạn thói quen đó là phản ứng nhanh khi nhận được câu hỏi. Cuối buổi mock interview hãy hỏi xem cảm giác của người đối diện về bạn như thế nào, có cảm thấy bạn tự tin không, tiềm năng không, có cảm nhận bạn sẽ là người đóng góp cho VN không. Nếu họ trả lời có, chắc bạn sẽ đỗ đấy! (Nam-Law)

Trước ngày phỏng vấn mình đánh game Đế Chế. Tất nhiên nhưng ngày trước các bạn nên chuẩn bị. Nhưng đến ngày cuối cùng trước ngày phỏng vấn bạn nên relax một chút cho tâm lý thoải mái. (Thịnh-MPA)

9.Tầm quan trọng của future plan thế nào?

Như các bạn biết, học bổng Fulbright yêu cầu các bạn học xong quay về VN 2 năm. Trong một cuộc nói chuyện, thầy Tháo có nói rằng “Liệu việc đóng góp cho đất nước có nhất thiết cứ phải là về VN hay không?” Các bạn có thể ở lại làm giàu, có thể đóng góp về chính sách, tác động về chính sách một cách hiệu quả. Future plan các bạn thể hiện rất quan trọng, bởi vì Fulbright đầu tư cho các bạn về giáo dục thì họ cũng mong muốn hiệu quả đầu tư đó được thể hiện ra như thế nào. (Thịnh-MPA)

10.Nếu bạn muốn mang đến sự thay đổi, nhưng cơ chế không cho phép bạn thay đổi thì bạn làm thế nào?

Khi apply Fulbright, future plan của mình rất quan trọng , thường thì phải ambitious một chút theo nghĩa là không chỉ cho cá nhân mình mà nó cần có tầm ảnh hưởng tương đối vĩ mô. Khi điều các bạn muốn làm có tầm vĩ mô như thế, các bạn có thể gặp khó khăn về mặt cơ chế chính sách, luật định, hay môi trường văn hóa không cho phép bạn làm đó cũng là những điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, nếu bạn phỏng vấn tôi, tôi sẽ nói như sau “Đúng là câu hỏi đó nếu các bạn đặt ra cách đây khoảng 20 năm, hay nói rõ hơn là trước năm 1986 khi vẫn còn nền kinh tế kế hoạch hóa thì câu trả lời là rất khó để có tầm ảnh hưởng vĩ mô. Nhưng theo tôi, ở điều kiện kinh tế xã hội như hiện tại nếu bạn muốn mở một công ty riêng, hay một cơ sở giáo dục đào tạo, một tổ chức nào đấy và bạn áp dụng kiến thức của mình vào, nếu bạn thực sự quyết tâm, tôi nghĩ bạn sẽ thành công. Có thể không thật sự lớn, nhưng dù sao bạn cũng làm được một phần cái bạn muốn. Và hơn nữa bạn sẽ lôi kéo được những người cùng tâm huyết với mình để làm điều đó. Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện tại, bạn hoàn toàn có thể làm được những gì bạn muốn.” Ví dụ trước đây để đóng góp cho giáo dục là rất khó khi 100% các trường đại học đều là state-owned hay public cả thì rõ ràng bạn không thể apply new ideas vào đó. Nhưng bây giờ có khoảng 30 trường dân lập và ở đó họ sẵn sang tiếp nhận những tư tưởng quản lý mới, những cách thức tiếp cận giải quyết vấn đề mới thì bạn hoàn toàn có cơ hội giải quyết vấn đề của mình. Trong giáo dục đã như vậy rồi thì theo tôi nghĩ trong lĩnh vực kinh tế hay khoa học kỹ thuật khác bạn hòan toàn có cơ hội. (Duy-Education Management)

Đây là câu hỏi tôi đã gặp trong buổi interview của tôi. Tôi nhớ đến một lần thầy Thảo có nói với tôi cũng như các Fulbrighters ở đây là “Thầy cũng như mọi người ở đây đều muốn đi đến một cái đích cuối cùng, mỗi người ở đây như là một điểm sang, mà từ điểm sáng này có thể đi đến điểm sáng kia nhanh hơn. Chứ không giống như đi một quãng đường xa với những phương tiện thô sơ mà mình có. Nhưng người đi học về sẽ là những điểm sáng nhỏ và giúp cho mình đi nhanh hơn về đích. Theo tôi hiểu, bạn sẽ tạo ra thay đổi nho nhỏ và cùng với người khác bạn sẽ làm cho nó lớn hơn. Ví dụ một bài báo này người ta chắc chắn là không cho đăng vì đây là báo nhà nước, nhưng tôi sẽ thương lượng với sếp của tôi. Có thể tuần này không được đăng, nhưng ngày hôm sau tôi lại thương lượng lại cho đến khi nào đến gần hơn với mục đích của tôi. Tôi tạo ra thay đổi nào đó thay vì việc là tôi không làm gì cả. (Giang-Journalism)

Về mặt tác động, contribution, hay là thay đổi theo mình nghĩ đúng là một cá nhân khó có thể nào thay đổi mọi thứ nhưng nếu chúng ta kết hợp lại với nhau, nó sẽ mang đến một sức mạnh chung. Chính vì thế tâm huyết của mình là xây dựng một cộng đồng Fulbrighters. Tất cả các Fulbrighters đều có chung một tâm huyết thì các bạn nên liên kết lại với nhau, sức mạnh tổng hợp đó sẽ có tác động rất lớn. Ở góc độ cá nhân, mình nghĩ rằng không thể một sớm một chiều mang lại sự thay đổi. Nhưng về cá nhân nếu mình raise cái voice của mình lên, hoặc mình thay đổi bản thân mình trước tiên, mình thấy được những tác động tốt đối với bản thân mình, người khác họ sẽ đi theo cái thay đổi đó. Dần dần sự thay đổi đó sẽ lan tỏa. (Thịnh-MPA)

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

Minh Bùi tên đầy đủ là Bùi Quang Minh tên thường gọi là Minh Beta, sinh năm 1983 là một người bạn của Thịnh. Minh Bui apply học bổng Fulbright nhưng sau đó lại xin học bổng của trường Harvard chứ không lấy Fulbright nữa. Dưới đây là bài viết tóm tắt quá trình apply MBA và chia sẻ kinh nghiệm của Minh Bui. Minh nghĩ sao viết vậy, hy vọng giúp ích được ít nhiều cho các bạn sẽ apply những năm tới.

 

 

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

 

… Gọi là giấc mơ Harvard vì cái tên này là ước mơ của mình từ khi còn học high school ở Ams. Lúc đó nó chính xác là một giấc mơ, rất rất xa vời. Đến giờ, khi nghĩ đến việc mình sắp được sang Harvard để học MBA, mình vẫn còn lâng lâng :D.

 

Disclaimer: Cái note này ghi chép lại những kinh nghiệm cá nhân của mình trong quá trình apply để đi học MBA. Những đánh giá và nhận định ở đây có thể mang tính chủ quan. Mình viết bài này để dành riêng cho mình, và cũng mong muốn chia sẻ một chút gì đó với các bạn đi sau. I tend to rant, so bear with me. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng nhé 😀

 

Quick facts (cho các bạn chưa biết về MBA):

  1. MBA là gì: MBA = Master of Business Administration, tức là Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh. Khác với các bằng thạc sĩ khác, MBA đa số đều yêu cầu bạn có kinh nghiệm làm việc một vài năm. Bạn không cần phải có background về business/economics để học MBA, hầu như ngành nào cũng có thể theo học MBA.
  2. GMAT là gì: GMAT là một bài test mà hầu hết các trường danh tiếng đều yêu cầu khi bạn apply học MBA
  3. Học MBA làm gì: Để nâng cao kiến thức về lĩnh vực quản trị & kinh doanh (duh), để chuyển từ công việc chuyên môn lên các vị trí quản lý, để được tăng lương (nếu bạn xác định muốn đi làm cho các công ty/tập đoàn sau khi tốt nghiệp) hoặc để nâng cao kỹ năng về business start-up nếu bạn muốn làm riêng.
  4. Bằng MBA khá có giá trị, nhất là các trường top. Ví dụ như các sinh viên của Harvard và Stanford khi tốt nghiệp có rất nhiều cơ hội việc làm, với mức lương khởi điểm trung bình lên tới $140,000 một năm chưa kể bonus cuối năm.  Vì nó có giá trị nên rất nhiều người muốn theo học, như Stanford có đến hơn 7000 hồ sơ xin học cho lớp học hơn 300 sinh viên, mà toàn là các nhân vật hoành tráng apply cả.

 

I.               MY STATS:

 

–       Mình qua Úc học bằng học bổng AusAID của chính phủ Úc, tốt nghiệp Sydney University năm 2007 với bằng 1st class honors, có một vài awards và học bổng của trường.

–       GMAT 750 (Q50, V41) or 98 percentile.

–       TOEFL được waiver nhưng lúc thi để nộp Fulbright là 113/120 TOEFL iBT.

–       Work: 2 năm làm research/trading commodities ở Louis Dreyfus Commodities (công ty MNC về commodities, gốc Pháp, văn phòng ở Singapore), sau đó về VN mở business riêng (DOCO Donuts & Coffee), rồi vừa run biz vừa rejoin LDC, văn phòng ở Việt Nam (senior position).

–       Extra: Vice President của hội sinh viên VN ở NSW, Úc (VDS), tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, một vài giải thi hát, 1 bài hát đã released, tham gia 1 vài dự án phim ảnh linh tinh…

 

II.              KẾT QUẢ APPLY:

 

(Khi viết tên các trường mình sẽ mở ngoặc kèm theo Rank xếp hạng chương trình, theo US News 2013 để các bạn dễ hình dung, ví dụ Harvard (#1) và Stanford (#1) vì 2 trường này đồng hạng cao nhất trên US News)

 

–       Tháng 4/2011, mình apply học bổng Fulbright (học bổng toàn phần của chính phủ Mỹ). Tháng 9 thì nhận được học bổng này. Bước tiếp theo là apply vào các trường.

–       Fulbright đứng ra apply cho mình vào 4 trường: Stanford (#1), UC Berkeley (#7), UCLA (#15), và Emory (#19).

–       Cả 4 trường này mình đều phải làm hồ sơ như 1 applicant bình thường. Ngoài ra mình còn tự apply thêm nhiều trường nữa – tổng cộng là hơn 10 trường, tất cả đều cùng một Round với deadline trong tháng 1/2012. Lý do: Sợ là không vào được trường nào, apply nhiều cho chắc. Lúc đó mình đang có học bổng Fulbright nên sống chết cũng phải vào được 1 trường nào đó.

–       Kết quả: mình được nhận vào tất cả các trường mình applied (Harvard, Stanford, Wharton, Berkeley Hass, Cambridge, Chicago). Đa số các trường đều cho $$$. Có một vài trường mời đi phỏng vấn thì mình từ chối vì lúc đó đã có Admit của các trường mình thích hơn rồi. Đa số các trường đều cho học bổng. 3 trường xếp hạng cao nhất là Stanford (#1), Harvard (#1),  và Wharton của U.Penn (#3) release kết quả vào 3 ngày liên tiếp là 28, 29, 30 tháng 3 (!)… và mình được Admitted vào cả 3 trường. Rất rất hài lòng với kết quả này, vì thật sự thì đây là một điều khá ít khi xảy ra, kể cả với các bạn Mỹ. I’m really proud of this achievement.

 

III.            VÀI KINH NGHIỆM CHUNG

 

1.     Start early:

–       Nếu mình có lời khuyên nào cho các bạn, thì lời khuyên quan trọng nhất là hãy chuẩn bị càng sớm càng tốt. Nếu bạn xác định được là mình muốn theo học MBA thì bạn sẽ chú ý để luyện tiếng Anh nhiều hơn, có thêm thời gian học GMAT, đạt kết quả học tập ở bậc đại học tốt hơn, và chăm chỉ tham gia các hoạt động ngoại khóa hơn…

–       Đến giai đoạn nước rút thì thời gian càng quan trọng. Mình chỉ có 2 tháng để thi lại GMAT và viết essays, and I kick myself often for delaying all this until the last minute.

 

2.     Aim high:

–      Năm 2011, khi đã xin được học bổng Fulbright, mình còn không có ý định apply lại vào Harvard vì tự nhiên lúc đó thấy lười biếng và nghĩ thôi học trường nào cũng được. Đó là lý do mình không ôn lại GMAT sớm hơn và không apply trường nào ở Round 1. Đến khi bắt đầu apply ở Round 2 thì càng ngày càng máu và lúc đó mới quyết tâm apply vào Harvard và Stanford. Lúc này thời gian không còn nhiều nữa, mình vừa phải đi làm, vừa phải ôn GMAT và vừa phải viết essays trong khoảng thời gian rất ngắn.

–       Nếu tâm lý mình không thay đổi kịp, thì mình đã không apply vào Harvard và Stanford, và mình cũng không lo thi lại GMAT hay chắm chúi đầu tư vào essays. Không apply thì đương nhiên không được nhận.

–       Do đó, mình khuyên các bạn chuẩn bị sớm và aim high để đạt kết quả tối ưu.

 

3.     Know your story and be focused:

–       Mình khá là may mắn vì các công việc và ngành học của mình lại rất liên quan đến nhau. Nói là may mắn vì mình không plan trước những việc này, mà toàn là hứng lên thì theo, may thế nào lại vẫn liên quan 😀

–       Nếu các bạn xác định được từ sớm, thì bạn hãy nhìn sự nghiệp của mình như một cái cây đang lớn thẳng. Hãy biết bạn đang ở đâu, bạn đang mọc như thế nào và bạn muốn vươn đến đâu. Các công việc của bạn nên nằm trên đường thẳng đó, hoặc là đừng có chệch quá và đừng nhảy lung tung. Nếu bạn thay đổi liên tục, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi giải thích những quyết định này – Admissions people sẽ nghĩ quyết định học MBA của bạn cũng là 1 cái random choice.

–       Sẽ tuyệt vời hơn nữa nếu bạn kết nối được cái cây đó đi xa hơn nữa, đến những điểm bắt đầu là tuổi thơ, là quá khứ, là cội nguồn, là những mong ước thơ bé của bạn. Nếu đường thẳng đó chạm được đến những cái gốc rễ sâu kín nhất thì nó sẽ vững chắc hơn nhiều, và như một cái cây có gốc, nó sẽ dễ đơm hoa kết trái hơn!

–       Ví dụ như câu chuyện của mình: Mình học đại học với 3 majors, gồm có Economics, Finance và Agribusiness. Công việc của mình ở Louis Dreyfus là về commodities (research và buôn bán đường, coffee, oilseeds… cả futures contracts lẫn physical products). Mình đã start-up DOCO Donuts & Coffee – về lĩnh vực thực phẩm ăn uống. Khi viết essays, mình đã nhắc đến quá khứ nghèo khó của gia đình, khi mà thực phẩm là nỗi ám ảnh và là mong ước hạnh phúc. Mình đã nhắc đến những người họ hàng gần còn nghèo khó, phải chạy bữa hàng ngày. Và mình nói về kế hoạch trong tương lai: làm về food processing, để bring customers food and happiness, để tạo việc làm cho nhiều người và để benefit Vietnam’s agriculture.

 

4.     However, be fun

–       Sự nghiệp của bạn nên là 1 cái cây lớn thẳng, nhưng bạn nhớ tô màu cho nó. Đừng quá tập trung vào việc học tập và công việc mà quên đi các lĩnh vực khác.

–       Hãy là một leader trong mọi lĩnh vực, kể cả trong hobby của bạn. Đối với mình, mình thích âm nhạc và hát hò, nên cái hobby này đã đi suốt với mình từ khi mình còn học đại học. Hãy dùng mọi resouces của bạn để vừa enjoy cái hobby đó, vừa làm được điều gì có ích và phát triển kỹ năng leadership của mình.

–       Trong bài essays và khi phỏng vấn, Ad-com tỏ ra rất quan tâm khi mình viết về dự án âm nhạc của mình (Việt Nam ơi). Thậm chí họ còn mở bài hát trên youtube ra xem :D.

–       Mình nghĩ ad-com đánh giá cao các ứng viên năng động, dám sống hết khả năng với các lĩnh vực mình quan tâm.

 

5.     Be humble, personal and sincrere

–       Khi làm hồ sơ xin học, nhất là cho các trường top, nhiều bạn có tâm lý là phải gồng mình lên để thể hiện. Don’t. Hãy để các con số và các thông tin khác trong Data Sheet tự nói lên các thành quả của bạn, đừng kể lể quá nhiều về chúng.

–       Các trường rất kị các ứng viên arrogant. Họ muốn tìm các ứng viên khiêm tốn và thành thật. Họ muốn thấy bạn đã có những thành công nhất định nhưng lại rất open to learn, và willing to change.

–       Khi viết essays, mình viết nguyên 1 bài essay khá personal, lead bằng cái tên Minh Beta. Mình giải thích tại sao mình chọn cái tên này, và nó liên quan gì đến cách suy nghĩ và nhìn nhận của mình. Đây là 1 đoạn trích trong bài essay cho Harvard:

 

Answer a question you wish we’d asked? (400 words)

 

I wish you’d asked: “Why do you often go by the name Minh Beta?”

 

I have used this pseudonym for years to distinguish myself from others named Minh Bui, a popular Vietnamese name. I appreciate that Beta refers to an “unfinished” product, which resonates with my life’s philosophy; I consider myself a “work in progress” and a change agent, constantly seeking self-improvement and subsequently creating positive societal change.”

 

6.     Apply for as many as you can!

–       Nhiều người sẽ khuyên bạn là nên tập trung vào 1 vài trường thôi. Mình thì nghĩ khác. Chiến lược của mình là tập trung apply vào 3-4 trường chính, nhưng rải hồ sơ khắp nơi. Kinh nghiệm của mình là các trường thường hỏi nhưng câu essays khá giống nhau, nếu không giống thì cũng biến tấu từ essay này sang essay kia được, và không mất quá nhiều thời gian. Tất nhiên là cái này tùy vào goal của từng bạn, và đương nhiên là đừng mất công apply vào trường nào bạn không định đi học nếu được nhận. Apply vào nhiều trường thì khả năng được nhận vào trường tốt của bạn sẽ cao hơn.

–       Mình apply cả chục trường, và dùng bài luận của Berkeley và Harvard làm gốc để phát triển ra essays của các trường khác. Trong tháng 1/2011, trung bình 2 ngày mình apply 1 trường. A lot of copy and paste! Nhưng đương nhiên là mình phải nhào nặn cho khớp câu hỏi của từng trường. This strategy worked for me.

 

IV.            CÁC YẾU TỐ RIÊNG

 

1.     GMAT

 –       Mình không có bí quyết ôn thi gì đặc biệt, nhưng mình khá là thích GMAT vì nó rất “smart”. Vì thích nên mình cảm thấy học cũng dễ vào hơn.

–       Mình recommend các bộ sách: Official, Manhattan và Sentence Correction Bibble. Trang web của Manhattan với các bài tests cũng rất hay và sát với bài thi thật.

–       Kỹ năng quan trọng bậc nhất của GMAT là quản lý thời gian. Cái này tuy đơn giản nhưng bạn phải thật sự kỷ luật. Mình thi GMAT mấy lần mà khi thi lần cuối vẫn không thật sự gò mình theo biểu đồ thời gian hợp lý được, vẫn bị tâm lý la cà và “làm cố” để đúng.

 

2.     Resume

 –       Ngắn gọn hết sức. Resume của mình nộp cho các trường chỉ 1 trang. Năm nay Harvard thay đổi essays ngắn hơn năm ngoái rất nhiều, nên Resume có lẽ phải dài hơn. Nhưng dù gì thì cũng mình nghĩ không nên để Resume quá dài.

–       Dùng “Action verbs”, các từ mạnh, mang tính tích cực. Tham khảo: http://www.ocs.fas.harvard.edu/students/resources/resume_actionwords.htm

–       Cố gắng miêu tả thành quả và kinh nghiệm bằng các con số và chỉ số cụ thể mang tính định lượng. Đừng miêu tả chung chung.

–       Nếu có thể thì hãy viết resume để nêu bật được định hướng và khả năng về leadership của bạn.

 

3.     Essay

 –       Liệt kê tất cả những gì bạn muốn chuyển tải ra và tìm cách “nhét” chúng vào các câu trả lời Essays. Một hướng tốt là liệt kê các câu chuyện theo nhiều chiều, nhiều phương diện. Các câu chuyện của bạn nên phản ánh nhiều chiều về cuộc sống của bạn, về thời gian (cũ vs gần đây), lĩnh vực (công việc v.s sở thích), cá nhân v.s cộng đồng…

–       Hãy nhớ là Data sheet đã chuyển tải được khá nhiều thông tin về bạn, nên đừng phí nhiều word count ở Essay để lặp lại thông tin.

–       Do not brag! Tell things the way they are. People will be impressed if your stories are impressive.

–       Cố gắng viết súc tích và truyển tải càng nhiều thông tin càng tốt. Mình đã bỏ rất nhiều thời gian để dò từng

chữ một, cân nhắc chữ nào cần chữ nào không. Vì bạn chỉ có ngần đó chữ, make them count!

–       Khi viết essay và chuẩn bị hồ sơ, hãy tiên lượng những mối băn khoăn người đọc sẽ hỏi về bạn. Tại sao bạn lại chọn công việc này? Tại sao bạn bỏ việc kia? Tại sao bạn thích hát mà không đi làm ca sĩ chuyên nghiệp… Bạn chỉ có một cơ hội để giải thích những điều này trong hồ sơ. Nếu Adcom (Admissions Committee) có băn khoăn điều gì thì họ cũng sẽ không có cơ hội hỏi bạn – until U get an interview. Mà với các trường top thì họ có quá nhiều good applicants – they simply wont take the risk.

 

4.     Interview

 –       Tùy trường, nhưng theo mình thì Interview chỉ để họ hiểu thêm về bạn. Tất nhiên cũng tùy từng trường hợp, nếu application của bạn thật sự tốt thì Interview chỉ để confirm điều này. Cũng có thể là họ thích hồ sơ của bạn nhưng có một vài thắc mắc… hoặc là họ đã định cho bạn Out nhưng muốn cho bạn thêm một cơ hội cuối cùng. Nhìn chung thì Interview không mang quá nhiều sức nặng – trừ khi bạn perform exeptionally well/badly, đó là cảm nhận của mình.

–       Lời khuyên này bạn sẽ nghe nhiều & thấy nhàm, nhưng vẫn đúng: Just be yourself. Các trường chỉ muốn thấy bạn là người tự tin, có common senses, nhanh nhạy và có thể survive in the business world.

–       Nhưng đồng thời, preparation is the key. Khi chuẩn bị phỏng vấn cho Harvard, mình đã list ra tất cả các điều trên trời dưới bể họ có thể hỏi và ứng phó thử, để nếu không may họ hỏi một vài câu hỏi cắc cớ thì mình không bị động. Cuối cùng thì buổi phỏng vấn diễn ra rất tự nhiên, như là coffee chat vậy (thank god!).

 

Mình cũng chỉ biết đưa ra các lời khuyên chung chung như vậy để các bạn tham khảo. Nếu bạn nào có câu hỏi cụ thể thì có thể tham gia vào buổi Coffee Chat tại Hà Nội vào ngày 26/6 tới.

