Học bổng du học Mỹ

Học bổng du học Mỹ – Ngày nay, du học ở các quốc gia tiên tiến, nhất là du học Mỹ hầu như là con đường tất yếu. Đặc biệt là như với một số sinh viên có hoài bão phát triển bản thân một cách toàn diện. Dù mức phí du học Mỹ đắt đỏ đối với thanh niên du học theo kiểu tự túc. Nhưng du học Mỹ đưa đến nhiều tiềm năng hứa hẹn trong tương lai.

Bởi vậy, nếu bạn có một nền tảng tài chính mạnh mẽ thì rất tuyệt vời. Trường hợp ngược lại, nếu bạn không thể đảm bảo được điều này thì cũng không nên vội thất vọng. Chỉ cần bạn có kết quả học tập vượt trội kèm theo có một nền tảng kỹ năng tốt. Cơ hội du học Mỹ vẫn còn nguyên đó. Bài viết này nhằm cung cấp những thông tin học bổng cần thiết nhất. Du học Minh Nguyệt hi vọng mang đến một cái nhìn đầy đủ và chi tiết về điều kiện và cách thức xin học bổng du học Mỹ.
Chuẩn bị profile xin học bổng du học Mỹ thật nổi bật

Điều phải nhắc đến đầu tiên khi xin học bổng du học Mỹ là bước chuẩn bị profile xin học bổng. Ai cũng hiểu rằng để thành công trong việc xin học bổng du học thì profile phải ấn tượng như thế nào. Số lượng các suất học bổng dù nhiều thế nào cũng sẽ sớm trở nên hiếm hoi. Vì ai cũng biết những học bổng du học có tiếng chính là khao khát của hàng trăm, hàng nghìn sinh viên ưu tú. Không ai biết được có bao nhiêu ứng cử viên ưu tú ngang hoặc hơn bạn. Nên điều cần nhất là bạn phải chuẩn bị bộ file dự tuyển sao cho hình ảnh bản thân trở nên thật đặc biệt, nổi bật.

Đặc biệt, bạn phải sở hữu những yếu tố chỉ riêng bạn có. Qua đó bạn mới thuyết phục được đơn vị cấp học bổng rằng bạn phù hợp, xứng đáng với nó hơn những ứng cử viên khác.

Một cách để trở nên nổi bật chính là hoàn thiện bản thân qua những trải nghiệm hằng ngày trong cuộc sống ở các lĩnh vực khác nhau. Các hoạt động học thuật, ngoại khóa, du lịch, lễ hội, thậm chí là giải trí. Tất cả góp phần hoàn thiện vốn sống của một cá nhân. Một khi bạn đã xác định được động cơ, mục đích du học, bạn có thể làm nổi bật điều đó bằng cách liên kết mục đích với những điểm mạnh từ kinh nghiệm vốn sống để mang lại tính thuyết phục cao. Nếu làm được điều này, khả năng thành công là khá cao và cơ hội du học Mỹ chỉ cách bạn 2 bước nữa mà thôi.

Trình độ học thuật và khả năng ngoại ngữ

Vấn đề tiếp theo bạn cần cân nhắc chính là sự phù hợp giữa bản thân ứng viên và học bổng. Mỗi loại học bổng tùy vào đơn vị cấp, số lượng và mức ưu đãi mà sẽ có những điều kiện khác nhau. Càng cẩn thận tìm hiểu, cân nhắc các yêu cầu của học bổng để chọn được học bổng phù hợp, khả năng đậu cao.

Tùy vào học lực của bản thân mà bạn chọn lựa học bổng đòi hỏi khả năng tương đương. Bên cạnh những đòi hỏi cơ bản về trình độ học thuật và khả năng ngoại ngữ như GPA >3.2, IELTS >6.0 thì những điều kiện “nhỏ” khác cũng cần cân nhắc như kinh nghiệm làm việc, chứng nhận kỹ năng, hoạt động xã hội.

Hãy nói về những thành tựu của bạn

Việc còn lại cần làm chính là bổ sung những thông tin khách quan về bản thân bạn. Những thành tựu bạn đạt được. những thông tin khách quan này được hiểu là những đánh giá từ một người có chức vụ. Vị thế cao của một tổ chức giáo dục. Sự giới thiệu trực tiếp từ thầy cô các khoa hay ban giám hiệu là một điểm cộng lớn cho giấy tờ của bạn. Để nội dung thư giới thiệu đạt được giá trị, ý nghĩa và có tính thuyết phục. Người viết thư cần thực sự hiểu bạn. Sẽ có sự xác minh từ phía đơn vị cấp học bổng, qua điện thoại hoặc mail. Nên việc người giới thiệu không cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin sẽ dẫn đến nguy cơ bị từ chối.

Điều cuối cùng, mọi công việc đều cần một chút may mắn để thành công trọn vẹn. Ngay cả nhũng giấy tờ xin học bổng du học Mỹ “đẹp” nhất cũng có thể bị loại vào ngày xấu trời. Vậy nên bạn chỉ tập trung hết sức hoàn thành nhiệm vụ của mình. Dù kết quả thế nào thì cũng hãy giữ một tinh thần tích cực và bước tiếp đến những cơ hội đang chờ đợi bạn phía trước.

Chúc bạn thành công trên con đường học vấn đã chọn!

Tìm hiểu về ngành Economics – Learn more about Ecocomics study

ECONOMICS

I/ Giới thiệu ngành Kinh Tế học 

Nghiên cứu kinh tế ở bậc nghiên cứu sinh (PhD hay doctorate) là sự giao thoa giữa các phương pháp nghiên cứu các chuyên ngành tự nhiên, kỹ thuật và xã hội. Bạn có thể tìm thấy trên các top journal về kinh tế các bài báo có phong cách giống như các bài nghiên cứu về math, CS/EE hoặc law và sociology. Để theo học PhD kinh tế, bạn không cần có background về kinh tế. Dù học đại học ở bất kỳ chuyên ngành nào, bạn đều có thể nộp hồ sơ xin học PhD về kinh tế học. Tuy nhiên, bạn cần có khả năng học toán ở mức độ tối thiểu nào đó (tuỳ theo yêu cầu của từng trường), để có thể sống sót qua các kỳ thi prelim và QE, trước khi muốn theo đuổi hướng nghiên cứu ưa thích của mình.

Các chuyên ngành :

Economic History & Thought
Econometrics
Microeconomic Theory
Labor & Consumer Economics
IO / Business Economics
Public Economics
Macroeconomics
Trade & Development
Financial Economics
Resource & Agricultural Econ

1. Phân biệt kinh tế học với các ngành khoa học khác 

Kinh tế và Quản lý ở Việt nam thường bị hiểu lẫn lộn, trong khi người Mỹ phân biệt rõ ràng hai nhóm ngành này. Khoa Kinh tế ( bao gồm các ngành Macro Economics, Micro Economics, International Economics, Development, Game Theory, Econometrics.v.v…) thường nằm trong School of Art & Science. Trong khi đó các ngành quản lý, kinh doanh (finance, accounting, marketing, insurance… và các ngành management) thường nằm trong School of Business, hay còn gọi là B-school.
Nghiên cứu Economics đỉnh cao thường chú trọng vào theoretical. Cụ thể là các trường hàng đầu có nhiều công trình nghiên cứu về theoretical hơn là empirical. Đa số các công trình nghiên cứu được giải Nobel cũng là về theoretical economics. Trong khi đấy, nghiên cứu ở B-school thường chú trọng vào empirical nhiều hơn. Tiêu chí tuyển chọn của các khoa Economics và B-school cũng khác nhau. Nộp hồ sơ vào Economics cần thi GRE, còn B-school cần thi GMAT.
Thậm chí, người Mỹ còn phân biệt Economics và Agricultural & Resource Economics là hai khoa khác nhau, với các tiêu chí tuyển chọn khác nhau.
Một lẫn lộn khác thường thấy là giữa các nghiên cứu về economics policies của khoa Economics và của khoa Public policies/management. Các bài báo ở trên các tạp chí kinh tế của Việt nam, các báo cáo của World bank, IMF, báo cáo Lựa chọn thành công của nhóm Harvard Fulbright Việt nam đều không phải là các paper chuẩn mực về kinh tế. Đấy chỉ là các bản tóm tắt các kết quả nghiên cứu kinh tế, các đề xuất chính sách dựa trên kinh nghiệm và dự báo, đã lược bỏ rất nhiều các công cụ/kỹ thuật định lượng, bởi không cần thiết đối với các độc giả không chuyên.
2. Vai trò của định lượng trong nghiên cứu kinh tế. 

Kinh tế thường được xếp vào nhóm ngành social sciences, do đặc thù nghiên cứu về xã hội. Tuy nhiên, các tiêu chí tuyển chọn ở bậc sau đại học, phương pháp học và nghiên cứu kinh tế, có lẽ thiên về nhóm Engineering nhiều hơn.
Kinh tế không phải là ngành chú trọng ngôn ngữ mà thiên về toán và định lượng. Điểm ngôn ngữ admission vào các khoa kinh tế thường khá thấp, tối thiểu chỉ cần TOEFL 550PBT/213CBT, hoặc GRE verbal 300 trở lên (mặc dù để được nhận financial aid, bạn cần TOEFL 600/250 trở lên giống như mọi ngành khác). Trong 3 năm đầu tiên học coursework, phần định lượng, bao gồm các kỹ thuật toán và định lượng, mô hình hóa, lập và giải các hệ phương trình, chứng minh các định lý, bổ đề, chiếm khoảng 90% thời gian. Phần phân tích, bình luận định tính chỉ chiếm khoảng 10% thôi.
Số lượng paper bắt buộc phải đọc ở mỗi courses cũng khá ít, chỉ khoảng 8-10 paper cho mỗi học kỳ, (mặc dù danh sách paper đọc thêm cũng khá nhiều). Tuy nhiên, khối lượng các công cụ và kỹ thuật định lượng cần học để hiểu hết các paper rất lớn, cho nên các khoa kinh tế thường không đủ thời gian để chú trọng vào phần đọc và viết bình luận như nhiều ngành xã hội khác. Các nghiên cứu sinh thường phải tự hoàn thiện các kỹ năng này khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
Cũng chính vì tuyển chọn Phder thiên về khả năng định lượng, không cần kinh nghiệm làm việc, cho nên sinh viên trẻ, đầu 2x, chiếm đại đa số ở bậc Phd. Các khoa kinh tế cũng rất khuyến khích các sinh viên có background về math, physics và engineering chuyển sang học Phd, bởi họ cho rằng những người này có background vững về định lượng. Thông thường, số sinh viên này chiếm khoảng 50-70% ở bậc Phd về kinh tế ở mỗi khoa.
Có thể nói không ngoa rằng, độ khó và độ nặng về mặt định lượng của khoa kinh tế không hề thua kém bất kỳ ngành Engineering nào.
Đến đây một số người sẽ thắc mắc, tại sao nhiều người có background ở các ngành ít định lượng, (ví dụ như văn học, ngôn ngữ, lịch sử, hay âm nhạc, hội họa…) cũng có thể chuyển sang học Phd về kinh tế? Điều này có một số nguyên nhân:
+ Một số người có chỉ số IQ cao, có thể học tốt ở nhiều ngành hoàn toàn khác nhau. Vì lý do nào đó, họ chọn các ngành ít thiên về định lượng ở bậc đại học. Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ vào bậc Phd, hồ sơ của nhóm người này sẽ bị săm soi rất kỹ về năng lực toán học. Nếu thiếu nhiều các credit về toán hoặc các điểm đó không cao thì sẽ chắc chắn không thể có admission. Thông thường, những người có background ít các môn toán đều phải lấy thêm 1 số các credit về toán ở bậc đại học và/hoặc sau đại học, và phải chứng minh được năng lực toán của mình trên bảng điểm khi nộp hồ sơ Phd.
Một ví dụ thành công điển hình trong nhóm này là Robert Lucas. Ông này học đại học về lịch sử. Sau đó lấy thêm 1 số credit bậc under và grad về math ở Berkeley rồi vào học Phd Chicago. Cuối cùng, ông đoạt giải Nobel kinh tế năm 1995.
+ Tuy nhiên, admission mới chỉ là một nửa câu chuyện. Bậc Phd kinh tế thậm chí rất khác so với hình dung của những người có background đại học về kinh tế. Chính vì vậy, các khoa kinh tế còn có thêm 1 kỳ thi gọi là thi Prelim ở cuối năm thứ 1 để loại ra những người không phù hợp, bên cạnh kỳ thi Qualifying Exam (cuối năm 2, 3 hoặc 4 tùy theo quy định của từng trường). Kỳ thi prelim này thậm chí còn quan trọng hơn kỳ thi Q.E nhiều, do tính chất khốc liệt của nó (có thể loại từ 30-60% sinh viên Phd của khoa, tùy theo từng năm và từng trường). Năm đầu tiên, Phder về kinh tế thường học 7 courses. Các course này đều chú trọng bổ túc kiến thức về math và định lượng. Những người không có năng khiếu hoặc chưa chuẩn bị tốt các course về math sẽ khó có thể vượt qua được kỳ thi này.
+ Sau khi vượt qua năm thứ nhất, hai năm học coursework tiếp theo, sinh viên vẫn tiếp tục được bổ xung các phương pháp/kỹ thuật định lượng. Mặc dù tên các môn học là macro, micro, financial economics…nhưng nội dung chủ yếu được giảng dạy vẫn là các kỹ thuật định lượng và mô hình hóa. Sinh viên chỉ được giải thích về các khái niệm/thuật ngữ cơ bản để sử dụng trong quá trình mô hình hóa. (Nhiều khi, giáo sư cũng chẳng giải thích mà chỉ viết hệ phương trình lên bảng rồi giải ào ào. Sinh viên phải có nghĩa vụ tự tìm hiểu các khái niệm ấy). Các kiến thức thực tế về kinh tế vỹ mô, vi mô, tài chính, phát triển…hầu như không được giảng, hoặc chỉ được giảng rất ít, trong quá trình học. Sinh viên Phd phải tự đọc khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
+ Cuối cùng là khác với các ngành Engineering, có thể bắt tay vào research ngay từ năm thứ 1, sinh viên Phd Economics hầu như chỉ bắt đầu research từ năm thứ 3, sau khi đã học gần xong các công cụ/kỹ thuật định lượng. Ngoài ra, số courses bắt buộc đối với 1 Phd về kinh tế thường cũng nhiều hơn các ngành Engineering. Đấy là lý do vì sao các sinh viên có background yếu về định lượng vẫn có thể theo học Phd về kinh tế.
Các bạn có thể xem các G.S Athey và G.S Mankiw nói về lý do cần chú trọng math trong kinh tế:http://kuznets.harvard.edu/~athey/imagineart.html hoặc http://gregmankiw.blogspot.com/2006/…need-math.html
Các môn toán ở bậc đại học mà sinh viên VN cần nắm vững trước khi nộp hồ sơ Phd kinh tế là: đại số tuyến tính, quy hoạch tuyến tích, phương trình vi phân/phương trình đạo hàm riêng, giải tích số & hàm, hình giải tích, xác xuất & thống kê, giải tích lồi, và ở bậc sau đại học là giải tích thực, giới thiệu nhập môn về topo và lý thuyết trò chơi (nếu có thể).
Ngoài ra, hai cuốn sách có thể tham khảo là Fundamental Methods of Mathematical Economics, của Alpha Chang và Mathematics for Economists của Carl P. Simon and Lawrence Blume.
Yêu cầu tối thiểu về năng lực toán của mỗi trường mỗi khác, (Yêu cầu của Harvard hẳn là khác với trường rank 50 và càng khác với trường rank 100). Tuy nhiên, khối lượng chương trình học Phd khá nặng, nếu các bạn có thể chuẩn bị trước được các courses này trước khi vào học Phd thì sẽ tốt hơn nhiều. Ngay cả các giáo sư hàng đầu của Mỹ thời đi học cũng thường chuẩn bị như vậy.
Năng lực toán chỉ là điều kiện cần, không đủ để đảm bảo thành công trong nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhấn mạnh việc chuẩn bị tốt các kiến thức toán bởi tôi từng biết nhiều sinh viên VN đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học Phd Econ.
Ngoài ra, không phải vô lý mà đa số các giải Nobel kinh tế được trao cho những người đã từng có background về toán (BA/MA/PHD). Ở bài trước tôi đã từng viết, những paper nghèo về mặt định lượng cũng có thể xuất hiện trên các top journal về kinh tế. Tuy nhiên, đó phải là các paper mang tính đột phá, đặt nền móng cho một nhánh nghiên cứu hoàn toàn mới hoặc cho một ngành kinh tế mới. Có nghĩa là yêu cầu cao hơn đối với các paper thiên về định lượng.
II/ Xếp hạng các chương trình Kinh Tế học 

Có rất nhiều bảng xếp hạng khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tựu chung thường có hai cách đánh giá. Cách thứ nhất là xếp hạng dựa vào các bài báo mà mỗi khoa/viện kinh tế đăng báo (ranking based on publication capacity). Cách thứ hai là dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào được những khoa/viện kinh tế hàng đầu (ranking based on PhD placements).
Cả hai phương pháp này đều có những thiếu sót.
Đối với phương pháp dựa vào số bài báo đăng, có những khoa kinh tế không có nhiều giáo sư thật sự xuất sắc nhưng nhờ có số lượng giáo sư nhiều nên dẫn đến số lượng bài báo đăng nhiều, xếp hạng cao hơn một số khoa khác mặc dù có ít giáo sư hơn nhưng chất lượng giáo sư cao hơn hẳn. Một ví dụ khác đó là khi mà các trường nằm cạnh nhau và các khoa kinh tế của các trường cùng hợp tác để hướng dẫn chương trình nghiên cứu sinh thì xếp hạng này càng khập khiễng vì nó chỉ xếp hạng từng trường riêng rẽ. Ví dụ như Stockholm Doctoral Program in Economics do hai trường Stockholm University và Stockholm School of Economics hợp tác hoặc Berlin Doctoral Program in Economics and Management Science do một nhóm trường đại học ở Berlin hợp tác.
Tương tự, đối với phương pháp xếp hạng dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào những khoa/viện kinh tế hàng đầu, có những khoa kinh tế thật sự xuất sắc ở một lĩnh vực nhỏ và do đó có một vị trí tốt trên bảng xếp hạng. Ví dụ trong bài báo “Ranking Economics Departments Worldwide based on the basis of PhD Placement” của Rabah Amir và Malgorzata Knauff năm 2005, Pennsylvania State University có một ví trí khá cao, hơn hẳn Columbia University và New York University, nhưng lĩnh vực kinh tế vĩ mô của khoa kinh tế Pennsylvania State University rất yếu (vào thời điểm năm 2009) so với Columbia University và New York University.
Ngoài ra, môi trường học thuật của một trường đại học rất quan trọng. Những trường có những khoa kinh tế nhỏ nhưng chất lượng có giá trị hơn là những trường có số lượng giáo sư đồ sộ nhưng không ai thật sự xuất sắc.
Những bảng xếp hạng đáng tin cậy và nên tham khảo đó là:
– Economics của US News & World Reports.
– Rankings at IDEAS.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với một nghiên cứu sinh đó là người hướng dẫn. Do đó, sau khi xem xét sơ các bảng xếp hạng, bạn hãy chọn một danh sách các trường nhắm vào, sau đó vào từng trang web của trường để xem CV của từng giáo sư, nếu có thời gian xem luôn vị trí mà các sinh viên sau khi tốt nghiệp từ trường nhận được là gì (placement). Khả năng đăng được các bài báo ở các tạp chí hàng đầu nói lên trình độ của giáo sư. Vị trí mà các giáo sư đã từng nắm giữ cũng rất quan trọng; một giáo sư từng giữ vị trí cố vấn chính phủ hay các định chế quốc tế như IMF hay World Bank thường có kinh nghiệm dồi dào, và quen biết rộng (rất có ích khi bạn ra trường và cần một thư giới thiệu).
Khi nộp đơn bạn nên chọn ra một danh sách các trường gồm 3 loại:
– Trường trong tầm tay.
– Trường xa tầm tay một chút.
– Trường chắc chắn vào được.
III/ Một số vấn đề cần lưu ý khi nộp hồ sơ

Ngoài quy trình nộp hồ sơ hệ sau đại học dành chung đối với sinh viên Việt Nam nộp hồ sơ tới các trường đại học Mỹ theo chương trình Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ, một số vấn đề khác trong quá trình nộp hồ sơ ngành kinh tế học cũng cần lưu ý.
1. Các môn học cần chú trọng ở hệ đại học 

Các trường quan tâm nhiều hơn đến việc bạn đã học và vượt trội trong các môn học khó như thế nào hơn là điểm GPA nói chung. Bạn nên đề cập tới trong SOP của mình vì các trường sẽ không thể biết được các lớp toán như thế nào, và lớp nào là lớp nâng cao vv. Môn phân tích cũng là một điểm quan trọng mà bạn nên đề cập trong hồ sơ, vì nó đòi hỏi bạn cần có những chứng minh logic và có tính quy chuẩn. Thông thường các ứng viên nặng kí là những người có điểm mạnh gì đó, ví dụ như giỏi toán hoặc có luận văn xuất sắc, có bài nghiên cứu nổi bật. Một số điểm thấp trong năm đầu sẽ không làm hồ sơ của bạn kém đi nếu như bạn học tốt trong các lớp nâng cao trong các năm sau đó.
2. Thư giới thiệu 

Một lá thư giới thiệu tốt nhất là từ các nhà kinh tế học có liên hệ với trường mà bạn đang nộp hồ sơ. Tuy nhiên, một lá thư giới thiệu từ người mà bạn đã làm việc cùng sau khi tốt nghiệp đại học cũng rất hữu ích để đề cập đến sự trưởng thành và thái độ làm việc của bạn vv. Nếu bạn không có mối quan hệ nào với các giáo sư kinh tế (ví dụ bạn là sinh viên ngành toán) hoặc nếu bạn học ở một trường đại học mà không có người nào trong khoa của bạn có mối liên hệ với các chương trình PhD hàng đầu, bạn vẫn có cơ hội được nhận (admission) nếu như các phần khác trong hồ sơ của bạn thực sự nổi trội. Điểm GRE, điểm học các môn nặng về toán, và essay được chú trọng nhiều hơn và nên cố gắng để hội đồng tuyển sinh đánh giá đúng các yếu tố đó của bạn. Một lá thư giới thiệu tốt nên có sự so sánh giữa bạn với các sinh viên khác trong các chương trình cao học hàng đầu, ví dụ để xin học được ở Harvard hay MIT, lá thư giới thiệu cần phải chỉ rõ bạn khác biệt như thế nào so với các sinh viên đã học và thành công trong các chương trình này. Đối với sinh viên quốc tế, việc đánh giá bảng điểm trở nên khó khăn hơn, vì vậy các so sánh này càng phải chú trọng. Các câu nhận xét cần đề cập một cách cụ thể như là so sánh khả năng phân tích, học các môn học, chất lượng luận văn …
3. Bài luận

Trong hồ sơ xin học, việc đề cập đến lĩnh vực kinh tế mà bạn quan tâm, và các bài báo mà bạn đã đọc rất quan trọng. Cố gắng càng chi tiết càng tốt. Bạn cũng có thể đề cập đến luận văn hoặc là kinh nghiệm nghiên cứu của mình. Không cần thiết phải có một đề xuất nghiên cứu cụ thể nào đó, đặc biệt khi bạn cũng không thực sự có ý tưởng gì cụ thể nhưng lại thể hiện trong hồ sơ một cách ngây ngô. Phần lớn các trường chỉ đọc những phần này để xem bạn quan tâm đến lĩnh vực nào và có ý niệm liệu bạn thực sự muốn đi sâu vào lĩnh vực nào. Vì vậy bạn cần đề cập một cách thông minh về đề tài mình quan tâm để tỏ ra là bạn hiểu biết một chút gì đó về lĩnh vực nghiên cứu sắp tới.