 

Nguồn: Minh Bui (Minh Beta)

 

Đời du học (Mỹ) không như là mơ

Như đã hứa cách đây không lâu là mình sẽ viết một bài chia sẻ về cuộc sống du học sinh để các bạn ở nhà có một cái nhìn chân thực về đời du học, tránh những mơ mộng hay ảo tưởng để rồi sang đó bị “vỡ mộng” và phải đối mặt với vô vàn khó khăn mà các bạn không lường trước. Bài viết này sẽ tập trung nói về các khó khăn mà du học sinh Việt Nam thường gặp phải khi đi du học. Tuy là có rất khó khăn như vậy, nhưng không phải là không thể làm được, bởi lẽ có bao nhiêu thế hệ đi du học trước đây còn khó khăn, thiếu thốn hơn bây giờ nhiều mà họ vẫn vượt qua được, thì tại sao chúng tại lại không thể phải không nào? Mình mong tất cả các bạn, sau khi đọc bài này, không cảm thấy e ngại, chùn bước mà sẽ tiếp tục tinh thần muốn đi du học, bởi với mình để thành công khi du học, bạn cần có một sự nỗ lực lớn hơn nhiều lần nỗ lực thông thường. Và khi đó, mọi chông gai đều có thể vượt qua hết.

 

Vỡ mộng

Có lẽ chúng ta ở Việt Nam biết đến Mỹ qua phim ảnh là chủ yếu, ở đó nước Mỹ thật đẹp, thật hào nhoáng, hiện đại. Nào là San Francisco với cây cầu Golden Gate nổi tiếng thế giới. Nào là Washington DC với những tòa nhà quyền uy. Hay là Los Angeles với những minh tinh màn bạc. Vâng, cái đó đúng nhưng chỉ là một phần nhỏ của nước Mỹ. Phần còn lại của nước Mỹ, rất tiếc lại không hào nhoáng, lộng lẫy và choáng ngợp như thế. Rất nhiều trường đại học của Mỹ được đặt tại các khu vực khá hẻo lánh, xa trung tâm, nên xung quanh khá là vắng vẻ, buồn tẻ và chán ngắt. Tôi thì học ở tiểu bang Missouri, quả đúng như cách phát âm tên bang, nó khá giống từ “misery” tức là “tội nghiệp”. Sau này, khi có dịp đi qua nhiều bang nông thôn của Mỹ, tôi mới nhận thấy là bên cạnh những thành phố lớn sôi động, náo nhiệt thì nông thôn nước Mỹ rộng lớn còn khá buồn tẻ. Nếu bạn đang sống ở Hà Nội hay Sài Gòn mà bạn phải sang những thành phố nông thôn này, thì chắc chắn bạn sẽ “vỡ mộng” về một Hoa Kỳ lộng lẫy. Ở những thành phố nông thôn của Mỹ, phương tiện công cộng rất hạn chế, không tiện lợi như bus ở HN hay SG. Ăn uống, chợ búa thì xa xôi nên phải có xe hơi, chứ không phải chạy ra đầu ngõ là có ngay phở, bún, miến như ở nhà. Điều này bạn sẽ cảm nhận được sự bất tiện vào mùa đông.

 

 

Tuyết – giấc mơ tan tành

Mình đoán là với các bạn ở Việt Nam, chắc hẳn ai cũng có một ao ước là được nhìn, chạm và chơi với tuyết. Với các bạn gái lãng mạn hơi xíu thì chắc ước mình được sang Mỹ để ném tuyết như anh Bae Yong Jun của Bản tình ca mùa đông, hay tung tăng đi học khi tuyết rơi bay bay như trong phim Truyện tình Harvard. Lúc mới sang, ngày đầu tiên nhìn thấy tuyết, mình cũng vô cùng háo hức, chạy ngay ra ngoài để tuyết rơi vào tay. Sau này đó, thì giấc mơ tuyết tan biến và nhanh chóng trở thành sự căm ghét. Tuyết mới rơi xuống, trắng, bông, sạch. Nhưng sau đó, nó tan chảy ra và trộn vào bùn đất ở đường thì thôi rồi bẩn khủng khiếp. Mà khi có tuyết thì lạnh tê tái, ngày đầu do háo hức còn ra ngoài, đợt sau có tuyết thì thôi nằm trong nhà đắp chăn, đọc sách, nghe nhạc ngắm tuyết rơi ngoài cửa sổ là đủ rồi. Người yêu có rủ đi ném tuyết hay nặn người tuyết, mình cũng xin hoãn. Tuyết cũng khá nguy hiểm nữa, vì nó làm đường rất trơn và thậm chí mặt đường đóng băng nên lái xe rất dễ gây tai nạn. Chính bản thân mình đã có lần được em “tuyết” ép phải trổ tài drift trên mặt đường, may mà không va phải thằng nào chứ không thì mệt.

Du và học

Giờ thì đến chuyện học, nhiều bạn thuộc diện COCC, do bố mẹ thường đi study tour mà study thì ít mà tour thì nhiều, nên nhiễm cái gen, cậy có tiền nên đi du học để giải quyết khâu “oách” là chính nên coi nhẹ việc học hành, đi du học thì có vẻ không quan tâm lắm tới chuyện học mà quan tâm tới du nhiều. Nếu bạn đi du học mà xác định việc học là nhẹ nhàng, rất có thể bạn đã mơ tưởng. Các trường đại học chuẩn (ở đây ý mình là được kiểm định chất lượng, chứ không phải trường rởm bán bằng) có những đòi hỏi khá khắt khe với sinh viên. Trường càng rank cao, nổi tiếng thì đòi hỏi càng khắt khe hơn. Đây cũng là một điểm lưu ý của mình với các bạn khi chọn trường là nên chọn trường phù hợp với năng lực và khả năng của mình. Giống như lượng sức gánh được 50kg thì có thể cố thêm tí gánh bao 60kg, nhưng mà gánh bao 100kg thì coi chừng gãy lưng. Thực tế mình thấy là ở Việt Nam, nói đến du học Mỹ, các bạn chỉ quan tâm tới Harvard, Yale, Princeton hay Stanford, còn mấy trường ít tên tuổi thì lại không quan tâm lắm. Nhưng các bạn thấy là nếu đi học cao học, thì ranking của graduate school trong từng trường đại học đó mới quan trọng, và có rất nhiều đại học tên không nổi lắm, nhưng ngành học cụ thể lại có thể rank cao hơn cả Harvard. Do vậy, khi chọn trường, mình thấy quan trọng nhất là phải chọn trường “phù hợp” với khả năng học tập của bạn chứ không phải giải quyết khâu “oách”. Một sự thật, là sức ép ở các trường đại học nổi tiếng là rất lớn. Các trường hợp sinh viên tự tử do sức ép học tập là chuyện không còn xa lạ. MIT hàng năm vẫn có sinh viên tự tử. Như hồi lên New York University thăm cô bạn, cô bạn tôi dẫn đi thăm thư viện trường, một tòa nhà cao và rất hiện đại. Đang say sưa ngẩng cổ lên ngắm, cô bạn bảo mới rồi có 1 cậu học hành chán, mới nhảy từ trên xuống chết ngay tại chỗ, hic. Còn bản thân mình khi đi du học bên Mỹ thì cũng đã thực sự chứng kiến 2 trường hợp du học sinh Việt Nam phải về nước giữa chừng vì không theo được mà 2 bạn đó ở Việt Nam đều học giỏi và được học bổng sang Mỹ học cả. Lấy dẫn chứng cụ thể thế để các bạn thấy là mình không phải là kể chuyện không có dẫn chứng để hù dọa các bạn. Học đại học và cao học ở Mỹ rất vất vả, cái khổ nhất là phải đọc rất nhiều mà toàn là sách tiếng anh dầy cộp. Nếu không có kỹ năng đọc lướt, bạn sẽ không bao giờ hoàn thành bài đọc mà giáo sư giao mỗi tuần vài trăm trang sách. Do tiếng anh không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta, nên khả năng đọc và tiếp thu của chúng ta chậm hơn tụi Mỹ nhiều, cho dù điểm tiếng anh của chúng ta cao chót vót, do vậy phải có kỹ năng đọc lướt để lấy ý chính, chứ ngồi chăm chú đọc, cả đời du học sinh sẽ chả bao giờ đọc hết được lượng sách yêu cầu. Thế nên, mình thấy mấy em du học sinh sang Mỹ, chả biết trường của mấy em ấy thế nào, hoặc các em ấy học kiểu “thần đồng” gì mà vẫn sản xuất “Vlog” sòn sòn như gà đẻ trứng để chém gió trên mạng ấy mà vẫn học “khá và giỏi” được thì cũng “sợ”  phết đấy. Chả biết học xong về nước làm gì, hay lại tự phong mình cái chức “giáo sư” như cậu cử nhân Đại học nông nghiệp làm ở FPT rồi lên VTV3 “chém gió” thành thần, phán nhăng phán cuội, phản khoa học, phản giáo dục.

 

 

Sick

Lần đầu tiên tôi ra nước ngoài năm 2006, lúc đó tôi mới 22 tuổi và đang học năm 2 đại học, khi đó tôi bị ngộ độc thực phẩm do ăn hải sản và phải vào bệnh viện cấp cứu gấp. Lúc xe cứu thương đến đưa tôi đi, thứ duy nhất tôi mang theo là cuốn từ điển. Bởi lúc đó, trong lúc đau ốm như vậy, đầu óc tôi không còn tâm trí nào để nói tiếng Anh nữa. Lúc đó, tôi chỉ mong được ở Việt Nam được nói chuyện bằng tiếng Việt với bác sỹ và người thân để cảm thấy an tâm. Trong lúc đau, nhiều lúc tôi rất sợ cái cảm giác mình phải chết ở nơi đất khách. Có vẻ hơi dramatic, nhưng chính sự kiện đó khiến tôi sau này khi đi du học rất sợ bị ốm. Do vậy, khi đi du học, tôi mang 1 hộp rất nhiều thuốc mà nhiều loại không dễ mua ở Mỹ vì ở Mỹ nhiều loại thuốc phải có đơn của bác sỹ mới mua được. Đây cũng là lời khuyên của mình với các bạn sắp đi du học là nên mang theo mấy loại thuốc thiết yếu nhất để phòng thân. Hôm nào rảnh, tôi sẽ viết 1 bài chi tiết về những thứ bạn nên mang đi và không nên mang đi khi du học. Việc giữ cho mình một sức khỏe tốt cả về thể chất lẫn tinh thần là một điều tối quan trọng khi đi du học. Tôi nhấn mạnh ở đây là cả sức khỏe tinh thần nữa, bởi có thể thể chất của bạn khỏe mạnh, nhưng sức khỏe tinh thần của bạn không tốt, nó sẽ kéo sức khỏe thể chất xuống nhanh khủng khiếp. Nhiều bạn sẽ thắc mắc sức khỏe tinh thần ở đây là gì? Đó là giấc ngủ, trạng thái hạnh phúc, nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà, sự hưng phấn. Nhiều bạn du học sinh khi mới sang do lệch múi giờ nên hay bị mất ngủ, nhiều người nhanh chóng điều chỉnh cơ thể để thích nghi, nhiều bạn không thể ngủ được. Đây là vấn đề hệ trọng, bên nên đi khám bác sỹ. Bởi nếu mất ngủ dài ngày, thể chất của bạn xuống nhanh khủng khiếp và gây ra hàng loạt hệ quả khác. Rồi nhớ nhà, cô đơn, những cảm giác này thường hay xảy ra với du học sinh khi mới bỡ ngỡ nơi đất khách quê người. Những trạng thái cảm xúc tiêu cực này là bình thường nếu chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng nếu nó kéo dài thì sức khỏe tinh thần của bạn đang có vấn đề cần lưu tâm. Bởi tối nào bạn cũng khóc, cũng buồn thì còn đâu tâm trí mà học. Rồi một điều nữa là cảm giác hưng phấn, cái  này mà không kiểm soát tốt cũng gây ra nhiều hệ quả. Bạn cứ như trên mây, chưa học xong Master đã lo tìm trường PhD. Được nhận vào Harvard là cứ bay bay trên mây do các bạn ở Việt Nam tung hô lên mây xanh mà quên mất Harvard chuẩn bị “vặt lông” trụi con vịt béo tốt ở Việt Nam sang thành con vịt gầy tong teo sau vài năm nhập học…vv Do vậy, cố gắng đừng để dính vào bất cứ một cái “sick” gì như “car-sick”, “home sick” hay real sick (đau ốm vô viện) . Hôm nào rảnh sẽ viết về love sick để giải đáp thắc mắc của một số bạn có gửi message hỏi là có nên yêu hay không? Người yêu ở nhà thì xử lý ra sao? Vv…

 

 

Shock văn hóa

Hồi Việt Nam, xem phim hành động Mỹ thấy bắn nhau chí chóe thích ơi là thích, vì cái thằng diễn viên rõ đẹp trai, cơ bắp, bắn chết xừ nó rồi mà vài tháng sau vẫn ra phim mới, bắn nhau kinh hơn. Vậy mà khi sang Mỹ, thấy súng ống là sợ phát khiếp, vì tụi Mỹ này nó xài súng thiệt, đạn thiệt, bắn 1 cái là mình lên tin tức trên CNN hay NBC được một lần là hot và mãi không có lần 2 đâu các bạn ạ. Ngày đầu tiên sang Mỹ, khó ngủ, bật ti vi lên xem bị shock khi xem chương trình thực tế mô tả các buổi mà cảnh sát Mỹ rượt đuổi những kẻ trộm cắp xe hơi, hay cướp có vũ trang. Thấy cảnh đấu súng thật khủng khiếp, bắn chết  ngay tại hiện trường chứ không bắn đẹp như phim mình thực sự được cảm nhận cái culture shock đầu tiên khi sang Mỹ. Rồi thực tế là khi đi du học, bạn sẽ thấy rất nhiều những cú shock văn hóa khác.

Rồi còn nhiều chuyện shock lắm, như chuyện cướp, trấn lột, rồi “hấp diêm” các bạn nữ sinh đi học về khuya mà trường mình thường hay xảy ra như cơm bữa. Rồi chuyện sex tự do của tụi Mỹ ủng hộ “rân chủ”. Rồi chuyện ở Mỹ, bố mẹ, ông bà mà già nó tống ra nhà dưỡng lão hoặc sống một mình xa con cái. Rồi chuyện người nghèo ở Mỹ học hành đàng hoàng đứng ăn xin ở ngã tư, hè phố, phải sống bằng tem phiếu trợ cấp của chính phủ. Nhiều chuyện sẽ làm bạn khá ngạc nhiên và shock đó.

Kỳ thị chủng tộc

Kỳ thị chủng tộc là vấn đề có tính lịch sử của nước Mỹ. Ngay ông tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ – Obama còn bị không ít kẻ đe dọa giết thì những người phó thường dân còn bị kỳ thị thế nào. Ở ngay trường mình, hồi đó là năm 2010 khi mình vẫn đang học, có 2 cậu sinh viên Mỹ trắng, mang rải những gói bông trắng trước cửa trung tâm văn hóa của người da đen trong trường để biểu thị sự kỳ thị những người da đen trước đây đều là nô lệ tại các đồn điền trồng bông. Sau đó, vụ này bị làm ầm ĩ lên do người da đen ở Mỹ khá đông và khá đoàn kết nên 2 cậu sinh viên bị cảnh sát  bắt và trường buộc phải cho  nghỉ học. Nói rõ thế để các bạn thấy ngay bây giờ sự kỳ thị chủng tộc là khá rõ và đậm ở Mỹ, không chỉ giữa người da trắng với người da đen, mà còn cả da trắng với da vàng như người châu Á chúng ta nữa.

Tôi không biết các bạn khác cảm nhận thế nào, chứ tôi thấy người da đen (trừ tụi đầu trộm, đuôi cướp) khá thân thiện và hòa đồng với dân da vàng Việt Nam, hơn là tụi da trắng. Tụi da trắng thường look down người châu Á. Một điều đáng buồn nữa là chính dân Việt cũng kỳ thị dân Việt. Cụ thể là một số người dân Việt người gốc miền nam dạt sang Mỹ sau biến cố năm 1975 vẫn còn ôm lòng thù hận nên họ rất ghét người việt gốc Bắc, họ thường gọi là dân Bắc Kỳ để thể hiện sự kỳ thị và căm thù. Khi tôi sang bang California chơi, tới khu Little Saigon lại nhớ lời cô bé học ở Mỹ dặn là anh cứ nói tiếng Anh đừng nói tiếng Việt để tránh bị họ ghét hoặc không ưa mình. Khi tôi đến khu Phước Lộc Thọ nổi tiếng, tôi chả dám hé răng nói nửa câu tiếng Việt. Đang chụp ảnh ở ngoài khu Phước Lộc Thọ, có 1 em việt kiều, rõ là xinh xắn, đáng yêu chạy ra hỏi chuyện rồi còn tạo dáng để mình chụp nữa, xong rồi em hỏi mình bằng tiếng Anh, mà mình thì đang ú ớ chưa nghĩ ra gì thì trả lời. Kể mà không có sự kỳ thị Nam – Bắc thì chắc là mình đã quen được em xinh tươi Việt kiều. Sau đó ra ngồi uống café ở quán Việt, kêu ly cà phê cũng phải nói bằng tiếng Anh, cảm thấy rất buồn khi ngồi uống cà phê như là ở sài gòn, ngắm những ông cụ cỡ 50-60 ngồi đánh cờ tướng giết thời gian mà thấy thương cho một thế hệ, giờ sống nơi đất khách, đợi ngày gần đất xa trời .

Tụi dân Mỹ thì thể hiện sự kỳ thị với dân da vàng thì rõ rồi. Nhiều khi đi đường, nó thấy mình nó nói mấy câu gì đó mà mình biết là nó chửi hoặc nói đểu mình, nhưng mà tốt nhất là giả vờ như không nghe thấy. Đừng nghĩ mình 120 điểm TOEFL mà quay lại văng các loại hình ra với nó để thể hiện trình độ tiếng Anh là mình ngon hay khả năng nghe nói tốt. Dẫu sao mình không có sức để mà văng “fuck” với tụi Mỹ được, nó khỏe lắm. Với cả, làm nó nổi điên lên mà rút súng ra thì không khéo lên trang nhất báo địa phương mục “cáo phó” cũng nên =)). Thôi thì quân tử “tránh voi chả xấu mặt nào” hehe.

Reverse Culture Shock – hay là Shock văn hóa ngược

Ôi zời, chưa hết shock vì những gì xảy ra bên Mỹ, thì vèo 1 cái đã học xong, phải về nước phải hứng chịu cái gọi là “shock văn hóa ngược”. Đó chính là cái biểu hiện khi bạn shock khi chứng kiến những gì khi trở lại Việt Nam. Điều đầu tiên là “thất nghiệp ngắn hạn” đó là khi về bạn không có việc làm ngay. Đó có thể là vì bạn tự nguyện “thất nghiệp” do không chọn được việc ưng ý, hoặc là “thất nghiệp khi đang có việc” là khi bạn chấp nhận làm tạm ở một chỗ khá tệ so với kỳ vọng của bạn với tấm bằng bạn có được. Ví dụ, có bằng Harvard mà làm nhà nước lương 2,5 triệu/ tháng có thể coi là “thấp nghiệp khi đang làm việc”. Nhiều bạn trước khi đi du học về cứ nghĩ là khi mình về, chắc mình ghê lắm đây, chắc phải có công ty trải thảm đỏ từ sảnh đến quốc tế sân bay Nội Bài đón, nhưng thực tế là không phải vậy. Nhiều bạn về, thời gian đầu khá vật vã tìm việc. Bởi việc bạn có một cái bằng sau 2 năm học ở Mỹ đồng nghĩa với việc bạn sẽ hụt mất 2 năm kinh nghiệm gần nhất tại Việt Nam. Mà bây giờ, ở Việt Nam người ta tuyển dụng bắt đầu coi trọng kinh nghiệm rồi. Sẽ có lúc bạn sẽ nghe thấy họ nói bóng gió rằng “sợ học Mỹ về, toàn kiểu Mỹ không, không phù hợp với văn hóa Việt Nam” cho mà xem. Hơn nữa, nếu thằng sếp học hành lẹt đẹt, chắc chả bao giờ muốn tuyển 1 thằng học Mẽo về để cãi mình và dạy mình phải làm gì. Khổ thể, làm sếp là phải sĩ , làm quân thì phải dốt và ngoan. Sau chuyện việc làm được giải quyết là đến chuyện “hôn nhân” khi mà chưa có ai thì việc phải nghe “ca cải lương” của các cụ nhà là một cú shock khá lớn với du học sinh về nước. Khổ nỗi, là cũng hăng hái, nhiệt tình đi tìm “một nữa” lắm, nhưng khổ cái học xong về nước già xừ nó rồi, lại thêm cái bằng Mỹ nữa, làm các “một nửa” đang còn available đếch dám tiếp cận vì trong bụng nghĩ “anh/em ấy có bằng Mẽo, chắc gì đã ưa 1 đứa đại học trong nước” như mình. Và đã giỏi lại còn thêm đẹp nữa, đúng là cái tội. Mà cái tuổi nó đuổi xuân đi, nên sau khi học xong về nước không có người yêu là một cú shock văn hóa ngược khá mạnh mà phải trải qua mới thấy sức ép từ nhiều phía nó lớn thế nào. Nào là bố mẹ thì không nói, còn thêm bạn bè đứa nào cũng up ảnh con cái xinh xắn lên facebook, nhiều khi lúc đó mình nghĩ các bạn đi du học sẽ thấy sự đánh đổi khá nhiều khi quyết định đi du học, nhưng sự hy sinh nào chả có mất mát, được cái này mất cái kia. Mình thì tin vào duyên, chả việc gì phải lo nghĩ nhiều, cứ ăn chơi cho đời phớ lớ, đến Chí Phèo còn có Thị Nở huống chi ta ở bển mới về, hehe. Rồi còn nhiều chuyện shock ngược lắm, như văn hóa đường phố, văn minh đi đường, rồi chuyện tình cảm, chuyện đối xử giữa người với người nơi công cộng, nơi làm việc. Shock lên shock xuống luôn, shock mãi thành quen, hết shock luôn ấy mà. Không có gì phải lo lắng quá.