4. GRE 

Điểm phần qualitative của GRE khá quan trọng vì vậy bạn cần chú trọng khi ôn thi hơn, đặc biệt đối với những bạn không phải chuyên ngành kinh tế ở hệ đại học.
5. Liên hệ giáo sư 

Bạn không nên liên hệ giáo sư tại trường mà bạn nộp hồ sơ tới trước khi có chấp nhận học (admission). Việc tìm hiểu về advisor cũng rất quan trọng vì đây là người ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình nghiên cứu học tập và tương lai công việc của bạn sau này.

IV/ Học bổng và các nguồn hỗ trợ tài chính 

Chương trình học bổng Fulbright: vietnam.usembassy.gov/fulbright.html
Học bổng assistantship cho chương trình Master’s:

  1. University of Cincinnati.
  2. University of New Hampshire
  3. Northeastern University.
  4. Northern Illinois Univ
  5. Portland State University
  6. Wright State University

V/ Một số điều cần lưu ý trong quá trình học tập 

1. Tìm chủ đề nghiên cứu 

Thông thường, một sinh viên PhD Econ cần có 3 working papers, trước khi có thể bắt tay vào viết dissertation. Dưới đây là hướng dẫn của G.S Don Davis về tìm chủ đề cho paper và dissertation (cho cả theoretical và empirical research).
www.columbia.edu/~drd28/Thesis%20Research.pdf
2. Phương pháp học và chuẩn bị cho các kì thi 

Chương trình Phd kinh tế của các trường ở Mỹ khá khắc nghiệt, không chỉ do khối lượng chương trình học mà còn do các kỳ thi Prelim (năm thứ 1) và Q.E năm (thứ 2 hoặc 3 tùy theo quy định của từng trường). Tất cả các sinh viên trong khoa đều phải tham dự kỳ thi prelim cùng một lúc và với nội dung giống nhau, bất kể mỗi người trong số họ dự định theo đuổi hướng nghiên cứu nào sau đó.
Matthew Pearson nêu một số kinh nghiệm để tồn tại ở bậc PhD và hướng dẫn chuẩn bị cho các kỳ thi lớn. Ngoài ra G.S Hal Varian và Jonathan Shewchuk nêu các kinh nghiệm xây dựng các mô hình kinh tế và chuẩn bị academic talks.
www.econphd.net/downloads/mp_surv.pdf
people.ischool.berkeley.edu/~hal/Papers/how.pdf
3. Viết paper 

G.S Cochrane hướng dẫn rất tỉ mỉ cách viết paper trong khi G.S Kremer bổ xung một danh sách những điều cần lưu ý trong quá trình viết.
http://faculty.chicagobooth.edu/john…er_writing.pdf
http://www.economics.harvard.edu/fac…/checklist.pdf
4. Đăng bài trên các tạp chí chuyên ngành 

Paper đăng trên Top Journal có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xin việc làm và xét duyệt tenure. Thời hạn trung bình để được đăng một bài báo thuộc ngành kinh tế trên Top Journal cũng khá dài so với nhiều ngành khác. (Trung bình từ khi nộp đến khi bài được đăng là 3 năm. Trong khi mỗi assistant prof phải đăng tối thiểu 1-4 bài, tùy theo quy định của từng trường. Và thời gian cho phép họ đăng đủ số bài để được nhận tenure là khoảng 6 năm). Bởi vậy sức ép lên các assistant prof khá nặng nề. Các sinh viên PhD còn đang ngồi trên ghế nhà trường cũng phải chuẩn bị đăng bài từ rất sớm, nếu như họ muốn theo đuổi nghiệp nghiên cứu sau khi tốt nghiệp.
Prof Kwan Choi hướng dẫn đăng bài trên Top Journal.
http://www.roie.org/howi.htm

VI/ Chuẩn bị tốt nghiệp và tìm việc làm 

G.S Cawley và Laibson hướng dẫn về quảng cáo thông tin tìm việc, phỏng vấn tìm việc làm ở Mỹ cho các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp PhD:
http://www.economics.harvard.edu/files/LaibsonNotes.pdf
http://www.aeaweb.org/joe/articles/2003/cawley_2003.pdf
Các bạn cũng có thể tìm thấy trên trang của NBER, hồ sơ của rất nhiều các PhD candidate đang là đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường việc làm.
http://www.nber.org/candidates/
VII/ Một số lời khuyên dành cho các bạn khi xin học ngành Kinh tế học tại Mỹ 

FAQ?
General Advice From Current Economics PhD Students To Eager Undergrads
How do you set yourself apart from the pack when applying to grad schools.
Some answers to the “set yourself apart” question from current PhD students
How many grad schools should you apply to and how do you choose which schools.
Some answers to the “How Many” question from current PhD students.http://dinhvutrangngan.com/advice.htmlhttp://dinhvutrangngan.com/teaching… for Applying to Grad School in Economics.pdf Website:
http://www.urch.com/forums/phd-economics/
[1]www.econphd.net/
The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 1969-2006
nobelprize.org/nobel_prizes/economics/articles/lindbeck/index.html
Prof Dan Hamermesh cũng cho một số lời khuyên chung về các vấn đề đã nêu ở các mục trên.
http://www.eco.utexas.edu/faculty/Ha…conomists.html

USGuide Handbook 2012 & 2013

Chào cả nhà,

Usguide Handbook 2012 là một tài liệu tổng hợp về apply du học rất công phu do một nhóm các bạn tình nguyện viên thực hiện vào năm 2012 do bạn Hường làm trưởng nhóm.

Đọc tài liệu này các bạn sẽ có khá đủ kiến thức về apply du học. Đây là tài liệu đầu tiên các bạn nên đọc.

Địa chỉ download: http://www.slideshare.net/usguide/usguide-handbook-just-do-it

Địa chỉ download khác:
https://www.dropbox.com/s/n1oaf7ylrjzenyf/handbook2012.pdf
https://app.box.com/s/2r3kupsnh5u0xr84h5eg

Nếu các bạn phát hiện ra các lỗi chính tả, thông tin (chưa chính xác) và gợi ý sửa chữa, xin hãy điền vào đây:
https://docs.google.com/spreadsheets/d/1QsNFOfQUj2xSnYQUqrQQb0Cej2d56euurO8UJzSp50Y/edit?usp=sharing

Cảm ơn các bạn đã đóng góp để hoàn thiện cuốn số tay du học này :)

—————————

Chào các bạn,

Đây là Handbook hướng dẫn du học sau đại học ở Mỹ được thực hiện vào đợt hè năm 2013 nhân dịp sự kiện you can do it.

Một bạn trong nhóm biên soạn Handbook mởi gửi bản pdf cho mình. FREE FOR ALL, mặc dù lúc đầu hình như định để xuất bản.

Mình nghĩ có lẽ có những kinh nghiệm và cách nhìn khác của những người chia sẻ trong đợt 2013. Chứ sườn nội dung cơ bản tương tự. Nhưng những câu chuyện cá nhân quan trọng phải không? :)

Download link:
Usguide Handbook 2013

 

Danh sách các học bổng để đi du học sau đại học

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 4 – PhD in Chemical Engineering

Xin chào mọi người,

Đến hẹn lại lên, ban biên tập xin gửi đến các bạn bài phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ số 4 . Một bài chia sẻ đặc biệt đến từ anh Lê Sỹ Tùng – PhD student in Chemical Engineering ,College of Sicence and Engineering, University of Minnesota một trong những admin nhiệt huyết của Usguide.

Bên cạnh những kinh nghiệm quý báu và tinh thần chiến đấu hết mình “Do more than your best and Networking” trong quá trình apply cho nghành kĩ thuật nói riêng và các nghành khác nói chung. Anh cũng đưa đến các bạn lời khuyên rất bổ ích trong quá trình chọn trường + chọn khoa , những điều cần chuẩn bị trước khi sang Mỹ học tập cho đến những cảm nghĩ về các hoạt động xã hội mà anh đã và đang tham gia. Các bạn cùng khám phá trong file đính kèm nhé

 

Interview Series 4_Le Tung

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – Số 7 – Undergraduate student in Economics

Xin chào các bạn,

Tháng 8 này, nhóm biên tập xin gửi tới các bạn bài chia sẻ thứ 7 của bạn Nguyễn Anh Tú – Undergraduate student at Randolph College, Major in Economics. Randolph College là 1 trường khá nhỏ quy mô khoảng 700 sinh viên, điểm đặc biêt là giáo sư trong trường được xếp Rank 1 về accessibility. Các giáo sư trong trường rất thân thiện, tập trung vào giảng dạy và quan tâm đến sinh viên thay vì tập trung vào nghiên cứu như ở các trường lớn khác. Thêm vào đó, Thành phố nơi bạn Tú sinh sống là Lynchburg được mệnh danh là City of Seven hills, cư dân trong thành phố rất tốt, cuộc sống yên bình và khí hậu đặc biệt giống Hà Nội. Để tìm hiểu rõ hơn về bạn Tú và trường Randolph College, các bạn có thể xem chi tiết tại file PDF đính kèm. Hi vọng những chia sẻ của bạn Tú sẽ giúp các bạn trang bị thêm những thông tin hữu ích trên con đường apply du học Mỹ của mình.

 

Interview Series 7_Anh Tu_01082013

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – Số 8 – Master in Industrial Engineering & Management

Xin chào các bạn,

Đến hẹn lại lên :), ở số thứ 8 này nhóm biện tập xin gửi tới các bạn bài chia sẻ của bạn Mai Thùy Dung. Một cô gái dũng cảm đã có 1 bước ngoặt rất lớn trong sự nghiệp, khi chuyển từ Business sang học Master in Industrial Engineering & Management thuộc ngôi trường Oklahoma State University. Bạn ý đã có những chiến lược và nỗ lực thế nào để apply thành công, học tập và sinh sống tại đất nươc Mỹ đầy cạnh tranh và đào thải cao. Những kinh nghiệm thực tế, tinh thần chiến đấu bền bỉ đó đã được bạn Dung chia sẻ rất cụ thể. Các bạn cùng khám phá trong file đính kèm nhé.

 

Interview Series 8_ Dung Mai

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 1 – MBA in Logistics

Hi cả nhà,

Sau một thời gian ấp ủ cho dự án Interview Series, với mục tiêu cung cấp kinh nghiệm apply và thông tin về các ngành học ở Mỹ, đặc biệt chú trọng vào các ngành học mới và các trường còn ít bạn biết tới. Nhóm Interview Series bao gồm Nguyễn Huyền, Lê Hoàng và Khánh Hòa rất vui được gửi tới các bạn số đầu tiên của series “Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ”.

Bài phỏng vấn gửi kèm là chia sẻ kinh nghiệm của chị Nguyễn Thùy Dương, apply thành công học bổng Graduate Assistantship và hiện đang theo học MBA-concentration in Logistics, Arkansas State University.

Nội dung bài phỏng vấn được chia làm 2 phần chính: Chia sẻ kinh nghiệm apply và Chia sẻ về cuộc sống và học tập tại Mỹ. Trong phần thứ nhất chị Dương chia sẻ kinh nghiệm hoàn thành các kì thi chuẩn hóa như TOEFL, GMAT, viết SOP và LOR cũng như lý do chị chọn Logistic cho khóa MBA. Còn ở phần thứ hai là cảm nhận của chị về môi trường học tập tại Arkansas State University và cuộc sống tại thành phố Jonesboro với kết thúc là lời khuyên của chị cho những bạn sinh viên có ý định sang sống và học tập tại Mỹ.

Do đây là số đầu tiên và nhóm biên tập còn thiếu kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi thiếu sót. Với dự định phát hành 2 số/tháng trong năm 2013, nhóm rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, gợi ý câu hỏi phỏng vấn và giới thiệu những bạn đã apply thành công. Mỗi một sự góp ý sẽ là động lực cho nhóm cải thiện tốt hơn ở những bài tiếp theo.

Trong thời gian đầu, mọi câu hỏi xin gửi tới chị Khánh Hoà theo địa chỉ hoahoangtk@gmail.com.

Xin cảm ơn sự quan tâm của các bạn.

Chúc các bạn apply thành công!

T/M Ban Biên Tập

Lê Hoàng

—-

Arkansas State University

 

Interview Series 1_Duong Nguyen_01282013

Korean Government Scholarships 

The Korean Government Scholarship Program is designed to provide higher education in Korea for international students in order to promote international exchange in education and mutual friendship between the participating countries.
Duration

  • Master’s : 3 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2013) – 1 yr. of Korean language + 2 yrs. of Master’s
  • Doctoral : 4 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2014) – 1 yr. of Korean language + 3 yrs of Doctoral
  • Integrated Master’s & Doctoral : 5 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2015) – 1 yr. of Korean language + 4 yrs. of Integrated Master’s & Doctoral

Application Qualifications

  • Both applicant and his/her parents must be citizens of the foreign country. Applicants cannot have Korean citizenship.
  • Applicants should be in good health, both mentally and physically, to stay in Korea for a long period of time.
  • Should be under 40 years of age as of September 1, 2010
  • Hold a Bachelor’s or Master’s degree as of September 1, 2010
    * Applicants who are enrolling or have already enrolled in the same academic program in Korea as the one they are applying for will not be admitted.
    * For Master’s program (or Integrated Master’s & Doctoral program): students who hold a Bachelor’s degree or a diploma that is equivalent to or higher than Bachelor’s degree
    * For Doctoral program: students who hold a Master’s degree or a diploma that is equivalent to or higher than Master’s degree.
    * Applicants who are expecting the adequate diploma should present their diploma by September 1, 2010 before entry.
  • Should have a grade point average (G.P.A.) at least 2.64 on a 4.0 scale, 2.80 on a 4. 3 scale, 2.91 on a 4.5 scale or grades/marks/score of 80% or higher from the previous attended institution
    * If the grade is difficult to convert to percentage, official explanatory documents from the attended university are required.

Click here to download Application
Moreinfo: http://www.niied.go.kr

Hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ xin học bổng

 

Xin chào tất cả các bạn. Phải nói là rất rất lâu, sau bài hướng dẫn học IELTS từ kinh nghiệm của bản thân, mình chưa viết bài nào. Thiệt ra mình không giành được học bổng Havard hay nhóm những trường IVY League nổi tiếng gì, nên không dám nói bài viết của mình là kim chỉ nam, mình chỉ xin hướng dẫn, và nêu cách chuẩn bị hồ sơ thôi, tùy vào mỗi người sẽ có thêm nhiều “tuyệt chiêu” nữa. Thôi vào nội dung chính nhé.

Như các bạn biết đó, chuẩn bị 1 bộ hồ sơ cho việc xin học bổng là 1 chuyện lâu dài và đòi hỏi sự đầu tư rất nhiều. Bài viết của mình dựa trên kinh nghiệm bản thân và một số các thầy cô, cũng như anh chị đi trước góp ý. Mình mong bài viết sẽ đem lại những thông tin hữu ích cho các bạn.

Điều đầu tiên, mình thấy rất nhiều các bạn luôn đưa ra câu nói: “Tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia” khi mong muốn đạt được mục đích gì đó. Nếu các bạn đã từng vậy, thì từ giờ các bạn hãy thử đưa ra 1 câu hỏi, thay cho 1 câu khẳng định xem: “Làm thế nào tôi có thể đạt được cái này, cái kia?” Đặt được câu hỏi, trả lời tất cả và thực hiện, mình tin chắc các bạn sẽ thành công trong rất nhiều việc. Mà việc xin học bổng cũng là 1 điều tương tự.
Một bộ hồ sơ cho việc xin học bổng thuờng gồm những mục quan trọng sau:

1. Curriculum vitae (CV)
2. Bằng tốt nghiệp
3. Academic transcript – Bảng điểm
4. Letter of Recommendation – Thư giới thiệu
5. Letter of Motivation – Thư động lực
6. English proficiency – Trình độ tiếng Anh
7. Awards &

Trên là những tài liệu quan trọng cần cho một bộ hồ sơ. Tuỳ trường, tuỳ khoá hoc mà sẽ có đòi hỏi them 1 số tài liệu khác.

1. Mình xin nói về Curriculum vitae: Một CV tốt là một CV nêu bật được những nội dung tốt về bản thân của bạn: thông tin cá nhân, quá trình học tập, kinh nghiệm làm việc, các hoạt động, nghiên cứu, v.v… Ngoài ra, CV cũng đừng quá dài (tốt nhất là trong 2 trang), câu cú ngắn ngọn nhưng xúc tich, và định dạng sao cho khoa học. Mình recommend các bạn nên sử dụng trang web của Europass để tạo CV online. Form này dung để apply học bổng các nước thuộc khối EU, và đuợc các truờng highly recommend. Nếu như các bạn apply học bổng nhữmg nước khác thì có thể tham khảo của Europass để định dạng lại cho phù hợp. Và theo mình tốt nhất là làm 1 table gồm 2 cột. 1 cột là các đề mục và 1 cột là nội dung. Nhìn khoa học và dễ nhìn nhất. Những đề mục chính thì các bạn có thể tham khảo trên Europass, và có thêm số đề mục như sau: Personal Interests, Awards, v.v… Cái này thì phải thực hiện hằng ngày nhé ^^

2. Bằng tốt nghiệp của các trường ĐH hiện nay đều song ngữ nên các bạn không lo phải translate qua tiếng Anh nữa.

3. Về Academic transcript: Mình thấy hầu như bạn nào cũng rất đặt nặng vấn đề bảng điểm. Đó chỉ là một trong số những tiêu chuẩn đánh giá, nhưng không phải là quan trọng nhất. Dù bạn có được GPA 10/10 đi chăng nữa, nó chỉ chiếm của bạn 1 dòng nhỏ trong CV hay là MV thôi. Nhưng nếu bạn có những lợi thế khác như hoạt động xã hội, kinh nghiệm làm việc hay nghiên cứ nữa, lẽ dĩ nhiên bạn đuợc đánh giá cao hơn rồi, và 1 phần nữa là giáo dục ở Việt Nam không đuợc thế giới đánh giáo cao cho lắm. Nhưng nói như thế, không có nghĩa là bạn không cần cố gắng học để lấy điểm cao hay làm cái cớ cho những lần điểm thấp. Hãy cố gắng học khi còn có thể các bạn nhé. Nhiều bạn mình biết vẫn còn có tư tưởng gian lận trong thi cử, và nghĩ đó là điều không thể tránh khỏi đối với HS-SV. Tất cả chỉ là nguỵ biện thôi các bạn à. Học là cả 1 quá trình dài, thi cử chỉ là 1 công cụ đánh giá mang tính chất tuơng đối. Chúng ta gian lận để đuợc điểm cao, nhưng đổi lại là kiến thức các bạn trống không, và đến khi cần nó chúng ta lại ngỡ ngàng là mình đã từng học. Thực tế bản thân mình cũng từng gian lận trong thi cử, hồi năm 11, nhưng lên tới năm 12, mình tự hỏi bản thân, gian lận để làm gì vì điểm số đó đâu phải của mình, và bất ngờ khi có nhiều kiến thức mình đã từng biết nó, nhưng vì muốn được điểm cao nên chả học bài và để rồi không nhớ gì cả. Và mình đã từ bỏ ý nghĩ gian trong thi cử từ đó, nhờ vậy đã giúp mình rất nhiều trong việc thi ĐH và quá trình học ĐH sau này. Điều này muốn nhận biết rõ ràng không khó gì cả. Nhất là đối với các bạn SV, trong quá trình học tập một số bạn chỉ lo chơi, đến lúc thi thì tranh thủ quay, hỏi bài, và rồi ra đời làm việc thì không nhớ gì cả, mặc dù những kiến thức đó đã học rồi. Một số bạn trong quá trình học tập, có 1 giai đoạn lơ là, không sao cả, hãy cố gắng cho giai đoạn sau: “Better late than never”. Bên cạnh đó, hãy bổ sung một số những thứ khác để tăng điểm mạnh cho hồ sơ của mình, để bù lại khiếm khuyết đó bằng cách tham gia nhiều hoạt động xã hội, nghiên cứu học thuật. Bảng điểm dĩ nhiên là bằng tiếng Anh nhé. Các bạn hãy liên hệ với phòng đào tạo hay phòng quan hệ quốc tế (tùy trường) để xin bảng điểm tiếng Anh. Nếu bảng điểm đã được đóng dấu tròn của trường thì xem như được rồi. Còn nếu là dấu vuông hay hình chữ nhật thì các bạn hay đem bảng điểm đó đến bộ phận công chứng nhờ họ dịch và tham khảo bảng điểm bạn xin từ trường để họ dịch chích xác nhất. Vì có 1 điểm ở đây là dấu tròn mới có tư cách pháp lý, còn các loại dấu khác thì không. Về bảng điểm thì nếu xin trực tiếp ở trường, tầm 1 tuần là các bạn có và nếu không thì dịch lẫn công chứng tầm 1 – 3 ngày là có.