Chuyện tiền bạc

Ngày trước, tôi có một cô bạn, cô này thì thích đi du học “crazy” luôn, kiểu như là sống chết cũng phải sang Mỹ du học. Tôi thì khuyên rằng khi nào đảm bảo tài chính (hoặc là có tiền, hoặc là có học bổng full) hẵng sang, nhưng không nghe. Sau này sang Mỹ, tôi có tình cờ đọc blog của cô ấy thì thấy cũng rất khổ, phải đi quét cứt gà ở trang trại của người Mỹ, phải đi nhặt táo, hái dâu để làm thêm có thêm thu nhập. Quả thực rất vất vả. Tôi thì may mắn được học bổng toàn phần Fulbright nên không phải làm thêm để kiếm sống, nhưng xung quanh tôi, những bạn được trường miễn học phí, sang đó phải làm Trợ lý giảng dạy (TA) hay trợ lý nghiên cứu (RA) cho giáo sư để được trả lương hàng tháng để dùng vào trang trải sinh hoạt phí như thuê nhà, ăn uống, đi lại thì khá vất vả. Mà cũng khá là mệt mỏi và mất thời gian đó, chứ không êm đẹp như bạn nghĩ đâu. Bạn cứ hình dung, bạn đi học cả ngày, rồi về phải chấm bài cho giáo sư, chuẩn bị đề thi, soạn giáo trình…vv thì còn sức đâu mà học mà chơi nếu không cố gắng gấp 2 lần người khác. Dẫu sao thì TA, RA vẫn còn là nhẹ nhàng và trí tuệ hơn rất nhiều những việc tay chân khác mà sinh viên Việt Nam làm khi đi du học rồi. Tụi Mỹ khi tôi sang đó, nó nói là có những loại việc nó xếp vào dạng 3D (dirty, cái gì nữa tự nhiên quên rồi, đại loại là kiểu bẩn thỉu, rẻ mạt, tay chân) mà tụi Mỹ trắng không làm thì dành cho tụi nhập cư làm, kiểu như lao động tay chân. Sinh viên việt Nam sang du học thì làm đủ thứ nghề để sống, chủ yếu là bưng bê, lau dọn, tay chân là nhiều vì mình không phải dân bản xứ, cho dù TOEFL 120 nó vẫn không đánh giá tiếng anh của mình bằng một thằng nói lắp người Mỹ. Do vậy, bạn nên đảm bảo làm sao để tài chính không phải là một sức ép quá lớn khi đi du học. Vấn đề tiền bạc sẽ làm bạn hết sức đau đầu và mệt mỏi ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý học hành của du học sinh. Nhiều bạn, do gia đình cũng khó khăn, sang đấy mới thấy chi phí tốn kém và đắt đỏ như thế nào, nhưng cũng không dám email về xin bố mẹ vì thương bố mẹ quá, sợ bố mẹ phải đi vay nợ cho mình đi học nên thành ra hoàn cảnh rất khó xử. Do vậy, lời khuyên của mình là hãy tìm cho mình một nguồn tài chính đảm bảo để không phải suy nghĩ quá nhiều về chuyện tiền bạc khi đi du học. Khi đó, đầu óc của bạn sẽ có nhiều thời gian để tập trung vào suy nghĩ học hành hơn.

Kết luận:

Đi du học là một quyết định táo bạo và quan trọng và bạn nên cân nhắc kỹ khi đưa ra quyết định này, bởi có thể bạn sẽ phải mất nhiều thứ đáng giá khác. Ví dụ, bạn đang làm một vị trí rất tốt, cơ hội thăng tiến cao, lương cao mà bỏ đi du học thì sau khi đi du học về rất có thể bạn cho dù có bằng cao hơn nhưng khó có lại vị trí mà nhiều người mơ ước như trước nữa. Hoặc là đang yêu, đi du học đành chia tay, sau này về lại tiếc nuối vì người yêu đã lập gia đình và sống hạnh phúc, còn mình thì có tấm bằng từ quê hương Obama nhưng tối đến chả ma nào đến rủ đi hẹn hò. Hoặc là đang có chồng, có con, đùng đùng đi du học  một mình, chồng ở nhà buồn quá sang tâm sự với con bé đồng nghiệp thế là chả hiểu tâm sự thế nào, bụng con bé kia càng ngày càng to. Và hàng tỉ các mất mát khác. Nhưng mà có sự hy sinh nào mà không có mất mát ít nhiều. Do vậy, lời khuyên của mình là các bạn nên cân nhắc kỹ khi đi du học để chọn được phương án có lợi nhất trong các phương án có thể. Mình khuyên các bạn nên đi du học khi còn trẻ, và khi chưa vướng bận tình yêu và gia đình. Như đã nói ở trên, bài viết này viết ra không phải để “hù dọa” các bạn mà để giúp các bạn có đầy đủ thông tin để đưa ra một cái “informed decision” tốt nhất cho mình. Dẫu có muôn vàn khó khăn, thử thách, thậm chí là “mất mát”, nhưng mình vẫn luôn động viên các bạn nào có ước mơ du học, hãy đi du học, bởi nó sẽ thay đổi cuộc đời bạn khá nhiều, và giúp bạn không còn là “con ếch ngồi ở đáy giếng Việt Nam” nữa. Và điều quan trọng nhất vẫn là “chỉ cần có một ước mơ”, rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đó.

Chúc các bạn may mắn!

 

Trần Ngọc Thịnh

Học làm báo ở bên Mỹ – Kinh nghiệm của 1 Fulbrighter ngành báo chí

Giống như bao sinh viên sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, tôi đã phải chật vật để bắt đầu một môi trường mới…

 

Tôi đi học và làm báo Mỹ

Tác giả (hàng sau, ngoài cùng bên phải) tại tòa soạn Báo New York Times

Tôi tới Mỹ vào mùa hè năm 2015. Giống như bao sinh viên sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, tôi đã phải chật vật để bắt đầu một môi trường mới và phải đáp ứng với nhiệm vụ mới: nghiên cứu về xu hướng báo chí hiện đại và viết báo bằng tiếng Anh.

Tôi nhớ như in, sau gần 1 tháng học tập, ngày 25/7/2015, tôi được đăng bài báo đầu tiên trên tờ The Post Standard của bang New York. Tôi hưởng nhuận bút là 35 đô la. Về cơ bản, khoản nhuận bút ở báo Mỹ tính ra cũng chỉ bằng mức sàn như Việt Nam.

Học tập trong môi trường báo chí ở Mỹ rất căng thẳng, bởi các giảng viên luôn cố tái hiện ngành công nghiệp báo chí ngay tại ngôi trường. Trên thực tế, báo chí Mỹ đang bị tác động bởi công nghệ một cách mạnh mẽ, điều đó kéo theo báo chí luôn thay đổi, luôn vận động từng phút, từng giây.

Chính vì xác định báo chí hiện đại phải gắn liền với công nghệ, cho nên những môn học trong trường khá hiện đại và thậm chí lạ lẫm. Những kĩ năng cơ bản bắt buộc mọi sinh viên đều phải có đó là thực hiện và dựng video clip, chụp hình và chỉnh sửa hình ảnh, làm infographic (hình hoạ truyền tải thông tin), có kiến thức chuyên sâu về mạng xã hội để đẩy lượt người xem trên các báo điện tử.

Ngoài ra, trường còn có những môn nghiêng hẳn về chính trị, kinh tế, văn hoá, giải trí…, từ đó, nếu sinh viên đã có định hướng theo mảng gì trong tương lai, sẽ đăng kí học những khoá học đó. Thậm chí, trường còn dạy về Virtual Reality (cảm nhận không gian 3 chiều trên máy tính), từ đó chúng tôi có thể làm những bài báo với đồ hoạ 3 chiều. Điển hình là làm dự báo thời tiết, chúng tôi có thể tạo cho độc giả cảm giác rõ mức độ nắng, mưa, hay bão tuyết.

Hầu hết các chương trình thạc sĩ báo chí ở Mỹ đều gói gọn trong một năm. Điều này khiến các môn chúng tôi học trong một tháng, sẽ bằng các trường khác học trong một học kì 4 tháng. Có những thời điểm, chúng tôi đi học từ 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều mới được nghỉ. Sau giờ học, chúng tôi phải tự đi săn tin, phỏng vấn và tác nghiệp ở những thành phố xa xôi.

Ngoài ra, những bài tập mang tính khái quát về nền công nghiệp báo chí, hay viết những bài phản biện về những cuốn sách, phản biện những chương trình talkshow được các giáo sư giao khá dày đặc và phải mất rất nhiều thời gian để hoàn thành.

Thời kì đầu đến Mỹ, mỗi ngày tôi chỉ có khoảng 4 tiếng để ngủ, thậm chí có những đêm thức trắng để hoàn thành các bài viết. Sau này, khi đã quen với cường độ này, tôi thấy mọi thứ dễ dàng hơn. Nhiều khi tôi nghĩ, cái học được lớn nhất khi tới đây đó là khả năng chịu áp lực.

Khi kết thúc học kì xuân vào cuối tháng 4 năm nay, tôi đã lên kế hoạch tìm chỗ làm. Thực ra tôi còn một số môn chưa học, và tôi muốn đổi lấy những tín chỉ này sang đi làm và nhà trường sẽ xem đó là kì thực tập. Với sự trợ giúp của các giảng viên, tôi đã xin vào làm theo dạng cộng tác viên của tờ nhật báo The Post and Courier ở bang Nam Carolia. Tờ báo này khá có tiếng bởi mới năm ngoái, nó đã nhận giải Pulitzer ở hạng mục “Phục vụ cộng đồng”.

Nắm bắt cơ hội này, tôi bắt đầu cuộc hành trình làm báo ở Mỹ…

Tôi được bàn giao về ban văn hoá, cũng là lĩnh vực tôi có thế mạnh nhất. Một tuần làm việc bắt đầu bằng các buổi họp giao ban vào sáng thứ 7, khi mà tất cả các phóng viên đều phải báo cáo đề tài và nhận phản biện từ các biên tập viên.

Mỗi bài báo viết ra đều phải gửi cho biên tập viên trước 4 ngày, trừ những tin bài thời sự, họ chỉ giao cho những phóng viên gạo cội nhiều kinh nghiệm. Trong 4 ngày đó, ban kiểm tra thông tin (fact checker) sẽ lần theo thông tin và số điện thoại của tất cả những người được phỏng vấn trong bài để kiểm tra các chi tiết.

Khâu này ở các toà soạn báo Mỹ được xem cực kì quan trọng, bởi luật báo chí khá chặt chẽ, và mỗi khi các báo đưa thông tin sai hay trích dẫn sai, thì con đường dẫn đến các phiên kiện tụng sẽ rất gần. Báo chí Mỹ khá thống nhất về văn phong, họ chuộng câu đơn và ngắn. Họ chọn thể chủ động thay cho bị động, vì tác nhân gây ra phải rõ ràng. Họ không dùng tính từ, vì tính từ là cảm xúc cảm tính của phóng viên chứ không phải bản chất sự kiện.

Ở The Post and Courier, ngoài viết bài ra, tôi thường được giao quay và dựng video clip trên các thiết bị di động. Mỗi clip chỉ gói gọn trong một phút và được cập nhật thường xuyên trên trang điện tử.

The Post and Courier có một ban phụ trách về mạng xã hội riêng. Ban này phải làm việc với phóng viên để tìm ra phương án phù hợp khi đưa link lên mạng xã hội. Những kênh được các báo sử dụng bao gồm Facebook, Twitter, Pinterest và Instagram. Chiến lược đăng tải bài trên mạng xã hội được lập thành bảng dựa trên những thông số được thu thập từ các nhà khảo sát về thói quen, thời gian, giới tính, độ tuổi của người đọc.

Ví dụ, nếu đăng tin bài thời sự thì khung giờ phải là từ 7 đến 9 giờ sáng khi mọi người đi làm trên xe bus, tàu điện ngầm và họ sẽ sử dụng các thiết bị điện tử lướt tin bài thật nhanh. Nếu các dạng bài tư vấn thì khung giờ thường là 7 đến 9 giờ tối, khi người đọc sử dụng thời gian nghỉ ngơi để đọc những thông tin sâu cần suy ngẫm.

Nếu bài thiên về hình ảnh thì phải chọn Instagram, một kênh thiên về hình ảnh, để đăng chứ không phải là Facebook, hay tường thuật thời sự trực tiếp phải là Twitter, nơi người đọc tìm thông tin ngắn và tương tác với bạn bè người thân nhanh hơn Facebook.

Báo chí Mỹ hiện nay đều lấy mảng báo điện tử làm hướng phát triển chính. Theo xu thế chung, một tờ báo điện tử đều phải làm tốt về 2 khía cạnh: nội dung, và tận dụng giao diện, môi trường số.

Về mặt nội dung, ở tờ báo tôi làm, họ ít khi chấp nhận sử dụng nguyên những bài trên báo giấy để đăng lên báo điện tử. Mỗi phóng viên khi viết bài đều phải hoàn thành 2 phiên bản, một cho báo giấy và một cho báo điện tử. Bản viết cho báo giấy có thể dài, nhưng bản cho báo điện tử bắt buộc phải ngắn, thông thường chỉ dưới 500 chữ.

Về mặt tận dụng môi trường số, các báo Mỹ, trong đó có The Post and Courier, đang có cuộc chạy đua về cải cách hình thức bài báo. Đi đầu phong trào này là BuzzFeed khi tờ này “lăng xê” cách viết dạng “list” theo kiểu gạch đầu dòng. Để làm được dạng bài này, phóng viên phải tập khái quát ý, sử dụng ngôn ngữ chặt chẽ và ngắn.

Ví dụ, khi viết về buổi bầu cử sơ bộ ở bang New York, thay vì tường thuật thành một bài báo, rất nhiều tờ theo đuổi cách viết khái quát dạng như “10 điều bất ngờ ở buổi bầu cử sơ bộ New York”, hay “7 khoảnh khắc của Donald Trump ở buổi bầu cử”. Cách viết này khiến người đọc có thể đọc nhanh, tiết kiệm thời gian nhưng vẫn nắm bắt được đầy đủ thông tin của sự kiện.

Ở báo điện tử, bên cạnh 2 dạng bài khá truyền thống là video clip và hình ảnh, thì sử dụng hình hoạ (infographic) để khái quát thông tin cũng đang khá thịnh hành. Hầu hết các phóng viên đều phải thông thạo các thao tác trên máy tính để thực hiện dạng bài này.

Ngoài ra, các phóng viên đều phải cập nhật các thuật toán của Google và Facebook về tìm kiếm, từ đó họ có phương án chèn hoặc sử dụng các từ khoá vào bài viết một cách hiệu quả hơn. Việc này giúp bài báo hiện thị khi có ai đó tìm kiếm qua Google hay Facebook.

Trong tương lai gần, các báo Mỹ bắt đầu tuyển những phóng viên có thể sản xuất được nội dung có không gian 3 chiều. Đi đầu về dạng này là New York Times khi năm 2015, họ tường thuật một diễn biến của một cơn bão tuyết bằng đồ họa 3 chiều, khiến người đọc có thể cảm nhận được độ khốc liệt và nguy hiểm của cơn bão.

Nhìn chung, công nghệ chi phối nền công nghiệp báo chí nơi đây. Chính điều này đã dẫn đến 2 thay đổi: báo in, tạp chí đang dần bị khai tử và các phóng viên chỉ biết mỗi viết bài đã gần như không còn tồn tại ở Mỹ.

Nói cách khác, từ phóng viên ở Mỹ đã được định nghĩa lại, khi họ đã dần biến thành những chuyên gia công nghệ thông tin biết viết lách.

Vĩnh Khang là phóng viên thuộc Báo Nông nghiệp Việt Nam. Năm 2015, anh nhận học bổng toàn phần từ quỹ học bổng Fulbright của Chính phủ Mỹ. Hiện anh theo học Thạc sĩ Báo chí tại Newhouse School thuộc Đại học Syracuse, bang New York.

Vĩnh Khang có nhiều bài báo về văn hóa đại chúng được đăng tải trên các báo Mỹ như: The Post and Courier, Syracuse New Time, The Post and Standard…

VĨNH KHANG

Từ kẻ ngỗ ngược thành học giả Fulbright

“Câu chuyện của tôi bắt đầu từ khi là cậu học sinh lười biếng, ngỗ ngược. Tôi đã nuôi dưỡng giấc mơ du học đến khi cánh cửa đại học Mỹ mở ra với mình”, Nguyễn Bá Trường Giang viết.

Tôi sinh ra ở làng quê ngoại thành Hà Nội. Hồi nhỏ, tôi lười học, đến lớp không bao giờ nghe giảng, chỉ mang vở ra vẽ. Có lần, tôi trèo lên nóc nhà giám hiệu, phi máy bay giấy bay lượn. Tôi cứ thầm ước sau này cũng bay cao, bay xa, dù khi ấy học dốt.

Tuổi thơ ngỗ ngược

“Thôi con ạ, con học dốt thế này, suốt ngày lêu lổng, học võ, đánh nhau, tụ tập thì chẳng hy vọng gì đâu”, mẹ đã nói như vậy cách đây đúng 24 năm, khi tôi học lớp 9.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 1
Nguyễn Bá Trường Giang tại lễ tốt nghiệp đại học.

May mắn đỗ vào cấp 3, tôi vẫn tiếp tục… đánh nhau, đốt pháo, nhiều lần bị đuổi học. Năm lớp 11, người bạn thân rủ tôi đi học tiếng Anh để bố cậu ta xin cho vào làm khách sạn. Cuộc đời cậu bé ngỗ ngược bắt đầu thay đổi từ đó.

Tôi và bạn đạp xe đến trung tâm tiếng Anh học giáo trình Streamline A. Hôm đầu vào lớp, nghe thầy nói tiếng Anh, tôi choáng lắm.

Bố mẹ rất vui vì 16 năm qua mới thấy con tôi học. Bố ra trường Sư phạm Ngoại ngữ mua cho băng cát-xét giáo trình Streamline A, B, C. Tôi nghe 1 tháng hết cả ba giáo trình. Chị tôi học trong Nam ra, mang cho cuốn từ điển bé xíu, tôi tra nát cả từ điển, đánh dấu nguệch ngoạc.

Học hết cấp 3, tôi thi đỗ hai trường đại học với điểm khá cao khiến người thân và bè bạn đều ngỡ ngàng. Ai cũng biết đến năm lớp 11, tiếng Anh của tôi chỉ 3,9, đến lớp 12 đã là 8,9.

Nuôi ước mơ du học

Tôi kể câu chuyện về hành trình vươn lên từ một cậu bé lười nhác, ngỗ ngược để nhắn nhủ các bạn trẻ hãy nuôi dưỡng ước mơ, để bước tới cánh cửa du học. Các bạn trẻ hãy quyết tâm, thành công rồi sẽ đến.

Tốt nghiệp đại học, tôi làm giảng viên tiếng Anh và đi dịch kiếm tiền. Đây chính là thời gian tôi rèn luyện, tu dưỡng bản lĩnh để chuẩn bị cho chuyến xuất ngoại đầu tiên của mình.

Tôi học say mê, nghỉ hè cũng lao vào học. Khi tốt nghiệp, tôi đã có hơn 10 cuốn sổ đầy ắp từ mới. Chiếc cát-xét bố mua tặng đã bị gãy nút “tua” vì nghe quá nhiều.

Từ bé, tôi đã mơ thấy cánh cửa đại học Mỹ mở ra. Đến một ngày, có người chị gái thân thiết làm ở Đại sứ quán Mỹ, khuyên tôi xin học bổng Fulbright. Tôi cũng chẳng nghĩ mình đạt được, vì học bổng này rất giá trị. Tôi vẫn đăng ký và được gọi đi thi tiếng Anh. Với sở trường ngoại ngữ, tôi vượt qua các vòng thi tuyển thuận lợi.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 2
Nguyễn Bá Trường Giang và nhóm Fulbrighter 2007 tại nhà Đại Sứ Michael W.Marine.

Bài luận của tôi nói về Việt Nam, về những khó khăn của thế hệ chúng tôi, tình hình chung của đất nước. Tôi thể hiện một niềm tin chắc chắn về tương lai của Việt Nam và kế hoạch tương lai của mình. Tôi hứa đi học về sẽ đóng góp hết lòng để phát triển đất nước. Quy định của Fulbright chỉ cho 800 chữ, nhưng tôi viết gần 2.000 chữ rồi kẹp vào hồ sơ.

Sau này, nhiều người nhờ tôi sửa giúp bài luận khi du học. Trong số đó, có người vào Đại học Harvard, Đại Học Luật Fordham, Michigan (Mỹ). Một em đỗ Đại học Oxford (Anh).

Trở thành học giả Fulbright

Đến vòng phỏng vấn xin học bổng, hai người phỏng vấn tôi, một người Mỹ và một người Việt, mặt mũi nghiêm trọng lắm. Có nhiều ứng viên gặp họ đã run, không biết bắt đầu thế nào. Tôi vào phòng, nhìn hai vị, cười tươi và chào họ. Không đợi họ hỏi, tôi bắt đầu câu chuyện ngay bằng câu hỏi xã giao: “Ông sang Việt Nam lâu chưa? Thời tiết oi bức quá, ông có quen không?”.

Chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Vị giáo sư đó hỏi: “Trong bài, tôi thấy em viết câu này, em có quan điểm thế nào mà viết thế?”. Tôi trả lời: “Tôi xin đính chính là không viết như thế…”. Người đó mỉm cười.

Sau này tôi mới biết đó là thủ thuật để xem người đối diện có phải tác giả thực sự của bài viết không. Chúng tôi ngồi nói chuyện về kinh tế Việt Nam, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực…

Tôi giành học bổng Fulbright trong sự vui mừng của gia đình và bạn bè. Sau một năm chuẩn bị, tôi được nhận vào trường Cornell, một trong 8 đại học thuộc nhóm Ivy-League (Havard, Yale, Princeton, Cornell, Dartmouth, Brown, Colombia, Pennsylvania). Các trường này có chất lượng giáo dục rất tốt.

Nguyễn Bá Trường Giang là học giả Fulbright, tốt nghiệp khoa Kinh tế, Đại Học Cornell, New York và khoa Luật, Đại học Luật Boston, Mỹ.

Trường Giang từng giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ – Văn hóa Anh – Mỹ, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; làm cố vấn pháp luật cao cấp tại Hãng luật Baker & McKenzie; giám đốc pháp luật tại Tập đoàn Thiên Minh và hiện là chuyên gia cao cấp tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).

Nguồn: https://news.zing.vn/tu-ke-ngo-nguoc-thanh-hoc-gia-fulbright-post616540.html

Kinh nghiệm xin học bổng Fulbright – ngành Báo Chí

 “Tôi chuẩn bị hồ sơ xin học bổng Fulbright trước một năm và cho rằng đây là một phần bí quyết thành công”, nhà báo Vĩnh Khang, người giành học bổng Fulbright năm 2015-2016, viết.

Khi xin học bổng Fulbright 2015-2016, tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ từ các Fulbrighters đi trước. Nhân dịp Fulbright 2017 khởi động, tôi xin chia sẻ một vài kinh nghiệm với những bạn trẻ quan tâm.

Kinh nghiem xin hoc bong Fulbright hinh anh 1
Nhà báo Vĩnh Khang (hàng đầu bên phải) cùng các bạn bè trong chương trình thạc sĩ báo chí.

1. Bạn chưa biết bắt đầu từ đâu?

Các bạn nên bắt đầu bằng việc tìm hiểu tiêu chí của Fulbright, xem mình có và chưa có gì. “Biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”, hãy google những bài chia sẻ kinh nghiệm của những người đi trước để tham khảo.

Tiếp đến là thi tiếng Anh, bạn viết tất cả những ý tưởng cho bài luận ra giấy hay điện thoại, chờ đến ngày đặt bút viết.

Nếu có thời gian, bạn có thể liên lạc với một số Fulbrighters đi trước, mời họ cà phê, trò chuyện. Hỏi về kinh nghiệm chỉ là một phần, bạn nên quan sát con người họ, như tính cách, cách nói chuyện, quan điểm trong các vấn đề… Điều này giúp ích rất nhiều ở vòng phỏng vấn.

Theo quan sát của tôi khi tìm hiểu về các Fulbrighters, khi học xong, quay về Việt Nam, họ có thể thành công hoặc không, hay chưa làm được những việc như kỳ vọng, nhưng họ có một điểm chung: Không “nhạt”.