4. Letter of recommendation: Đây là 1 trong những tài liệu mà bộ phân tuyển sinh rất xem trọng, vì nó đem đến 1 cái nhìn khách quan về HS-SV. Sau đây, mình sẽ chia sẻ kinh nghiệm của bản thân làm sao để có 1 thư giới thiệu mạnh. Điều đầu tiên, hiển nhiên bạn phải xây dựng được mối quan hệ với giáo viên. Các bạn đừng nghĩ đây là mối quan hệ dựa trên vật chất và lời nói nhé, tất cả đều dựa trên hành động. Bản thân mình, hồi năm 1 chỉ là 1 cái bóng trong lớp. Nhưng sang đến năm 2, thì Khoa đã bắt đầu rộn ràng tên mình. Mình không có chơi nổi gì đâu ^^ Rất đơn giản thôi à. Vào lớp học, mình chăm chú nghe giảng, và quan trọng là mình chộp lấy email của giáo viên môn học đó liền. Để trong quá trình học mình nếu có gì không hiểu mình sẽ email hỏi giáo viên ngay. Nói thật với các bạn, đây là 1 cách tạo ấn tượng tốt với giáo viên rất hiệu quả đấy. Hãy hỏi và hỏi thật nhiều với giáo viên nếu có thể, trong lớp hay qua email. Giáo viên họ rất thích thế các bạn à. Các bạn biết tại sao không? Đơn giản đó là cách mà giáo viên họ biết SV có quan tâm tới môn học của họ hay không và quan tâm như thế nào. Bên cạnh đó, khi các bạn đặt câu hỏi, đó cũng là 1 cách để họ review lại kiến thức. Nhưng đặt câu hỏi của phải biết cách các bạn nhé. Chứ không phải kiểu như: “Thưa thầy/cô tại sao A nó lại B vậy?”, những câu hỏi đại loại thế sẽ không được đánh giá cao và chả có 1 tí tác dụng gì cả. Nếu như trên lớp, nếu không hiểu các bạn có thể giơ tay hỏi ngay, không vấn đề gì cả. Nhưng khi về nhà, các bạn hãy hãy đầu tư cho câu hỏi bằng cách tìm tài liệu, tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Sau khi tìm hiểu nếu đã thông suốt thì thôi. Nhưng nếu chưa, hãy email cho giáo viên: “Thưa thầy/cô, khi sáng trong bài giảng em có vấn đề này không hiểu. Sau tham khảo tài liệu A, B, C, v.v… em hiểu như thế này, như thế kia, nhưng vẫn chưa rõ. Nhờ thầy/cô giải đáp cho em vấn đề này”. Giáo viên khi đọc email, họ sẽ nghĩ: “À. Em này nó có quan tâm đến môn học của mình, chịu khó tìm hiểu, v.v…” Cách tạo mối quan hệ với thầy cô đơn giản như thế thôi các bạn à. Nhờ cách này mà mình “nổi tiếng” trong Khoa luôn ^^ Ai mình cũng hỏi. Học tập là ở nhiều nơi mà Bên cạnh đó, trong quá trình học tập, các bạn có thể tham gia các hoạt động học thuật của Khoa, lớp như một cách tạo ấn tượng với các cán bộ trẻ. Một đồn mười, mười đồn một trăm, nếu bạn cố gắng, làm tốt, tự nhiên các bạn sẽ nổi bật thôi. Chính nhờ những cách trên, mà mình có mối quan hệ tốt với thầy cô. Có lần mình chỉ buột miệng nói: “Em sắp làm hồ sơ xin học bổng thầy à”. Thầy mình liền bảo: “Thế à. Có cần viết thư giới thiệu không em? Khi nào cần, nói thầy 1 tiếng, thầy viết cho”. Nghe mà mình vui. Đơn giản là mình biết trong mắt thầy, mình cũng được để tâm. Thứ hai, nhờ thầy cô viết hay tự viết. Rõ ràng nhờ thầy cô viết là tốt nhất, vì nó đem đến cái nhìn khách quan nhất. Nhưng đa phần hiện nay đều là SV tự viết, và thầy cô xem qua rồi ký tên. Về vấn đề này, theo mình các bạn nên xây dựng mối quan hệ tốt với các giáo viên trẻ, vì thầy cô rõ ràng nhiệt tình hơn các thầy cô lớn tuổi hơn 1 chút, nên khi bạn có nguyện vọng, thầy cô rất sẵn lòng. Và mình recommend với các bạn nếu được, hãy tìm thầy cô giỏi tiếng Anh nhé. Vì không những thầy cô viết cho các bạn, mà còn có thể check ngữ pháp và những thứ khác cho mình nữa. Mình may mắn được làm việc được làm việc với 1 cô và 2 thầy, đều tốt nghiệp PhD ở nước ngoài, nên về khoản này mình rất yên tâm. Nên mình rõ ràng không sợ, nếu lỡ bộ phận admission (tuyển sinh) hay Prof gọi đt cho GV hướng dẫn mình để check thông tin lại lần nữa. Nên các bạn cũng hãy suy nghĩ kỹ khi chọn giáo viên để xin thư giới thiệu nhé. Không cần các thầy cô quá đao to búa lớn trong khoa hay trong công ty đâu. Vì mình nói thật, Prof hay bộ phận admission họ không biết thầy cô bạn là ai đâu. Trừ khi trường bạn thật sự nổi tiếng, thầy cô bạn được biết đến qua các công trình nghiên cứu trên tạp chí quốc tế, thì may ra họ mới biết. Nên hãy tìm thầy cô thật sự hiểu mình nhất, nhiệt tình với mình nhất và có trình độ tiếng Anh tốt. À, có một số bạn phạm 1 lỗi rất nghiêm trọng khi tự viết thư giới thiệu và đưa cho thầy cô ký. Đó là nêu các hoạt động xã hội, các tổ chức, câu lạc bộ mình tham gia. Prof hay bộ phận admission họ đọc là biết ngay bạn tự viết. Vì không thầy cô nào, kể cả bố mẹ bạn có thể biết rõ bạn như vậy. Đơn giản hãy nêu là: “Em ấy là 1 SV năng động, tích cực tham gia các hoạt động học thuật trong khoa và xã hội. Kể 2, 3 ví dụ tiêu biểu thôi”. Về việc xin thư giới thiệu, các bạn nên đánh tiếng với thầy cô trước. Nếu được thì nên nói trước khoảng 1 tháng để thầy cô soạn, còn nếu phải tự viết thì nên đầu tư tầm 1 tháng, vì để nghĩ ra 2 thư giới thiệu mà nội dung không bị trùng thì cần thời gian và ý tứ nhiều lắm đấy.

5. Letter of Motivation: Đây cũng là 1 trong những tài liệu quan trọng mà bộ phận tuyển sinh đánh giá bạn gây ấn tượng cho họ như thế nào, và bạn khác biệt ra sao. Hãy đầu tư cho nó 1 khoảng thời gian tương đối các bạn nhé. Chừng 1 – 2 tháng. Các quá trình bao gồm: Tham khảo một số bài mẫu – Chắt lọc những ý hay – Lựa chọn bố cục cho bài viết của bản thân – Lựa chọn những nội dung chính cần viết (Đây là phần quan trọng để bạn cho bộ phận admission cảm thấy bạn khác biệt và xứng đáng để học trao học bổng) – Viết – Check lại – Gửi thầy cô, những anh chị đi trước check và góp ý – Check lại lần nữa – Xong (nếu cảm thấy hài lòng) – Hoặc gửi thầy cô, những anh chị đi trước check góp ý lần cuối. Về khoản này, mình cũng khuyến cáo các bạn nên đầu tư trong khoảng 2 tháng, vừa thời gian đọc, viết, chỉnh sửa, rất nhiều giai đoạn, vì tính chất quan trọng nên đòi hỏi thời gian và công sức nhiều. Kinh nghiệm mình thấy, viết letter of motivation quan trọng là bạn phải thật sự có đam mê về ngành học của bạn thì bạn viết sẽ rất thật và hay. Và càng viết thì càng lên tay smile emoticon

6. English proficiency: Đây là điều kiện tiên quyết khi các bạn apply học bổng. TOEFL hay IELTS thì tùy thuộc các bạn cảm thấy mình phù hợp thế nào. Bản thân mình thì mình học IELTS. Đầu tư thời gian cho nó thật nhiều các bạn nhé. Mình không khuyến khích các bạn nước tới chân mới nhảy, kiểu như ôn luyện cấp tốc. Không gì cấp tốc nổi khi các bạn không có nền tảng cả. Nhiều bạn nghĩ là lên mạng kiếm nhiều tips của những người đi trước để sử dụng cho bản thân. Đây là 1 suy nghĩ sai lầm đối với những bạn muốn bỏ ích công sức mà đạt được kết quả cao. Mình nghĩ thời gian để các bạn đầu tư là khoảng 6 tháng – 1 năm, tùy trình độ và khả năng tiếp thu của mỗi người. Các bạn yên tâm, luyện nhiều tự khắc sẽ giỏi. Nghe chưa tốt, nghe nhiều tự nhiên tốt (không ai có thể chỉ bạn nghe và nghe dùm bạn), đọc chưa tốt học từ vựng, đọc nhiều tự nhiên tốt (không ai có thể giúp bạn học từ vựng và đọc dùm bạn), viết chưa tốt, viết nhiều, ôn ngữ pháp nhiều, nhờ thầy cô sửa bài, tự nhiên tốt, nói chưa tốt, trong khoảng thời gian luyện đề, tầm 1 tháng, luyện nói liên tục, tự nhiên phản xạ tăng, mức độ fluent cũng tăng. Và các bạn cũng nên hiểu. Thi cũng chỉ là 1 bài thi thôi. Nó không đánh giá được toàn bộ khả năng của bạn. Có thể bạn không may mắn thi điểm chưa như ý. Đừng buồn, hãy ôn luyện tiếp tục và thi lại. Keep trying. Thành công luôn đến với những người biết cố gắng. Và cả khi thi xong điểm cao rồi, vẫn hãy cứ tiếp tục trau dồi nhé. Đừng để mai một. Ngoại ngữ là phải luyện tập thường xuyên các bạn à. Bên cạnh đó, mình thấy có một số bạn có suy nghĩ tiêu cực như sau: “Chăm chỉ luyện thi, luyện đề này nọ, điểm số cao, nhưng lại không vận dụng được”. Tiếng Anh là công cụ để chúng ta sử dụng. Các bạn phải vận dụng nó để đem vào cuộc sống. Chăm chỉ luyện speaking thì phải sử dụng được vào những mục đích thực tế như giao tiếp, thuyết trình. Khi nào các bạn được mọi người, đặc biệt người nước ngoài khen các bạn thuyết trình tốt, tức là các bạn đã thành công. Vì không có người bản ngữ nào khen người bản ngữ nói chuyện tiếng Anh tốt cả. Cũng giống như chúng ta không có khen lẫn nhau là chúng ta nói chuyện tiếng Việt tốt cả. Cũng giống như nói, viết cũng phải được vận dụng vào trong cuộc sống, học tập hằng ngày như viết báo cáo, bài báo, bài luận. Vì thực tế ngoài đời, bạn không chỉ có viết 1 đoạn essay với số từ tối thiểu là 250 từ.

7. Ngoài ra, các bạn cũng có thể tăng sự năng ký cho hồ sơ của mình bằng những bằng khen học thuật. Mình sử dụng đề tài nghiên cứu khoa học (Khóa luận tốt nghiệp) để đi thi thố, may mắn dành cả 3 giải, cấp Bộ, cấp Thành phố, cấp Trường. Và 1 bài báo khoa học đăng trên tạp chí khoa học quốc tế của Springer. Bài báo khoa học thì cần cho những ai muốn xin học bổng Master hay PhD, vì đây là cách để cho người khác biết bạn làm gì.

Chuẩn bị hồ sơ kỹ càng, tạo nhiều folder cho nhiều course, cũng như nhiều phong bì cho từng course (nếu phải gửi post). Tại đến lúc cần, chỉ cần lấy và gửi thôi, không sợ thiếu giấy tờ. Mình chuẩn bị những 9, 10 bộ, mà xài chỉ 5, 6 bộ thôi.

Kết lại, mình muốn nói với các bạn. Hãy lên kế hoạch cho bản thân khi quyết định đi trên con đường xin học bổng, vì đó là một con đường dài hơi và đòi hỏi tâm huyết, công sức và thời gian rất nhiều. Và mình tin, thành công sẽ đến với những ai biết cố gắng. Có 1 câu nói mà mình rất thích của đại tá Jimmy Doolittle, người đã dẫn đội quân 16 chiếc máy bay tiến thẳng và Nhật Bản với lực lượng hơn 300 chiếc máy bay, sau trận đánh bất ngờ của Nhật ở Trân Châu Cảng. “Victory belongs to those who believe in it the most and believe in it the longest”, Lt. Col. Jimmy Doolittle said. Nếu ngồi ngẫm nghĩ một tí, các bạn sẽ thấy, thành công của các vĩ nhân, tỷ phú trên thế giới đều có thể là những ví dụ mạnh mẽ cho câu nói này.

Chúc các bạn luôn học tốt và thành công trên con đường xin học bổng.

Kinh nghiệm apply học bổng New Zealand 2012

Tác giả: Lê Quang Kiệt (NZ ASEAN Scholarship holder 2012)

(Định post cái này vào dịp Tết nhưng sau khi đi “thăm dò” một vài người thân thiết, ai cũng khuyên nên post đi, có đứa còn càm ràm mình “Chuyện tốt chứ có gì đâu mà giấu thấy ghê!”, nên thôi, post đại, ai hông thích thì đừng “ném đá”, tội nghiệp em lắm 🙁 )

Ngày bé, vẫn luôn nghĩ rằng: hễ mình chăm chỉ, luôn cố gắng, sống tốt với mọi người thì mọi người cũng sẽ tốt với mình, rằng mọi điều tốt đẹp sẽ đến với mình. Lớn lên, đi học, đi làm, nhận ra rằng: không hẳn mình tốt với người khác thì người khác cũng sẽ tốt với mình; người hướng thiện và chăm chỉ không hẳn sẽ luôn thành công… Nói chung là thấy cuộc sống này nhiều bất công…

3 năm trước, hăm hở đi kiếm học bổng để đi học. Đi du học – với một đứa cực ghét những bài học thuộc lòng, kiểm tra theo kiểu “chép chính tả”, những lí thuyết sáo rỗng – chẳng phải là để chạy theo bằng cấp hay phô trương, lòe thiên hạ, mà chỉ đơn giản là để nạp thêm kiến thức, mở rộng vốn sống. Tự nhiên nghĩ: hễ người ta đã “bay” ra được với thế giới ngoài kia một lần, khát khao được bay tiếp, bay xa hơn, cao hơn là điều hiển nhiên.

Đi du học, chí ít là còn để nuôi ước mơ thay đổi cuộc đời mình, gia đình mình – nhất là với những đứa có hoàn cảnh gia đình khó khăn như mình. Chỉ những ai phải xuất phát từ những vạch đầu tiên đầy chông chênh, trắc trở và nhiều gian khó mới thấy được hết những rào cản của cuộc sống này.

“Lỡ đò” hết vài lần, cay đắng nhận ra những thứ không thuộc về mình thì sẽ mãi mãi không thuộc về mình, chán nản nhận ra có những thứ tưởng chừng dễ nhưng hễ dính dáng tới giấy tờ là sẽ thành rắc rối to.

Tháng 6, giấc mơ đi học lại bùng cháy. Âm thầm làm hồ sơ với quyết tâm: lần này mà không được là sẽ không bao giờ nộp nữa! Rồi cũng như những lần trước, đi xin giấy tờ, đi xin chứng nhận, lên mạng lục tung thông tin ngành học, trường học…

Tháng 7 – những đắn đo suy nghĩ, về mình, về gia đình, những lo lắng như ai sẽ chăm cho bố mẹ khi mình vắng nhà làm mình chùn bước. Rồi đánh tiếng thở dài, lại quyết tâm nộp. Số đến khổ! Gửi hồ sơ ngay ngày cuối cùng người ta nhận, mà lại còn bị đến trễ hơn so với giờ quy định. Cũng may, bộ phận tiếp nhận hồ sơ vẫn nhận.

Tháng 8 – một buổi trưa thứ 6, nhận một cuộc điện thoại từ Hà Nội mà vẫn không tin vào tai mình: được gọi đi phỏng vấn.

Tháng 9 – bước vào phòng phỏng vấn với tâm trạng cực kỳ thoải mái và dễ chịu. Phỏng vấn xong còn thấy thoải mái hơn, ít nhất cũng đã nói được hết những gì mình nghĩ, mình dự định…

Tháng 10 – nhiều hy vọng nhưng vẫn không dám tin mình có cơ hội bởi so với những ứng viên khác, hồ sơ của mình chẳng “đẹp” hay “mịn” gì cả. Giữa lúc không dám tin ấy, cái email với dòng chữ “Congratulations” ấy đã “bay” vào hộp thư mình. Khóc tu tu như trẻ con bị mẹ đánh…

17-11 – còn những 4 tháng (hay chỉ còn 4 tháng?) nữa, sẽ xách vali đi Auckland, bắt đầu quay lại thời SV, chăm chỉ trong 2 năm để lấy bằng Thạc sĩ. Còn sau đó? Chuyện gì đến sẽ đến, chưa dám nói trước… Chỉ biết và chỉ mong, những điều tốt đẹp sẽ đến…

Và nếu bạn vẫn còn đang thắc mắc, không biết cái thằng ít tóc, lắm lời, hay khó chịu mà vẫn từng gặp, từng biết đang nói cái gì, thì đây: mình đã nhận được học bổng của Chính phủ New Zealand để đi học Thạc sĩ tại Unitec – Institute of Technology, Auckland và sẽ lên đường vào nửa cuối tháng 2-2012.

Và nếu bạn vẫn luôn nghĩ rằng những đứa gia đình khó khăn sẽ không có điều kiện tiếp cận với những nguồn học bổng như thế này? Suy nghĩ lại đi! Mình là con nhà nghèo chính hiệu nhé!

Và nếu bạn vẫn luôn nghĩ rằng, để được học bổng, bạn phải tốt nghiệp những trường danh giá, rằng bạn phải nắm trong tay giải thưởng này nọ, rằng bạn phải đi học tiếng Anh ở một trung tâm nổi tiếng nào đó? Suy nghĩ lại đi! Mình đã tự học tiếng Anh, với người thầy là sách, là nhạc, là những người bạn nước ngoài đi du lịch theo kiểu Tây “balô”… Những khóa học tiếng Anh để “học chiêu” đạt điểm cao với mình là quá xa xỉ và tốn kém…

Và nếu bạn vẫn luôn nghĩ học bổng du học chỉ dành cho những ai có điểm số cao!? Nghĩ lại luôn đi! Điểm của mình thấp tè, 7.54/10 (hay 3.02/4) mà thôi!

Hay giả như bạn vẫn luôn nghĩ là rớt học bổng liên tiếp nghĩa là bạn không còn cơ hội nữa?! Suy nghĩ lại nhé?! Mình đã rớt và vẫn được!

Với những ai vẫn đang ấp ủ niềm hy vọng, khát khao và ước mơ vươn lên, hãy nuôi dưỡng ước mơ của mình! Xấu hổ là khi có ước mơ mà không dám nắm lấy cơ hội, chấp nhận rủi ro để thực hiện ước mơ. Còn nếu chẳng may không thành, chẳng có gì đáng phải xấu hổ cả! Cứ đi rồi sẽ đến, cứ gõ cửa sẽ mở! Thà đi đường vòng, nhiều chông gai, thách thức mà thành công của nó còn vinh quang, rực rỡ hơn gấp nhiều lần đi đường thẳng, được người khác trải thảm.

 

Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường – mình vẫn tin như vậy…

Hướng dẫn apply vào trường đại học Mỹ từ A-Z

Tác giả: Lê Hoàng Nam
Cuộc sống đại học đầy súc vật khiến bây giờ mình mới có thời gian ngồi viết cái này. Có thể hơi muộn đối với 1518, nhưng với những khóa sau thì mình tin rằng những gì mình viết dưới đây sẽ rất có ích cho các em trước và trong quá trình apply. Trước khi đọc cái này, hãy đảm bảo bạn biết trong quá trình apply có những phần nào yếu tố nào, vì mình sẽ không liệt kê các bước với các loại bài thi các loại giấy tờ ra rồi giải trình quá trình app ở đây đâu ạ.

Mình cũng muốn nói luôn là nếu ai đó muốn hỏi mình cái gì về quá trình app thì hoàn toàn có thể ib, nhưng ít nhất hãy tìm hiểu trước xem trong quá trình này có những cái gì. Chứ ib rồi hỏi mình được “học bổng bao nhiêu %” là mình ghét đó.

Why study in the US?
Đầu tiên, mình muốn nói về mục đích của một bộ hồ sơ apply. Mục đích của nó là để phản ánh học sinh trên nhiều mặt (học tập, HĐNK, xã hội, cá nhân, sáng tạo,…) để qua đó xác định xem học sinh có phù hợp với trường hay không (Laura Clark, cựu nhân viên tuyển sinh tại Princeton, giám đốc tư vấn tuyển sinh tại Ethical Fieldston Culture School).
Trước khi mình đi vào nói về các phần trong quá trình app và bộ hồ sơ, mình muốn nhấn mạnh rằng đây là một quá trình đánh giá đa chiều. Nói cách khác, không một yếu tố nào có khả năng một mình quyết định bạn được nhận hay không. Nên là điểm SAT có kém thì cũng đừng có đến mức tuyệt vọng.
A. Thi chứng chỉ:
  1. IETLS/TOEFL:
Vai trò của IELTS và TOEFL được nói rất rõ trên gần như tất cả các websites trường mình lên: Proof of English Proficiency. Nói cách khác, nó chỉ có vai trò đảm bảo là sang đó bạn giao tiếp được với người ta và chấm hết. Điểm IELTS/TOEFL cao không thể gia tăng khả năng được nhận. Nó chỉ mang tính chất là điều kiện cần thôi. Ví dụ, nếu trên website trường nói là học sinh của họ thường được 100 TOEFL chẳng hạn, thì khi họ nhìn điểm TOEFL họ sẽ chỉ nhìn xem có mấy chữ số, và kết thúc ở đó. 101 và 111 chả khác gì nhau cả.
IELTS và TOEFL là English Proficiency Tests, tức là nó đánh giá khả năng sử dụng tiếng Anh của bạn. Mình rất không thích khái niệm “đi học TOEFL” hay “đi học IELTS” vì tất cả những thứ được đánh giá đều là kĩ năng. Học nghe là học cái mẹ gì? Vểnh tai lên mà nghe chứ có gì mà phải học. Thế nên, cách duy nhất và lí do duy nhất bạn có thể tiến bộ là do làm nhiều. Liên tục sử dụng tiếng Anh ở trong các ngữ cảnh khác nhau để làm quen với nó. Khi bạn đã thật sự thoải mái với cái ngôn ngữ rồi thì nói về thứ bạn thích trong vòng 45s chỉ như một cuộc nói chuyện thường ngày. Hơn nữa, khái niệm “đi học TOEFL” hay “đi học IELTS” còn khiến bạn học với tâm lý beat the test. Do đó, khả năng tiếng anh thật sự của bạn sẽ khó tiến bộ hơn vì bạn đã giới hạn sự tiến bộ của mình vào trong bài thi. Nói đơn giản là, nếu như bài đọc IELTS bạn đọc được mà bài đọc bình thường thì không, thì điều đó chả có ý nghĩa gì cả. Nói tóm lại, IELTS và TOEFL là cái tự học.
Vậy tự học như thế nào? Cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đều được xây dựng trên nền tảng ngữ pháp, nên điều quan trọng nhất là hãy đảm bảo ngữ pháp tiếng Anh của bạn chắc chắn. Nếu ngữ pháp chắc thì khi nghe bạn có thể nghe được cấu trúc câu và thì động từ được sử dụng, và như thế việc nghe hiểu sẽ dễ dàng hơn là đôi khi bắt được từ này từ kia mà không nghe được cấu trúc chung; khi đọc bạn có thể phân tích một câu rất phức tạp nhiều mệnh đề ra rõ ràng chủ vị chính ở đâu, mệnh đề nào bổ nghĩa cho cái gì, khiến việc đọc mượt hơn rất nhiều; khi viết thì rõ ràng là cần ngữ pháp rồi không phải giải thích; và khi nói thì bạn linh hoạt hơn rất nhiều trong cách sử dụng ngôn ngữ, và mình nghĩ rằng khi bạn có thể nói mà đúng ngữ pháp, bạn đã thật sự nắm rất chắc ngữ pháp rồi đó vì điều này yêu cầu xử lí ngữ pháp một cách tức thời và liên tục trong giao tiếp. Nói tóm lại, học ngữ pháp trước khi định đến TOEFL/IELTS hay bất kì loại chứng chỉ nào khác.
Có lẽ phần writing sẽ là cái mà mọi người lo nhất nếu như mọi người tự học như mình nói, và nỗi lo này hoàn toàn chính đáng. Với TOEFL, mình xin nói thẳng luôn writing TOEFL bạn chẳng cần cái gì ngoài việc đúng ngữ pháp cả. Template TOEFL rất đơn giản, đừng sai ngữ pháp và đừng dùng lặp từ/cấu trúc và 30/30 hoàn toàn trong tầm tay. IETLS writing thì khó hơn vì nó hàn lâm hơn và yêu cầu khả năng phân tích và phản biện ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, mọi thứ cũng sẽ rất dễ dàng khi bạn chắc ngữ pháp, và cá nhân mình thấy việc đi học viết IETLS cũng không cần thiết cho lắm vì ở nhiều nơi bạn sẽ dành tầm nửa khóa làm những tờ bài tập dạy bạn cách dùng however với therefore và những thứ tương tự. Template của IELTS hoàn toàn có thể tìm được trên mạng. Đọc vài bài mẫu và ghép chúng lại với nhau tự tạo template riêng của mình. Viết nhiều và nhờ ai đó đọc và sửa. Nếu bạn đã chắc ngữ pháp thì hoàn toàn có thể inbox mình, viết vài bài theo yêu cầu mình đưa ra, và mình có thể dạy bạn cách viết task 2 IELTS khá ổn chỉ trong một buổi tối (về lý thuyết là thế, nhưng thực ra sẽ là vài ngày vì mình cũng phải làm bài tập của mình huhu). Task 1 thì mechanical và analytical hơn, như kiểu đọc biểu đồ địa lý ý. Tập nhiều là ổn.
2. SAT (mình không thi ACT nên mình sẽ không đề cập đến nó):
Ở đây mình sẽ bàn đến reading là chính, vì mình không thi SAT mới nên mình không biết essay SAT mới như thế nào. Mình sẽ không bàn đến phần Toán vì là những Bsians chính hiệu tất cả chúng ta chỉ cần làm nhiều cho quen đề, chứ kiến thức thì không có gì quá tầm cả.
Vì một số lí do nhất định, hồi trước mình đã ngồi phân tích và giải thích key tầm gần 100 bài đọc SAT mới, nên mình nghĩ mình có thể bàn về nó. Điều đầu tiên là again, đây là đọc. Chúi mắt vào mà đọc chứ chả ai dạy được cả. Nên là làm nhiều vào nếu thấy mình kém.
Còn về cách làm bài đọc thì theo kinh nghiệm của mình thì thời gian đọc hiểu là chính trả lời câu hỏi là phụ. Hiểu rồi thì trả lời câu hỏi nhanh như bay. Lúc đọc thì xác định ý chính cả bài và ý chính từng đoạn là gì. Nhiều người không thích bị cái giọng đọc trong đầu nhưng mình nghĩ cái đó tốt vì khi làm thế có thể nhận ra tone và thái độ của tác giả luôn. Vừa đọc vừa phân tích trong đầu kiểu tác dụng của ví dụ này là gì thái độ câu này là gì. Lưu ý là mọi chi tiết đều dùng để làm rõ ý tác giả trong đoạn hoặc cả bài. Để ý những cái transitions. Một điều rất quan trọng mà mình để ý là reading SAT thì bất kể câu hỏi về ý chính hay về một chi tiết cụ thể thì đáp án cũng luôn hướng về main idea/main argument của cả bài hoặc đoạn. Nên là nghĩ rộng ra and look at the overall context.
Về cách học thì đương nhiên là làm hết đề thật trước. Tuy nhiên, vì đây là đọc, sát đề thật hay không cũng không quan trọng lắm trong quá trình luyện. Kiểu, lúc luyện bạn quen làm đề khó thì lúc làm đề thật dễ hơn thì mọi thứ sẽ suôn sẻ hơn rất nhiều. Cá nhân mình thấy reading SAT cũ khó hơn hẳn SAT mới, nên sau khi làm hết đề thật SAT mới có thể tìm đề SAT cũ làm để luyện. Và again, điều quan trọng nhất là: LÀM NHIỀU VÀO.
Mình định nói về SAT II nhưng mình thi mỗi Toán với Văn. Toán thì như đã nói chúng ta là Bsians chúng ta chỉ cần làm nhiều còn kiến thức hoàn toàn trong tầm. Văn thì về cơ bản chỉ là reading ở mức độ khó hơn rất nhiều và yêu cầu làm nhiều làm đi làm lại để tiến bộ.
B. “Học app”:
Học app là học cái mẹ gì? Quá trình app có gì cần học? GPA thì ở trên lớp, thi chứng chỉ đã nói ở trên, thông tin cá nhân về gia đình bản thân HĐNK trên CommonApp tự biết tự điền, thông tin tài chính chỉ quanh quẩn ISFAA, CSS, (2 cái y hệt nhau điền xong một cái chỉ việc ngồi chép sang cái còn lại), COF (1 phiên bản rút gọn của 2 cái kia). Nhờ bố mẹ đi lấy bank statements, employer’s statements hay bất kì giấy tờ gì chứng minh thu nhập và tài sản của gia đình và cứ thế điền vào ISFAA/CSS với scan rồi nộp cho trường. Ngồi một buổi tối với bố mẹ là xong hết. Vậy có gì cần giúp?
Essays.
Essays có 2 vai trò. 1 là để đánh giá khả năng viết của bạn. 2 là để tìm hiểu bạn trên những phương diện khác mà đống điểm chác hay cái list HĐNK không thể truyền tải. Thế nên, quyền hạn của 1 counselor đối với essays của học sinh là như sau (Do mình tổng hợp từ các email với các application counselors và admission officers ở Mỹ):
  1. Grammar check.
  2. Proofreading.
  3. Cutting (đây là mức độ edit trực tiếp lớn nhất mà một counselor được phép làm)
  4. Ngồi nói chuyện tìm hiểu và cãi nhau với học sinh để tìm hiểu và cùng nhau đưa ra những hướng tiếp cận và xử lí bài luận.
Vậy, một counselor tốt là một người không đi qua giới hạn trên, và làm được điều thứ 4 một cách kiên nhẫn, cầu tiến và năng suất. Cái này yêu cầu individual attention cực cao, thế nên mình không ủng hộ các trung tâm mà 1 counselor gánh quá nhiều học sinh (trên 10 là có vấn đề rồi).
Học app không hề rẻ, và trước khi nói gì tiếp thì mình nói thẳng luôn là mình chỉ ủng hộ duy nhất một trung tâm, và mình không khuyến khích việc học app. Đương nhiên mình sẽ không công khai nói đó là trung tâm nào ở đây. Nếu ai muốn biết có thể ib mình trực tiếp để hỏi. Các trung tâm còn lại thì hoặc là vì mình biết quá ít để có thể đưa ra nhận định, hoặc là mình thật sự phản đối.
Bản chất của trung tâm là một doanh nghiệp. Họ làm tiền từ việc giáo dục, và cân bằng giữa 2 cái này không phải dễ. Và rất nhiều khi, trung tâm đặt lợi nhuận lên trên lợi ích học sinh qua những hành động như ép học sinh app trường rank cao để PR, ép tăng mức contri, yêu cầu tài khoản và mật khẩu CommonApp để đôi khi vào nghịch, bẻ essays đi một tẹo hoặc nhiều tẹo,… Không chỉ vậy, rất nhiều trung tâm không dành thời gian tìm hiểu học sinh, thế nên những bài luận viết ra rất nông cạn. Mình nói thẳng luôn là trung tâm viết chưa chắc hay hơn học sinh. Mình đã đọc một essay có vẻ như là final draft của một người qua 1 trung tâm nhất định, và nó hoàn toàn nông cạn chẳng có một tí chất nào. Với tư cách người đọc, mình không thấy ấn tượng chút nào với người viết ra bài luận đó, và mình thấy bực với việc trung tâm có thể để cho người này submit bài này cho các trường. Mình sẽ nói sâu hơn về essays ở phần sau.
Vậy nên tìm kiếm thông tin và giúp đỡ ở đâu? Ôi mình thề mình đéo thể nào hiểu được tại sao ai cũng đến trung tâm với hội thảo các trung tâm để tìm hiểu, trong khi có con mẹ nó một cái TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO DỤC CỦA ĐẠI SỨ QUÁN MỸ được đặt trong Đại sứ quán Mỹ ở Ngọc Khánh, Giảng Võ. Cái nguồn khách quan và updated nhất thì không đến lại cứ đến cái chỗ con mẹ nào? Tên nó là EducationUSA: https://vn.usembassy.gov/education-… . Và trước khi ai đó thắc mắc gì thì mình hoàn toàn không được lợi gì từ việc PR cho EducationUSA, bởi vì đây là tổ chức phi lợi nhuận. Cũng chính vì là tổ chức phi lợi nhuận, mà họ giúp bạn app MIỄN PHÍ. Vâng miễn phí đó ạ! Họ tuân thủ đúng mọi quy tắc đạo đức hành nghề đặt ra bởi Bộ Ngoại giao Mỹ, và là nguồn thông tin khách quan, đầy đủ, updated nhất về các trường đại học Mỹ. Không chỉ vậy, cái thư viện của họ cũng cực kì nhiều tài liệu để bạn có thể ôn thi hay tìm hiểu các thứ.
C. Chọn trường:
Cho mình tầm 30p và mình có thể mổ xẻ và thuyết phục bạn tại sao US News’ College Rankings là một thứ chủ quan, thiên vị nhà giàu và nhiều khi rất vô lí với những tác động rất tiêu cực lên cách các trường đại học hoạt động. Tuy nhiên ở đây mình sẽ không làm điều đó, ai muốn nghe có thể ib mình.
Yếu tố phù hợp là rất quan trọng trong quá trình chọn trường. Mấy cái bạn có thể nghĩ là không quan trọng có khi lại có ảnh hưởng rất lớn. Ví dụ như bạn có thể nghĩ khí hậu không quan trọng lắm vì bạn có thể thích nghi, nhưng đến lúc bạn hắt hơi vì lạnh tụt l quanh năm suốt tháng thì bạn đéo có học hành gì nữa đâu mình thề luôn. Nên để chọn trường, đầu tiên hãy xác định những tiêu chí của bản thân, ví dụ như:
  1. NU hay LAC?
  2. Thành thị to to hay khỉ ho cò gáy?
  3. Nóng hay lạnh?
  4. Coed hay single-sex?
  5. Đông người Việt hay ít người Việt?
  6. Một số môn học hay ngành bạn muốn trường có?
  7. Double major không?
  8. Có cơ hội hay cơ sở vật chất cụ thể nào bạn muốn trường có (co-op, internship, study abroad,…)?
  9. Gần ai đó không?
…… Và rất nhiều thứ khác tùy theo nhu cầu cá nhân của mỗi người.
Điều quan trọng nhất là xác định cho bản thân một tư tưởng giáo dục. Bạn muốn nền giáo dục của mình tập trung vào cái gì? Vào việc học để đi làm kiếm tiền hay học vì học? Hãy xác định một tư tưởng giáo dục cho riêng mình, và đọc nghĩ kĩ về cái mission statement với vision trên website các trường. Điều này rất quan trọng vì cuộc sống đại học khá là vất, thế nên bạn cần phải yêu thích việc học của mình để có thể kéo bản thân qua những sự vất đó. Cho đến giờ mình thấy rất intellectually engaged với những gì mình đã và đang được học và đọc, dù mình ở đây mới được có một tuần.
Điều đó dẫn đến ý tiếp theo của mình: Mổ xẻ lật tung cày nát cái website trường ra, xem nó có thỏa mãn những cái nhu cầu của bạn hay không. Nói cách khác, lục tung cái website để xem bạn có phù hợp với chỗ đó hay không.
Again, “the fit” là một điều rất quan trọng, vì bạn sẽ rất khổ sở ở một nơi không phù hợp với mình. Không chỉ vậy, các trường khi chọn học sinh họ chọn những người họ thấy phù hợp nhất, những người mà có tiềm năng phát triển nhiều nhất ở trường của họ, thế nên việc bạn phù hợp với một trường và thể hiện được điều đó trong hồ sơ rất có lợi cho bạn trong quá trình app.
D. Phản đối US News Rankings hay PR cho Bennington College?
Ở đây mình sẽ không mổ xẻ US News như mình đã hứa ở trên, mà mình muốn nói về trường của mình, Bennington College, được xếp hạng 87 bởi US News trên bảng xếp hạng LACs. Từ khi đến đây, học ở đây 1 tuần, mình đã thấy được rất nhiều về giá trị của nơi này mà trước đây mình chưa hề biết đến.
Đầu tiên là những thứ mà có thể tìm hiểu được trên website. Hệ thống giáo dục của Bennington dựa trên 2 cột trụ chính: The Plan và Field Work Term.
  1. The Plan: Ở Bennington không có major. Trường mình có một đống areas of study, nhưng không có major. Học sinh không declare major của mình, mà nó là một quá trình. Khi ra trường sẽ nhận bằng Bachelor of Arts. The Plan Process là bạn sẽ tự chọn ra những gì mình muốn học, tự xây dựng quá trình học của mình trong suốt 4 năm để phù hợp nhất đối với những mong muốn và dự định của bản thân. Không có core curriculum, không có môn gi bắt buộc cả. Chẳng ai bắt bạn phải học hay làm gì cả, chỉ là bạn có dám học hay làm hay không thôi. Đây là điều rất quan trọng với mình khi đưa ra quyết định chọn Bennington: Tự do và tự chủ. Mức độ tự do của Bennington vượt lên trên mọi trường mình đã tìm hiểu, những nơi mà khoe về tự do trên websites nhưng vẫn giới hạn nó với những thứ như core curriculum hay một số khóa nhất định phải học để đạt major requirements. Sự tự do ở Bennington thể hiện dưới rất nhiều dạng, như việc reading room ở thư viện mở 24/7, hay việc học sinh có thể mượn chìa khóa vào các nơi như computer lab để có thể ngồi làm projects thâu đêm suốt sáng,… Mình cũng muốn nói là với mình tự do là điều rất quan trọng, thế nên mình thấy Bennington hợp với mình. Nếu bạn không muốn sự tự do mà, arguably, có thể hơi quá đà như vậy, thì Bennington có lẽ không dành cho bạn. Cách xây dựng The Plan đương nhiên không đơn giản như việc chỉ học mọi thứ bạn muốn. Xuyên suốt 4 năm bạn sẽ phải xây dựng và cải thiện Plan của mình liên tục, và phải thuyết trình và cãi nhau với 1 committee gồm 3 faculty advisors để bảo vệ/điều chỉnh Plan của mình. Như vậy, bạn có thể xây dựng được một kế hoạch thật sự fulfilling mà không thiếu phần challenging chút nào cả, và quan trọng hơn là bạn đảm bảo được là Plan của mình không như l và khi ra trường mình sẽ thật sự đã học được gì đó.
  2. Field Work Term (FWT): Tự do vãi l thế kia thì nhỡ đâu tốt nghiệp lại toàn học những cái ở đẩu ở đâu không dùng được trong thế giới đi làm thì sao? FWT là một điều duy nhất Bennington có. FWT không phải kì học, mà là kì làm. Học sinh bắt buộc apply đi làm ở bất kì đâu trên thế giới trong vòng 7 tuần trong năm học từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 2. Bất kì đâu, miễn là được nhận. Điều này cho phép học sinh có kinh nghiệm đi làm, học những kĩ năng trong thế giới đi làm, và đưa những kiến thức mình đã học vào thực tiễn. Nó còn giúp học sinh khám phá những lĩnh vực mới một cách thật và trực tiếp nhất. Không chỉ vậy, đây còn là cơ hội cực tốt để xây dựng mạng lưới quan hệ mà sẽ rất có lợi khi bạn tốt nghiệp và phải đi kiếm việc.
Sự kết hợp của The Plan và FWT cho học sinh một mức độ tự do cực lớn, nhưng cũng cho học sinh cơ hội để tự đánh giá những quyết định bản thân đưa ra với cái sự tự do đó. Họ trao cho bạn tự do và trao cho bạn khả năng để điều chỉnh mức độ tự do mình muốn thay vì bị cuốn đi. Họ không giới hạn tự do của bạn, mà để cho bạn tự làm điều đó nếu bạn thấy cần thiết. Đây là một sự kết hợp mà mình thấy rất tinh tế, vì việc trao quyền chủ động vào tay học sinh như vậy thật sự khiến học sinh phải có trách nhiệm với những quyết định của mình: Bạn có tự do quyết định, và bạn có trách nhiệm phải chịu những hậu quả do quyết định mình đưa ra. Đương nhiên, hậu quả ấy sẽ chỉ kéo dài 7 tuần, và trải nghiệm đó sẽ khiến bạn nghĩ lại về những quyết định của bản thân và điều chỉnh một cách hợp lí và cân bằng nhất. Những bài học ấy sẽ rất quan trọng sau khi tốt nghiệp, khi mà bạn thật sự tự chủ tự quyết và những quyết định của bạn có thể theo bạn cả đời.
Sự kết hợp này cũng là một sự đảm bảo rằng học sinh vừa học những gì mình muốn và vừa sẵn sàng cho thế giới sau tốt nghiệp (vì đôi khi những gì mình thích không phải là các ngành đang hot trong thị trường việc làm). Nó vừa tự do vừa đảm bảo, và điều tinh tế nhất đó là cả 2 mặt đó đều do bạn quyết định, chứ không ai khác.
Bây giờ đến những điều mà mình nhận thấy sau 1 tuần học. Từ khi thành lập, Bennington đã luôn là một trường rất progressive và rất đa dạng. Đọc commencement statement trên website là thấy. Phải tầm một nửa trường là LGBTQ+. Những nước mình chưa hề nghe tên đều có người ở đây. Tuy nhiên, trái với khái niệm diversity ở nhiều nơi, Bennington tiếp cận khái niệm này một cách rất khác.
Diversity agenda là cái mà các chiến binh công lý xã hội dựa vào để đưa mọi thứ lên một tầm cao mới. Khi mình mới gặp roommate, roommate (một người da đen) hỏi: “How’s your English?” Ở nhiều nơi, câu hỏi này sẽ được coi là microaggression, một khái niệm rất gây tranh cãi. Tuy nhiên, mình biết roommate không có ý xúc phạm mình hay phân biệt, mà đơn giản là nó không biết. Nó sống ở Mỹ còn mình ở Việt Nam. Làm sao nó biết được ở Việt Nam học sinh phải học tiếng Anh từ lớp 3? Diversity agenda là cái thứ mà các social justice warriors dựa vào để phê phán sự cultural ignorance như vậy và condemn nó as hatred, một điều mà thật sự rất vô lí và cực đoan.
Bài đọc đầu tiên của mình là một bài đọc cho First-year Forum với faculty advisor để hướng dẫn học sinh qua hệ thống giáo dục ở Bennington. Bài đọc đó về total institutions, những nơi mà có một tập thể gần như là cố định sinh hoạt cùng nhau cả ngày trong một thời gian dài. Những nơi như nhà tù, bệnh viện tâm thần, trại tập trung,… Lúc đầu, mình không hiểu mục đích cho lắm, nhưng rồi mình bật ra: “She probably wants us to compare a college campus, particularly Bennington, with a total institution.” Và đấy đúng là điều cô ý làm. Cô ý còn yêu cầu bọn mình phân loại các “wardens” trong “asylum” này và mối quan hệ của họ với “inmates”. Điều mình muốn nói là, cô ý đang khuyến khích bọn mình nhìn nơi này đa chiều hơn, như kiểu cô ý muốn nói “You chose this place, so I assume you must like it. But here, this place has its bad sides, and it may not be all that you think.”
Assignment thứ 2 của cô ý là muốn mình ngồi trong nhà ăn và ghi chú xem mọi người xung quanh làm gì, nói về cái gì, ngồi ở đâu với ai như thế nào. Điều này nói rất nhiều bởi nó cho thấy xã hội và cộng đồng ở đây được xây dựng và hoạt động như thế nào. Người như thế nào thì ngồi một mình? Khi ngồi một mình thì họ ngồi ở đâu? Người như thế nào thì ngồi theo nhóm? Và ở đâu? Lúc nào vắng lúc nào đông? Tóm lại, cô ý một lần nữa muốn bọn mình tìm hiểu thêm về cộng đồng này, về có thể thấy được những kiểu người nhất định, và có thể có một số kiểu có nhiều bạn bè hơn những kiểu khác.
Một lớp khác của mình cũng có một bài đọc mà trong đó tác giả ủng hộ việc miêu tả chân thực không giấu giếm không nói giảm nói tránh bạo lực để thật sự hiểu được nó, chứ không nên cấm kị điều đó. Vì có như thế thì mới giải quyết được bạo lực.
Cái điều mình muốn nói ở đây là trong 1 tuần qua, mình đã được khuyến khích đi tìm sự thật thông qua các bài đọc và bài tập. Mình hơi không muốn dùng từ “sự thật” vì sự thật và thực tại thay đổi liên tục và phụ thuộc vào góc nhìn, nhưng mình không tìm ra từ nào khác. Điều này liên quan mật thiết đến cái diversity agenda mình nói ở trên: They don’t play social justice here. Như việc mình với roommate: Mình khác nó và nó khác mình. Đó là sự thật. Không hiểu nhau là điều hoàn toàn dễ hiểu. Bennington hiểu rằng những sự thật đó cần được phơi bày và cần được hiểu trước khi công lý xã hội có thể trở nên hiệu quả. Thế nên ở đây, trong một bài báo mình đã đọc về Bennington, sự tự do được nâng lên một tầm mới: “Students can say whatever they want.” Và chính sự authentic freedom of expression đó khiến mọi người chọn từ ngữ cẩn thận hơn rất nhiều, vì nó khiến họ hiểu rằng có những sự khác biệt giữa mọi người với nhau, và tất cả đều hiểu rằng họ cần hiểu những những sự khác biệt đó trước bất cứ điều gì khác.
Sự tự do ở Bennington, dù có vẻ hơi quá đà, nhưng chính sự quá đà ấy lại giải quyết những vấn đề mà bản thân nó có thể gây ra. Chính vì những lí do này mà mình tin rằng Bennington thật sự là một hidden gem mà khó có thể thấy được trên bảng xếp hạng của US News, và mình chân thành khuyên và khuyến khích mọi người khi chọn trường hãy thật sự nghiên cứu và tìm hiểu trường, bởi lẽ một con số trên US News không thể nào phản ánh được tất cả các mặt của một ngôi trường.
E. Hoạt động ngoại khóa:
Hoạt động ngoại khóa có một số vai trò như sau. 1 là nó cho trường biết bạn thích gì, đam mê gì, quan tâm gì. 2 là nó cho trường biết bạn cống hiến bản thân đến đâu cho sở thích, đam mê, mối quan tâm đó. Thế nên, một danh sách hoạt động ngoại khóa có chất lượng là một danh sách thể hiện được những sở thích, đam mê, mối quan tâm và sự cống hiến của bạn dành cho chúng. Mình biết trên CommonApp có 10 dòng điền HĐNK, và điều này khiến học sinh cảm thấy áp lực phải điền hết, nhưng áp lực đó là một tưởng tượng.
Khi chọn học sinh, trường không muốn một học sinh toàn diện, mà họ muốn một khóa toàn diện, thế nên họ muốn mỗi học sinh có mặt mạnh khác nhau. Có người hát hay có người đá bóng giỏi, có người hoạt động xã hội có người bú mình trong phòng thí nghiệm,… Thế nên, một danh sách HĐNK mà bạn làm mọi thứ đi khắp nơi không phải là một danh sách tốt.
Thứ 1, HĐNK là tất cả những gì bạn làm ngoài phòng học. Viết blog, chơi guitar, đạp xe 10km chăm sóc cho người bà bị ốm hàng ngày,… Tất cả những cái đó là hoạt động ngoại khóa, chứ không chỉ những hoạt động hay sự kiện hay cuộc thi được tổ chức bởi một đơn vị nào đó. À đó, nhân tiện nói luôn là: Bỏ ngay cái tư tưởng tham gia HĐNK vì cert đi nhé. Mình không hô hào về sự nông cạn của việc này đâu, mà mình sẽ nói thẳng cho bạn về mặt thực tế là gửi cert cho trường là trường ghét cho đó nó đéo nhận đâu.
Thứ 2, chất lượng hơn số lượng. 3 năm gắn bó và cống hiến cho một tổ chức về môi trường tốt hơn là đi khắp một đống tổ chức về môi trường nhưng mỗi cái không quá được 1 năm.
Thứ 3, HĐNK ngoại khóa ấn tượng nhất khi bạn viết được hay về nó, và bạn chỉ có thể viết hay nếu như bạn thật sự yêu thích và thật sự đắm mình vào cái trải nghiệm đó để thật sự hiểu những bài học mình đã rút ra. Mình sẽ nói sâu hơn về việc viết ở phần sau. Ở đây, cái mình muốn nói là: Lãnh đạo hay không, có đi rừng núi hẻo lánh hay không quan trọng bằng việc có hiểu và trân trọng cái mình đang làm hay không.
F. Lãnh đạo:
Đây là một khái niệm rất được trọng vọng trong mắt nhiều học sinh khi apply. Mình thừa nhận, xã hội và giáo dục Mỹ rất coi trọng việc lãnh đạo, nhưng trong quá trình quyết định nhận hay loại thì khái niệm này hơi khác với cách hiểu thông thường của nhiều học sinh Việt Nam. Định nghĩa chính xác có 2 phần:
  • Lãnh đạo không phải là thành lập một tổ chức, làm (phó) tịch của một câu lạc bộ hay sáng lập một dự án.
  • Lãnh đạo là tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng xung quanh.
Điều quan trọng cần hiểu rằng, khi các trường nói rằng họ muốn tìm lãnh đạo, họ muốn tìm người khi tốt nghiệp có tố chất làm lãnh đạo, chứ không phải một người có một danh sách các chức danh. Vậy thì, để sau khi tốt nghiệp trở thành lãnh đạo cần có cái gì? 2 thứ: kĩ năng lãnh đạo – cái mà trường sẽ dạy bạn trong 4 năm, và một ước muốn thay đổi cộng đồng – cái mà trường muốn thấy trong hồ sơ.
Nói rộng ra, trường muốn thấy một đam mê từ phía bạn. Bạn có thể là một người chơi piano xuất sắc và về sau có thể bạn sẽ soạn ra những bản nhạc mang tính quyết định thời đại, nhưng ở tuổi 16 17 khi bạn vẫn đang hoàn thiện kĩ năng chơi piano của mình, việc bạn lãnh đạo một cái gì đó thật sự hơi không cần thiết.
G. Essays:
Mình sẽ copy lại cái vai trò của essays xuống đây. Essays có 2 vai trò. 1 là để đánh giá khả năng viết của bạn. 2 là để tìm hiểu bạn trên những phương diện khác mà đống điểm chác hay cái list HĐNK không thể truyền tải.
Một essay hay là một essay có chất. Một essay có chất là khi bạn thật sự hiểu mình đang viết cái gì, và vì bạn đang viết về bản thân, nó yêu cầu bạn hiểu bản thân và những trải nghiệm của bản thân. Thế nên mình mới nói một counselor thật sự kiên nhẫn và cố gắng tìm hiểu bạn là rất quan trọng, để từ đó bạn có thể đặt ra những câu hỏi từ từng bản draft bạn viết ra, qua đó cải thiện chiều sâu và cái chất của bài essay.
Sáng tạo? Đừng có cố phải viết ra cái gì mới lạ để wow người ta. Người ta đọc essays từ khắp nơi trên thế giới trong rất nhiều năm rồi, chả có gì người ta chưa đọc đâu, nên bạn không có cửa làm người ta bất ngờ đâu. Cố quá thành quá cố đó. Cái mình muốn nói về việc sáng tạo là ý tưởng nào cũng có thể viết được, miễn là bạn đủ hiểu nó, và tìm ra đúng cách để thể hiện nó. Hồi mình viết PS, mỗi lần viết mình thử đi thử lại những format những structure những phong cách viết khác nhau để xem cái nào phù hợp và hiệu quả nhất. Mình bị chị app dập liên tục trong khoảng 2 tháng, mỗi lần bị dập là mình xóa đi viết cái mới. Cho đến khi 2 tuần trước deadline 1/11 mình tìm ra được format hiệu quả (dù tận 1000 từ) và cũng là lần đầu chị ý nói đọc bài thấy thích. 1 tuần sau đó mình có PS chính thức hoàn chỉnh.
Một câu hỏi mình hay được nhận là có nên điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp với hình mẫu trường muốn không. Câu trả lời là không. Và mình sẽ không hô hào rằng bạn muốn được nhận vì chính con người mình hay blablabla,… mà mình sẽ trả lời một cách thực tế hơn. Mỗi trường đều có cái gọi là institutional need. Tức là họ muốn một khóa và một môi trường đa dạng, nên mỗi lúc họ muốn một kiểu học sinh. Hôm nay họ muốn thằng bú mình trong phòng nghiên cứu, ngày mai muốn con nhà thơ, ngày kia muốn thằng lập trình, ngày kìa muốn con hoạt động xã hội,… Cái institutional need này thay đổi liên tục và bạn không thể nào biết được lúc nào trường muốn học sinh kiểu gì. Thế nên cơ hội tốt nhất của bạn là phản ánh chân thực bản thân mình và mong rằng trường đang tìm kiếm một người như mình.
Không có công thức nào để viết essay hay đâu nha. Nếu bạn thật sự hiểu mình đang viết cái gì thì tự khắc nó sẽ hay thôi.
H. Những nguồn giúp đỡ:
EducationUSA là nguồn miễn phí và chính xác nhất bạn có thể kiếm được ở Việt Nam. Bên cạnh đó, hãy hỏi những người khóa trên đi trước, vì họ là một trong những người duy nhất không có động cơ cá nhân để trục lợi từ việc giúp đỡ bạn.
Và sau khi viết ra cái note dài vcl này, để thật sự take it all the way, thì mình muốn đưa bản thân ra giúp đỡ khóa sau. Trừ essay SAT mới với ACT ra nhé, còn lại essay IELTS, TOEFL, hay PS và supps, mình luôn sẵn sàng đọc và nhận xét (dù có thể không phải ngay lập tức). Nếu muốn và sẵn sàng chia sẻ bạn có thể ib mình và mình sẽ đọc và rep ngay khi có thể.
Không chỉ vậy, nếu cho đến bây giờ 1518 có ai không có ai giúp xuyên suốt cả quá trình thì có thể tìm đến mình. Cả các khóa sau 1518 nữa mình sẵn sàng giúp đỡ các khóa sau trong quá trình apply này. Đương nhiên là mình nghĩ các bạn nên đến EducationUSA trước, nhưng mình cũng lo là như vậy sẽ đặt gánh nặng lên vai những chuyên viên ở đó, nên nếu ai muốn mình giúp thì luôn có thể inbox và mình sẽ giúp hết sức có thể.
I. Vài lời cuối:
Quá trình apply đi Mỹ ở Việt Nam hiện giờ như một chiến trường và một cuộc đua, nhưng nó không cần thiết phải như vậy. Mọi người tập trung quá nhiều vào việc so đo mình với người khác trong khi quá trình này là về bản thân bạn, là về tìm được nơi phù hợp với bản thân bạn. Những quan niệm sai lầm về HĐNK, lãnh đạo, essays hay sự thần thánh hóa US News College Rankings khiến cho mọi người tự hại mình theo rất nhiều cách khác nhau. Và trên hết, nhiều người không có được nguồn giúp đỡ tử tế. Cho đến giờ mình đã dành tới 4h đồng hồ để viết ra cái note này với mục tiêu giải quyết phần nào những vấn đề đó. Nếu đọc được xin hãy share để cái note này có thể đến được với các khóa sau nữa mà mình không hề quen biết, nhưng có thể sẽ rất cần được đọc những gì mình viết ở đây.
Chúc 1518 một mùa app may mắn. Và từ 1619, mình mong là với cái note này, các em sẽ sẵn sàng hơn và vững tâm hơn cho những gì phía trước.