Lời khuyên nữa cho các bạn là chuẩn bị sớm. Tôi chuẩn bị hồ sơ trước cả một năm và cho rằng đây là một phần bí quyết thành công.

2. Tại sao chọn Fulbright, không phải học bổng khác?

Khi lên kế hoạch du học, tôi cũng tham khảo một số học bổng khác. Tôi nộp hồ sơ và có lần cũng vào được đến vòng phỏng vấn, nhưng có thể không hợp tiêu chí và bản thân tự cảm thấy không thực sự tha thiết nên chưa thành công.

Mỗi học bổng đều có những tiêu chí riêng, bạn nên đầu tư vào học bổng phù hợp với mình, đừng rải hồ sơ, mất thời gian. Tôi thấy phù hợp các tiêu chí của Fulbright, từ ngành nghề, kế hoạch cho tương lai và cả yếu tố con người nữa.

Kinh nghiem xin hoc bong Fulbright hinh anh 2
Nhà báo Vĩnh Khang tại nơi theo học.

3. Báo chí văn hoá vẫn xin được học bổng Fulbright?

Một bạn từng hỏi tôi như vậy cách đây khá lâu. Thực tế, Fulbright không phân biệt nghề nghiệp hay lĩnh vực nào cả, vấn đề bạn phải thuyết phục được những người chấm hồ sơ và trình bày ấn tượng trong vòng phỏng vấn.

Nếu trong đầu bạn chưa có ý niệm cụ thể về công việc mình làm, nó đóng vai trò gì trong xã hội, thì dù làm lĩnh vực gì cũng vậy thôi, không nên xin học bổng. Không riêng gì Fulbright, các học bổng khác cũng là “con đường” dài và rất nhiều người nản chí dọc đường. Đừng phí thời gian.

Cá nhân tôi đã xây dựng một kế hoạch (short term và long term vision) dựa trên chuyên môn của mình, gắn liền đơn vị công tác và cả những hoạt động cá nhân. Một kế hoạch chặt chẽ, khả thi, ảnh hưởng xã hội sẽ thuyết phục được hội đồng.

4. Điểm tiếng Anh có quan trọng không?

Học bổng Fulbright cấp cho các ngành khoa học xã hội. Điều dễ dàng nhận thấy là khi học, câu nói “tiếng Anh chỉ là công cụ” chỉ đúng với người học kỹ thuật hoặc khoa học tự nhiên. Với ngành xã hội, tiếng Anh rất quan trọng.

Riêng Fulbright, các bạn cần nộp điểm tối thiểu TOEFL iBT = 79; IELTS = 6,5 là đủ điều kiện. Nếu bạn nào chưa thi tiếng Anh, lời khuyên là nên thi luôn TOEFL iBT, vì dù có nộp IELTS thì khi được chọn, bạn vẫn phải thi TOEFL iBT. Bài thi TOEFL iBT khó hơn IELTS. Ôn thi TOEFL IBT mệt hơn, căng thẳng hơn, nhưng đề lại hay hơn.

5. Người viết thư giới thiệu chức càng to càng tốt?

Người viết thư giới thiệu nên liên quan lĩnh vực của bạn, cũng như hiểu rõ bạn sẽ làm được gì. Ứng viên phải có 3 thư giới thiệu, đồng nghĩa có 3 cơ hội “tiếp thị” hình ảnh tới hội đồng.

Bạn có thể chọn 3 người hiểu về mình ở 3 khía cạnh khác nhau, cũng như nhìn nhận công việc và kế hoạch của bạn ở 3 góc nhìn, quan điểm khác nhau. Như vậy, sẽ hiệu quả hơn nhiều so với 3 bức thư gần giống nhau.

Ví dụ, lĩnh vực của tôi là báo chí, tập trung mảng văn hóa nghệ thuật. Tôi chọn một tổng biên tập viết thư, một nghệ sĩ (ca sĩ Trần Thu Hà), một người trong lĩnh vực báo chí có tầm nhìn bao quát xu hướng báo chí Việt Nam và quốc tế (Nguyễn Danh Quý – Editor in Chief của ELLE Vietnam).

Bác Tổng biên tập sẽ đánh giá mình ở khía cạnh chuyên môn báo chí; ca sĩ Hà Trần đánh giá hiểu biết (có thể cả hạn chế) về nghệ thuật, anh Quý đánh giá về khả năng hiểu biết, hoà nhập xã hội, cũng như học tập của mình ở môi trường quốc tế.

6. Bài luận nên viết gì và cấu trúc thế nào?

Đây là mấu chốt của sự thành công. Mỗi người có con đường riêng đến với sự thành công, nhưng tựu trung, bài luận ý tứ phải rõ ràng, câu cú đơn giản, dễ hiểu, tránh trình bày chung chung, mọi thứ cần phải cụ thể. Các bạn có thể nhờ người sửa lại, nhưng “có bột mới gột nên hồ”. Nếu không có ý gì trong bài luận, ai sửa cũng vậy thôi.

Tôi chọn cách viết thư dạng “xuyên không”, từ tương lai, đã nhận Fulbright, học xong và thực hiện những kế hoạch, rồi quay về quá khứ – nhìn mình từ lúc mới ra trường, gặp khó khăn gì trong công việc và cuộc sống; quyết định xin học bổng Fulbright để nâng cao kiến thức như thế nào.

Bằng cách này, tôi vừa giới thiệu được kiến thức nền mà không khô cứng, cũng như khoe được kế hoạch, mục đích, khiến hội đồng tò mò đọc tiếp bài luận tiếp theo (cụ thể hơn về kế hoạch tương lai). Nó cũng khiến họ muốn biết con người thực ngoài đời của người viết.

Riêng bài Objective Statement, tôi chọn cách viết tiểu luận, gồm Introduction, Body và Conclusion. Phần Body, tôi trình bày theo lối diễn giải và theo thứ tự Firstly, Secondly…, rồi đến topic sentence và supporting sentence.

Bài luận này sẽ hỏng nếu bạn trình bày chung chung. Hội đồng muốn xem ứng viên hiểu thế nào về kế hoạch đề ra, nên hãy cụ thể mọi thứ. Một bài viết dạng creative và 1 bài essay là cách tôi cân bằng.

7. Trả lời như thế nào ở vòng phỏng vấn?

Đây cũng là vòng rất quan trọng. Mỗi ứng viên có cách trả lời phỏng vấn khác nhau. Sau khi tham khảo vài người nhằm chuẩn bị tâm lý, tôi chọn cho mình cách trả lời riêng. Nhìn lại, tôi cho rằng, mình thành công nhờ chuẩn bị tốt, phong độ tốt và hài hước.

Chuẩn bị tốt là tự “mổ xẻ” hồ sơ của mình, xem hội đồng sẽ hỏi những gì. Khi đọc một dòng, bạn sẽ tự phản biện những gì trong đó. Ví dụ, tôi từng viết rằng “sẽ tiếp tục làm báo in”, thì phải nghĩ ngay đến câu hỏi: “Thời đại công nghệ, tại sao cậu vẫn đi làm báo in?”…

Riêng về phong độ tốt thì khó nói lắm. Với cá nhân tôi, ăn đều, ngủ khoẻ, tập gym không sót ngày nào, là có phong độ tốt ngay.

Hài hước? Khi vào phỏng vấn, nếu không phải chính mình, bạn sẽ thiếu thoải mái và mất tập trung. Thế nên, bạn hãy hài hước nếu là người hài hước.

Tôi từng bảo với hội đồng hãy đọc báo in vì nó chứa đựng những lời vàng ngọc của những người sắp chết. Nói chung, có nhiều câu “bá đạo” nữa và tôi thấy hội đồng mấy lần cười nghiêng ngả.

Thái độ trong phòng phỏng vấn cũng rất quan trọng, bạn nên tập trung, vui vẻ, chân thành và cầu thị.

Nhà báo Vĩnh Khang từng nhận học bổng Fulbright 2015 – 2016, nghiên cứu thạc sĩ ngành Báo chí. Hiện, anh công tác tại báo Nông Nghiệp Việt Nam.

Vĩnh Khang học tại Newhouse School and Public Communication (Syracuse University, New York, Mỹ). Đây là trường được xếp hạng tư trong danh sách các trường đào tạo Báo chí tốt nhất nước Mỹ năm 2015.

Anh cũng tham gia cộng tác với nhiều tờ báo như ELLE, Người Đẹp, 2!, Tiền Phong, VietNamNet.. và có một số bài đăng trên báo Mỹ.

Nguồn:  https://news.zing.vn/kinh-nghiem-xin-hoc-bong-fulbright-post612964.html

25 năm Fulbright Vietnam qua những con số

Năm 2017 đánh dấu lễ kỷ niệm 25 năm chương trình Fulbright tại Vietnam. Đại sứ quán Mỹ đã tổ chức một buổi lễ kỷ niệm hoành tráng tại Khách sạn Melia Hanoi vào ngày 19/12/2017 để nhìn lại những thành quả của 25 năm hoạt động của chương trình Fulbright đồng thời tôn vinh những đóng góp của các Fulbrighter người Việt trong suốt thời gian qua. Bài viết này, tôi viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm Fulbright Program in Vietnam, dựa trên phân tích dữ liệu của chương trình Vietnamese Student Program từ năm 1992 đến năm 2015.

Như các bạn biết, thì Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995, nhưng Fulbright đã bắt đầu trước đó 3 năm. Lứa Fulbrighter đầu tiên sang Mỹ là vào năm 1992. Trong suốt 23 năm từ 1992 đến 2015 đã có tổng cộng 527 người Việt được trao học bổng thạc sỹ tại các trường đại học của Mỹ. Trung bình mỗi năm có khoảng 22 người được trao học bổng tới các trường đại học của Mỹ. Số lượng người được trao học bổng mỗi năm thay đổi tùy theo chất lượng hồ sơ và ngân sách. Bảng dưới đây cho biết số lượng Fulbrighter mỗi năm.

Năm đông nhất là năm 1994 với tổng cộng 31 người được trao học bổng. Năm thấp nhất là năm 2013 với chỉ vỏn vẹn có 15 người. Năm tôi được học bổng là năm 2009 năm đó có 28 bạn được học bổng bao gồm cả 3 bạn ở waiting list. Dưới đây là bảng số liệu học bổng giai đoạn 2005-2011.

Một điều vô cùng thú vị là mặc dù là trường danh tiếng với tỷ lệ chọi rất cao, nhưng Harvard lại là trường Đại học tiếp nhận nhiều Fulbrighter Vietnam nhất trong các trường ở Mỹ trong 23 năm qua của Fulbright Vietnam. Đại học Harvard đã tiếp nhận tổng cộng 24 Fulbrighter từ Việt Nam theo học các ngành khác nhau như Economics, MBA, Public Policy. Đứng thứ hai trong danh sách là đại học Syracuse University với 23 sinh viên. Đứng thứ ba là trường Brandeis University và University of Arizona với 16 người.

Fulbright Vietnam và Ivy League

Trong những trường Ivy League, Harvard là trường “thân thiện” nhất với Fulbrighter từ Việt Nam. Harvard tiếp nhận tổng cộng 24 người. Columbia tiếp nhận 14 người, UPenn tiếp nhận 10 người. Các trường Ivy League không rộng cửa với Fulbrighter từ Vietnam bao gồm Brown (không có 1 người nào), hai Đại học Dartmouth và Yale trong 23 năm qua chỉ tiếp nhận duy nhất một người. Như vậy, thông qua thống kê này, các bạn nào đang xin học bổng Fulbright mà nhắm tới các trường thuộc nhóm Ivy League sẽ thấy mình khả năng được chấp nhận nhập học ở những trường nào cao hơn. Dễ dàng thấy rằng trong nhóm Ivy League thì việc giành được học bổng Fulbright sẽ biến giấc mơ được học Harvard của bạn dễ dàng trở thành hiện thực hơn cả.

Harvard University 24
Columbia University 14
University of Pennsylvania 10
Cornell University 8
Princeton University 5
Dartmouth College 1
Yale University 1
Brown University 0

Những trường danh tiếng khác của Mỹ như Princeton tiếp nhận 5 người, Stanford nhận 3 người, MIT nhận 4 người. Trong 23 năm từ 1992 tới 2015, danh sách các trường Đại học tiếp nhận Fulbrighter từ Việt Nam có tới 65 trường chỉ nhận duy nhất 1 người, 27 trường chỉ nhận 2 người, 11 trường chỉ nhận 3 người, 8 trường chỉ nhận 4 người. Những trường nhận 5 người trở lên các bạn có thể tham khảo ở bảng bên dưới

Học bổng Fulbright mặc dù cho rất nhiều ngành học KHXHNV khác nhau như business, báo chí, ngoại giao…vv và Fulbright cũng công bố là không có quota cho từng nhóm ngành mỗi năm nhưng theo con số thống kê trong 23 năm qua thì ngành Business Administration chiếm một tỷ lệ áp đảo những người được học bổng so với những ngành khác.

Như bảng trên đây thì trong số 527 người được học bổng từ 1992-2015 thì có tới tận 112 người theo học Business Administration ở nhiều chuyên ngành nhỏ khác nhau như Finance, Accounting hay Marketing. 112 người theo học MBA này được sắp xếp học ở những trường khác nhau. Chúng ta hãy cùng xem những trường nào tiếp nhận nhiều MBA Fulbrighter từ Việt Nam nhất nhé.

Như vậy có thể thấy Trường Vanderbilt University ở bang Tennesse là nơi tiếp nhận nhiều nhất số lượng MBA Fulbrighter Vietnam qua học. Tính đển 2015 có tổng cộng 8 người đã lấy bằng MBA ở đây. Những trường TOP đầu ngành MBA cũng tiếp nhận một số ít Fulbrighter từ Vietnam. Cụ thể như MIT nhận 3 người, Harvard nhận 5 người, UPenn nhận 7 người. Standford nhận duy nhất 1 bạn học MBA là Nguyễn Hải Vinh năm 2010. Như vậy nếu bạn apply MBA mà nhắm tới top đầu thì UPenn là lựa chọn có khả năng thành công cao hơn.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Một điều thú vị là ngành Public Administration khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng. Đây cũng là ngành mà tôi theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Vềphân bổ theo địa lý của người được học bổng, bảng số liệu giai đoạn 2005-2011 cho thấy Hà Nội chiếm hơn 50% số lượng Fulbrighter. Đứng thứ hai là Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi lẽ hai thành phố lớn tập trung nhiều nhất những người ở khắp mọi nơi về học tập và sinh sống. Và theo như mình hiểu thì Fulbright tính địa lý căn cứ theo nơi làm việc, chứ không phải nơi sinh (quê quán) của ứng viên. Ví dụ như mình, khi nộp Fulbright thì đang sống và làm việc tại Hà Nội, nhưng quê quán thì ở Hưng Yên.

 

Về phân bổ theo đơn vị công tác, thì biểu đồ ở trên cho thấy sự phân bổ khá đồng đều xấp xỉ 25% giữa 4 khối: Nhà nước, Tổ chức quốc tế, Đại học/ Trường và Khối phi nhà nước (bao gồm kh ối tư nhân và phi chính phủ). Như vậy có thể thấy là qua số liệu thống kê thì Fulbright không hề có sự ưu tiên cho khối Nhà nước như các học bổng chính phủ khác. Do vậy các bạn ở khối tư nhân hay phi chính phủ hoàn toàn có thể tự tin để nộp học bổng.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Master of Public Affairs

Fulbright 2009-2011

Cơ hội đi Mỹ MIỄN PHÍ 2 năm kèm trợ cấp ngàn USD/ tháng

Bạn muốn đi Mỹ MIỄN PHÍ cho bản thân bạn và cả gia đình??

Bạn muốn nhận được bằng Master của những trường đại học hàng đầu bên Mỹ

Không những thế còn được nhận trợ cấp từ 1500-2000 USD/ tháng để trang trải sinh hoạt phí

và cơ hội giáo dục miễn phí cho con bạn từ lớp 1 đến lớp 12, bạn còn chần chừ gì nữa mà không tìm hiểu học bổng Fulbright – học bổng danh giá của Chính phủ Hoa Kỳ cho người Việt Nam.

Điều kiện để nộp hồ sơ khá đơn giản có 4 yêu cầu chính 

1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship) –> không có 2 quốc tịch

2. Have at least one undergraduate degree – đã có bằng đại học ở Việt Nam

3.  Có tối thiểu 2 năm kinh nghiệm tính từ ngày ghi trên bằng đại học tới ngày hết hạn nộp hồ sơ.

4. Có điểm tiếng Anh tối thiểu là TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Những đối tượng sau đây sẽ không được nộp hồ sơ 

  1. Người đã được nhận học bổng Fulbright

  2. Người đang sống và học tại Hoa Kỳ

  3. Người có bằng cử  nhân hay Thạc sỹ ở Đại học của Mỹ trong vòng 3 năm trở lại đây

  4. Nhân viên của phái đoàn ngoại giao Mỹ tại Việt Nam và những người thân thuộc bao gồm những người đang làm việc hoặc 1  năm sau khi kết thúc làm việc

  5. Người đã nhận học bổng cao học trong vòng 5 năm trở lại đây hoặc sắp nhận học bổng cao học khác.

Danh sách những ngành học được cho học bổng

Các bạn có thể tìm hiểu về các ngành học được cấp học bổng tại link này

Short introduction to Study Subjects in Vietnam Fulbright Student Program

Ngành nào có nhiều cơ hội dành học bổng hơn, các bạn đọc bài viết này 

Nộp ngành gì dễ được học bổng Fulbright???

Hồ sơ xin học bổng bao gồm 

  1. Hai bài essays (study objectives and personal statement)
  2. Ba thư giới thiệu
  3. Bằng đại học và bảng điểm (cho mỗi Đại học mà bạn theo học)
  4. Điểm TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Sơ yếu lý lịch

Nộp hồ sơ online tại địa chỉ https://iie.embark.com/apply. Hướng dẫn cách nộp hồ sơ tại địa chỉ https://vn.usembassy.gov/wp-content/uploads/sites/40/fvst2019-application-guidelines.pdf

Tiêu chí lựa chọn

Không phân biệt giới tính, màu da, ngành nghề, xuất thân, tổ chức mà hoàn toàn dựa vào năng lực và thành tích. Ưu tiên cho những ai chưa có kinh nghiệm trước đó với nước Mỹ. Một ứng viên thành công sẽ cần phải hội đủ các yêu cầu sau:

  • Mô tả rõ ràng và chi tiết mục tiêu học tập, thể hiện một sự kết nối rõ ràng giữa mục tiêu học tập với mục tiêu tương lai thông qua các bài luận
  • Có kinh nghiệm làm việc sâu rộng trong lĩnh vực dự định nộp hồ sơ và hiểu biết đầy đủ về ngành học
  • Thể hiện tiềm năng lãnh đạo dựa trên hoạt động ở trường, hoạt động ngoại khóa, cộng đồng và các hoạt động  nghề nghiệp khác
  • Thể hiện sự cống hiến cho Việt Nam và tiềm năng mang lại sự thay đổi tích cực khi quay về
  • Đóng góp thúc đẩy hiểu biết giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Mỹ thông qua các hoạt động trao đổi giáo dục và văn hóa
  • Sẵn lòng trở thành đại sứ văn hóa của Việt Nam
  • Thể hiện thành tích học tập xuất sắc và khả năng Anh ngữ tốt.

Khung thời gian 

  • Tháng 1/2018: Thông báo học bổng
  • Ngày 15/5/2018: Hết hạn nộp hồ sơ
  • Tháng 6 &7/ 2018: Xét duyệt hồ sơ và lựa chọn người vào vòng phỏng vấn
  • Tháng 9/ 2018: Phỏng vấn và lựa chọn người trao học bổng
  • Tháng 10 &11/2018: Người được học bổng thi lại GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • Tháng 11/2018 – Tháng 3/ 2019: Nộp hồ sơ cho các trường bên Mỹ
  • Tháng 4 & 5/2019: Xác nhận việc sắp xếp trường
  • Tháng 5/2019: Hội thảo định hướng trước khi lên đường
  • Tháng 6 & 7/2019: Kiểm tra sức khỏe và xin Visa
  • Tháng 7&8/2019: Lên đường sang Mỹ nhập học.

Cơ hội mà học bổng Fulbright đem lại 

  • Được vào học những trường danh tiếng của Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được nhận trợ cấp từ 1200 -2000 USD/ tháng để trang trải chi phí ăn học
  • Được hỗ trợ xin visa rất dễ dàng
  • Được tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa bên Mỹ rất thú vị
  • Được được vợ/ chồng và con cái theo, visa diện J2 có thể đi làm
  • Được cơ hội cho con cái từ lớp 1 đến lớp 12 học tại Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được cho vé máy bay và bảo hiểm y tế trong suốt quá trình học
  • Được gia nhập mạng lưới Fulbrigther khắp toàn cầu một network rất giá trị
  • Và được rất nhiều thứ khác nữa vô giá

 

Vậy còn chần chừ gì nữa mà không nộp hồ sơ nào các bạn ơi. Đừng lo lắng, đừng sợ sệt. Hãy mạnh dạn thử sức mình, nếu được ta ăn mừng, nếu chưa được năm sau ta thử sức tiếp.

Nếu trong quá trình nộp hồ sơ, bạn có thắc mắc gì, các bạn có thể liên hệ với mình. Trong quá trình chuẩn bị làm hồ sơ, viết luận, xin thư giới thiệu, các bạn muốn mình tư vấn thì chủ động liên hệ với mình. Contact của mình ở dưới đây

Email: tranngocthinh@gmail.com

Facebook:  www.facebook.com/tranngocthinh

Fanpage: www.facebook.com/tranngocthinh287

 

Chúc các bạn may mắn có được suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng ngàn USD/ tháng nhé.

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter Public Administration

AY 2009-2011

Ngành nào từ trước đến nay được nhiều học bổng Fulbright nhất??

Mặc dù trong FAQ (Tài liệu hỏi đáp), Fulbright Vietnam trả lời rằng không có quota cho từng ngành học được tài trợ.

“Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits”

Thực tế là Fulbright không phân bổ quota cho từng ngành học. Nhưng nhìn qua số liệu thống kê của học bổng Fulbright Vietnamese Student Program từ năm 1992  đến 2015 thì có thể thấy một sự phân bổ không đồng đều số lượng người nhận học bổng theo ngành học như sau

Đứng đầu là ngành Business, đây chính là nhóm nộp ngành MBA gồm nhiều phân ngành nhỏ như Marketing, Finance, Accounting, MIS…vv. Nhóm này đứng đầu với 112 người được học bổng/ 527 người được học bổng Fulbright từ 1992 đến 2015. Chia bình quân cho 23 năm, thì mỗi năm có gần 5 người nộp MBA được học bổng trong sốtrung bình 20 người được học bổng Fulbright hàng năm.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng trong 23 năm. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Hầu hết những bạn được học bổng ngành TESOL mà tôi biết đều là giảng viên dạy tiếng Anh ở những trường đại học công lập lớn của Việt Nam.

Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Ngành kinh tế cũng có nhiều người được vào những trường top như Williams College – số 1 nước Mỹ về Development Economics hay Harvard, Columbia..vv

Một điều thú vị là ngành Public Administration (quản trị công) khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng.  Những người theo học ngành này thì có người làm trong khối nhà nước, có người làm ở các tổ chức phi chính phủ. Tôi còn biết có bạn làm phóng viên của 1 đài truyền hình cũng được học bổng ngành này.

Đây cũng là ngành mà tôi đăng ký theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

 

Ngành tiếp theo, có nhiều người được học bổng là ngành Truyền thông (Communications)/ Báo chí (Journalism) với 36 người được học bổng, đa phần đều là nhà báo, phóng viên.

Ngành Luật có 33 người được học bổng. Đối với  những ngành khác, bạn có thể nộp hồ sơ xin học bổng trái ngành so với ngành học ở bậc đại học. Ví dụ bạn tốt nghiệp đại học Ngoại giao, nhưng xin học bổng về Public Admin hay Public Policy thì được. Riêng ngành Luật thì nếu bạn không có bẳng cử nhân Luật, bạn sẽ không thể apply xin học bổng ngành Luật. Những người được học bổng ngành luật đa phần là Luật sư. Nổi tiếng nhất chắc là anh Lê Công Định, Trương Trọng Nghĩa.

Ngành chính sách công (Public Policy) và Y tếcông cộng (Public Health) đang là một ngành rất hot ở Việt Nam và rất mạnh của Mỹ. Trước đến giờ Việt Nam chưa có đào tạo chính sách công bài bản, bởi lẽ chính sách chủ yếu làm ra trong phòng lạnh nên Mỹ muốn giúp mình phát triển nhân lực trong mảng chính sách công.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

Như vậy qua một số con số thống kê trong vòng 23 năm qua, chúng ta đã có một bức tranh khá rõ về những ngành học nào có nhiều khả năng được học bổng Fulbright. Điều này không có nghĩa là những ngành khác không có cơ hội. Học bổng Fulbright khuyến khích tất cả các bạn theo đuổi đam mê của mình chứ không có một ưu tiên cho ngành nào cả. Chỉ cần bạn thật xuất sắc thì bạn vẫn có thể được học bổng, mặc dù số liệu cho thấy xác suất thành công của những ngành ưu tiên như MBA và TESOL vẫn cao hơn rất nhiều những ngành khác.

Xin chia sẻ một số thông tin để các bạn tham khảo khi lựa chọn nộp hồ sơ cho học bổng Fulbright.

 

Source of Data: Dữ liệu sử dụng trong bài viết này là từ thông tin được công bố công khai của chương trình Fulbright Vietnam.

Disclaimer: Tất cả những nội dung tôi viết trên đây là quan điểm của cá nhân tôi, không đại diện cho chương trình Fulbright tại Việt Nam.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter 2009-2011 – Public Administration

www.tranngocthinh.com

Chàng trai 8X “gây bão” với sách “Du học không khó”

(Soha.vn) – Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ, Th.S Trần Ngọc Thịnh sẽ ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Là cựu du học sinh Mỹ theo chương trình học bổng Fulbright của Hoa Kỳ. Anh từng là giảng viên đại học và hiện đang làm tư vấn độc lập cho các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Thạc sỹ, tác giả cuốn sách
Thạc sỹ, tác giả cuốn sách “Du học không khó” Trần Ngọc Thịnh.

Du học để lập thân, lập nghiệp

– Xin chào Thịnh, lý do nào mà bạn lại viết sách về du học?

Trần Ngọc Thịnh: Sau khi được học bổng Fulbright, mình mới thấy được sự vất vả, khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, kinh nghiệm chuẩn bị cho con đường du học. Vì vậy, trước khi qua Mỹ, mình bắt đầu viết blog để chia sẻ những kinh nghiệm, bí quyết với hy vọng giúp các bạn đi sau.

Cho tới tháng 6/2013, mình mới quyết định chuyển sang dùng Facebook vì WordPress tương tác không cao. Và chính khi đó, mình đã được các bạn trên cộng đồng Facebook gợi ý viết một cuốn sách giúp các bạn quyết tâm theo đuổi giấc mơ du học với tựa đề “Du học không khó”.

– Điều gì là động lực thúc đẩy bạn trong suốt quá trình thực hiện nó?

Trần Ngọc Thịnh: Là một chuyên gia tư vấn phát triển, mình cho rằng con người là yếu tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Ví như Nhật Bản, dù nghèo tài nguyên nhưng con người chịu khó và sáng tạo đã giúp Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc trên thế giới. Cách đây 300 năm khi Nhật còn là một nước phong kiến, Fukuzawa Yukichi – một nhà tư tưởng người Nhật đã khuyến khích thanh niên Nhật sang các nước phương Tây học hỏi và đem kiến thức, thành tựu công nghệ, khoa học kỹ thuật về áp dụng cho Nhật Bản. Chính vì lẽ đó, nước Nhật đã đi lên và trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

Vậy thì Việt Nam có “rừng vàng biển bạc”, dân số đông, thanh niên thông minh, giỏi giang tại sao lại không thể? Mình cho rằng cách duy nhất để có thể đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu là học hỏi cái hay, cái mới để đem về vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam.

–  Với “Du học không khó”, thông điệp mà bạn muốn gửi đến các bạn trẻ Việt Nam là gì?

Trần Ngọc Thịnh: Thông điệp của cuốn sách cũng chính là tên cuốn sách. Du học đã trở nên đơn giản hơn đối với các bạn học sinh, sinh viên. Nếu bạn thực sự có quyết tâm, biết nỗ lực, có kế hoạch chuẩn bị và được định hướng đúng đắn thì giấc mơ du học sẽ không còn quá xa vời.

Cuốn sách
Cuốn sách “Du học không khó” của chàng trai 8X Trần Ngọc Thịnh.

– Điều gì đặc biệt ở cuốn sách “Du học không khó” khiến nó khác các trang mạng, diễn đàn, thông tin trên mạng?

Trần Ngọc Thịnh: Cuốn sách này ra đời xuất phát từ nhu cầu, mong đợi của độc giả – những người theo dõi Facebook Page của mình từ lâu. Mình viết cuốn sách này cũng từ gợi ý của họ nên mình cố gắng viết những gì mà các bạn hay hỏi nhất hay gặp khó khăn nhất.

Điểm đặc biệt của cuốn sách cũng chính là sự tương tác. Ngay từ bìa sách tới nội dung cuốn sách đều được độc giả chia sẻ, góp ý từ đầu.

Hơn nữa, cuốn sách này ngoài cung cấp thông tin, còn có những câu chuyện người thực, hiện thực mang tính khích lệ, động viên và truyền cảm hứng các bạn trẻ để quyết tâm thực hiện ước mơ du học.

Cuốn sách này đặc biệt là mình không bán sách ở những hiệu sách mà phân phối thông qua hệ thống cộng tác viên phân phối tại các trường đại học.

– Tại sao lại không bán ở hiệu sách?

Trần Ngọc Thịnh: Cuốn sách gắn với một dự án Quỹ học bổng mà mình phát động từ khi còn học đại học. Mình muốn trích một phần lợi nhuận để gây dựng một quỹ học bổng giúp cho những bạn có hoàn cảnh khó khăn nhưng học giỏi và có quyết tâm du học.

Mình muốn phát triển hệ thống phân phối riêng để giữ được phần lợi nhuận để làm học bổng. Nếu bán ở hiệu sách, thì lợi nhuận không còn nhiều để làm quỹ học bổng. Thông qua hệ thống phân phối là các bạn SV tại các trường đại học, mình sẽ mang sách đến tận tay các bạn sinh viên.

– Có người cho rằng, việc Thịnh kiến nghị cuốn sách “Xách ba lô lên và đi” của Huyền Chip là để PR cho sách của mình, Thịnh nghĩ sao?

Trần Ngọc Thịnh: PR giống như một con dao hai lưỡi vậy. Một cuốn sách được độc giả đón nhận hay không là do nội dung sách. Cuốn sách có giá trị, chứa đựng nhiều thông tin bổ ích, ý nghĩa thì không cần PR cũng sẽ được độc giả đón nhận. Còn nếu viết sách bậy bạ, lừa bịp độc giả mà lại PR thì sẽ bị độc giả phản ứng giống như cuốn sách kể trên. Mình không PR bản thân và cũng không cần PR sách của mình bằng một nhân vật tai tiếng, một vụ scandal. Việc mình làm, ai theo dõi vụ việc từ đầu sẽ hiểu mục đích và ý nghĩa của nó.

“Đời du học không như là mơ”

– Hiện nay, có một số bạn trẻ đang đi du học như là một trào lưu, là mốt để được bằng bạn, bằng bè, mà kết quả lại không được nhưng mong muốn. Thịnh đánh giá như thế nào và có lời khuyên gì cho các bạn đó?

Trần Ngọc Thịnh: Trong một bài viết gần đây trên Facebook Page của mình có tên “Đời du học không như là mơ”, mình có nói về khó khăn mà các bạn trẻ đi du học gặp phải. Mình nghĩ, các bạn cũng không nên quá mơ tưởng về đời sống du học.

Trong cuốn sách này của mình cũng đề cập đến việc cái lợi và bất lợi ở từng giai đoạn khi bạn du học cũng như đưa ra lời khuyên khi nào bạn nên đi du học, cụ thể như sự chuẩn bị kỹ về mặt tài chính, tâm lý, sức khỏe, học vấn…. Một phần trong cuốn sách, mình cũng có trao đổi với phụ huynh về những điều cần khi quyết định cho con đi học.

Trần Ngọc Thịnh (ngoài cùng bên phải) muốn chia sẻ kinh nghiệm du học với các bạn trẻ.
Trần Ngọc Thịnh (ngoài cùng bên phải) muốn chia sẻ kinh nghiệm du học với các bạn trẻ.

– Vậy theo Thịnh nhận định những bạn trẻ đang chuẩn bị du học thiếu điều gì?

Trần Ngọc Thịnh: Ba điều: thông tin về học bổng, hệ thống giáo dục ở nước ngoài, những chia sẻ của người đi trước, và định hướng trong chọn trường, chọn ngành học phù hợp. Theo mình, điều quan trọng nhất là các bạn chọn được trường, ngành, học bổng phù hợp nhất với năng lực, sở trường, chuyên môn của các bạn.

– Việt Nam thanh niên giỏi, du học sinh đông, nhưng tại sao vẫn chưa phát triển?

Trần Ngọc Thịnh: Mình nghĩ một trong những lý do mà Việt Nam hay những nước đang phát triển gặp phải chính là hiện tượng “chảy máu chất xám”. Rất nhiều thanh niên du học nước ngoài mà không quay trở về. Vấn đề đặt ra là làm sao chúng ta kêu gọi, thu hút những nhân tài này quay trở về đóng góp cho sự phát triển đất nước.

– Mình được biết cuốn “Du học không khó” là một cuốn trong dự án về series sách du học mà bạn đang viết, bạn có thể bật mí cho các bạn độc giả được không?

Trần Ngọc Thịnh: Series sách về du học được mình ấp ủ từ lâu, bởi hiện nay sách về chủ đề này còn khá ít. Cuốn sách “Du học không khó” là cuốn đầu tiên được xuất bản. Sắp tới sẽ cố một số cuốn chia sẻ về kinh nghiệm săn học bổng, trải nghiệm của du học sinh Việt Nam khắp mọi miền thế giới…

Mục đích của series sách về du học này là giúp các bạn trẻ Việt Nam có một cái nhìn khách quan, chân thực về du học. Từ đó gây dựng một phong trào thanh niên Việt Nam đi du học để dựng xây đất nước. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trên trang web của Hội thích du học www.thichduhoc.net.

Cảm ơn Thịnh vì những trao đổi thú vị!

Sách phát hành từ ngày 24/12/2013, tại các đại lý phân phối chính thức, chi tiết xem tại http://phanphoi.duhockhongkho.com

Lễ ra mắt tại Hà Nội: 13h30 – 17h30 ngày 28/12/2013 tại Tầng 2, Thư viện Hà Nội, số 47 Bà Triệu

Ngoài ra, còn có lễ ra mắt tại Đà Nẵng và TP HCM trong tháng 1/2014. Thông tin cập nhật tại website chính thức của cuốn sách: www.duhockhongkho.com

Capstone Vietnam (capstonevietnam.com), Kansas State University (k-state.edu),  Lane Community College ( http://www.lanecc.edu/ ) và Hotcourses Vietnam (hotcourses.vn) hân hạnh là nhà tài trợ cho lễ ra mắt của cuốn sách “Du học không khó”.

Nguồn: http://soha.vn/xa-hoi/chang-trai-8x-gay-bao-voi-sach-du-hoc-khong-kho-20131220235658048.htm

Fulbrighter Trần Ngọc Thịnh ra mắt sách ‘Du học không khó’

 Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ Trần Ngọc Thịnh ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Du học không khó là cuốn sách đầu tay của tác giả trẻ Trần Ngọc Thịnh. Cuốn sách được viết bởi rất nhiều công sức và tâm huyết của một cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright để dành tặng cho tất cả những bạn trẻ Việt Nam có ước mơ du học nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu.

Tran Ngoc Thinh ra mat sach 'Du hoc khong kho' hinh anh 1
Sách được ra mắt vào ngày Giáng sinh 24/12.

Mục đích chính của cuốn sách là để động viên, khích lệ tinh thần các bạn trẻ Việt Nam hãy lên đường đi du học để lập thân, lập nghiệp và phụng sự tổ quốc để có thể đem kiến thức, kinh nghiệm học được từ nước ngoài đem về góp phần dựng xây đất nước thực hiện đúng lời dặn dò của thế hệ cha anh để xóa nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.Bên cạnh, những câu chuyện người thật, việc thật về những gương điển hình du học sinh vượt khó, cuốn sách cũng chia sẻ hết sức tỉ mỉ những kiến thức, kinh nghiệm để giúp các bạn trẻ có thể hiện thực hóa ước mơ du học của mình. Tác giả sẽ chia sẻ những cách thức để vượt qua các rào cản chính trên con đường du học. Cuốn sách cũng có những bí quyết trong việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn để dành được những suất học bổng du học.

Cuốn sách này cũng là một dự án thiện nguyện mà tác giả phát động nhằm gây quỹ học bổng nhằm hỗ trợ cho các bạn trẻ Việt Nam có thành tích học tập tốt , có ước mơ du học nhưng gặp phải những khó khăn, trở ngại trong quá trình theo đuổi giấc mơ du học của mình. Một phần lợi nhuận từ việc bán sách sẽ được dùng để gây quỹ học bổng. Ngoài ra, tác giả còn vận động thêm từ các nhà tài trợ khác.

Trần Ngọc Thịnh.
Sinh ngày 28/7/1984 tại Hải Dương
Anh là một blogger nổi tiếng với nhiều bài viết chia sẻ về du học và học bổng. Các bài viết chia sẻ về học bổng Fulbright của anh được nhiều người quan tâm tới học bổng danh giá này tham khảo khi nộp hồ sơ. Anh là cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright niên khóa 1999-2011. Anh có bằng Thạc sỹ về Quản trị hành chính công và Quản lý Phi chính phủ.
Công việc chính hiện nay của anh là là chuyên gia tư vấn độc lập cho các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như WB, IFC, ILO, IFAD, ADB…vv Ngoài ra, anh còn là một nhà báo tự do, các bài viết của anh về nhiều chủ đề khác nhau thường xuất hiện trên các báo.
Dự án phát triển và hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội Việt Nam.

Nguồn: https://news.zing.vn/tran-ngoc-thinh-ra-mat-sach-du-hoc-khong-kho-post379523.html

Link mua sách Du học không khó online tại Vinabook

https://www.vinabook.com/du-hoc-khong-kho-p59339.html

Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ Trần Ngọc Thịnh ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Mục đích chính của cuốn sách là để động viên, khích lệ tinh thần các bạn trẻ Việt Nam hãy lên đường đi du học để lập thân, lập nghiệp và phụng sự tổ quốc để có thể đem kiến thức, kinh nghiệm học được từ nước ngoài đem về góp phần dựng xây đất nước thực hiện đúng lời dặn dò của thế hệ cha anh để xóa nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.

Bên cạnh, những câu chuyện người thật, việc thật về những gương điển hình du học sinh vượt khó, cuốn sách cũng chia sẻ hết sức tỉ mỉ những kiến thức, kinh nghiệm để giúp các bạn trẻ có thể hiện thực hóa ước mơ du học của mình. Tác giả sẽ chia sẻ những cách thức để vượt qua các rào cản chính trên con đường du học. Cuốn sách cũng có những bí quyết trong việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn để dành được những suất học bổng du học.

DU HỌC KHÔNG KHÓ – CHIA SẺ TỪ MỘT FULBRIGHTER TÂM HUYẾT

Du học, từ lâu đã là điều mong ước của rất nhiều bạn trẻ Việt Nam. Tuy nhiên, con đường đi tới ước mơ cũng lắm chông gai, có rất nhiều rào cản phía trước như tài chính, ngôn ngữ và học thuật. Vậy làm thế nào để vượt qua những rào cản đó? Làm thế nào để có thể hiện thực hóa giấc mơ du học của mình? Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ có trong cuốn sách sắp ra mắt vào cuối tháng 12/2013 mang tựa đềDu học không khócủa tác giả Trần Ngọc Thịnh, cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright niên khóa 2009-2011. Hotcourses Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với tác giả về cuốn sách sắp ra mắt của anh.

 

tác giả Trần Ngọc Thịnh

Chào Trần Ngọc Thịnh, anh có thể cho biết ý tưởng về cuốn sách Du học không khó đã được anh nung nấu từ bao giờ?

Vào thời điểm năm 2009, khi đăng ký học bổng Fulbright mình đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin học bổng, kinh nghiệm chuẩn bị cho con đường du học. Vì thế, ngay sau khi được học bổng Fulbright, trước khi qua Mỹ mình bắt đầu viết blog để chia sẻ những trải nghiệm, khó khăn mình đã vượt qua để giúp các bạn đi sau. Và hy vọng thông qua những bài viết trên blog của mình, các bạn sinh viên có thể học và áp dụng điều gì đó hữu ích cho bản thân.

 

Khi học xong chương trình thạc sỹ và về nước vào năm 2011, mình vẫn duy trì blog và mời bạn bè cùng viết, cùng chia sẻ. Mãi cho tới tháng 6/2013, mình mới quyết định chuyển sang dùng Facebook vì WordPress tương tác không cao. Và chính khi đó, mình đã được các bạn trên cộng đồng Facebook gợi ý viết một cuốn sách giúp các bạn quyết tâm theo đuổi giấc mơ du học.

 

 

Điều gì đã truyền cảm hứng cho anh viết cuốn sách này?

Theo mình, con người là yếu tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Ví như Nhật Bản, dù nghèo tài nguyên nhưng con người chịu khó và sáng tạo đã giúp Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc trên thế giới. Vậy thì Việt Nam “rừng vàng biển bạc” tại sao lại không thể? Quan điểm của mình cho rằng, các duy nhất để có thể đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu là phải sang các cường quốc năm châu để học hỏi cái hay, cái mới để đem về vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam. Đó là con đường phát triển giáo dục và đầu tư vào con người hiệu quả nhất với một nước đi sau như Việt Nam.

 

Câu chuyện truyền cảm hứng cho mình chính là cuốn sách Khuyến học của Fukuzawa Yukichi, một nhà tư tưởng người Nhật. Cách đây 300 năm khi còn là một nước phong kiến, ông đã khuyến khích thanh niên Nhật sang các nước phương Tây học hỏi và đem kiến thức, thành tựu công nghệ, khoa học kỹ thuật về áp dụng cho Nhật Bản. Chính vì lẽ đó, nước Nhật đã đi lên và trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

 

 

Anh có thể bật mí cho độc giả một chút về nội dung xoay quanh cuốn sách được chứ?

Các bạn có thể tìm hiểu nội dung chi tiết của cuốn sách tại địa chỉhttp://noidung.duhockhongkho.com. Tuy nhiên, xin bật mí với cả bạn là cuốn sách này có nội dung chính là khích lệ, cổ vũ tinh thần đi du học trong các bạn trẻ. Với rất nhiều thông tin, câu chuyện truyền cảm hứng sẽ giúp các bạn trẻ định hình được đam mê và thêm quyết tâm. Ngoài ra, cuốn sách còn có những chia sẻ, hướng dẫn hết sức tỉ mỉ, cặn kẽ giúp các bạn có ước mơ du học biết cách để chuẩn bị cho việc giành được những học bổng để hiện thực hóa giấc mơ du học của mình.

 

 

Theo anh, cuốn sách Du học không khó có nét đặc sắc nào không thể lẫn so với các cuốn sách khác cũng viết về đề tài này?

Ảnh cuốn sách

Sách về đề tài du học hiện nay rất ít, chủ yếu là các diễn đàn (forum) trên mạng mang tính chất chia sẻ chung, tổng hợp kinh nghiệm. Điểm yếu của các diễn đàn là thông tin bị pha loãng, một thread vài trăm trang thì chỉ có vài trang có nội dung hữu ích, khiến việc tiếp cận thông tin bị hạn chế rất nhiều.

Cuốn Du học không khó được tổ chức một cách chặt chẽ và mạch lạc hơn, giúp người đọc dễ hình dung và học hỏi. Các chia sẻ được viết rất tỉ mỉ và cặn kẽ kèm theo sự phân tích và ví dụ minh họa để độc giả dễ dàng hình dung ra các yêu cầu khi du học.

Ngoài ra, cuốn sách với vai trò truyền cảm hứng sẽ giới thiệu những tấm gương người thật việc thật. Họ là những người thực sự nỗ lực trong hành trình theo đuổi giấc mơ du học để câu chuyện của họ sẽ trở nên gần gũi hơn với các bạn du học sinh tương lai.

Cuối cùng là những trải nghiệm du học, những chia sẻ của riêng mình với tư cách là một du học sinh tâm huyết với việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm với các bạn trẻ có ước mơ du học.

Du học là một con đường đầy chông gai và có rất nhiều rào cản như tài chính, ngôn ngữ, văn hóa, học thuật… Anh có lời khuyên nào cho các bạn du học sinh tương lai?

Đúng là con đường đi tới ước mơ du học có rất nhiều rào cản, nhưng như thông điệp của cuốn sách, du học sẽ không khó nếu bạn có quyết tâm, ý chí, nỗ lực để thực hiện ước mơ của mình. Không có cái gì dễ dàng cả. Một sự chuẩn bị chu đáo với một kế hoạch chi tiết và tỉ mỉ sẽ giúp các bạn lường trước được những khó khăn để dễ dàng vượt qua. Lời khuyên của những người đi trước là hết sức hữu ích. Mình hy vọng rằng cuốn sách của mình sẽ giúp các bạn vượt qua được những khó khăn và rào cản một cách dễ dàng để các bạn có thể thấy rằng, du học không hề khó như các bạn hay nghĩ.

Nhiều người rất băn khoăn ở bước chọn ngành học. Theo anh việc chọn ngành học cần lưu ý những gì?

Việc chọn ngành học là một bước trên con đường sự nghiệp sau này. Điều này được quyết định rất lớn bởi đam mê. Cuốn sách Du học không khó có hẳn một phần viết về đam mê: Tìm kiếm, xác định, theo đuổi đam mê. Nhiều bạn thắc mắc, học một ngành, nộp hồ sơ du học một ngành khác có được không? Câu trả lời là hoàn toàn được miễn là bạn chứng minh được đam mê của mình với ngành mà bạn dự định nộp hồ sơ du học. Theo mình, việc xác định đam mê là rất quan trọng và cần thiết, bởi chỉ có đam mê mới có thể giúp bạn có một kế hoạch du học thành công.