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

Minh Bùi tên đầy đủ là Bùi Quang Minh tên thường gọi là Minh Beta, sinh năm 1983 là một người bạn của Thịnh. Minh Bui apply học bổng Fulbright nhưng sau đó lại xin học bổng của trường Harvard chứ không lấy Fulbright nữa. Dưới đây là bài viết tóm tắt quá trình apply MBA và chia sẻ kinh nghiệm của Minh Bui. Minh nghĩ sao viết vậy, hy vọng giúp ích được ít nhiều cho các bạn sẽ apply những năm tới.

 

 

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

 

… Gọi là giấc mơ Harvard vì cái tên này là ước mơ của mình từ khi còn học high school ở Ams. Lúc đó nó chính xác là một giấc mơ, rất rất xa vời. Đến giờ, khi nghĩ đến việc mình sắp được sang Harvard để học MBA, mình vẫn còn lâng lâng :D.

 

Disclaimer: Cái note này ghi chép lại những kinh nghiệm cá nhân của mình trong quá trình apply để đi học MBA. Những đánh giá và nhận định ở đây có thể mang tính chủ quan. Mình viết bài này để dành riêng cho mình, và cũng mong muốn chia sẻ một chút gì đó với các bạn đi sau. I tend to rant, so bear with me. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng nhé 😀

 

Quick facts (cho các bạn chưa biết về MBA):

  1. MBA là gì: MBA = Master of Business Administration, tức là Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh. Khác với các bằng thạc sĩ khác, MBA đa số đều yêu cầu bạn có kinh nghiệm làm việc một vài năm. Bạn không cần phải có background về business/economics để học MBA, hầu như ngành nào cũng có thể theo học MBA.
  2. GMAT là gì: GMAT là một bài test mà hầu hết các trường danh tiếng đều yêu cầu khi bạn apply học MBA
  3. Học MBA làm gì: Để nâng cao kiến thức về lĩnh vực quản trị & kinh doanh (duh), để chuyển từ công việc chuyên môn lên các vị trí quản lý, để được tăng lương (nếu bạn xác định muốn đi làm cho các công ty/tập đoàn sau khi tốt nghiệp) hoặc để nâng cao kỹ năng về business start-up nếu bạn muốn làm riêng.
  4. Bằng MBA khá có giá trị, nhất là các trường top. Ví dụ như các sinh viên của Harvard và Stanford khi tốt nghiệp có rất nhiều cơ hội việc làm, với mức lương khởi điểm trung bình lên tới $140,000 một năm chưa kể bonus cuối năm.  Vì nó có giá trị nên rất nhiều người muốn theo học, như Stanford có đến hơn 7000 hồ sơ xin học cho lớp học hơn 300 sinh viên, mà toàn là các nhân vật hoành tráng apply cả.

 

I.               MY STATS:

 

–       Mình qua Úc học bằng học bổng AusAID của chính phủ Úc, tốt nghiệp Sydney University năm 2007 với bằng 1st class honors, có một vài awards và học bổng của trường.

–       GMAT 750 (Q50, V41) or 98 percentile.

–       TOEFL được waiver nhưng lúc thi để nộp Fulbright là 113/120 TOEFL iBT.

–       Work: 2 năm làm research/trading commodities ở Louis Dreyfus Commodities (công ty MNC về commodities, gốc Pháp, văn phòng ở Singapore), sau đó về VN mở business riêng (DOCO Donuts & Coffee), rồi vừa run biz vừa rejoin LDC, văn phòng ở Việt Nam (senior position).

–       Extra: Vice President của hội sinh viên VN ở NSW, Úc (VDS), tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, một vài giải thi hát, 1 bài hát đã released, tham gia 1 vài dự án phim ảnh linh tinh…

 

II.              KẾT QUẢ APPLY:

 

(Khi viết tên các trường mình sẽ mở ngoặc kèm theo Rank xếp hạng chương trình, theo US News 2013 để các bạn dễ hình dung, ví dụ Harvard (#1) và Stanford (#1) vì 2 trường này đồng hạng cao nhất trên US News)

 

–       Tháng 4/2011, mình apply học bổng Fulbright (học bổng toàn phần của chính phủ Mỹ). Tháng 9 thì nhận được học bổng này. Bước tiếp theo là apply vào các trường.

–       Fulbright đứng ra apply cho mình vào 4 trường: Stanford (#1), UC Berkeley (#7), UCLA (#15), và Emory (#19).

–       Cả 4 trường này mình đều phải làm hồ sơ như 1 applicant bình thường. Ngoài ra mình còn tự apply thêm nhiều trường nữa – tổng cộng là hơn 10 trường, tất cả đều cùng một Round với deadline trong tháng 1/2012. Lý do: Sợ là không vào được trường nào, apply nhiều cho chắc. Lúc đó mình đang có học bổng Fulbright nên sống chết cũng phải vào được 1 trường nào đó.

–       Kết quả: mình được nhận vào tất cả các trường mình applied (Harvard, Stanford, Wharton, Berkeley Hass, Cambridge, Chicago). Đa số các trường đều cho $$$. Có một vài trường mời đi phỏng vấn thì mình từ chối vì lúc đó đã có Admit của các trường mình thích hơn rồi. Đa số các trường đều cho học bổng. 3 trường xếp hạng cao nhất là Stanford (#1), Harvard (#1),  và Wharton của U.Penn (#3) release kết quả vào 3 ngày liên tiếp là 28, 29, 30 tháng 3 (!)… và mình được Admitted vào cả 3 trường. Rất rất hài lòng với kết quả này, vì thật sự thì đây là một điều khá ít khi xảy ra, kể cả với các bạn Mỹ. I’m really proud of this achievement.

 

III.            VÀI KINH NGHIỆM CHUNG

 

1.     Start early:

–       Nếu mình có lời khuyên nào cho các bạn, thì lời khuyên quan trọng nhất là hãy chuẩn bị càng sớm càng tốt. Nếu bạn xác định được là mình muốn theo học MBA thì bạn sẽ chú ý để luyện tiếng Anh nhiều hơn, có thêm thời gian học GMAT, đạt kết quả học tập ở bậc đại học tốt hơn, và chăm chỉ tham gia các hoạt động ngoại khóa hơn…

–       Đến giai đoạn nước rút thì thời gian càng quan trọng. Mình chỉ có 2 tháng để thi lại GMAT và viết essays, and I kick myself often for delaying all this until the last minute.

 

2.     Aim high:

–      Năm 2011, khi đã xin được học bổng Fulbright, mình còn không có ý định apply lại vào Harvard vì tự nhiên lúc đó thấy lười biếng và nghĩ thôi học trường nào cũng được. Đó là lý do mình không ôn lại GMAT sớm hơn và không apply trường nào ở Round 1. Đến khi bắt đầu apply ở Round 2 thì càng ngày càng máu và lúc đó mới quyết tâm apply vào Harvard và Stanford. Lúc này thời gian không còn nhiều nữa, mình vừa phải đi làm, vừa phải ôn GMAT và vừa phải viết essays trong khoảng thời gian rất ngắn.

–       Nếu tâm lý mình không thay đổi kịp, thì mình đã không apply vào Harvard và Stanford, và mình cũng không lo thi lại GMAT hay chắm chúi đầu tư vào essays. Không apply thì đương nhiên không được nhận.

–       Do đó, mình khuyên các bạn chuẩn bị sớm và aim high để đạt kết quả tối ưu.

 

3.     Know your story and be focused:

–       Mình khá là may mắn vì các công việc và ngành học của mình lại rất liên quan đến nhau. Nói là may mắn vì mình không plan trước những việc này, mà toàn là hứng lên thì theo, may thế nào lại vẫn liên quan 😀

–       Nếu các bạn xác định được từ sớm, thì bạn hãy nhìn sự nghiệp của mình như một cái cây đang lớn thẳng. Hãy biết bạn đang ở đâu, bạn đang mọc như thế nào và bạn muốn vươn đến đâu. Các công việc của bạn nên nằm trên đường thẳng đó, hoặc là đừng có chệch quá và đừng nhảy lung tung. Nếu bạn thay đổi liên tục, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi giải thích những quyết định này – Admissions people sẽ nghĩ quyết định học MBA của bạn cũng là 1 cái random choice.

–       Sẽ tuyệt vời hơn nữa nếu bạn kết nối được cái cây đó đi xa hơn nữa, đến những điểm bắt đầu là tuổi thơ, là quá khứ, là cội nguồn, là những mong ước thơ bé của bạn. Nếu đường thẳng đó chạm được đến những cái gốc rễ sâu kín nhất thì nó sẽ vững chắc hơn nhiều, và như một cái cây có gốc, nó sẽ dễ đơm hoa kết trái hơn!

–       Ví dụ như câu chuyện của mình: Mình học đại học với 3 majors, gồm có Economics, Finance và Agribusiness. Công việc của mình ở Louis Dreyfus là về commodities (research và buôn bán đường, coffee, oilseeds… cả futures contracts lẫn physical products). Mình đã start-up DOCO Donuts & Coffee – về lĩnh vực thực phẩm ăn uống. Khi viết essays, mình đã nhắc đến quá khứ nghèo khó của gia đình, khi mà thực phẩm là nỗi ám ảnh và là mong ước hạnh phúc. Mình đã nhắc đến những người họ hàng gần còn nghèo khó, phải chạy bữa hàng ngày. Và mình nói về kế hoạch trong tương lai: làm về food processing, để bring customers food and happiness, để tạo việc làm cho nhiều người và để benefit Vietnam’s agriculture.

 

4.     However, be fun

–       Sự nghiệp của bạn nên là 1 cái cây lớn thẳng, nhưng bạn nhớ tô màu cho nó. Đừng quá tập trung vào việc học tập và công việc mà quên đi các lĩnh vực khác.

–       Hãy là một leader trong mọi lĩnh vực, kể cả trong hobby của bạn. Đối với mình, mình thích âm nhạc và hát hò, nên cái hobby này đã đi suốt với mình từ khi mình còn học đại học. Hãy dùng mọi resouces của bạn để vừa enjoy cái hobby đó, vừa làm được điều gì có ích và phát triển kỹ năng leadership của mình.

–       Trong bài essays và khi phỏng vấn, Ad-com tỏ ra rất quan tâm khi mình viết về dự án âm nhạc của mình (Việt Nam ơi). Thậm chí họ còn mở bài hát trên youtube ra xem :D.

–       Mình nghĩ ad-com đánh giá cao các ứng viên năng động, dám sống hết khả năng với các lĩnh vực mình quan tâm.

 

5.     Be humble, personal and sincrere

–       Khi làm hồ sơ xin học, nhất là cho các trường top, nhiều bạn có tâm lý là phải gồng mình lên để thể hiện. Don’t. Hãy để các con số và các thông tin khác trong Data Sheet tự nói lên các thành quả của bạn, đừng kể lể quá nhiều về chúng.

–       Các trường rất kị các ứng viên arrogant. Họ muốn tìm các ứng viên khiêm tốn và thành thật. Họ muốn thấy bạn đã có những thành công nhất định nhưng lại rất open to learn, và willing to change.

–       Khi viết essays, mình viết nguyên 1 bài essay khá personal, lead bằng cái tên Minh Beta. Mình giải thích tại sao mình chọn cái tên này, và nó liên quan gì đến cách suy nghĩ và nhìn nhận của mình. Đây là 1 đoạn trích trong bài essay cho Harvard:

 

Answer a question you wish we’d asked? (400 words)

 

I wish you’d asked: “Why do you often go by the name Minh Beta?”

 

I have used this pseudonym for years to distinguish myself from others named Minh Bui, a popular Vietnamese name. I appreciate that Beta refers to an “unfinished” product, which resonates with my life’s philosophy; I consider myself a “work in progress” and a change agent, constantly seeking self-improvement and subsequently creating positive societal change.”

 

6.     Apply for as many as you can!

–       Nhiều người sẽ khuyên bạn là nên tập trung vào 1 vài trường thôi. Mình thì nghĩ khác. Chiến lược của mình là tập trung apply vào 3-4 trường chính, nhưng rải hồ sơ khắp nơi. Kinh nghiệm của mình là các trường thường hỏi nhưng câu essays khá giống nhau, nếu không giống thì cũng biến tấu từ essay này sang essay kia được, và không mất quá nhiều thời gian. Tất nhiên là cái này tùy vào goal của từng bạn, và đương nhiên là đừng mất công apply vào trường nào bạn không định đi học nếu được nhận. Apply vào nhiều trường thì khả năng được nhận vào trường tốt của bạn sẽ cao hơn.

–       Mình apply cả chục trường, và dùng bài luận của Berkeley và Harvard làm gốc để phát triển ra essays của các trường khác. Trong tháng 1/2011, trung bình 2 ngày mình apply 1 trường. A lot of copy and paste! Nhưng đương nhiên là mình phải nhào nặn cho khớp câu hỏi của từng trường. This strategy worked for me.

 

IV.            CÁC YẾU TỐ RIÊNG

 

1.     GMAT

 –       Mình không có bí quyết ôn thi gì đặc biệt, nhưng mình khá là thích GMAT vì nó rất “smart”. Vì thích nên mình cảm thấy học cũng dễ vào hơn.

–       Mình recommend các bộ sách: Official, Manhattan và Sentence Correction Bibble. Trang web của Manhattan với các bài tests cũng rất hay và sát với bài thi thật.

–       Kỹ năng quan trọng bậc nhất của GMAT là quản lý thời gian. Cái này tuy đơn giản nhưng bạn phải thật sự kỷ luật. Mình thi GMAT mấy lần mà khi thi lần cuối vẫn không thật sự gò mình theo biểu đồ thời gian hợp lý được, vẫn bị tâm lý la cà và “làm cố” để đúng.

 

2.     Resume

 –       Ngắn gọn hết sức. Resume của mình nộp cho các trường chỉ 1 trang. Năm nay Harvard thay đổi essays ngắn hơn năm ngoái rất nhiều, nên Resume có lẽ phải dài hơn. Nhưng dù gì thì cũng mình nghĩ không nên để Resume quá dài.

–       Dùng “Action verbs”, các từ mạnh, mang tính tích cực. Tham khảo: http://www.ocs.fas.harvard.edu/students/resources/resume_actionwords.htm

–       Cố gắng miêu tả thành quả và kinh nghiệm bằng các con số và chỉ số cụ thể mang tính định lượng. Đừng miêu tả chung chung.

–       Nếu có thể thì hãy viết resume để nêu bật được định hướng và khả năng về leadership của bạn.

 

3.     Essay

 –       Liệt kê tất cả những gì bạn muốn chuyển tải ra và tìm cách “nhét” chúng vào các câu trả lời Essays. Một hướng tốt là liệt kê các câu chuyện theo nhiều chiều, nhiều phương diện. Các câu chuyện của bạn nên phản ánh nhiều chiều về cuộc sống của bạn, về thời gian (cũ vs gần đây), lĩnh vực (công việc v.s sở thích), cá nhân v.s cộng đồng…

–       Hãy nhớ là Data sheet đã chuyển tải được khá nhiều thông tin về bạn, nên đừng phí nhiều word count ở Essay để lặp lại thông tin.

–       Do not brag! Tell things the way they are. People will be impressed if your stories are impressive.

–       Cố gắng viết súc tích và truyển tải càng nhiều thông tin càng tốt. Mình đã bỏ rất nhiều thời gian để dò từng

chữ một, cân nhắc chữ nào cần chữ nào không. Vì bạn chỉ có ngần đó chữ, make them count!

–       Khi viết essay và chuẩn bị hồ sơ, hãy tiên lượng những mối băn khoăn người đọc sẽ hỏi về bạn. Tại sao bạn lại chọn công việc này? Tại sao bạn bỏ việc kia? Tại sao bạn thích hát mà không đi làm ca sĩ chuyên nghiệp… Bạn chỉ có một cơ hội để giải thích những điều này trong hồ sơ. Nếu Adcom (Admissions Committee) có băn khoăn điều gì thì họ cũng sẽ không có cơ hội hỏi bạn – until U get an interview. Mà với các trường top thì họ có quá nhiều good applicants – they simply wont take the risk.

 

4.     Interview

 –       Tùy trường, nhưng theo mình thì Interview chỉ để họ hiểu thêm về bạn. Tất nhiên cũng tùy từng trường hợp, nếu application của bạn thật sự tốt thì Interview chỉ để confirm điều này. Cũng có thể là họ thích hồ sơ của bạn nhưng có một vài thắc mắc… hoặc là họ đã định cho bạn Out nhưng muốn cho bạn thêm một cơ hội cuối cùng. Nhìn chung thì Interview không mang quá nhiều sức nặng – trừ khi bạn perform exeptionally well/badly, đó là cảm nhận của mình.

–       Lời khuyên này bạn sẽ nghe nhiều & thấy nhàm, nhưng vẫn đúng: Just be yourself. Các trường chỉ muốn thấy bạn là người tự tin, có common senses, nhanh nhạy và có thể survive in the business world.

–       Nhưng đồng thời, preparation is the key. Khi chuẩn bị phỏng vấn cho Harvard, mình đã list ra tất cả các điều trên trời dưới bể họ có thể hỏi và ứng phó thử, để nếu không may họ hỏi một vài câu hỏi cắc cớ thì mình không bị động. Cuối cùng thì buổi phỏng vấn diễn ra rất tự nhiên, như là coffee chat vậy (thank god!).