Anh có thể chia sẻ suy nghĩ của bản thân về việc ở hay về của du học sinh?

Đi du học và ở lại làm việc không phải là việc xấu. Ai cũng muốn vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn, thu nhập cao hơn. Nhưng mình cho rằng du học sinh nên cư xử đàng hoàng và sòng phẳng. Tức là, nếu khi xin học bổng và có ký cam kết học xong quay về thì bạn phải quay về, không thể viện lý do này nọ để tìm cách thoái thác cam kết trước đây.

Là một cựu du học sinh, mình cho rằng đóng góp được cho đất nước, không nhất thiết là cứ phải về đất nước. Nếu ở Việt Nam không có điều kiện để bạn phát huy những gì mình đã được học khi đi du học, thì bạn có thể ở lại nước ngoài để phát huy tài năng và làm rạng danh đất nước. Nhưng nếu về Việt Nam, thì những việc bạn làm sẽ có tác động trực tiếp hơn tới sự phát triển của quốc gia. Nếu không thu hút được du học sinh quay về, Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng “chảy máu chất xám”. Do đó làm thế nào để thu hút tri thức du học sinh là một vấn đề chính sách đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước.

Điều gì làm anh tâm đắc nhất và muốn gửi gắm đến người đọc nhất qua cuốn sách Du học không khó?

Là một chuyên gia tư vấn phát triển, mình có một trăn trở làm thế nào để tìm con đường cho đất nước thay đổi đi lên một cách bền vững. Mình tin rằng, chỉ có đầu tư vào giáo dục, đầu tư vào con người thì tương lai Việt Nam mới sáng lạn. Mình hy vọng rằng, cuốn sách đầu tiên trong series sách về chủ đề du học mà mình đang viết này sẽ truyền cảm hứng và tạo dựng nên một phong trào du học trong các bạn trẻ để có ngày càng nhiều hơn các bạn trẻ Việt Nam xách ba lô lên đường tới các nước tiên tiến học tập, trau dồi tri thức để khi quay trở về tạo nên sức mạnh tổng hợp của tri thức, kỹ năng, trình độ và tư duy hiện đại, xây dựng một đất nước Việt Nam to đẹp hơn, giàu mạnh hơn.

Anh có thể chia sẻ một chút về những tác phẩm sắp ra đời trong series sách về du học của mình?

Cuốn sách Du học không khó không phải là cuốn sách du học đầu tiên mình viết, nhưng lại là cuốn đầu tiên mình xuất bản. Cuốn sách đầu tiên mình viết là về những chia sẻ xung quanh cuộc sống của du học sinh ở bên Mỹ. Sắp tới, sẽ là một cuốn sách mang tên “Săn học bổng” với các bài phỏng vấn, chia sẻ của các chuyên gia, các bạn đã được nhận học bổng danh giá để giúp các bạn có ước mơ du học nhưng không biết bắt đầu từ đâu để dành được một suất học bổng.

Cảm ơn anh Thịnh về cuộc trò chuyện, chúc anh thành công trong sự nghiệp và cuộc sống.

P/S: Mọi người có thể đặt mua sách “Du học không khó” tại đại chỉ:https://www.vinabook.com/du-hoc-khong-kho-p59339.html

 

Các bạn cũng có thể đọc các bài viết khác của anh Thịnh tại www.tranngocthinh.com hoặc giao lưu trực tiếp với tác giả trên Fan Page Trần Ngọc Thịnh

Tỷ lệ chọi của học bổng Fulbright

Khi tôi post trên Facebook của tôi dòng status là hiện đang có khoảng 20 suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng tháng từ 1500-2000usd/ tháng, chỉ yêu cầu 2 năm kinh nghiệm và tiếng Anh, đã có rất nhiều bạn comment và inbox để hỏi tôi về cơ hội này. Khi nhận được câu trả lời đó là học bổng Fulbright nhiều bạn đã vội vàng mất hứng vì cho rằng Fulbright để điều kiện đầu vào rất mở nên nhiều người có đủ điều kiện để nộp hồ sơ, do vậy nên tỷ lệ chọi của Fulbright rất cao. Có lẽ chính sự cạnh tranh cao và tính chọn lọc rất khốc liệt mà Fulbright mới trở thành một học bổng danh giá đáng được nhiều người khao khát bởi mỗi năm chỉ có khoảng 20 người xuất sắc nhất ở Việt Nam được trao học bổng thôi.

Theo số liệu thống kê của Chương trình Fulbright Vietnam thì dưới đây là số lượng người được trao học bổng trong mấy năm gần đây.

 

 

Năm tôi đi học 2009 là năm kỷ lục với số lượng 28 trong đó có 3 bạn ở waiting list cũng được cho sang Mỹ học. Mỗi năm thì tùy theo ưu tiên vào số lượng và ngân sách mà Fulbright sẽ có số lượng học bổng khác nhau. Trung bình khoảng 20-22 suất học bổng/ năm.

 

Các bạn hình dung, có 1 cục ngân sách mỗi năm cho Fulbright nó như 1 miếng bánh vì thế nếu nhiều người được học bổng thì miếng bánh phải chia cho nhiều người, đồng nghĩa với việc ngân sách học bổng cho mỗi người sẽ ít đi, nếu không được trường cho thêm thì khả năng vào được trường top (chi phí lớn) rất khó. Ngược lại, nếu năm đó ít người được học bổng, thì miếng bánh cho mỗi người sẽ cao, khả năng vào trường top Ivy League sẽ cao hơn.

Nói về tỷ lệ chọi, thì mình thực sự là không biết một năm có bao nhiêu hồ sơ nộp. Mình nhớ mang máng khi có dịp cafe với chị Hạnh thì đâu đó vài ngàn hồ sơ. Vài là bao nhiêu, mình nghĩ chỉ tầm maximum 5000 là căng. Chủ yếu tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, còn các tỉnh cũng có nhưng không nhiều.

Giả sử có 5000 người nộp hồ sơ, thì để vào vòng 2 là vòng phỏng vấn thì Fulbright sẽ chọn 50 bạn để vào semi-finalist. Như vậy tỷ lệ chọi sẽ là 50/5000 tức là 1 chọi 100. Khi đến vòng phỏng vấn, thì chỉ lấy khoảng 25 người, như vậy ở vòng phỏng vấn tỷ lệ chọi sẽ là 1 chọi 2.

Thực sự thì để qua vòng hồ sơ là khó bởi như đã nói ở trên do điều kiện đầu vào khá mở nên nhiều người nộp dẫn tới tỷ lệ chọi của Fulbright khá cao. Trong mấy ngàn hồ sơ nộp như vậy, phải làm sao để hồ sơ của mình phải thật sự nổi bật thì bạn mới có cơ hội vào vòng phỏng vấn. Đến vòng phỏng vấn rồi, thì bạn sẽ phải chuẩn bị rất kỹ càng để có thể trả lời phỏng vấn tự tin chứ không thì hồ sơ cho dù long lanh, profile xuất sắc mà trả lời phỏng vấn không toát lên được sự “xuất sắc” ấy thì bạn vẫn có thể trượt. Xác suất thất bại là 50% do đó phỏng vấn rất là quan trọng.

Mình nghĩ rằng cái gì khó khi giành được mới cảm thấy sướng, mới thấy cái danh giá của nó. Do vậy, rất mong các bạn hãy tự tin mà nộp hồ sơ, nếu cần giúp đỡ hãy chủ động liên hệ mình. Mình sẽ giúp các bạn.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Contact of Vietnam Fulbright Program

Trong quá trình nộp hồ sơ học bổng Fulbright, chắc hẳn là các bạn sẽ có nhiều câu hỏi hay thắc mắc. Các bạn vui  lòng liên hệ qua email hoặc điện thoại với chị Nguyễn Thị Hạnh – trợ lý chương trình nhé. Chị Hạnh sinh năm 1982 rất là nice, nhiệt tình sẽ trả lời các câu hỏi của các bạn liên quan tới học bổng Fulbright nhé. 

Ms. Nguyen Thi Hanh

Program Assitant

Fulbright Vietnamese Student Program
Public Affairs Section, U.S. Embassy
7 Lang Ha, Ha Noi
Tel: (04)-3850-5100 (ext. 5089)
Email: 
nguyenHT4@state.gov.

Fulbright Sharing – Fulbright Connection

Few months ago, I and other Fulbrighters were invited to an offline meeting to share our experiences to be a Fulbrighters. After joining this meeting, I decided to write a blog with the topic about Fulbright Scholarship for Vietnamese. I started by collecting articles from different sources. I spent sometimes to write my own articles to share my own experiences. Since I go for Master in Public Administration, so I also contact other Fulbrighters with other field of study like: American Study, MBA, Journalism, Social Work to invite them to write for this weblog to share their own experiences. They are all agreed, but they are now too busy with their jobs and preperation for their trip. I hope that they will keep their promise.


Recently, I have been informed that semi-finalists of Fulbright AY 2010-2012 was announced, so many semi-finalists contacted me and said my sharing is useful. I am happy to hear that, because what I have done, now being recognized by people use it. At the moment, I start working with this weblog on my own. This is part of my personal weblog, because I do not have time to manage different blogs at a time. There is nothing I gain from this weblog, except the power of sharing. I think of what I had experienced when I prepared for my Fulbright interview, almost nothing available on the internet, because the previous generation of Fulbrighters are not much active on the internet with blog. So I want to change it, to make it much more easier to next generation of Fulbrighters. However, I try to make it fair, that no one has a priviledge to know, that others do not. This weblog is for everyone who will, who is, who was a Fulbrighters. The fair information they get, the fair competition they face.

 

With the spirit of “pay it forward”, I do hope that other Fulbrighters will contribute to share their experiences to help the next generation of Fulbrighters, to make Fulbright Scholarship – a dream of many people comes true. I also do hope that any people who will be next Fulbrighters who is benefited from the information on this weblog will continue to share their own story of success to next generation. I look forward to seeing our Vietnamese Fulbright Community growing day by day. I believe with the contribution of many people, this weblog will be the way to connect and to share among Vietnamese Fulbrighters.

I am happy to see you share the same ideas, same inspirations. Thank you for your support!

 

Regards,

 

Tran Ngoc Thinh

 

University of Missouri-Columbia (Mizzou) where I study

Sau khi kết thúc khóa gateway ở trường California State University – East Bay, tôi bay về Missouri, nơi tôi sẽ học 2 năm để lấy bằng thạc sỹ quản lý hành chính công. Tôi đến Missouri lúc 9h tối, nhà trường cho xe ra đón tôi. Lúc đó trời đã tối hẳn nên tôi không nhìn ngắm được trường. Tôi về tới căn hộ mà tôi đã thuê từ trước.

University Place Apartments

Tôi có một cậu bạn cùng phòng, cậu này người Mỹ, tên là John Lester, rất là nice. John xin lỗi tôi vì không biết tôi đến nên để phòng hơi bừa bộn. John giúp tôi mang hành lý vào phòng, rồi hướng dẫn cho tôi sử dụng máy giặt, máy sấy. John hướng dẫn tôi rất nhiệt tình những gì tôi chưa biết. Từ ngày đến do không có xe ôtô nên tôi chỉ có thể đi Walmart 1 lần, mua được bánh mỳ, sữa, trứng và bơ để ăn. Mấy hôm đầu thì không nấu cơm được vì chưa có nồi cơm điện. Cả tuần vừa rồi đi orientation hết của trường rồi đến của khoa, và tham gia các party khác nhau nên ăn ở nhà rất ít. Thi thoảng lắm mới ăn sáng ở nhà, lúc này thì mình tự nấu ăn, bánh mỳ với bơ, và trứng ốpnếp và pizza. Hôm qua thứ bảy là ngày giveaway, người ta cho không đồ dùng. Bạn sẽ không tưởng tượng được là người Mỹ họ hảo tâm thế nào. Họ cho sinh viên rất nhiều thứ từ: tivi, lò nướng, lò vi sóng, nồi cơm điện, bàn là, dàn nghe nhạc, máy tính, chậu, bát, đĩa, thìa, rổ, rá, bàn chải, khăn tắm, nói chung cái gì cũng có và 100% free. Mình cũng lấy được 1 cái nồi cơm điện và một số thứ linh tinh khác. Như vậy là đã khá đầy đủ cho cuộc sống mới 2 năm ở đây. Từ hôm đến trường đến giờ, thì ngoài đi từ chỗ ở đến International Center và Truman School of Public Affairs – khoa của mình ra thì mình chưa có cơ hội đi hết campus của trường vì campus trường mình rộng dã man, đi bộ thì có mà mỏi chân. Tình hình là sắp tới phải mua cái xe đạp để đi lại trong trường cho tiện lợi.

Chủ nhật, một ngày nắng đẹp, mình rủ Thái Hà – bạn học cùng lớp MPA đi thăm quan một vòng quanh trường và chụp ảnh. Đây là lần đầu tiên mình chụp ảnh ở campus. Hôm nay thật là vui chụp rất nhiều ảnh. Và đến hôm nay mới nhận ra là trường mình đẹp biết bao. Những tòa nhà cổ kính như những tòa lâu đài thời kỳ phục hưng,

 

những cây xanh, bóng mát, mái vòm. Một khung cảnh tự nhiên và nên thơ, làm mình chợt nghĩ, nếu một tình yêu nảy nở nơi này, có lẽ tình yêu đó sẽ đẹp và lãng mạn không kém gì bộ phim “Chuyện tình Harvard”. Khi đi thăm campus, mình có một cảm giác là giống như đi dạo trong một công viên lớn vậy. Rất nhiều thảm cỏ, sinh viên nằm hứng ánh nắng mặt trời, đọc sách, ăn pizza. Cảnh vật vô cùng yên bình, mình còn nhìn thấy cả sóc, cả thỏ chạy nhảy tung tăng quanh campus.

In front of the Ellis Library

Ôi có lẽ nào đây là câu chuyện cổ tích. Mình tự nhiên cảm thấy rất yêu ngôi trường này, yêu môi trường này, yêu những con người nơi đây. Và cảm thấy thật sự hứng khởi để bắt đầu một cuộc sống mới ở nước Mỹ xa xôi này. Có lẽ đây là một trải nghiệm của cảm xúc rất có ý nghĩa cho ngày mai, ngày đầu tiên chính thức lên giảng đường học. Bởi lẽ nhiều lúc bạn sẽ cảm thấy buồn và chán vì nhớ nhà, và có lúc bạn nghĩ bạn không thuộc về nơi này, nên sự phấn khích ban đầu tạo đà rất tốt, hy vọng là cảm xúc luôn được duy trì.

Khoảnh khắc đáng nhớ nhất hôm nay đó là thời điểm của “Tiger Walk”. Tiger Walk là một nghi thức truyền thống của trường đại học Missouri – Columbia. Tất cả các sinh viên mới của trường sẽ bước qua 6 cái cột giống như cánh cổng bước vào trường vậy. Sau khi thầy hiệu trưởng phát biểu, hàng ngàn sinh viên, trong đó có mình chạy ùa qua 6 cái cột.

Link video clip: http://www.facebook.com/home.php?#/video/video.php?v=769391815630&ref=mf

Đó là một cảm giác khó tả, nó vừa hân hoan, vừa hồi hộp, và rất xúc động, nhưng cũng rất thiêng liêng như trong bài phát biểu của thầy hiệu trưởng “sau khi bước qua cánh cổng này, các bạn sẽ thực sự trở thành những sinh viên của Mizzu, và khi ngoảnh nhìn lại, các bạn sẽ thấy 4 giá trị mà nhà trường mong muốn các bạn ghi nhớ, đó là “Respect, Responsibility, Discovery and Excellence”.

At the entrance of the Campus

Sau khoảnh khắc mà làm tôi gợi nhớ tới sự háo hức tới trường như những đứa trẻ chạy ùa vào cổng ngày khai giảng, chúng tôi được ăn kem. Thật là mọi việc càng làm cho cảm xúc tuổi thơ trở về rất nhanh. Khi hàng nghìn sinh viên chạy ùa qua 6 chiếc cột của trường, ở phía bên kia là những chiếc bàn của Hội cựu sinh viên trường phát kem miễn phí cho sinh viên. Kem ngon miễn chê! Sau màn ăn kem, tôi xem đội nữ sinh của trường múa bông (cheering) trong tiếng kèn, và trống của đội nhạc nhà trường. Những tiếng trống rền vang, những tiếng kèn như thôi thúc, hòa trong điệu nhạc, những ánh mắt háo hức, những nụ cười giòn tan, tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi hòa trong môi trường này. Thật khó cho tôi để diễn tả được cảm xúc lúc đó. Tôi thấy quanh mình toàn là người Mỹ, tôi thấy tâm hồn mình đang bị thả trôi theo những âm thanh, theo những tiếng động. Và bạn biết không, sự xúc động mỗi khi trỗi dậy trong tôi luôn làm tôi cảm thấy tim mình đập rất khác. Thật sự là như vậy, mỗi khi sống trong giây phút xúc động nào đó, tôi thấy nhịp tim mình thay đổi, và dường như có một dòng điện nhỏ chạy dọc cơ thể, từ đầu tới chân mang lại một cảm giác vô cùng phấn khích.

Tôi ăn kem và ngắm đội múa bông biểu diễn. Hôm nay mới được ngắm các hot girl của trường toàn các em undergraduate tóc vàng, mắt xanh, má hồng, và quan trọng nhất là nhỏ nhắn dễ thương chứ không như mấy bạn Mỹ mình hay gặp to béo, xấu xí như cái xe lu, ôm 2 vòng tay cũng không hết :))

Bây giờ đã gần 12h đêm, do chưa mua được laptop nên tôi vẫn cố gắng ngồi trong phòng máy tính ở tầng 1 apartment để ghi lại những cảm xúc khó quên này. Tôi không muốn để hôm sau, vì sợ cảm xúc sẽ không còn tươi mới. Ngày hôm nay sẽ là một ngày tôi sẽ nhớ mãi trong cuộc đời mình. Ngày tôi chính thức trở thành sinh viên trường Mizzu, chức thức trở thành một “real Tiger”. Và ở nơi đây, dưới mái trường này, tôi sẽ cố gắng học tập và tu luyện để đúng như lời thầy hiệu trưởng phát biểu “khi các bạn tốt nghiệp, các bạn sẽ bước qua những chiếc cột này để bước tới những chân trời mới, với tri thức có được ở Mizzu, các bạn sẽ bay cao và xa hơn nữa”

2 Sample Letter of Recommedation

As many people asked me about the letter of recommendation or letter of reference, I would like to post some of mine as samples. Because LRs are really personal, I am sorry that some parts of them are hidden or changed. Anyway, the contents are kept intact. All what are said in the letter do not necessarily truly reflect my very self. And, as usual, all are just for your reference only. It is strictly forbidden to copy them under any form. I welcome comments on the letters’ contents, writing styles, formats, not on my very self. Thank for your cooperation.

 

The first is my employer’s letter (about one page and 400 words)

 

 

 

(Printed on the letterhead)

 

November 10, 2020

 

To Whom It May Concern:

 

This reference letter is provided at the written request of Do Thanh Hai, who has asked me to serve as a reference on his behalf. I have been acquainted with Hai for four years but came to know him well last year as he successfully passed the entry exam to the … and became the youngest researcher at the …

 

As I learnt from other colleagues, Hai was once one of our outstanding students at the …. Now, working at the …, Hai has proven to be a potentially high-caliber researcher in his specialized field of International Politics and European studies. He has fruitfully participated in a number of research projects, through which he has shown exceptional creativeness and a refreshing idealism tempered only enough to accomplish what needs to be done. Other colleagues often remark that Hai is blessed with considerable talent. However, what many of them overlook is how hard Hai works to cultivate his talent, whether it is the enrichment of the knowledge of his specialization, or the development of his English language proficiency, public speaking skills or his writing skills as he works through a research paper.

 

Interestingly, Hai’s amalgamation of talent, intellectual curiosity and hardworking comes “packaged” in a wonderfully friendly, humorous, sincere and caring human being. He has been the master of ceremonies in various community activities of our institute. His ballroom dancing performance is a kind of excitement and inspiration. He is now the youngest elected member of the … … Executive Board and an active member of the … Youth Union’s Executive Board. He is no doubt our asset and pride.

 

For all above-mentioned reasons, he tops the list of the promising researchers and faculty members that we need to cultivate for our future development. I highly recommend him for any position of work, leadership, education, or any other capacity in which he can spread his excitement and share his talents with others. At our institution, we are expecting big things from Hai in the way of educational and communal leadership in the years to come.

 

Once again, thank you for the opportunity to recommend such a special and impressive young man. If any inquiry is required, feel free to contact me at my email address: …………for the fast and reliable reply.

 

Yours sincerely,

 

(Signature,

Title or Position, Address and Telephone No of the Referee)

 

 

 

The second is the letter of the academic (one page and about 400 words).

 

(Printed on the letterhead)

 

November 10, 1980

 

To Whom It May Concern:

 

I am proud to recommend my one-time beloved student and currently the youngest researcher of the Institute for International Relations (IIR), Do Thanh Hai, for your scholarship program. Six years of acquaintance help me somewhat grasp his aptitude and personality.

 

As his professor, I had an opportunity to observe Hai’s participation and interaction in class and to evaluate his knowledge of the subject matter. At that time, he was primarily well-known for his intellectual curiosity and talent. He always tried to seek truth in each and every area of life, whether in learning, discussing philosophy, or relating to his fellow students or his teacher. His very excellent quantitative and analytical ability helped him find out intelligent and rational answers to even the most challenging questions raised in the class. Further, Hai was very helpful in creating an exhilarating learning atmosphere in the class by keenly giving ideas, discussing and asking motivating questions. He was a kind of open-minded individual who was always willing to share with his classmates his own opinion and ideas and enthusiastically contribute to discussions.

 

Now, he is a colleague of mine at the IIR. Always, in his work, Hai is consistent, dedicated and passionate, enthusiastic, cheerful and a pleasure to work with. He is an active member of the IIR Junior Researchers Club, which serves as a forum for young researchers and faculty members of the IIR to share knowledge, research and teaching skills and methods. Although being a researcher, he actively gets involved in teaching. He has also shared the burden of teaching activities with us. At present, due to lack of a Master’s degree, he has only worked as a very helpful assistant to other veteran lecturers in teaching American and European studies for full-time students. Therefore, I strongly encourage Hai to further his education so that he will be able to contribute more to the research and teaching of the IIR. I am willing to do everything within my range to help him and, I am sure, you will do it too.

 

I am deeply impressed by Hai and recommend him unhesitatingly. If you have any questions or wish to know further about Hai, please feel free to contact me at .

 

 

 

Sincerely,

 

(Signature,

Title or Position, Address and Telephone No of the Referee)

 

Note: This post is copied from Sailingtothesea’s blog. All rights reserved. This post is for reference only, do NOT copy and paste it.

Letter of Recommendation

Trong bộ hồ sơ xin học sau ĐH, đặc biệt là hồ sơ xin học bổng, có 2 loại giấy tờ rất quan trọng nhưng đa số SVVN đều chưa có kinh nghiệm khi chuẩn bị. Đó là Thư giới thiệu và Tuyên bố cá nhân. Theo một số chuyên gia tuyển sinh của các trường ĐH danh tiếng ở Anh, Mỹ, đây là 2 trong số những giấy tờ có tính chất quyết định nhất với một hồ sơ xin học.

 

Thư giới thiêu: Cụ thể và chân thật

 

Letter of Recommendation hay Letter of Referee (LOR) là thư giới thiệu của một người quen, không phải người nhà, để bày tỏ ấn tượng của họ về SV đó và khẳng định rằng SV đó xứng đáng được nhận vào học hoặc nhận học bổng này.

 

Thông thường, các trường yêu cầu ít nhất 2 LOR, 1 về học thuật (academic) và 1 về chuyên môn (professional). Tương ứng, SV sẽ phải nhờ 2 người, 1 là giảng viên tại trường ĐH và 1 “sếp” hoặc đồng nghiệp tại công ty.

 

Ông John Hartwright, Trưởng ban Tuyển sinh, Trường Kinh doanh Newcastle, ĐH Northumbria cho biết: “Chúng tôi luôn mong đợi trong LOR nêu bật được những tố chất đặc biệt trong học thuật cũng như những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết của SV.”

 

Trong những bức thư này, người giới thiệu không nên chỉ nói chung chung rằng anh A rất thông minh, chăm chỉ, có tinh thần học hỏi mà nên có những dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho nhận định này. Đôi khi, một số nhận xét mang màu sắc cá nhân về hiểu biết xã hội cũng như cách cư xử trong cuộc sống nếu được lồng ghép khéo léo vào LOR cũng mang lại lợi thế cho SV.

 

Theo quy định thì các thư giới thiệu phải do chính người giới thiệu viết và đảm bảo bí mật. Nhưng trong điều kiện ở VN, khi tiếng Anh chưa phải là ngôn ngữ được sử dụng phổ thông, nhiều người giới thiệu sẽ gặp khó khăn khi viết thư. Vì thế, thông thường SV sẽ phải dịch sang tiếng Anh và xin xác nhận của người giới thiệu.

 

SV nên đưa Sơ yếu lý lịch (CV) và Tuyên bố cá nhân cho người giới thiệu xem trước để họ biết những yêu cầu cơ bản của khóa học và nhấn mạnh vào những ưu điểm có liên quan.

 

“Tôi là người phù hợp nhất với khóa học”

 

Đó là điều rất quan trọng mà SV cần làm nổi bật trong tuyên bố cá nhân của mình.

 

Statement of Purpose (SOP) hay Personal Statement là những tuyên bố mang tính cá nhân của người xin học, thể hiện phẩm chất và khát vọng học tập và dự định sự nghiệp tương lai.

 

Bà Rachel Sunderland, Văn phòng Quan hệ quốc tế, ĐH Bournemouth, Vương quốc Anh khẳng định: “Các nhân viên tuyển sinh mong muốn ứng viên không chỉ có khả năng học thuật mà còn thể hiện cả sự nhiệt tình đối với khóa học cũng như mục tiêu rõ ràng với việc học tập và nghề nghiệp.”

 

Anh Lê Tiến Dũng, nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Nebraska-Lincoln, Hoa Kỳ chia sẻ kinh nghiệm bản thân: “Trong SOP, cần làm nổi bật 3 vấn đề. Đó là: nguyên nhân bạn theo đuổi ngành học này, mục tiêu sự nghiệp lâu dài và nếu nhận học bổng thì nó có vai trò và ý nghĩa như thế nào với sự phát triển nghề nghiệp của bạn.”

 

SV cần nhấn mạnh vào những điểm mạnh của mình phù hợp với yêu cầu khóa học, không cần đề cập đến những ưu điểm mà khóa học không hướng tới. Khi nói về lý do đưa bạn đến sự lựa chọn ngành này thì nên là sự đam mê chứ không phải “vì ngành này nhiều tiền, dễ xin việc, ngành thời thượng”. Cũng nên nói 1 chút về sự đóng góp cho cộng đồng xã hội khi mình làm việc trong ngành đó.

 

“Khi nói về mục tiêu sự nghiệp thì phải gắn với mục tiêu của khóa học, tức là có sự gắn kết giữa cái mình cần và cái trường cung cấp”, anh Dũng chia sẻ. Chẳng hạn như một số học bổng lựa chọn những cá nhân có khả năng cống hiến và phục vụ cộng đồng sau khi tốt nghiệp thì không nên nói là kế hoạch của mình là lập công ty riêng hay sau khi học xong tôi sẽ xin ở lại làm việc mà không quay về nước.

 

Một phần rất quan trọng nữa là phải làm nổi bật vấn đề khóa học này sẽ giúp bạn thực hiện mục tiêu nghề nghiệp trong tương lai như thế nào.

 

Ông John Hartwright nhấn mạnh: “SV phải phác thảo được những dự định tương lai sau khi kết thúc khóa học, họ sẽ dùng những kiến thức và kỹ năng mới học được vào việc gì.”

 

Vì thế, SV cần nghiên cứu thật kỹ khóa học, để xem nó cung cấp cho mình phương tiện, công cụ hay kiến thức gì, kết hợp với những tri thức và kỹ năng sẵn có, bạn sẽ làm thế nào để đạt được mục tiêu trong tương lai.

 

Thông thường, mỗi LOR và SOP được viết trong khoảng 1.000 từ, vì thế, SV phải cố gắng diễn đạt một cách mạch lạc, khúc triết nhất sao cho trình bày được càng nhiều, càng rõ ràng về ưu điểm của bản thân càng tốt. Quan trọng hơn cả là những thư này phải được trình bày bằng tiếng Anh theo phong cách hàn lâm (academic style). Sử dụng một thứ tiếng Anh kém học thuật trong LOR và SOP, đồng nghĩa với việc SV không có đủ khả năng tiếng Anh để theo học chương trình ở bậc ĐH và cao hơn.

 

Theo kinh nghiệm của nhiều SV và nghiên cứu sinh đã thành công, giai đoạn chuẩn bị các tài liệu này thường kéo dài vài tháng. Sau khi viết xong, nên đưa cho một số người bạn có kinh nghiệm để họ sửa chữa những lỗi về ngữ pháp và văn phạm.

 

Lan Hương

Nguồn: http://vietnamnet.vn/giaoduc/2007/10/751718/

Sample Study Objectives – Field of Study: American Studies

Write a clear and detailed description of your study objectives and give your reasons for wanting to pursue them. Be specific about your major field and your specialized interests within the field. Describe the kind of program you expect to undertake, and explain how your study plan fits in with your previous training and your future objectives. This statement is an essential part of your application” (no more than 1000 words)

 

 

 

I consider a Master’s program in American Studies with a focus on U.S. foreign policy in an accredited U.S. educational institution a stepping stone to my future academic and career success.

 

My academic interest in the foreign policy of the United States, the most important actor in today’s world, dates back to my early days at the Institute for International Relations (IIR). It has gained more strength ever since I joined the Ministry of Foreign Affairs (MOFA) and came back to the IIR – a leading think-tank to high level decision-makers in the field of foreign policy. My current duties involve research, making periodic reports and forecasts on the U.S. foreign policy and its relations with other countries including Vietnam, and thereby directly and indirectly contributing to the shaping of Vietnam’s foreign policy toward the U.S. As an IIR prospective lecturer, after obtaining the Master’s degree, I may be assigned to teach the U.S. foreign policy to senior students and will also get involved in the IIR’s curriculum formation. To be able to discharge these responsibilities, I need a Master’s degree in the field to further understand the United States, to improve my academic performance and to add to my practical experience.

 

The very first objective of my academic endeavor in the United States is to approach and master innovative research and pedagogical methods. There is no denying that the U.S. higher education is of top-notch quality in research and teaching. Its quality is measured not by the volume of knowledge that students accumulate but by the advanced knowledge-searching tools and skills with which they are equipped. I want to go there to learn more about these tools, especially quantitative analysis and statistics, survey or questionnaire design, as well as computer-based analysis applied to social science research which are popular in U.S. academic environment but quite new in Vietnam’s. I also wish to see how teaching and learning are conducted in the American class with Vietnam’s pedagogical practices. By the end of the course, I hope to bring home these state-of-the-art methods and practice and make them known and applicable at my home institute.

 

Secondly, my desire to learn in the U.S. is also motivated by the need to acquire a direct, first-hand understanding of American culture, values and world views which give rise to the fundamental ideas behind the U.S. foreign policy. For five years, I have been doing research on America, writing articles about its external relations but I have never set foot on the American soil. Thus, although I have gone through dozens of books, participated in five research projects and spoken at several workshops on American politics and foreign policy, so far I have only a theoretical grasp what has made the United States the most important actor in the world politics. Moreover, I sometimes come across conflicting descriptions and assessments of America, which increases my curiosity about the country. I am aware that I am looking at the United States by others’ eyes. That is the reason why I have declined to pursue several courses in American Studies elsewhere. I enter this tough competition with a hope that I will have a chance to get a truer image of the U.S. by immersing myself in the American society, to understand its political system, to learn in the American academic environment, and to see how American intellectuals think and how American policymakers act and react.

 

Thirdly, regarding U.S. foreign policy as the focus of my academic endeavor, I would like to make a penetrative study of how foreign policy is formulated. In this study, I would investigate the major elements involved, such as public involvement, the influence of political parties, civil society organizations, lobbyist groups, legal frameworks, comparative roles of legislative, executive and judicial bodies, secret agencies, global issues and intergovernmental relations. If possible, I hope to take an internship at the White House Office or the Department of State to track down the path of decision-making in foreign affairs. Certainly, this practical experience is required to supplement all I have read about the making of U.S. foreign policy.

 

Finally, with all these tools and insights into U.S. foreign policy, I would embark on my final objective to decode U.S. policy towards Vietnam – to decipher the true intentions of as well as political and economic motivation behind U.S. rhetoric, words and deeds. In this bid, I expect to interview American decision-makers, scholars and students about their perspectives on Vietnam, discuss with them about the similarities and differences between the two sides’ world views and values. There is no doubt that these dialogues not only help me to see the world as Americans see it, but will allow the Americans to see Vietnam more accurately.

 

In terms of my career, I am sure that the Master’s course offered by your program would be professionally valuable to me in several ways. First, I see the Master’s degree as the first major step in my studies towards a PhD and possibly post-doctoral studies. Furthermore, a Master’s degree is recognition of an in-depth knowledge, practical experience, research efforts and communication skills that will make me qualified to independently do research and participate more deeply in teaching activities at my Institute. Ultimately, the combined skills and knowledge I will get from the program may evolve into my way of working and thinking, which will have positive impact on my students and colleagues, and impart some degree of influence over actual foreign policy decisions.

 

I am aware that all these objectives are ambitious and that the Master’s program is not a magic solution. Some objectives will be achieved by the end of the course, but some I will pursue for all the rest of my life. However, the Master’s program is indispensable for me to make my dreams come true.

 

(968 words) 

 

 

Note: This is the Study Objectives of Tran Thanh Hai – an Eramus Mundus student, who also submitted his application dossier for Fulbright Vietnam in 2007. This post is for reference only, please do NOT copy it in your essay. Copyright to Tran Thanh Hai.

Sample PERSONAL STATEMENT – Field of Studies: American Studies

When I was about to write this personal statement, I recalled a true story from my childhood. Just one month after I was born, a special friend of my parents’, who was very knowledgeable in astrology and physiognomy, visited my family. Watching me sleep like a log in a cradle, she let it slip that I would become a statesman or an ambassador rather than a technician or an engineer as my father had hoped.

 

I grew up and did not invested much hope in this prophesy because from primary school to high school I excelled in math, physics, chemistry and other natural science subjects. I was allergic to literature and foreign languages but I could spend a whole day long confined to my room looking for the solution to a math problem. In 1995, my excellence in math took me to the High School for Gifted Students in Mathematics and Informatics in Hanoi, which brings together math talents from every corner of the country. At that time I thought I would become a mathematician or an IT expert.

 

However, things have changed since my unintended talk with my friend’s uncle, Mr. A, the chief negotiator of Vietnam on …, in January 1998. His patriotism, his interesting stories about negotiations, his sense of humor, sophisticated manners and common courtesy awakened my desire to be someone like him. Especially, he opened my eyes to brand new images of the United States and other countries in the world, which I had quite often heard about but did not know well. That talk changed my life. I chose to follow my schooling at the Institute for International Relations (IIR) instead of the Hanoi University of Technology.

 

The change introduced a whole new experience, because my strength in math and other natural sciences could not easily be brought into play in a new realm of social sciences and foreign languages. However, despite many initial difficulties in learning English, I have found a different, no less interesting world than the realm of mathematics. In this new world problems, mainly related to behaviors of and relations among individuals, social groups and nation-states, appear with many parameters, both constant and variable, predictable as well as unpredictable, and cannot be solved with singular fixed solutions.

 

At the IIR, I had time and resources to satisfy my personal curiosity about the United States. I have read many books about the American history, culture and people and have had many opportunities to listen to and talk with various distinguished American professors and politicians. I have been most impressed with the first Ambassador to Vietnam Pete Peterson, Prof. Jack Snyder of Columbia University, Prof. Robert A. Scalapino of University California at Berkeley, and David Lampton of Johns Hopkins University. I soon came to realize that, throughout my undergraduate years, my personal curiosity had developed into a strong academic interest in American Studies. That is the reason why after graduation I happily accepted the offer to a voluntary post of research assistant at the Center for European and American Studies.

 

In November 2003, I participated in two tough nation-wide competitions with the Ministry of Trade (MOT) and Ministry of Foreign Affairs (MOFA) at the same time. The results from MOT were received first, so I started working for the European and American Department in January 2004. There, I was chosen to be an administrative assistant to Mr. A whom I met before. He did not remember me, a little boy six years ago, and now his colleague. However, at the end March 2004, I was informed that I successfully passed the entry exam to MOFA. I stood at the crossroad. Which way should I go?

 

I must say that working with Mr. A has been the most valuable experience that I have ever had. I learned much from him, not only from his expertise but also from his working enthusiasm and seriousness. MOT is a stimulating working environment with various opportunities for young specialists to follow. However, my specialty was not economics or trade policy. Finally, in the light of my academic interests, I decided to move to MOFA.

 

Now, as a researcher and a lecturer at the IIR (MOFA), the country’s leading think-tank in the field of external affairs at the service of Vietnamese leaders, I have set forth clear goals to achieve. My professional goal is to become an expert in and a professor of American studies. My ultimate career goal, as a diplomat, is to be an accredited Vietnamese ambassador abroad. To this end, my first step will be to study in the United States for two years in a relevant Master’s program to deepen my expertise and add to my practical experience.

 

I am aware that these goals are grand, but not unrealistic. A Master’s degree is extremely important for me now because it is a springboard for my career development. A long and bumpy road is waiting ahead before the goals are achieved. But once I made up my mind, I am determined to accomplish them no matter how hard it is. I strongly believe that I will overcome it by my brainpower, my will power and a bit of luck.

 

Total: 887 words 

 

Note: This post is edited by Tran Ngoc Thinh. Copyright to the author. Only for reference, do NOT copy and paste it in your application

Thư gửi các bạn Semi-finalist của Fulbright Việt Nam AY 2010-2012

Columbia, Missouri, 24/9/2009

 

Thân gửi các bạn Semi-finalist !

Trước hết, chúc mừng các bạn đã trải qua một cuộc phỏng vấn thú vị và cũng rất căng thẳng. Có thể có một số điểm làm bạn chưa hài lòng, nhưng hãy vui lên và giữ cho mình một tâm thế phấn khởi để đón đợi tin vui. Chắc các bạn đang rất hồi hộp chờ đợi kết quả.Mình rất hiểu cảm giác này vì mình đã từng trải nghiệm nó. Mình muốn chia sẻ một đôi điều với các bạn:

 

1. Về kết quả phỏng vấn:

Thường sẽ có sau khi phỏng vấn 1 đến 2 ngày (năm của mình là 1 ngày). Kết quả sẽ gửi bằng email tới email các bạn đăng ký với Fulbright. Cho dù bạn trúng tuyển hay không cũng đều nhận được email hết. Không có chuyện trúng tuyển mới có email, còn trượt thì không có. Cứ yên tâm và hồi hộp chờ đợi nhé. Sau đó, thư thông báo trúng tuyển có chữ ký của thầy Thảo sẽ được gửi tới địa chỉ bưu điện mà bạn đăng ký với Fulbright.

50 ứng viên tham gia phỏng vấn đều rất xuất sắc, do vậy việc lựa chọn 25 người trúng tuyển là một công việc rất vất vả, khó khăn và tốn thời gian, mong các bạn kiên nhẫn và lạc quan chờ đợi tin vui. Cho dù kết quả có thể nào, các bạn cũng phải tự hào vì nỗ lực của mình.

2. Sau khi biết kết quả:

 

    • Tự thưởng cho mình một cái gì đó: đi chơi, du lịch, ăn uống, karaoke
    • Viết bài chia sẻ kinh nghiệm phỏng vấn Fulbright cho Fulbright Weblog, hãy nhớ viết ngay sau khi trúng tuyển, bởi để lâu mấy chi tiết nho nhỏ, thú vị sẽ không còn fresh. Các bạn gửi bài vào hòm thư của mình tranngocthinh@gmail.com, mình sẽ post bài lên Fulbright weblog.
    • Bắt tay vào việc ôn thi cho mấy kỳ thi TOEFL, GRE hoặc GMAT. Thường thì lịch thi sẽ do Fulbright đặt chỗ với ETS nên các bạn sẽ không chủ động được thời gian ôn thi, do đó nên bắt tay vào ôn thi ngay khi biết kết quả trúng tuyển. Việc ôn thi sẽ rất stressful, đặc biệt nếu bạn đang đi làm. Hãy cân bằng thời gian, và ưu tiên cho kỳ thi, bởi vì ưu tiên số một lúc này là kỳ thi, vì một thời gian nữa, bạn sẽ không còn làm ở cơ quan nữa.
    • Suy nghĩ thật kỹ để trả lời Fulbright 4 trường mà bạn sẽ dự định nộp hồ sơ. Lưu ý, không chắc chắn là bạn sẽ vào 1 trong 4 trường đó. Quyết định là của Fulbright, do đó đừng có quá hy vọng mà trở nên thất vọng.
    • Hãy dành thời gian mà tận hưởng Việt Nam trước khi sang Mỹ, không sang đây rồi lại nhớ. Nếu bạn chưa đi thăm chỗ nào ở Việt Nam: Hạ Long, Nha Trang, Sài Gòn thì hãy đi đi. Nếu bạn chưa ăn thịt chó, bún đậu mắm tôm thì hãy ăn đi. Nếu bạn chưa phi xe máy lượn lờ đường phố Hà Nội thì hãy làm đi. Nếu bạn chưa ngắm hoàng hôn ở Hồ Tây, thì đi thử đi. Nếu bạn chưa đi chợ đêm Hàng Đào, hãy đi ngay. Bởi nếu không sang Mỹ bạn không có sẵn cơ hội như Việt Nam mà thử đâu. Và một điều nữa, hãy tập thể dục bằng việc đi bộ, nếu không sang học, đi bộ trong trường cũng thấy mỏi cả chân 

Viết cho các bạn mấy dòng. Lâu lắm mới có cảm hứng viết blog từ khi sang Mỹ. Chúc các bạn có được tin vui, và mong chờ những dòng chia sẻ cảm xúc phỏng vấn Fulbright của các bạn.

 

Thân mến từ Hoa Kỳ,

Trần Ngọc Thịnh

University Placement của Fulbright Việt Nam

LTS: Năm của mình 2009-2011, chương trình Fulbright lựa chọn trường cho bọn mình và ép bọn mình phải đi học những trường mà Fulbright chọn, cho dù mình không thích. Đã có rất nhiều người, trong đó có mình tỏ ra không hài lòng với Fulbright về cách làm này. Đã có một số phản hồi với Fulbright và khóa sau đó việc sắp xếp trường cho FBter đã được những thay đổi tích cực. Bài viết này là của chị Phương Thùy – FBter 10-12, ngành Báo Chí chia sẻ về quy trình sắp xếp trường khi bạn được học bổng Fulbright. Quy trình này của Fulbright khác gì so với quy trình của các học bổng khác như VEF, 322, ADS, Chevening…các bạn đọc để biết nhé. Chị Phương Thùy là phóng viên VTV, ngày trước chị ấy rất hay xuất hiện trên sóng truyền hình. Các bạn có thắc mắc gì thì hãy đặt câu hỏi cho chị Thùy nhé.

 

Trần Ngọc Thịnh

——-

 

Năm của tớ (2010) quy trình university replacement như sau:

 

1. Semi-finalists đăng ký nguyện vọng university placement trong form đăng ký điện tử (giống hệt form đăng ký vòng loại, chỉ khác ở chỗ nó là ở trên web). Trong form có nói phần đăng ký nguyện vọng trường là không bắt buộc nên năm của tớ đã có một số bạn đã bỏ qua bước này. Đó là sai lầm lớn vì đây là cơ hội duy nhất để bạn đăng ký nguyện vọng của mình.

 

2. Sau khi đã chọn ra được finalists, IIE sẽ lên một submission plan gồm 4 trường để nộp hồ sơ cho từng finalists. Các bạn sẽ được quyền tham gia ý kiến vào submission plan này, tuy nhiên quyết định có thay đổi nó hay không hoàn toàn phụ thuộc vào IIE.

 

3. IIE thay mặt finalists gửi đơn dự tuyển vào các trường. Fubright sẽ quyết định final placement của các bạn.

 

Như vậy các bạn có thể thấy bước quyết định nhất đối với university placement của các bạn chính là bước điền vào phần nguyện vọng trong form điện tử, khi bạn còn là semi-finalist và chưa bước vào vòng phỏng vấn. Đây chính là bản đăng ký nguyện vọng chính thức của bạn. Từ khi bạn chính thức trở thành finalist cho đến khi bạn có final placement, sẽ không có lần đăng ký nguyện vọng nào khác! (Cái này khác với những năm trước đó).

 

Đựa trên quy trình này, tớ có một số kinh nghiệm như sau để được vào trường ưng ý.

 

Nghiên cứu từ sớm: Cố gắng chắc chắn được rằng khi được chọn là semi-finalist thì bạn đã quyết định được mình muốn theo học trường gì. Có ba điều cần cân nhắc là: ranking chung của trường, trường có khoá học phù hợp với kế hoạch của mình không (vì các khoá cao học của Mỹ mang tính chuyên biệt rất cao), và khoá học có phù hợp với sức học của mình không. Tránh rơi vào trường hợp như của tớ, do không nghiên cứu sớm nên tí nữa thì “tèo”. Tớ có nguyện vọng học báo chí và phim tài liệu, và học viện báo chí ở New York University là trường báo duy nhất có khoá này, tuy nhiên vì nghiên cứu chưa kỹ, tớ lại điền tên một trường khác có lịch sử hoành tráng hơn vào làm nguyện vọng 1. Sau đó tớ đã phải lao tâm khổ tứ mãi mới xin được chuyển khỏi trường “nguyện vọng 1” này để được sang NYU, cũng may mà được Fulbright thông cảm.