 

Mình cũng chỉ biết đưa ra các lời khuyên chung chung như vậy để các bạn tham khảo. Nếu bạn nào có câu hỏi cụ thể thì có thể tham gia vào buổi Coffee Chat tại Hà Nội vào ngày 26/6 tới.

 

Nguồn: Minh Bui (Minh Beta)

 

Kinh nghiệm nộp học bổng NZASEAN 2016

Mình làm cái gì cũng chậm chạp nhưng mà cuối cùng cũng xong rồi đó. Học bổng NZAid năm nay hạn chót là 30/4 nha. Quy trình nộp đơn và câu hỏi sẽ khác hoàn toàn so với các năm trước, nên các bạn cứ theo hướng dẫn của Đại sứ quán mà làm ha.
Mình có làm 1 video tóm tắt những điều cần suy nghĩ trước khi nộp đơn. Do videoscribe không có phần mềm hỗ trợ tiếng Việt nên mình phải làm bằng tiếng Anh nha. Làm xong mới thấy có lỗi chính tả nhỏ nhỏ mà không sửa được nữa. Xin lỗi các bạn.
Link: https://www.youtube.com/watch?v=SPvrrkckSAU
Ngoài ra, mình có một số lưu ý như sau:
– Hồ sơ của bạn phải nhất quán từ trên xuống dưới, và cho thấy được sự khát khao đi học của bạn.
– Vì một trong những sứ mạng của học bổng là đào tạo ra những người có thể góp phần thay đổi xã hội, làm điều gì đó cho đất nước phát triển hơn… nên bạn phải chứng minh được bạn là người có ảnh hưởng tới người khác. (Đó là lí do có câu hỏi về khả năng, kinh nghiệm, tinh thần lãnh đạo của bạn.)
– Theo như năm trước thì sẽ có câu hỏi là nước bạn đang gặp vấn đề gì? Bạn muốn giải quyết vấn đề gì của đất nước? Việc đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của nước bạn như thế nào? Rồi góp phần gì vào việc hàn gắn thế giới? Đại loại là như vậy. Do đó điều bạn trình bày phải là điều bạn thực sự trăn trở. Bạn đã làm cách này cách kia mà vẫn không giải quyết được vấn đề đó. Bạn đã tìm hiểu nhiều nơi (kể ra) và bạn thấy chỉ có cách đi du học mới giúp bạn tìm ra cách giải quyết vấn đề này. Tại sao. (phải nêu lí do abcd vào)
Khi viết nhớ có số liệu, dẫn chứng cụ thể. Để cho mọi người thấy bạn có tìm hiểu thực sự, có đọc tài liệu về vấn đề bạn quan tâm, chứ không phải bạn tự tưởng tượng ra. Đây là vấn đề bạn trăn trở tìm tòi bấy lâu chứ không phải bạn mới thích gần đây, thấy hay hay thì nộp đơn thử. Khi dẫn chứng số liệu thì nhớ ghi nguồn tham khảo.
Đây là những điều mình rút ra được sau rất nhiều lần nộp đơn. Haha. Còn lại mình thấy câu hỏi năm nay được chia nhỏ ra, nên cũng dễ cho các bạn sắp xếp ý để trả lời. Nên các bạn cứ theo đó mà làm. Vậy nha. Chúc các bạn may mắn.
Tác giả: An Nhien

6 bước cần làm trước khi nộp học bổng New Zealand ASEAN – HannahEd

Vậy là học bổng New Zealand chính thức mở vào ngày 01/02/2018. Là một trong 30 cá nhân xuất sắc được nhận học bổng này, mình Hannah xin chia sẻ 6 bước cần làm trước khi bạn chính thức bắt tay vào chinh chiến học bổng này. Các bước sau được dịch từ chính website của Đại sứ quán và bằng chính kinh nghiệm của mình.

Bước 1

  • Đọc và hiểu thật kỹ về học bổng New Zealand ASEAN. Mục tiêu của học bổng là gì, bạn sẽ nhận được gì khi nộp thành công học bổng này. Các bạn cần lưu ý học bổng nằm trong chương trình Viện trợ của New Zealand AId và mục tiêu nhằm tìm kiếm những cá nhân có thể đóng góp cho đất nước, cộng đồng, có tương lai trở thành những nhà lãnh đạo. Link:  Our scholarships

“New Zealand Scholarships help to build a cadre of well-educated and highly capable people who can contribute to better development outcomes and help generate sustainable growth in developing countries. We also want to identify innovators and potential leaders, and provide them with opportunities to develop their skills and networks so they can contribute to their home country.”

Bước 2

  • Đọc và hiểu thật kỹ về yêu cầu cơ bản nhất của học bổng, ví dụ bạn cần có ít nhất 1 năm kinh nghiệm làm toàn thời gian và 2 năm làm bán thời gian. Năm 2017 có một bạn sinh năm 1995 mới ra trường nhưng có hai năm kinh nghiệm part-time giành được học bổng. Link: country page (bạn đọc kỹ phần Eligibility và click chọn Vietnam nhé)

“I have at least one year full-time (two year’s part-timework experience relevant to my career and/or preferred qualification unless I am applying straight from secondary school or during my first year of tertiary study (for countries offered undergraduate study).”

Bước 3

  • Đọc và hiểu kỹ hơn những tiêu chuẩn, phẩm chất cụ thể ngoài mức sàn mà học bổng đang tìm kiếm. Link: Who we are looking for .

“You’ve got self-drive: Successful applicants will show ambition and drive to achieve, and will take responsibility for getting things done. They will also have a long-term vision of what they are working towards.”

 

Bước 4

  • Đọc và hiểu nếu được học bổng bạn cần làm gì ví dụ trở về nước làm việc, đảm bảo thành tích học tập tốt, thái độ tốt. Link: we expect from you

Bước 5

Bước 6

  • Đọc và hiểu kỹ hướng dẫn nộp học bổng ví dụ bạn cần nộp học bổng Online, tạo tài khoản và trả lời các câu hỏi trong form online. Link: Application Guidance 

Tác giả: Hannah Dinh – hannaed.com

 

New Zealand ASEAN Scholarship for Vietnam 2018

The New Zealand ASEAN Scholar Awards (NZAS) recognise New Zealand’s close cultural, economic, and geographic ties with Southeast Asia. They seek to empower individuals with the knowledge, skills and qualifications to contribute to the economic, social, and political development of their region. These scholarships are offered for postgraduate level study only.

NZAS are funded by the New Zealand Aid Programme, the New Zealand Government’s international aid and development programme. They are managed by the Ministry of Foreign Affairs and Trade.

The New Zealand Aid Programme offers scholarships to people from Viet Nam who are motivated to make a difference at home.

Applications open from 1 February 2018 to 30 March 2018. Read Application dates for more information.

Eligibility

Applicants from all eligible countries must meet the following conditions to be eligible for a New Zealand Scholarship:

I will be at least 18 years old at the time I start the scholarship.
I am a citizen of a participating country (as listed above) and I am residing in and applying for a scholarship from my country of citizenship.
I confirm that I am not also a citizen or permanent resident of any the following countries: New Zealand, Australia, Israel, South Korea, Japan, USA, any European Union country, Qatar, United Kingdom, Canada, Saudi Arabia and the United Arab Emirates. (Note: This criteria does not apply to people from Niue, Cook Islands and Tokelau who are New Zealand citizens, and it also does not apply to NZ-Samoan dual citizens.)
On 31 December 2018, my country will have been my main country of residence for the last two years or more (unless you are a member of the diplomatic corps or a dependent of a member of the diplomatic corps).
I confirm that I am not currently serving in the military.
I expect to meet immigration requirements for a student visa to New Zealand or the Pacific Island country I will study in (i.e. medical checks, etc.).  Check the following websites for further information:

I expect to meet the academic entry requirements (including English language ability) for my preferred programme of study and institution. Refer to the website of your preferred institution to confirm entry requirements.
I confirm that I have not previously had a New Zealand Scholarship terminated because of poor academic performance (within the past 5 years) or breach of scholarship contract.
I intend to return to my country for two years or more at the end of my scholarship to contribute to my country’s development.
I have at least one year full-time (two year’s part-time) work experience relevant to my career and/or preferred qualification unless I am applying straight from secondary school or during my first year of tertiary study (for countries offered undergraduate study).

(Part-time work is defined as up to 29 hours per week, Full-time work is defined as 30 plus hours per week).

Priority sectors

We want scholars who are interested in studying subjects that can improve the social and economic development of your country. We’ve chosen priority sectors that can help your country and that New Zealand has expertise in.

If you can show that your study is connected to any of these sectors, you are more likely to be selected.

These are the priority sectors:

Agriculture development

  • Agri-business: agricultural economics, agri-business management, agricultural systems and management, rural development, logistics, supply chain and distribution management, value chain development, agriculture marketing, international agribusiness
  • Agriculture production: animal science, veterinary nursing, plant science, horticultural science, soil science
  • Agriculture trade and technology: phytosanitary, bio-security, biotechnology, agricultural trade
  • Post-harvest: food production, food sciences/technology, post-harvest processing, food storage and packaging, food safety

Renewable energy

  • Solar, hydro-electric and wind energy, energy engineering and renewable energy distribution systems,
  • Market reform and sector management, including energy economics and energy efficiency

Disaster risk management

  • Reducing risk: hazard and vulnerability assessment, risk management, natural resource management, geology, geotechnical engineering, water resource management
  • Readiness: disaster preparedness at national level or community level including public education
  • Response: disaster response and emergency management
  • Recovery: economic and social recovery from disasters
  • Climate change adaptation: including planning for infrastructure, land use and water use

Public sector management

  • Economic policy: public financial management, government budgeting, tax reform, public sector auditing, statistics, demography
  • Education: policy, qualifications management and reform, educational quality assurance, meeting workforce needs
  • Public sector leadership: legal reform, public administration, public policy and management, public sector leadership and governance, human resource capacity development, information management
  • International trade and business, trade facilitation, trade policy

Private sector development

  • Business/private sector management and leadership, small and medium sized enterprises (SMEs) development, entrepreneurship, marketing, accountancy
  • Business finance, commerce

Read the What You Can Study page to see examples of qualifications for these subjects.

Selection Preferences

We are guided by both the Priority Sectors (above) and Selection Preferences when shortlisting candidates.

Make sure you understand our Selection Preferences. Including:

  • Preference will be given for study at Masters level
  • Under the ‘private sector development’ area, preference will be given to applicants interested in developing particular capabilities rather than generalist management and business administration
  • Applications from across Viet Nam are welcome, including cities and rural areas, and from ethnic majority and minority groups

Contact us

We get many enquiries that can be answered by reading the extensive information on our website. For example, see EligibilityHow to Apply or Frequently asked questions.

For questions which are not answered by the information on this website, submit an online enquiry here (external link).

Từ kẻ ngỗ ngược thành học giả Fulbright

“Câu chuyện của tôi bắt đầu từ khi là cậu học sinh lười biếng, ngỗ ngược. Tôi đã nuôi dưỡng giấc mơ du học đến khi cánh cửa đại học Mỹ mở ra với mình”, Nguyễn Bá Trường Giang viết.

Tôi sinh ra ở làng quê ngoại thành Hà Nội. Hồi nhỏ, tôi lười học, đến lớp không bao giờ nghe giảng, chỉ mang vở ra vẽ. Có lần, tôi trèo lên nóc nhà giám hiệu, phi máy bay giấy bay lượn. Tôi cứ thầm ước sau này cũng bay cao, bay xa, dù khi ấy học dốt.

Tuổi thơ ngỗ ngược

“Thôi con ạ, con học dốt thế này, suốt ngày lêu lổng, học võ, đánh nhau, tụ tập thì chẳng hy vọng gì đâu”, mẹ đã nói như vậy cách đây đúng 24 năm, khi tôi học lớp 9.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 1
Nguyễn Bá Trường Giang tại lễ tốt nghiệp đại học.

May mắn đỗ vào cấp 3, tôi vẫn tiếp tục… đánh nhau, đốt pháo, nhiều lần bị đuổi học. Năm lớp 11, người bạn thân rủ tôi đi học tiếng Anh để bố cậu ta xin cho vào làm khách sạn. Cuộc đời cậu bé ngỗ ngược bắt đầu thay đổi từ đó.

Tôi và bạn đạp xe đến trung tâm tiếng Anh học giáo trình Streamline A. Hôm đầu vào lớp, nghe thầy nói tiếng Anh, tôi choáng lắm.

Bố mẹ rất vui vì 16 năm qua mới thấy con tôi học. Bố ra trường Sư phạm Ngoại ngữ mua cho băng cát-xét giáo trình Streamline A, B, C. Tôi nghe 1 tháng hết cả ba giáo trình. Chị tôi học trong Nam ra, mang cho cuốn từ điển bé xíu, tôi tra nát cả từ điển, đánh dấu nguệch ngoạc.

Học hết cấp 3, tôi thi đỗ hai trường đại học với điểm khá cao khiến người thân và bè bạn đều ngỡ ngàng. Ai cũng biết đến năm lớp 11, tiếng Anh của tôi chỉ 3,9, đến lớp 12 đã là 8,9.

Nuôi ước mơ du học

Tôi kể câu chuyện về hành trình vươn lên từ một cậu bé lười nhác, ngỗ ngược để nhắn nhủ các bạn trẻ hãy nuôi dưỡng ước mơ, để bước tới cánh cửa du học. Các bạn trẻ hãy quyết tâm, thành công rồi sẽ đến.

Tốt nghiệp đại học, tôi làm giảng viên tiếng Anh và đi dịch kiếm tiền. Đây chính là thời gian tôi rèn luyện, tu dưỡng bản lĩnh để chuẩn bị cho chuyến xuất ngoại đầu tiên của mình.

Tôi học say mê, nghỉ hè cũng lao vào học. Khi tốt nghiệp, tôi đã có hơn 10 cuốn sổ đầy ắp từ mới. Chiếc cát-xét bố mua tặng đã bị gãy nút “tua” vì nghe quá nhiều.

Từ bé, tôi đã mơ thấy cánh cửa đại học Mỹ mở ra. Đến một ngày, có người chị gái thân thiết làm ở Đại sứ quán Mỹ, khuyên tôi xin học bổng Fulbright. Tôi cũng chẳng nghĩ mình đạt được, vì học bổng này rất giá trị. Tôi vẫn đăng ký và được gọi đi thi tiếng Anh. Với sở trường ngoại ngữ, tôi vượt qua các vòng thi tuyển thuận lợi.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 2
Nguyễn Bá Trường Giang và nhóm Fulbrighter 2007 tại nhà Đại Sứ Michael W.Marine.

Bài luận của tôi nói về Việt Nam, về những khó khăn của thế hệ chúng tôi, tình hình chung của đất nước. Tôi thể hiện một niềm tin chắc chắn về tương lai của Việt Nam và kế hoạch tương lai của mình. Tôi hứa đi học về sẽ đóng góp hết lòng để phát triển đất nước. Quy định của Fulbright chỉ cho 800 chữ, nhưng tôi viết gần 2.000 chữ rồi kẹp vào hồ sơ.

Sau này, nhiều người nhờ tôi sửa giúp bài luận khi du học. Trong số đó, có người vào Đại học Harvard, Đại Học Luật Fordham, Michigan (Mỹ). Một em đỗ Đại học Oxford (Anh).

Trở thành học giả Fulbright

Đến vòng phỏng vấn xin học bổng, hai người phỏng vấn tôi, một người Mỹ và một người Việt, mặt mũi nghiêm trọng lắm. Có nhiều ứng viên gặp họ đã run, không biết bắt đầu thế nào. Tôi vào phòng, nhìn hai vị, cười tươi và chào họ. Không đợi họ hỏi, tôi bắt đầu câu chuyện ngay bằng câu hỏi xã giao: “Ông sang Việt Nam lâu chưa? Thời tiết oi bức quá, ông có quen không?”.

Chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Vị giáo sư đó hỏi: “Trong bài, tôi thấy em viết câu này, em có quan điểm thế nào mà viết thế?”. Tôi trả lời: “Tôi xin đính chính là không viết như thế…”. Người đó mỉm cười.

Sau này tôi mới biết đó là thủ thuật để xem người đối diện có phải tác giả thực sự của bài viết không. Chúng tôi ngồi nói chuyện về kinh tế Việt Nam, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực…

Tôi giành học bổng Fulbright trong sự vui mừng của gia đình và bạn bè. Sau một năm chuẩn bị, tôi được nhận vào trường Cornell, một trong 8 đại học thuộc nhóm Ivy-League (Havard, Yale, Princeton, Cornell, Dartmouth, Brown, Colombia, Pennsylvania). Các trường này có chất lượng giáo dục rất tốt.

Nguyễn Bá Trường Giang là học giả Fulbright, tốt nghiệp khoa Kinh tế, Đại Học Cornell, New York và khoa Luật, Đại học Luật Boston, Mỹ.

Trường Giang từng giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ – Văn hóa Anh – Mỹ, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; làm cố vấn pháp luật cao cấp tại Hãng luật Baker & McKenzie; giám đốc pháp luật tại Tập đoàn Thiên Minh và hiện là chuyên gia cao cấp tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).

Nguồn: https://news.zing.vn/tu-ke-ngo-nguoc-thanh-hoc-gia-fulbright-post616540.html

Kinh nghiệm xin học bổng Fulbright – ngành Báo Chí

 “Tôi chuẩn bị hồ sơ xin học bổng Fulbright trước một năm và cho rằng đây là một phần bí quyết thành công”, nhà báo Vĩnh Khang, người giành học bổng Fulbright năm 2015-2016, viết.

Khi xin học bổng Fulbright 2015-2016, tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ từ các Fulbrighters đi trước. Nhân dịp Fulbright 2017 khởi động, tôi xin chia sẻ một vài kinh nghiệm với những bạn trẻ quan tâm.

Kinh nghiem xin hoc bong Fulbright hinh anh 1
Nhà báo Vĩnh Khang (hàng đầu bên phải) cùng các bạn bè trong chương trình thạc sĩ báo chí.

1. Bạn chưa biết bắt đầu từ đâu?

Các bạn nên bắt đầu bằng việc tìm hiểu tiêu chí của Fulbright, xem mình có và chưa có gì. “Biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”, hãy google những bài chia sẻ kinh nghiệm của những người đi trước để tham khảo.

Tiếp đến là thi tiếng Anh, bạn viết tất cả những ý tưởng cho bài luận ra giấy hay điện thoại, chờ đến ngày đặt bút viết.

Nếu có thời gian, bạn có thể liên lạc với một số Fulbrighters đi trước, mời họ cà phê, trò chuyện. Hỏi về kinh nghiệm chỉ là một phần, bạn nên quan sát con người họ, như tính cách, cách nói chuyện, quan điểm trong các vấn đề… Điều này giúp ích rất nhiều ở vòng phỏng vấn.

Theo quan sát của tôi khi tìm hiểu về các Fulbrighters, khi học xong, quay về Việt Nam, họ có thể thành công hoặc không, hay chưa làm được những việc như kỳ vọng, nhưng họ có một điểm chung: Không “nhạt”.

Lời khuyên nữa cho các bạn là chuẩn bị sớm. Tôi chuẩn bị hồ sơ trước cả một năm và cho rằng đây là một phần bí quyết thành công.

2. Tại sao chọn Fulbright, không phải học bổng khác?

Khi lên kế hoạch du học, tôi cũng tham khảo một số học bổng khác. Tôi nộp hồ sơ và có lần cũng vào được đến vòng phỏng vấn, nhưng có thể không hợp tiêu chí và bản thân tự cảm thấy không thực sự tha thiết nên chưa thành công.

Mỗi học bổng đều có những tiêu chí riêng, bạn nên đầu tư vào học bổng phù hợp với mình, đừng rải hồ sơ, mất thời gian. Tôi thấy phù hợp các tiêu chí của Fulbright, từ ngành nghề, kế hoạch cho tương lai và cả yếu tố con người nữa.

Kinh nghiem xin hoc bong Fulbright hinh anh 2
Nhà báo Vĩnh Khang tại nơi theo học.

3. Báo chí văn hoá vẫn xin được học bổng Fulbright?

Một bạn từng hỏi tôi như vậy cách đây khá lâu. Thực tế, Fulbright không phân biệt nghề nghiệp hay lĩnh vực nào cả, vấn đề bạn phải thuyết phục được những người chấm hồ sơ và trình bày ấn tượng trong vòng phỏng vấn.

Nếu trong đầu bạn chưa có ý niệm cụ thể về công việc mình làm, nó đóng vai trò gì trong xã hội, thì dù làm lĩnh vực gì cũng vậy thôi, không nên xin học bổng. Không riêng gì Fulbright, các học bổng khác cũng là “con đường” dài và rất nhiều người nản chí dọc đường. Đừng phí thời gian.

Cá nhân tôi đã xây dựng một kế hoạch (short term và long term vision) dựa trên chuyên môn của mình, gắn liền đơn vị công tác và cả những hoạt động cá nhân. Một kế hoạch chặt chẽ, khả thi, ảnh hưởng xã hội sẽ thuyết phục được hội đồng.

4. Điểm tiếng Anh có quan trọng không?

Học bổng Fulbright cấp cho các ngành khoa học xã hội. Điều dễ dàng nhận thấy là khi học, câu nói “tiếng Anh chỉ là công cụ” chỉ đúng với người học kỹ thuật hoặc khoa học tự nhiên. Với ngành xã hội, tiếng Anh rất quan trọng.

Riêng Fulbright, các bạn cần nộp điểm tối thiểu TOEFL iBT = 79; IELTS = 6,5 là đủ điều kiện. Nếu bạn nào chưa thi tiếng Anh, lời khuyên là nên thi luôn TOEFL iBT, vì dù có nộp IELTS thì khi được chọn, bạn vẫn phải thi TOEFL iBT. Bài thi TOEFL iBT khó hơn IELTS. Ôn thi TOEFL IBT mệt hơn, căng thẳng hơn, nhưng đề lại hay hơn.

5. Người viết thư giới thiệu chức càng to càng tốt?

Người viết thư giới thiệu nên liên quan lĩnh vực của bạn, cũng như hiểu rõ bạn sẽ làm được gì. Ứng viên phải có 3 thư giới thiệu, đồng nghĩa có 3 cơ hội “tiếp thị” hình ảnh tới hội đồng.

Bạn có thể chọn 3 người hiểu về mình ở 3 khía cạnh khác nhau, cũng như nhìn nhận công việc và kế hoạch của bạn ở 3 góc nhìn, quan điểm khác nhau. Như vậy, sẽ hiệu quả hơn nhiều so với 3 bức thư gần giống nhau.

Ví dụ, lĩnh vực của tôi là báo chí, tập trung mảng văn hóa nghệ thuật. Tôi chọn một tổng biên tập viết thư, một nghệ sĩ (ca sĩ Trần Thu Hà), một người trong lĩnh vực báo chí có tầm nhìn bao quát xu hướng báo chí Việt Nam và quốc tế (Nguyễn Danh Quý – Editor in Chief của ELLE Vietnam).

Bác Tổng biên tập sẽ đánh giá mình ở khía cạnh chuyên môn báo chí; ca sĩ Hà Trần đánh giá hiểu biết (có thể cả hạn chế) về nghệ thuật, anh Quý đánh giá về khả năng hiểu biết, hoà nhập xã hội, cũng như học tập của mình ở môi trường quốc tế.

6. Bài luận nên viết gì và cấu trúc thế nào?

Đây là mấu chốt của sự thành công. Mỗi người có con đường riêng đến với sự thành công, nhưng tựu trung, bài luận ý tứ phải rõ ràng, câu cú đơn giản, dễ hiểu, tránh trình bày chung chung, mọi thứ cần phải cụ thể. Các bạn có thể nhờ người sửa lại, nhưng “có bột mới gột nên hồ”. Nếu không có ý gì trong bài luận, ai sửa cũng vậy thôi.