 

Lựa chọn hợp lý: Một bản nguyện vọng gồm 100% các trường Ivy League sẽ một bản nguyện vọng rất bóng bẩy, nhưng ít giá trị và sẽ không mang lại lợi thế gì cho bạn trong việc chọn trường nếu bạn không phải là một sinh viên kiệt xuất. Ngoài việc cân nhắc ranking của trường, các khoá học và sức học của bản thân, bạn cũng có thể cân nhắc thêm về khả năng cost-sharing của từng trường. Bạn có thể tham khảo Fulbrighters những năm trước xem những trường nào sẵng sàng offer tuition scholarships hoặc assistantships cho các sinh viên của Fulbright. Nếu bạn tìm được trường hợp lý về mặt học thuật lại cộng thêm có cost-sharing, thì khả năng lớn là nguyện vọng của bạn sẽ được IIE đưa vào submission plan.

 

Cân nhắc các yếu tố thời tiết, sức kho: Nếu bạn không chịu được lạnh thì tránh đăng ký vào những trường ở quá cao trên phía bắc. Nếu bạn bị hay fever thì tránh những trường ở những nơi có nhiều cỏ cây hoa lá.

 

Tuyệt đối không nên bỏ qua bước đăng ký nguyện vọng: Trong application form luôn có câu “Bạn không bắt buộc phải điền vào phần này”, nhưng nên luôn coi phần này là phần bắt buộc. Ghi rõ ràng 4 nguyện vọng, và giải thích cụ thể vì sao bạn muốn theo đuổi những khoá học này.

 

Đóng góp ý kiến vào submission plan của IIE: Nếu bạn đăng ký nguyện vọng một cách hợp lý, có cân nhắc kỹ càng, thì phần lớn nguyện vọng sẽ được phản ánh trong submission plan của IIE. Khi nhận được submission plan, bạn hãy xem xét kỹ lại một lần nữa vào đóng góp ý kiến một cách cụ thể về việc bạn muốn order of priority là như thế nào. Nếu bạn muốn bổ sung thêm các trường khác vào submission plan, hãy chuẩn bị một lý do thật hợp lý và có sức thuyết phục.

 

Try till the end: Sau khi có final placement, nếu bạn cảm thấy final placement chưa phải là lựa chọn tối ưu, bạn có thể trao đổi lại với Fulbright và đề nghị được thay đổi final placement. Bạn chắc chắn sẽ cần một lý do hoàn toàn hợp lý, có cân nhắc quyền lợi của bản thân bạn, của những ứng viên khác trong Fulbright, và của mục tiêu trao đổi văn hoá, tăng cường hiểu biết lẫn nhau của cả chương trình Fulbright. Tại thời điểm này, trao đổi có thể trở nên khá căng thẳng và mệt mỏi, nhưng bạn có nhiều khả năng thành công hơn nếu bạn giữ thái độ bình tĩnh, hoà nhã, khách quan và tích cực.

 

The earlier, the better: Bạn có nguyện vọng, có kiến nghị hay có ý kiến gì về vấn đề university placement, trao đổi với Fulbright càng sớm càng tốt trong các bước của quá trình placement. Càng muộn, bạn sẽ càng khó đưa ra lý do đủ thuyết phục cho nguyện vọng của mình.

 

Sau tất cả những nỗ lực này, nếu final placement vẫn chưa phải là tối ưu đối với bạn, thì cũng đừng quá bi quan và thất vọng. Dù theo học trường nào thì trước mắt bạn cũng là cả một hành trình mới mẻ và thú vị trên đất nước Mỹ rồi. Bạn có thể không vào trường top như mong muốn, nhưng áp lực bài vở nhẹ hơn sẽ giúp bạn có thời gian điều kiện thăm thú tìm hiểu nước Mỹ, điều mà nhiều sinh viên Ivy League chưa chắc đã có cho đến tận ngày về nước.

 

Chúc các bạn thành công,

Chia sẻ kinh nghiệm của 1 Fulbrighter ngành Nghệ thuật (Arts/Comics)

LTS: Anh Đỗ Hữu Chí – FBter niên khóa 2010-2012 là một người chuyên vẽ biếm họa và thiết kế các bìa sách cho các NXB. Nhận lời mời của mình, Anh Chí có viết bài chia sẻ kinh nghiệm của anh ấy trong việc apply học bổng Fulbright. Anh Chí được học bổng theo ngành Art, một ngành khá mới và còn ít FBter đăng ký. Các bạn đọc chia sẻ của anh Chí nhé.

 

Trần Ngọc Thịnh

—–

 

(Viết cho Fulbright Blog)

 

Các bạn thân mến,

 

Trước tiên tôi thành thật xin lỗi vì đã viết bài này muộn hơn dự kiến. Bạn Thịnh đã nhiệt tình nhờ tôi từ hơn hai tháng trước, nhưng lúc vừa sang Mỹ bận thu xếp cuộc sống mới, rồi bài vở, rồi lại đoảng tính hay quên, nên giờ tôi mới viết được.

 

Những kinh nghiệm tôi viết dưới đây có thể sẽ không áp dụng rộng rãi được. Chúng chỉ là kinh nghiệm cá nhân tôi cho một ngành hẹp là Arts (trong tương quan với các ngành hot và phổ biến khác như MBA, Luật, TESOL…vv…), và một cái ngách còn nhỏ hơn nữa trong Arts là Comics. Tuy nhiên tôi sẽ cố gắng viết một cách­ phổ quát dễ hiểu nhất có thể, hi vọng sẽ giúp được các bạn hình dung được phần nào, nhất là các bạn đang theo đuổi Arts.

 

Vậy, làm thế nào tôi “cá kiếm” được HB Fulbright? Nói thực là đến giờ nghĩ lại tôi cũng chưa hiểu tại sao mấy ông bạn Mỹ lại cho tiền một đứa đi học vẽ truyện tranh thay vì học Luật hay Kinh tế. Có lẽ tại mấy ổng quá vui tính và chịu chơi. Woohooo.

 

Để dễ nói chuyện, tôi có hai câu hỏi cho các bạn: Bạn muốn học bổng này đến mức nào? Tại sao Fulbright nên chọn bạn?

 

Câu hỏi thứ nhất sẽ quyết định thành công của bạn từ bên trong. Tôi không muốn nói cái gì sáo rỗng ở đây, nhưng quả thực là, nếu bạn thực sự muốn cái gì, bạn sẽ tìm mọi cách để đạt được nó. Động lực đằng sau việc tìm kiếm HB của bạn là hết sức quan trọng.

Trong trường hợp của tôi, nói thật, tôi thèm được đi học nước ngoài. Trước tiên, vì tôi thấy học ở VN chán quá, tôi chả học được mấy. Lên mạng thấy bao nhiêu thứ hay ho, tôi không hiểu họ học cái gì mà làm ra được những thứ như vậy. Thứ nữa, tôi mê du lịch, khoái đi đây đi đó, sống ở nhiều nơi khác nhau: nếu được đi Mỹ sống hai năm thì thật là bá cháy. Thứ ba, tôi không có điều kiện, học sinh nghèo không vượt nổi khó, không thể đi đâu nếu không xin được học bổng. Thứ tư, có quá ít học bổng hỗ trợ ngành Arts, cho nên khi phát hiện ra Fulbright hỗ trợ Arts thì tôi mừng như bắt được vàng, và quyết không để cho “nó” thoát. Có lẽ tất cả sự thèm muốn quá độ của tôi đã hiện lên hau háu trên mặt trong lúc phỏng vấn làm mọi người giật mình xúc động mà cho đi chăng?

Với câu hỏi thứ hai, bạn cần xác định phần quyết định thành công từ bên ngoài, cụ thể là từ phía Fulbright Program. Họ muốn chọn những ai? Tiêu chí lựa chọn của họ là gì? Trong hàng trăm hàng ngàn bộ hồ sơ siêu đẹp đang chen chúc đợi được chọn, điều gì khiến họ chú ý đến bạn và chọn bạn?

 

Trong hiểu biết hạn chế của tôi, không chỉ khuyến khích giao lưu văn hóa, đẩy mạnh giáo dục, tăng cường hiểu biết giữa các quốc gia, Fulbright còn muốn tìm kiếm những người dẫn đầu. Nếu bạn học Kinh tế hay Luật, họ muốn tìm ở bạn nhà lãnh đạo, người làm chính sách cho đất nước trong tương lai. Nếu bạn học Giáo dục, họ tìm ở bạn Nhà giáo Ưu tú Nhân dân, người không chỉ khiến cho việc đến lớp không còn là cực hình đối với học sinh, mà còn thay đổi cả chính sách giáo dục. Nếu bạn học vẽ comics, họ muốn bạn vẽ được mấy cuốn truyện tranh bá láp đặng bà con đọc chơi giải trí lúc nông nhàn.

Vâng, mục tiêu hết sức tốt đẹp, mỗi tội là bạn phải dẫn đầu. Bạn phải cho họ thấy là bạn hiểu, bạn say mê, bạn muốn dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp vĩ đại mà bạn chọn. (Thiệt tình là cũng có lúc bạn không tin như vậy lắm đâu, nhưng quan trọng là làm sao cho họ tin.) Và nữa, trong khi có mười đứa đòi đi học vẽ truyện tranh, giả dụ vậy, tại sao họ lại nên chọn bạn mà không phải một trong chín đứa còn lại? Ây dà, tui không biết tụi nó vẽ làm sao nhưng mà tui vẽ ngon à nha… Nói đoạn bạn giở đủ tất cả tranh ảnh sách báo những gì đã làm được ra cho mọi người coi, xong ngồi nở mũi nghe “Nice”, “Interesting”, “Good job”… và không quên nhe răng “Thank you!”. Đại khái như vậy.

 

Tôi không đùa đâu, bạn phải giỏi và phải giỏi cả việc show cho họ thấy là bạn giỏi. Còn show thế nào thì tùy bạn.

 

Thế và, hãy tự tin. Cái này người ta nói suốt rồi, nhưng tôi vẫn nói lại vì nó quan trọng: hãy là chính bạn. Đừng giả đò làm ai khác. Đừng nói những cái không phải là mình, không thuộc về mình. Bạn không đánh lừa được ai đâu, nhất là khi Fulbright họ đã có hơn 60 năm thâm niên ngồi nghe các cháu trình bày. Chỉ khi bạn là chính mình và cho họ thấy cái họ muốn thấy, thế thì bạn mới có cơ hội sang Mỹ mà tung tẩy được.

 

Nếu có bạn nào hỏi khó, rằng em đã “là chính mình” hết cỡ thợ mộc rồi mà vẫn chưa được, thì phải làm sao? Xin thưa rằng nếu thế thì tôi cũng chịu, cái đó chắc phải hỏi thần tài. Đành dành thêm một năm nữa lấy thêm kinh nghiệm, làm đẹp hồ sơ, rồi năm sau trước khi đi phỏng vấn kiêng ăn chuối một tháng thử xem sao?

 

Chào thân ái và quyết thắng.

 

Bút Chì

 

Savannah, 11/2011

 

PS: Viết thêm một chút, vì tôi nhớ trong buổi info session năm ngoái, có bạn hỏi nếu điểm phẩy ở đại học thấp, và xin đi học trái ngành thì sao? Tôi đã trả lời là không sao cả, vì tôi là ví dụ điển hình cho cả hai trường hợp trên. Điểm ra trường của tôi đâu như được nhỉnh hơn 5 phẩy một chút (lạy Phật, vừa đủ), và ý thức chính trị thì cực kém, suýt tí nữa thì tèo môn chính trị cuối khóa. Và vì tôi học Kiến trúc ra, nên khi các bác hỏi ơ sao lại đòi đi học vẽ truyện tranh, tôi cười hì hì bảo, ở VN giờ nhiều KTS giỏi quá, mà truyện tranh lại gần như chưa đứa nào làm cả, cho nên cháu cứ chỗ nào vắng vắng dễ dễ cháu làm bác ạ. Ơ mà bác xem, nhờ học kiến trúc nên cháu vẽ phối cảnh cũng không đến nỗi nào đâu nhé… Đại khái như vậy.

 

Như đã nói, có thể trường hợp của tôi là cá biệt, xin đừng áp dụng tùy tiện. Thành tích cao và việc tập trung lâu dài cho một ngành nghề vẫn luôn là lợi thế của bạn. Vấn đề còn lại là sử dụng lợi thế như thế nào thôi.

 

Chúc may mắn.

Fulbright Vietnamese Student Program FAQ

About the Program

What does the Fulbright scholarship provide?
The scholarship provides grantees with the opportunity to pursue a master’s degree at a
university in the United States. The grant provides full tuition and fees, a living allowance,
round-trip travel and health insurance.

How long is the program?
Most M.A. programs take 2 academic years to complete, although in some cases, the M.A.
course is only 10-12 months. Law students will take one academic year to complete their
degrees. All grantees must remain in good academic standing to continue their program.

How many awards are there?
The number of scholarships depends on the amount of funding allocated by the US Department
of State. Approximately 20 new grantees go to the U.S. each year.

Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits.

Eligibility requirements

What are the minimum eligibility requirements for a Fulbright scholarship?
Vietnamese citizens from all regions in Vietnam are welcome to apply. Applicants must have at
least a BA degree and have two years of work experience by the time of their application. All
applicants must be proficient in English, as measured by a minimum 79 on TOEFL iBT or 6.5 on
IELTS. Finally, the field of study that an applicant intends to pursue must be supported by the
Fulbright Program.

The Program requires two years of work experience since graduation. I graduated recently
but I had worked full-time for more than two years before graduation. Can that experience
satisfy the requirement?

Unfortunately, the Fulbright Program counts the work experience based on the date of issuance
of your first bachelor’s degree. For example, to be eligible for the academic year 2019-2020 of
which the application deadline is May 15, 2018 your first bachelor’s degree must be issued
before May 15, 2016. The experience you gained before graduation only add bonus to your
competitiveness but does not necessarily meet this requirement.

Does the Fulbright Program require applicants to submit contracts of employment and
certificates of extra-curricular activities?

No. Contracts of employment and certificates of all kinds are not required. You just need to list
your work history and extra-curricular activities in your CV.

Do I need an offer of admission from a university in the US prior to applying for a
Fulbright award?

No. All grantees will be placed at universities by the Institute of International Education after
attaining finalist status.

Which fields of study are supported by the Fulbright program?
In general, most fields in the Humanities and Social Sciences are supported by the Fulbright
Program. Please contact the program office if your desired field of study is not listed.

Is there a minimum GPA for applicants?
No. Applicants will evaluated based on the merits of their entire application, including their
GPA, work experience, references, essays, and TOEFL/IELTS score.

Is there an age limit for applicants?
No, although most successful candidates are at an early or mid-point in their careers.

Do I need a Bachelor’s degree in the same subject that I want to study for a Master’s
degree?
No. Master’s degree programs in the U.S. do not require that applicants have a Bachelor’s degree
in the same subject. However, it is recommended that applicants have substantial work
experience related to their intended field of study. One exception is Law: candidates for a
Master’s in Law must have a B.A. in Law. A master’s in Economics may also require an
academic background in economics or finance.

My TOEFL iBT/IETLS test score is expired. Can I use GMAT/GRE instead?
Yes. At the application round, the Fulbright Program may accept GMAT/GRE in place of your
expired TOEFL iBT/IELTS. Your GMAT/GRE must be valid by the application deadline, and
your percentile ranking must be 50% for each component of each exam.

Applying

When should I apply for a Fulbright award?
Applicants who wish to obtain the scholarship to for the fall of 2019 should submit an
application by May 15, 2018.

What are the components of an application?
All applicants are required to apply online. A complete online application consists of an
application form, three confidential letters of reference, diplomas and transcripts from
undergraduate and graduate degrees, and TOEFL iBT/IELTS score reports.

I applied last year and was not successful. Can I resubmit that application for the new
cycle?

Unfortunately, once the application is submitted, you can no longer have access to it. You need
to create a new log-in account using a new email address and password.

When I register online, the Embark system asks me to contact the Fulbright Office prior to
commencing my application. What should I do?

This is NOT a requirement of the Fulbright Program in Vietnam, so there is no need to call or
email the Fulbright officer. Please select “yes” in answer to question 3 and start your application.

I do not have much work experience in my chosen field. Will my application be at a
disadvantage?

Work experience in the field you wish to pursue is an indication of your commitment to that field
and is considered additional preparation for graduate work. Work experience can often make up
for any academic experience you may lack. While it is not a mandatory requirement, a lack of
relevant work experience may diminish your chances to earn the scholarship.

Is there another way to submit the reference letters if my referees cannot submit them
online?
Online references are preferred; however, if by no means your referees can submit online letters,
you can go to “Supplemental Form” on our online application system, download the Fulbright
Reference form and forward it to your referees for completion. Your referees should complete
both parts of the Fulbright Reference Form (rating chart & recommendation). The reference form
must be sent to the Fulbright Office in a closed envelope with the referees’ signature on the seal.
Interviews

What happens to my application after submission?
Your formal application will be reviewed by a committee, which will decide whether to
recommend your application for an interview.

How many interview slots are there?
It depends on the number of qualified applicants. In general, we usually interview approximately
50 applicants per year.

When are interviews held?
Interviews are held in the fall in Hanoi and Ho Chi Minh City.

Who is on the selection panel?
The selection committee is composed of Vietnamese and American experts in a variety of fields
of study.

Receiving the scholarship

What happens after I am chosen as a finalist?

You will be required to sit for the official TOEFL (Internet-based) and GRE exams. MBA
students will take the GMAT exam instead of the GRE, and Law students will only take the
TOEFL exam. The Fulbright Program will provide you with test vouchers for these exams, as
well as transportation to and from the test site if necessary.

Your application will then be sent to the Institute of International Education (IIE) in the United
States. The IIE Placement office will review your application and send your dossier to a variety
of universities. The Fulbright Program and IIE will make the final decision regarding your placement at a university,
based on whether the program fits your academic needs and whether your qualifications meet the
requirements of the university.

Will my score on the TOEFL/GRE/GMAT affect my placement at a university?
Yes. Each university in the U.S. has different admissions criteria, and therefore a low TOEFL
score may make your application less competitive. Therefore, the Fulbright Program encourages
finalists to prepare carefully for these exams. In general, the Program is able to successfully
place Vietnamese grantees at appropriate university programs.

The application instructs applicants to name three-four universities of their choice. Will
IIE honor my choice?
IIE will try to honor your choices. However, if there is no match between you and your choice,
IIE will find other universities where you have a better chance of gaining admission.

Can I defer or delay the scholarship to the following year?
No. You should plan to apply for the year that you will be able to participate fully in the
program.

Does the Fulbright Program provide any orientation for grantees before leaving for the
U.S.?
Yes. The Program will organize a pre-departure orientation in Vietnam for all grantees in May
2019.

Are there any requirements attached to the Fulbright grant?
As part of a U.S. government-funded study program, all Fulbright grantees are subject to a 2-
year home country residency requirement. This means that grantees may not apply for a work or
immigrant visa to the U.S. until after two years of residence in Vietnam upon the completion of
the Fulbright grant.

Fulbright Vietnamese Student Program AY 2019-2020

The U.S. Mission in Vietnam is pleased to announce the Fulbright Vietnamese Student Scholarship Program for academic year 2019-2020. Established in 1946 and funded by the U.S. government, the Fulbright Program aims at achieving mutual understanding through academic and cultural exchange. The Fulbright Vietnamese Student Program is a competitive, merit-based scholarship program which recruits and nominates young Vietnamese professionals for Master’s degree programs at U.S. universities. Approximately 20 fully-funded scholarships are granted on an annual basis. Since 1992, more than 600 Vietnamese students have been selected to participate in the Program.

WHAT does the Scholarship provide? Successful candidates will pursue a Master’s degree that begins in the academic year 2019-2020. Fulbright Vietnam will arrange placement at universities in the United States. Successful candidates will receive a full scholarship which covers tuition and fees, monthly stipend, round-trip airfare to the United States, and health insurance.
WHO can apply? Competition is open to people who meet the following criteria:

  1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship)
  2. Have at least one undergraduate degree
  3. Have at least two years of work experience after graduation by the time of application
  4. Have a valid minimum TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Ineligibility factors

The following persons are ineligible to apply for the Fulbright Vietnamese Student Program:

  1. Candidates who already received one Fulbright Student Program grant
  2. Candidates who are currently living or studying in the United States
  3. Candidates who have earned a Bachelor’s or Master’s degree from a U.S. college or university within the last three years
  4. Local employees of the U.S. Mission in Vietnam who work for the U.S. Department of State and their immediate dependents are ineligible for grants during the period of their employment and for one year following the termination of employment
  5. Candidates who have received any scholarship for graduate study abroad within the past five years, or are scheduled to receive any scholarship for graduate study abroad.

WHICH fields of study are supported?
The Program supports study in most fields of social sciences and humanities, including:

American Literature Education Project/Program Management
American Studies Environmental Studies Psychology
Agricultural Economics Management of IT/Information system Public Administration
Anthropology Journalism Public Policy
Architecture Language/Literature (non-U.S.) Public Health
Art/Film Studies Law Social Work
Business (all fields Library Science Sociology
Communications Linguistics/Language Teaching Urban/Community Planning
Development Studies Philosophy Women/Gender Studies
Economics Political Science

(A brief introduction of each field of study is available here. Please contact the Fulbright office if your desired field of study is not on the list)

HOW to apply?
Please follow these steps to apply for the Program:

Step 1: Download the Application Guidelines and read them carefully before starting your application as Fulbright Vietnam has specific requirements for Vietnamese applicants. Do not refer to the guidelines on the online application system, since it is a generic form for all countries. Failure to comply with the Fulbright Vietnam’s guidelines may make your application “ineligible” for the next rounds of competition.
Step 2: Complete the online application form at: https://iie.embark.com/apply

Please make sure your online application includes:

  1. Two essays (study objectives and personal statement)
  2. Three letters of recommendation
  3. Transcript and degree (for each higher educational institution you list in your application)
  4. TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Curriculum vitae

Deadline for application submission: 5:00PM (Vietnam time), May 15, 2018.
Mailed, emailed and/or faxed applications are not accepted.

SELECTION CRITERIA
Competition is based on academic and professional merits, without regards to race, color, national origin, sex, age, religion, geographic location, socio-economic status, disability, sexual orientation or gender identity. Preference is given to those without recent experience in the United States. A successful applicant is someone who can:

  • Demonstrate a clear and detailed description of the study objectives, and show a clear connection between their study objectives and future goals through a compelling set of essays.
  • Have a depth and breadth of work experience in their intended field of study, and a full understanding of the field.
  • Demonstrate leadership potential based on participation in academic, extra-curricular, community and professional development activities, and personal attributes.
  • Show dedication to Vietnam and potential to make a positive impact upon return
  • Contribute to promoting mutual understanding between the people of the United States and Vietnam through educational and cultural exchange activities.
  • Be willing to be a cultural ambassador of Vietnam.
  • Have demonstrated academic excellence and strong English proficiency

TIMELINE

  • January, 2018: Grant announced and application materials available
  • May 15, 2018: Deadline for submission of application
  • June – July 2018: Application review and semi-final selections
  • September 2018: Interviews & selection
  • October – November 2018: Finalists (re)take GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • November – March 2019: Submission of applications to U.S. universities
  • April – May 2019: University placements confirmed
  • May 2019: Pre-departure orientation
  • June – July 2019: Medical check-up and visa application
  • July – August 2019: Departure

INFORMATION SESSIONS:
More details will be updated soon.

CONTACT
For further information, please read the Frequently Asked Questions or contact Ms. Nguyen Hanh, the Program Assistant at (04) 3850-5089 or email: nguyenHT4@state.gov.

error: Content is protected !!