Tôi chọn cách viết thư dạng “xuyên không”, từ tương lai, đã nhận Fulbright, học xong và thực hiện những kế hoạch, rồi quay về quá khứ – nhìn mình từ lúc mới ra trường, gặp khó khăn gì trong công việc và cuộc sống; quyết định xin học bổng Fulbright để nâng cao kiến thức như thế nào.

Bằng cách này, tôi vừa giới thiệu được kiến thức nền mà không khô cứng, cũng như khoe được kế hoạch, mục đích, khiến hội đồng tò mò đọc tiếp bài luận tiếp theo (cụ thể hơn về kế hoạch tương lai). Nó cũng khiến họ muốn biết con người thực ngoài đời của người viết.

Riêng bài Objective Statement, tôi chọn cách viết tiểu luận, gồm Introduction, Body và Conclusion. Phần Body, tôi trình bày theo lối diễn giải và theo thứ tự Firstly, Secondly…, rồi đến topic sentence và supporting sentence.

Bài luận này sẽ hỏng nếu bạn trình bày chung chung. Hội đồng muốn xem ứng viên hiểu thế nào về kế hoạch đề ra, nên hãy cụ thể mọi thứ. Một bài viết dạng creative và 1 bài essay là cách tôi cân bằng.

7. Trả lời như thế nào ở vòng phỏng vấn?

Đây cũng là vòng rất quan trọng. Mỗi ứng viên có cách trả lời phỏng vấn khác nhau. Sau khi tham khảo vài người nhằm chuẩn bị tâm lý, tôi chọn cho mình cách trả lời riêng. Nhìn lại, tôi cho rằng, mình thành công nhờ chuẩn bị tốt, phong độ tốt và hài hước.

Chuẩn bị tốt là tự “mổ xẻ” hồ sơ của mình, xem hội đồng sẽ hỏi những gì. Khi đọc một dòng, bạn sẽ tự phản biện những gì trong đó. Ví dụ, tôi từng viết rằng “sẽ tiếp tục làm báo in”, thì phải nghĩ ngay đến câu hỏi: “Thời đại công nghệ, tại sao cậu vẫn đi làm báo in?”…

Riêng về phong độ tốt thì khó nói lắm. Với cá nhân tôi, ăn đều, ngủ khoẻ, tập gym không sót ngày nào, là có phong độ tốt ngay.

Hài hước? Khi vào phỏng vấn, nếu không phải chính mình, bạn sẽ thiếu thoải mái và mất tập trung. Thế nên, bạn hãy hài hước nếu là người hài hước.

Tôi từng bảo với hội đồng hãy đọc báo in vì nó chứa đựng những lời vàng ngọc của những người sắp chết. Nói chung, có nhiều câu “bá đạo” nữa và tôi thấy hội đồng mấy lần cười nghiêng ngả.

Thái độ trong phòng phỏng vấn cũng rất quan trọng, bạn nên tập trung, vui vẻ, chân thành và cầu thị.

Nhà báo Vĩnh Khang từng nhận học bổng Fulbright 2015 – 2016, nghiên cứu thạc sĩ ngành Báo chí. Hiện, anh công tác tại báo Nông Nghiệp Việt Nam.

Vĩnh Khang học tại Newhouse School and Public Communication (Syracuse University, New York, Mỹ). Đây là trường được xếp hạng tư trong danh sách các trường đào tạo Báo chí tốt nhất nước Mỹ năm 2015.

Anh cũng tham gia cộng tác với nhiều tờ báo như ELLE, Người Đẹp, 2!, Tiền Phong, VietNamNet.. và có một số bài đăng trên báo Mỹ.

Nguồn:  https://news.zing.vn/kinh-nghiem-xin-hoc-bong-fulbright-post612964.html

Các “cách” làm giảm cơ hội được học bổng – Long D Hoang

* Cảnh báo:

Bài này tiếp tục nói về thái độ trước, trong, và sau khi săn học bổng. Người viết sẽ nói thẳng. Mọi người cân nhắc trước khi đọc. Người viết không chịu trách nhiệm về việc có ai đó đọc xong rồi cảm thấy khó chịu.

* Chú ý:

  • Quan điểm của người viết: Không làm bất cứ việc gì với thái độ “liều ăn nhiều” – cầu may mắn. Không ai muốn trao cơ hội cho người không đủ nghiêm túc như vậy cả.
  • Bài viết dựa trên kinh nghiệm đọc và phản biện cho hàng trăm hồ sơ xin học bổng (cả đạt và không đạt). Khi tôi viết “nhiều người”, ý là nhiều người mà tôi đã được biết qua các hồ sơ trên.
  • Bài mang thể hiện quan điểm và bức xúc cá nhân.

Ai không đồng ý với những điều trên này hoàn toàn có thể dừng đọc tại đây.


Ở bài trước, tôi đã nói về cách tính toán cơ hội khi săn học bổng. Bài này sẽ dành cho những trường hợp tạm gọi là “thiếu hụt về nhận thức” khiến cho cơ hội đạt học bổng giảm đi. Thực ra đây chỉ là việc tổng kết và nhắc lại những gì mình đã nói (nhiều nội dung trùng với phần 2). Tuy nhiên tôi nhận thấy mình cần nói lại để đập tan nhiều ảo tưởng kì cục của nhiều người.

Chú ý: ngay cả khi mắc tất cả các lỗi này, người ta vẫn hoàn toàn có khả năng lấy được học bổng. Tuy nhiên khả năng đó rất thấp, và khi đó việc được học bổng hoàn toàn do may mắn.

1.   Du học khi kinh nghiệm chưa đủ về chất và lượng

Những người chưa đủ kinh nghiệm rất khó xin được học bổng. Bởi vì không có kinh nghiêm thì không thể biết được mình cần kiến thức gì, cần chọn khóa học nào cho chính xác. Mà khi chính mình còn không biết thì làm sao thuyết phục được ban xét duyệt học bổng.

Một số trường hợp dạng này:

Du học khi kinh nghiệm chưa đủ lượng

Một điều thường thấy: các bạn muốn du học thạc sỹ ngay sau khi tốt nghiệp đại học mà lại muốn có cả học bổng toàn phần nữa. Những trường hợp này đương nhiên không có chút kinh nghiệm làm việc nào nên không biết chọn khóa học phù hợp.

Những ứng viên có thể chọn được khóa học phù hợp để học tiếp luôn bậc thạc sỹ hầu như đều theo hướng nghiên cứu khoa học chứ không phải thực hành. Họ đã có kinh nghiệm cộng tác nghiên cứu hoặc tự nghiên cứu ở bậc đại học, nên nắm rõ ngành mà họ muốn tiếp tục nghiên cứu ở bậc cao hơn. Hầu hết những học bổng thạc sỹ không yêu cầu kinh nghiệm làm việc toàn thời gian (full-time) cũng dành cho những ứng viên như vậy.

Du học khi kinh nghiệm chưa đủ chất

Những người này thường có khoảng 1-3 năm kinh nghiệm, nhưng chỉ có 1 năm kinh nghiệm liên quan đến ngành dự định học. Hoặc có nhiều hơn 1 năm kinh nghiệm nhưng vị trí làm việc chỉ là thực tập sinh, hoặc tình nguyện viên bán thời gian.

Với kinh nghiệm như vậy, khả năng ứng viên xác định được một khóa học phù hợp, hoặc xây dựng được một kế hoạch làm việc hợp lý sau khi kết thúc khóa học là rất thấp. 1 năm kinh nghiệm không đủ để đảm bảo ứng viên sẽ tiếp tục được với ngành đã chọn. Vị trí thực tập sinh cũng có áp lực trách nhiệm và mức độ đóng góp khác hẳn, không thể so với những người làm việc chính thức toàn thời gian. Mà ban xét duyệt là những người phỏng vấn rất sắc sảo. Họ dễ dàng khai thác những điểm không chắc chắn ở ứng viên.

Tóm lại: Nếu ứng viên không có định hướng nghiên cứu, cũng chẳng phải người có nhận thức thiên tài, thì cứ đi làm trong một ngành suốt 2 năm, ở vị trí toàn thời gian đã, rồi hãy tính đến xin học bổng toàn phần. Ứng tuyển học bổng ở trạng thái kinh nghiệm chưa đủ chất hay lượng là một trong những hành động ngớ ngẩn, phí phạm thời gian nhất của người đi học.

2.   Không chuẩn bị kĩ càng

Không lên kế hoạch từ trước

Một kế hoạch săn học bổng hoàn chỉ thường được thực hiện trong tầm 5 – 7 năm mới có thể tạm đảm bảo sức cạnh tranh tối đa. Thời gian này bao gồm 2 – 4 năm học tiếng Anh, 2 năm vừa học tư duy và viết luận, vừa suy nghĩ thật kĩ về công việc mình muốn theo đuổi trong tương lai, 1 năm làm hồ sơ.

Việc lên kế hoạch này đảm bảo được 3 yếu tố:

  • Ngay cả khi không dành được học bổng, ứng viên vẫn có những kĩ năng có giá trị dài hạn, có thể áp dụng vào nhiều công việc khác nhau.
  • Ứng viên có đủ thời gian để hoàn thiện từng phần của bộ hồ sơ với chất lượng tốt, tránh tình trạng phải học tiếng Anh, thi chứng chỉ, làm giấy tờ bổ sung cùng lúc.
  • Dành được trọn vẹn thời gian từ khi cổng ứng tuyển mở cho đến hạn đóng hồ sơ để tập trung vào việc viết bài luận. Đây là phần quan trọng nhất khiến hồ sơ xin học bổng trở nên khác biệt, nhưng lại chỉ có thể bắt đầu khi cổng ứng tuyển mở.

Không chuẩn bị tốt kĩ năng ngôn ngữ

Để có thể viết được một hồ sơ xin học bổng tốt tốt, và học tập tốt ở nước ngoài, ứng viên cần khả năng sử dụng tiếng Anh ở mức độ C1 trong khung tham chiếu CEFR. Vì vậy, hãy đọc can-do statement của trình độ C1 trong khung tham chiếu CEFR và đối chiếu xem mình đã đạt C1 chưa. Nếu chưa đạt thì nhất quyết phải cố học thật sự cho đạt.

Hiểu sai về yêu cầu ngôn ngữ

  • Coi điểm IELTS là thang đánh giá chính xác khả năng sử dụng tiếng Anh của mình. Rất tiếc, điều này không chính xác. Điểm IELTS sẽ phản ánh đúng khả năng sử dụng tiếng Anh chỉ trong điều kiện người đi thi chỉ cần làm thử vài bài để quen với quy cách và dạng bài của IELTS. Bài thi này sẽ không phản ánh đúng khả năng sử dụng tiếng Anh nếu như ứng viên dành vài tháng luyện thi, ứng viên phải dùng các mẹo làm bài, hoặc ứng viên chỉ cố gắng dùng các từ ngữ hoặc cách diễn đạt học thuật để ăn điểm mà không thực sự hiểu chúng. Tôi sẽ nói kĩ hơn về vấn đề này ở một bài khác với các chứng cứ khoa học phù hợp.
  • Coi ngôn ngữ như điều kiện cần chứ không quan trọng. Nhiều ứng viên chỉ cố mau mau chóng chóng thi được IELTS 6.5, đạt điều kiện cần là xong. Đáng ra các ứng viên phải hiểu rõ mình làm sẽ làm được gì với trình độ ngôn ngữ đang có, chứ không nên dựa vào điểm số. Thực tế là đầy người đã xin được học bổng rồi vẫn còn chật vật với giao tiếp hàng ngày và viết luận ở các nước nói tiếng Anh, cho nên đừng tưởng bở.

Không chuẩn bị kĩ năng tư duy và diễn đạt

Việc không rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện và kĩ năng diễn đạt (nói và viết) sẽ dẫn đến 3 vấn đề:

  • Bài luận xin học bổng có chất lượng rất thấp.
  • Khi đi phỏng vấn không hiểu câu hỏi và không diễn đạt sao cho thuyết phục. Ban phỏng vấn luôn là những người rất sắc sảo. Họ sẽ hỏi những câu ứng viên không bao giờ nghĩ ra nổi. Chỉ có tư duy tốt và khả năng làm chủ diễn đạt mới có thể giúp ứng viên tự quyết định được số phận.
  • Được học bổng nhưng khi đi học kết quả không tốt. Đơn giản là: không có tư duy phản biện tốt và khả năng viết thật tốt thì làm sao viết nổi những bài luận 3000 – 5000 từ. Chuyện ứng viên được học bổng chính phủ hẳn hoi mà vẫn diễn đạt kì cục không phải chuyện hiếm (tôi không tiện nói ra, ai đọc được thì tự biết mà sửa).

3.   Kĩ năng thu nhập thông tin kém

Có 3 kĩ năng thu thập thông tin quan trọng gồm: literacy, computer literacy, và Internet literacy.

Khi ứng viên đọc không kĩ và hiểu không trong sáng, thì sẽ suy diễn ra thông tin không có thật. Ví dụ như rất nhiều người cho rằng Chevening luôn ưu tiên người đang làm cho khối nhà nước và cũng không thèm đọc quy định của Chevening để kiểm tra lại. Hoặc một số người đến giờ vẫn cho rằng Chevening có các ngành ưu tiên, trong khi quy định này đã bị gỡ bỏ từ năm 2015.

Bên cạnh đó, sự thụ động trong việc tìm kiếm thông tin sẽ giới hạn nhận thức và hiểu biết của ứng viên về các loại học bổng. Thực ra thông tin về học bổng hiện nay rất nhiều và rất kỹ (Ví dụ như blog này). Các ứng viên chỉ cần đọc các blog và đọc kỹ các thông tin trên trang chính thức của học bổng là đã đủ thông tin về điều kiện cần và đủ của học bổng rồi.

Còn sự yếu kém trong sử dụng máy tính và Internet để thu thập thông tin sẽ dẫn đến việc thông tin ứng viên tìm được chẳng có gì khác biệt cả. Mà nếu thế thì làm sao thuyết phục được ban xét duyệt rằng lý do lựa chọn khóa học của mình chân thật và thật sự khác biệt?

Đi đánh trận, không hiểu rõ về đối phương mà cứ xông lên, thì dù thắng hay thua cũng đều dở cả. Thắng cũng không biết tại sao mà thua cũng không biết vì sao.

4.   Chọn trường một cách hời hợt

Một lỗi cơ bản của các ứng viên khi nói lý do chọn trường: chọn trường vì thành tích của trường. Ví dụ: tôi chọn trường này vì trường có ranking cao, có mấy giải Nobel, có bao nhiêu công trình nghiên cứu trên Nature hoặc Science.

Những thành tích đó không hề đảm bảo việc khóa học sẽ đem lại những kiến thức hay kĩ năng có ích. Và “có ích” hay không, nó phải liên quan chặt chẽ tới lý do đi học và kế hoạch sau khi học. Rất nhiều hồ sơ không thể hiện được các mối liên quan chặt chẽ và riêng biệt này. Hoặc hồ sơ sẽ chỉ giải thích tại sao muốn đi học, hoặc sẽ chỉ giải thích tại sao chọn trường học đó với các lý do hời hợt.

5.   Viết bài luận kém

Lỗi cơ bản của người Việt Nam là dài dòng. Trích một phần Long đã nói về lỗi này trong Phần 2:

Ví dụ: Yêu cầu là “Outline why you have selected your chosen three university courses, and explain how this relates to your previous academic or professional experience and your plans for the future”

Rất thường xuyên, người viết kể lể ra một lô một lốc tình hình Việt Nam đang ra sao, mất tầm 150 từ. Sau đó các ứng viên kể lể cái ngành chung chung mình học là cái chung chung gì, mất thêm 150 từ. Sau đó kể nốt tôi học ngành đó để rồi tôi làm ra cái gì, mất nốt 150 từ. Mà bài luận giới hạn 500 từ. Cuối cùng còn chả nhắc nổi cái tên khóa học với tên trường cho ra hồn.

Lỗi thứ 2 là thích dùng từ “đao to búa lớn” và học thuật. Đây thực ra là điều tối kỵ trong viết, thậm chí với viết học thuật. Mục tiêu quan trọng nhất của việc viết là khiến người đọc hiểu đúng điều mình muốn họ hiểu. Và để đạt được mục tiêu đó, từ ngữ CÀNG THÔNG DỤNG VÀ GIẢN DỊ CÀNG TỐT.

Lỗi thứ ba là hay sử dụng tính từ để nói về mình hoặc sản phẩm của mình. Đây cũng là điều tối kỵ trong viết hồ sơ xin học bổng. Bởi vì đó là cách viết khoe khoang, dùng cảm giác chủ quan của mình để “nhét chữ vào mồm người đọc”. Một bài viết tốt và khách quan sẽ sử dụng nhiều động từ để mô tả những gì mình đã làm, còn người đọc sẽ tự đánh giá tố chất của ứng viên.

6. Không biết cách tham khảo ý kiến

Về mặt này, ứng viên thường hay mắc 2 lỗi: không tham khảo ý kiến, hoặc tham khảo ý kiến không đúng người đúng việc.

Không tham khảo ý kiến (sớm)

Lỗi này thì … chả còn gì để nói. Bây giờ thông tin rất dễ tìm. Ứng viên có thể liên lạc với các alumni dễ dàng thông qua mạng facebook. Vậy thì tại sao không tham khảo ý kiến của họ trước khi apply học bổng một vài tháng? Tôi ước tính 50 – 80% học giả mới của các học bổng chính phủ đều tham khảo ý kiến của alumni đấy.

Tham khảo ý kiến không đúng người, đúng việc

Thứ nhất, đa số alumni chỉ giải đáp được thông tin về điều kiện cần để duyệt học bổng và thông tin phụ khác như học tập, sinh hoạt, ăn ở. Còn các tiêu chí đủ thì … nói thật chứ nhiều khi chính họ còn chả biết tại sao họ đạt thì ai mà dám nói chắc cho ứng viên được. Nếu muốn biết tiêu chí học bổng ra sao, phải xem alumni là người thế nào, chứ đừng nghe những cái alumni tự nói.

Thữ nữa, đừng mặc định là alumni nào cũng sắc sảo trong tư duy và viết luận xin học bổng (hai kĩ năng này liên quan chặt chẽ với nhau). Thậm chí rất ít người giỏi kĩ năng này. Cho nên đừng trông mong rằng họ sẽ cho ứng viên thông tin đặc biệt giá trị nào về cách viết luận hay phản biện được bài luận cho bạn. Hãy tham khảo thông tin từ chỉ 1, cùng lắm là 2 người mà ứng viên thấy thực sự có tư duy phản biện tốt. Tôi đã có những trải nghiệm với những người tự xưng mình vừa là thầy, vừa là alumni nhưng kĩ năng viết và tư duy rất kém, tư cách lại còn … (mời đọc post trước để biết thêm chi tiết)

7.   Không nghiêm khắc với bản thân

Thái độ này mới chính là nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề kể trên.

Không khiêm tốn

Bệnh chung của rất nhiều người chưa hoặc đã đạt học bổng là “bệnh tưởng”.

Tưởng mình đã dùng tiếng Anh tốt lắm, tỉ mỉ cẩn thận trong câu từ lắm. Nói thật, xưa nay tôi chỉ thấy nhóm các bạn học ngành luật mới thật sự đáng được gọi là chính xác tỉ mỉ về câu từ tiếng Anh. Còn lại, hiếm vô cùng.

Tưởng mình đã điều tra được nhiều thông tin tốt lắm. Thực ra, phàm cái gì có sẵn trên mạng, mình tìm ra thì người ta cũng tìm ra.

Tưởng mình đã có động lực và kế hoạch đủ tỉ mỉ. Kiểm tra cái kế hoạch này thực ra khá dễ, cứ dùng tiêu chuẩn SMART mà xét.

Bonus: Một số người tưởng học bổng là cái chứng nhận tài năng cá nhân. Rồi được học bổng xong không thèm cảm ơn người đã tận tình hướng dẫn mình (cái này bạn tôi đã bị chứ tôi thì chưa, may quá). Thực tế là: cái học bổng phần nhiều chứng nhận mình may mắn hơn vài trăm người khác, chứ không chứng nhận cho những gì mình đóng góp được cho cộng đồng. Còn người hướng dẫn mình dù sao cũng là senior fellow của mình, còn gặp nhau dài dài thì nên khiêm tốn biết cách cư xử với nhau.

Liều ăn nhiều

Cứ nộp hồ sơ, thậm chí nộp hồ sơ nhiều lần trong khi biết rõ rằng kinh nghiệm mình chưa đủ. Hoặc biết trình độ ngôn ngữ của mình tầm thường, kĩ năng tư duy, động lực và kế hoạch của mình cũng chẳng có gì vượt trội mà vẫn tặc lưỡi “thôi kệ cứ nộp, liều ăn nhiều”.

Vấn đề là, với thái độ và cách chuẩn bị như vậy, việc đạt được học bổng hoàn toàn dựa vào may mắn. Ngay cả khi được học bổng, việc “cố đấm ăn xôi” như vậy không thể gọi là “hard work pays off” hay “resilience” được. Về lâu dài, thái độ như vậy cũng không thể khiến một người đi xa được, và anh ta sẽ nhanh chóng phí phạm cơ hội mà thôi.

Lười và thụ động

Lỗi này là bệnh chung của người Việt Nam rồi. Biết bao nhiêu thứ cần chuẩn bị như ở trên kia tôi đã nói, nhưng không đủ quyết tâm để làm.

Ban xét duyệt đủ sắc sảo để phát hiện ra tất cả những thái độ trên. Hiển nhiên là bất đắc dĩ lắm họ mới phải trao học bổng cho các trường hợp như vậy.

 8.  Hậu quả

Tự tạo cho ban xét duyệt cơ hội từ chối mình

  • Đã xin học ngành không liên quan chút nào đến ngành học ở bậc đại học, mà lại không có kinh nghiệm phù hợp thì tại sao chúng tôi (ban xét duyệt) không chọn người có kinh nghiệm phù hợp hơn?
  • Kinh nghiệm làm việc của bạn không đủ chất và lượng thì tại sao chúng tôi không chọn người có kinh nghiệm tốt hơn?
  • Tiếng Anh của bạn còn non kém, tại sao chúng tôi không chọn người cùng ngành, cùng kế hoạch và động lực làm việc, nhưng tiếng Anh tốt hơn bạn? Với tiếng Anh tốt hơn, họ rõ ràng dễ thành công trong khóa học sắp tới hơn bạn mà.
  • Bài luận của bạn còn hời hợt, tại sao chúng tôi không chọn người có tư duy và chuẩn bị kĩ càng hơn bạn?
  • Đam mê và động lực của bạn cũng chân thật đấy, nhưng người khác cũng chả kém hơn bạn đâu. Sao tôi phải chọn bạn?
  • Bạn không nói được rằng mình sẽ đem lại lợi ích gì cho chúng tôi, vậy tại sao chúng tôi không chọn người đem lại nhiều lợi ích cho chúng tôi hơn bạn.

Những thứ trên không thể bù trừ cho nhau. Bởi vì, làm sao có thể nói một người có kinh nghiệm tốt đáng được học bổng hơn một người có đam mê lớn? Hơn nữa, trong hàng trăm hàng nghìn hồ sơ ứng tuyển, sẽ chẳng thiếu gì những hồ sơ tốt trên tất cả các mặt: bằng cấp, kinh nghiệm, tư duy, động lực, kế hoạch. Hiển nhiên, bằng cấp không bằng người, kinh nghiệm cũng ngắn ngủi không chất lượng bằng người, chỉ có đam mê nhưng lại là thứ chả so sánh hơn kém được, thì chỉ có trông vào may mắn mới được học bổng chứ sao nữa.

Tự giới hạn khả năng phát triển kiến thức và kĩ năng

Nhìn thẳng vào vấn đề: với kĩ năng tiếng Anh chỉ ở dạng vừa đủ, tư duy phản biện kém, khả năng viết luận kém, thì liệu ứng viên (ngay cả khi đã có học bổng) tận dụng được các tài nguyên con người, vật chất và phi vật chất ở khóa học thạc sỹ sắp tới như thế nào? Chuyện ứng viên học hành lớt phớt không phải chuyện hiếm. Những ai đã từng đi Úc theo học bổng AAS đều biết cộng đồng sinh viên ở Úc (bao gồm cả học giả AAS) phân chia rất rõ ràng. Một nhóm những sinh viên chăm chỉ và chuẩn bị tốt sẽ dành nhiều thời gian cho việc học và đạt được kết quả rất tốt (hầu như High Distinction). Nhóm còn lại là những người trình độ tự học và nghiên cứu thấp, tiếng Anh yếu, dù có học bổng cũng chỉ đi học để lấy điểm Pass rồi dành thời gian còn lại đi … làm thêm. Tôi không nói đâu là sai hay đúng, nhưng con đường nào tạo được lợi ích dài hạn hơn cho họ thì hẳn mọi người thấy rõ.

9. Làm sao để nổi bật giữa hàng trăm hàng nghìn bộ hồ sơ?

Dễ lắm. Làm sao để ban xét duyệt không có cơ hội từ chối mình. Là loại bỏ tất cả những lỗi trên

Một bộ hồ sơ tốt cần phải hội tụ tất cả mọi yếu tố thì người ta mới không có cơ hội từ chối mình. Năm ngoái tôi có hướng dẫn cho 12 bộ hồ sơ khác nhau cho nhiều học bổng hỗ trợ phát triển dành cho Việt Nam, trong đó có 7 bộ hồ sơ thành công. Trong những hồ sơ thành công đó, những bộ nào không cực kì may mắn thì lại có sự chuẩn bị rất kĩ lưỡng và đầy đủ, từ kinh nghiệm, kĩ năng cho đến thái độ.

Dĩ nhiên, chọn chuẩn bị hay trông vào may mắn thì tùy từng người. Nhưng sự “ngây thơ” và thái độ hời hợt không giúp ai tiến xa được đâu, chứ đừng nói làm ra được sản phẩm gì giúp đỡ người khác.

Hồng Thuận- Cô gái Chevening dành trọn tâm huyết để giúp đỡ người khuyết tật

1.Bạn vui lòng giới thiệu 1 chút về bản thân để các bạn đọc giả được biết thêm về bạn. Bao gồm: tên, (các) học bổng đã đạt kèm theo năm và trường-ngành học, sở thích của bạn, v..v..

Chào các bạn,  mình tên là Hồng Thuận là Chevening scholar của năm học 2015-2016.  Hiện mình đang học tại the University of York (UK) về Applied Human Rights ( Ứng dụng quyền con người trong thực tiễn). Chevening là học bổng gần nhất mình đạt được, ngoài ra trước đó, năm 2008, mình có đạt được học bổng Peace Scholarship, học về Development Studies tại ĐH Flinders – Nam Úc. Năm 2011, mình có dành được cùng lúc 2 fellowship là Youth Fellowship và Fellowship for Educators của World Peace Initiative Foundation tại Thái Lan để học về xây dựng Hoà bình và giải quyết xung đột cùng với 15 bạn trẻ khác đến từ khắp các châu lục. Năm 2014, mình được mời tham gia World Peace Summit tổ chức tại Seoul – Hàn Quốc  trong đó có sự góp mặt của các nhà lãnh đạo thế giới và người giành giải Nobel Hoà Bình khi đó là chị Tawakkul Abdulsalam Khaled Karman người Yemen. Trong dịp này, mình cũng gặp lại bạn bè của mình từng học tại Thái Lan trước đó. Rất tình cờ, cả 2 cũng là Chevening scholars và là Peace agents! Đôi khi, minh nghĩ học bổng đến với mình ngoài sự tình cờ thì cũng là những ấm ủ và chuẩn bị trước đó rất lâu. Sự tình cờ chỉ đến khi bạn đã miệt mài học tập, làm việc, chuẩn bị thật kĩ càng và đủ lâu trước đó. Ngoài sở thích chính là được đi du lịch, được gặp gỡ các bạn bè năm châu bốn bể, học hỏi về những nền văn hoá khác biệt, mình còn có sở thích “phụ” là Yoga, chạy bộ, thiền, và đọc sách về giáo dục. Đi tình nguyện, giúp đỡ mọi người và thi thoảng viết lách, đây cũng là một trong những sở thích của mình. Thực ra mình nghĩ, sở thích cũng thay đổi và lớn lên  theo thời gian giống y như con người của chính mình vậy.

 

2.Bạn có thể chia sẻ điểm chung của những bạn đã từng đạt học bổng không?

Điểm chung lớn nhất mình quan sát thấy của những bạn từng đạt học bổng du học hay học bổng chính phủ đó là họ biết rõ bản thân mình muốn gì, cần gì và tại sao. Họ có động lực mạnh mẽ và lớn lao, và thường đó là những động lực rất trong sáng và mang lại lợi ích không chỉ cho các bạn mà còn cho cộng đồng. Bên cạnh đó, họ cũng là đặt ra những mục tiêu rõ ràng, cụ thể và theo đuổi mục tiêu không ngừng nghỉ, ngay cả khi họ gặp thất bại. Đó là tính kỉ luật và bền bỉ.  Dù các chương trình học bổng có thể có đòi hỏi khác nhau, kiến thức về lĩnh vực chuyên môn khác nhau, hay mục tiêu khác nhau, mình nghĩ những người đạt học bổng đều có những điểm chung nhất định. Biết rõ về chính mình, hiểu cặn kẽ về chương trình mình muốn theo đuổi, mục tiêu cao nhất, và sau cùng là luôn bồi dưỡng chuyên môn, rèn luyện ngoại ngữ và các kĩ năng cần thiết để đi đến thành công. Bền bỉ theo mình là yếu tố vô cùng quan trọng  và có tính quyết định nhất để đi đến thành công. Khiêm tốn để biết và nhận ra yếu kém của chính mình cũng là yếu tố khiến họ vượt qua được nhiều rào cản.

3.Lời khuyên tốt nhất của bạn dành cho các bạn đang trên con đường tìm kiếm học bổng là gì?

Xác định mục tiêu, chuẩn bị thật kĩ, cứ đi rồi sẽ đến, đừng bao giờ ngại chông gai và thất bại!

4.Bạn có thể kể về những điều thú vị về các Chevening Scholars hoặc thú vị về nước Anh không?

Với học bổng chính phủ Anh- Chevening thực sự có quá nhiều sự thú vị mà mình không biết kể sao cho hết nhưng mình nghĩ không ai có thể phủ nhận được rằng Chevening có một network rất mạnh với bạn bè đến từ khắp nơi trên thế giới. Họ là những người tài năng và có phẩm chất. Ví dụ như cô bạn cùng trong campus của mình người Afganishtan đã cho mình thấy bài học kiên cường về sự giành giật giữa công lý cho phụ nữ ở một nước Hồi giáo  nơi mà phụ nữ  bị coi thường, bị thấp hơn nam giới, chịu nhiều thiệt thòi và bất công. Bạn vừa là một Chevener nhưng cũng là Fulbrighter, bạn rất hiền lành nhưng cũng rất nhạy cảm, dễ xúc động và giàu lòng trắc ẩn. Hay như cậu bạn Chevener người Nam Phi là nhà báo cho tờ Forbes.  Cậu rất nhiệt tình chia sẻ về những suy nghĩ về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheird cho mình nghe, giải thích cho mình biết về cuộc giải phóng hoà bình mà Nam Phi giành được, những hệ luỵ mà người da đen còn gặp lại. Câu chia sẻ nhưng với cái nhìn nhiều chiều, sâu sắc. Nói chuyện với cậu mình luôn thấy thú vị.  Về cơ bản, mình nghĩ mỗi một Chevening scholar đều cho mình nhiều bài học, đôi khi là một phẩm chất tự nhiên của con người sau thời gian mài dũa, đôi khi là những kiến thức về lịch sử, kinh tế, giáo dục, v.v, đôi khi là một hành động chăm sóc và thể hiện nhiều yêu thương…

 

Nước Anh đối với mình  lại là một câu chuyện khác. Nước Anh làm mình yêu mến nhất là thiên nhiên, cách con người bảo vệ thiên nhiên và sống cùng với thiên nhiên. Bốn mùa ở nước Anh đối với mình thật vô cùng kì diệu, chỉ cần ngắm nhìn sự thay đổi của thiên nhiên theo thời gian, những bông hoa được nở rộ và thay đổi liên tục trong mùa, thiên nhiên có thể làm mọi thứ trở nên thật trang hoàng và lộng lẫy dưới nắng ấm. Nước Anh làm mình hiểu con người không thể tách rời khỏi thiên nhiên và đối xử tệ với thiên nhiên. Nhìn cách một người lớn tuổi chăm sóc một mảnh vườn nhỏ cũng đủ cho mình một bài học thấm thía về bảo vệ môi trường, bảo vệ trái đất.

Nước Anh cũng cho mình gặp con người thú vị như hai bác Charles và Jenny mình từng kể với các bạn của mình. Ngay lần đầu gặp hai bác đã thấy ấn tượng đặc biệt là nét thanh tú, nền nã và lịch lãm. Khi mình hỏi ra mới biết bác trai từng làm giảng viên ở trong trường mình học mà bác đã nghỉ hưu được 6-7 năm rồi. Bác gái thì từng là giáo viên dạy tiếng Đức. Hai bác đều có con lớn và rất thành đạt. Một sống ở London, một ở Edinburgh. Hai bác thường đi lại thăm và chơi cùng con cháu nhưng vẫn sống chủ yếu ở York. Hai bác rất yêu York. Sau hôm gặp mình, bác gái mời mình tới nhà uống trà chiều rồi tặng mình cuốn sách mà mình yêu thích. Ngắm nhìn bữa trà chiều mà bác gái chuẩn bị thôi mà mình chỉ muốn thốt lên: Trời ơi, đồ ăn đẹp, đồ uống đẹp, mà ngôi nhà của bác cùng mảnh vườn được cắt xén kĩ lưỡng cũng đẹp nữa. Chiều hôm ấy, hai bác lấy xe đưa mình từ kí túc sang nhà hai bác chơi, ngồi nói chuyện mà cũng hết 3 tiếng đồng hồ. Lúc đưa về nhà, trời đổ mưa to, bác gái lái xe, bác trai cầm ba lô to đùng của mình rồi bảo: ” Love, con để đấy, bác cầm ba lô cho con, để con mặc áo khỏi ướt!” đâu vào đấy rồi là ôm hôn mình thật chặt. Hai bác còn dặn thêm: “con ơi, đợi hai bác đi London về rồi lại gặp con nhé!”. Mình chạy vội vào nhà cho khỏi ướt rồi bảo: “dạ, con chào bác! con mong sớm gặp lại hai bác!” mà lòng thấy ấm áp vô cùng.

Love là từ thường được dùng ở York khi thể hiện lịch sự và yêu quý một ai đó, không nhất thiết là giữa người yêu với nhau.

5.Vì sao bạn chọn ngành này?

Mình nghĩ khi nói về quyền con người, hay công ước Liên Hợp Quốc, không phải người Việt Nam nào cũng hiểu hết được ý nghĩa và thực thi Công ước trong thực tiễn. Học về quyền con người mình mong là mình có một cách nhìn khác đối với những vấn đề mà VN đang gặp phải, hiểu được sự khác nhau từ lý thuyết cho tới thực tiễn trong cách tiếp cận, hiểu và thực hiện vấn đề. Học về quyền cũng giúp mình có cái nhìn bình đẳng hơn về con người bất kề quốc tịch, màu da, địa vị.

hoc-bong-du-hoc-Anh

6.Môn nào trong ngành học này làm bạn ấn tượng hoặc thú vị nhất? vì sao?

Mình thấy môn nào cũng khó, vì liên quan tới Luật, Chính trị, rồi lại cùng một ít văn hoá và kiến thức của từng quốc gia nữa, có lẽ khó và thú vị đi đôi với nhau.

7.Ngành học của bạn đã/sẽ hỗ trợ cho công việc hiện tại hoặc tương lai của bạn như thế nào?

Mình nghĩ trước hết là giúp cho mình hiểu sâu hơn về công ước, sau đó, nếu mình có thể hỗ trợ được đồng nghiệp cũng như người khuyết tật ở VN hiểu và thực thi công ước là mong ước của mình rồi.

8.Ngành học của bạn sẽ hỗ trợ nhiều cho đối tượng người khuyết tật. Vậy trong tương lai, nếu có bạn khuyết tật nào muốn xin học bổng Chevening, bạn có thể hỗ trợ guide cho họ apply học bổng này không?

Đương nhiên là được rồi!

9.Bạn có thể cho 1 cái nhìn tổng quan về tình hình người khuyết tật tại VN không?

Mình nghĩ số lượng người khuyết tật ở Việt Nam là rất lớn,  vì lí do lịch sử  chiến tranh của Việt Nam nhưng vì nhiều lí do khác: tai nan, kiến thức về an toàn lao động, bệnh tật. Người khuyết tật ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận về y tế, giáo dục và việc làm. Vấn đề khuyết tật đôi khi lại nằm ở chính người không khuyết tật. Ví dụ như trên thế giới họ nhìn việc người khuyết tật tham gia vào việc làm, y tế, giáo dục hay xây dựng các công trình tiếp cận là một việc làm không tốn nhiều chi phí mà mang lại lợi ích cho nhiều người, và để tăng sự hoà nhập và bình đẳng trong xã hội thì ở Việt Nam, cái nhìn về khuyết tật vẫn nằm trong cái khung của từ thiện và y tế. Người khuyết tật khi giữ một vị trí cao thì bị coi là “lạ lùng”  hay hôn nhân của người khuyết tật thì được cho là “cổ tích”.  Mình nghĩ mọi người nên nhìn dưới một lăng kính khác: ai cũng bình đẳng như nhau và có quyền mưu cầu hạnh phúc như nhau.

10.Bức tranh người khuyết tật tại nước ngoài ra sao và bạn có học hỏi được gì từ họ không?

Ở Anh nơi mình đang theo học, mình có thể nhận thấy người khuyết tật cũng bị kì thì và ít cơ hội việc làm tuy  nhiên sự kì thị này tinh tế hơn và không dễ dàng nhận thấy. Điều này mình quan sát sau khi tới thăm một tổ chức giành cho người khuyết tật tại York, ngoài ra mình còn  nói chuyện và phỏng vấn với một số lãnh đạo nhóm của người khuyết tật ở York của thành phố và trường Đại Học. Nhưng điểm làm cho Anh khác ở Việt Nam đó là người khuyết tật ở đây rất chủ động, họ chủ động trong việc đề bạt ý kiến, đưa những kiến nghị gửi lên Quốc Hội hay viết lá thư gửi Nữ hoàng. Thứ hai là họ rất tự tin trong khi tiếp xúc với người không khuyết tật khác, nếu họ có điểm mạnh nào, họ cũng không ngừng bồi đắp cho mình kiến thức về mảng đó và đi xin việc như bất kì người bình thường khác. Họ tham gia tập kịch, tổ chức các hoạt động xã hội, lên radio nói về vấn đề của mình. Hoạt động của họ rất phong phú. Trong trường Đại Học và các công trình công cộng, gần như 100% có công trình tiếp cận cho người khuyết tật. Các nhóm sinh viên làm việc về mental health, về disability còn lập ra Hội, nhóm, tổ chức các buổi vận động để người bình thường khác hiểu về vấn đề mà người khuyết tật gặp phải trên nhiều kênh khác nhau. Ngoài ra, họ còn đưa ra những dự báo về các dạng khuyết tật mới mà còn nhiều người chưa hiểu và công bố. Họ đi tìm các tiếng nói đồng tình và ủng hộ họ từ rất nhiều phía khác nhau. Anh cũng có Luật rất chặt chẽ khi làm việc với trẻ tự kỉ, hoặc tăng động giảm chú ý. Những người tham gia dù chỉ là tình nguyên viên cũng đòi hỏi phải có giấy chứng nhận đặc biệt. Mình rất tiếc khi không tham gia được hoạt động này vì thông tin mà mình biết khá muộn, và mình phải mất thêm thời gian nếu muốn có giấy chứng nhận về security record.

Một điểm chung mình học được từ người khuyết tật ở York đó Thái độ và cách tiếp cận vấn đề.

11.Việc đầu tiên khi bạn trở về VN làm việc, bạn muốn làm hoặc triển khai điều gì từ những gì bạn học?

Mình muốn được tiếp tục làm nghiên cứu thêm về quyền giáo dục cho trẻ em gái khuyết tật và đóng góp vào thực thi công ước Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật trong thực tiễn.

Xin chân thành cảm ơn bạn Đỗ Thị Hồng Thuận- Chevening Scholars 2015/2016. Chúc bạn với những kiến thức và network từ chương trình học tại Anh sẽ mang lại nhiều điều mới mẻ và giúp xóa nhòa khoảng cách với người khuyết tật tại VN và trên thế giới.

Quy trình tuyển sinh và xét học bổng của chương trình Erasmus Mundus

Học bổng Erasmus Mundus (EM) là một chương trình khá đặc biệt. Tưởng tượng Ủy ban Châu Âu (EC) có một cái quỹ tiền to đùng, kêu gọi các trường khắp châu Âu: Đây tôi có tiền đây. Các ông kết hợp với nhau lập chương trình đào tạo liên kết theo tiêu chuẩn thế này thế này, rồi đưa lên cho tôi duyệt. Tôi thấy hợp lý thì tôi cho tiền để chạy, rồi trao cả học bổng cho học viên luôn.

Và thế là các chương trình đào tạo liên kết nộp đơn xin ầm ầm vào EM. EM hiện tại có 100 chương trình (theo danh sách chính thức cho năm học 2017-2018)

Mục tiêu của EM là gì?

  • Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo bậc đại học và sau đại học ở Châu Âu.
  • Quảng bá EU như một trung tâm của thế giới về chất lượng giáo dục.
  • Tăng cường sự hiểu biết văn hóa thông qua việc hợp tác với các nước Thế giới thứ 3, hỗ trợ và đẩy mạnh sự phát triển giáo dục của các nước này.

Tuyển sinh

Với mục tiêu như vậy, việc tuyển sinh được giao hoàn toàn vào tay các chương trình đào tạo. Các chương trình thường có các tiêu chí tuyển sinh sau:

  • Trình độ học tập và nghiên cứu => Thể hiện qua điểm GPA, xếp hạng, và các bài nghiên cứu khoa học đã được công bố.
  • Điều kiện cần: Khả năng ngôn ngữ => thể hiện IELTS 6.5 trở lên, có DELF, Goethe càng tốt.
  • Động lực học tập => thể hiện thư xin học bổng (Letter of Motivation)
  • Sự đa dạng văn hóa, quốc tịch => không có quy chuẩn cụ thể, phụ thuộc rất nhiều vào đánh giá cảm tính của ban xét duyệt.
  • Các tố chất riêng biệt của từng chương trình (kĩ năng tư duy mở, kĩ năng toán lượng, nhiệt huyết đóng góp cho cộng đồng, v.v) => thể hiện qua tất cả các thông tin trên cùng với thư giới thiệu.

Các chương trình sẽ lọc khoảng 25 – 30, thậm chí 80 ứng viên (tùy vào khả năng đào tạo của chương trình) từ hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ. Các ứng viên này sẽ được trao thư mời nhập học (admission offer).

Danh sách học bổng chính

Sau khi chọn được ứng viên theo học, người ta mới xét xem ai đáng được học bổng Erasmus Mundus. Trong các ứng viên đã có thư mời nhập học, sẽ có 10 – 14 ứng viên được vào danh sách chính (Main List) để trao học bổng EM. Các ứng viên còn lại sẽ nằm trong Danh sách dự bị (Reserved List).

Để lựa chọn danh sách chính, người ta chia ứng viên thành 2 nhóm:

Category A: Sinh viên ngoài EU là sinh viên không có quốc tịch EU đồng thời trong vòng 5 năm trở lại không làm việc tại EU nhiều hơn 12 tháng. Thường thì số ứng viên Cat. A trong danh sách chính là 4-5 người.

Category B: sinh viên có quốc tịch EU; hoặc không có quốc tịch EU nhưng trong vòng 5 năm trở lại (tính đến thời điểm nộp hồ sơ) đã làm việc, sinh sống tại EU trong nhiều hơn 12 tháng. Số ứng viên Cat. B trong danh sách chính là 9 – 10 người.

Các ứng viên trong danh sách chính đều sẽ nhận được học bổng học phí và phí tham gia chương trình. Tuy nhiên, ứng viên Cat. A sẽ được nhận trợ cấp hàng tháng cao hơn nhiều (và đủ để chi trả sinh hoạt phí) so với ứng viên Cat. B.

Cơ hội học bổng theo vùng

Sau khi 12 ứng viên kia đã yên vị trong Main List, người ta mới tiến hành lựa chọn thêm từ các ứng viên dự bị (Reserved List – đủ trình độ để học nhưng không phù hợp với chương trình bằng 12 người trong Main List) một số ứng viên nhất định để đề xuất trao học bổng EM, nhưng được gọi là Geographical Windows. Lúc này, các tiêu chí nhân văn, đa dạng hay ưu tiên vùng miền các kiểu mới được tham gia vào.

Để tiện cho việc lựa chọn này, EM chia các nước ngoài EU ra thành 14 khu vực địa lý. Mỗi chương trình chỉ được phép chọn 1 ứng viên từ mỗi khu vực. Ví dụ, Reserved List của 4CITIES năm nào đó có 23 ứng viên đến từ 8 khu vực, thì 4CITIES chỉ được chọn ra 8 ứng viên.

Các ứng viên trong Geographical Windows, nếu sau đó được EC lựa chọn để trao học bổng, thì cũng được nhận học bổng với giá trị giống Main List – Cat. A

*Các ứng viên đã nhận admission offer nhưng không được học bổng của EM vẫn có thể theo học bằng cách tự chi trả (self-fund) hoặc tìm các cơ hội học bổng khác để trang trải chi phí.

Quyết định chính thức

Sau khi đã chọn ra ứng viên từ danh sách dự bị, các chương trình mới đệ trình Main List lẫn Geographical Windows lên Ủy ban Châu Âu (EC) để xin học bổng cho họ. Thường thì ứng viên trong Main List sẽ chắc chắn được học bổng Erasmus Mundus. Còn ứng viên trong Geographical Windows sẽ được chọn dựa trên:

  • Ngân sách hàng năm của EC cho EM. Năm 2017, trung bình mỗi chương trình nhận được 5 học bổng cho Geographical Windows.
  • Số lượng sinh viên cho mỗi khu vực.
  • Ưu tiên cho những quốc tịch chiếm tỉ lệ nhỏ (less represented nationalities)
  • Trình độ tương đối giữa các ứng viên trong Geographical Windows.

Kết luận

Có thể thấy quy trình tuyển sinh và xét học bổng của EM ưu tiên những người thật sự có đam mê và khả năng nghiên cứu tốt, thể hiện qua các bằng chứng cụ thể như GPA, xếp hạng, bài báo nghiên cứu khoa học. Những người học giỏi sẽ có nhiều cơ hội được học bổng EM.

Tuy nhiên, EM cũng không loại bỏ cơ hội của những ứng viên chưa thật sự xuất sắc nhưng có hoàn cảnh đặc biệt: quốc tịch chiếm tỉ lệ ít, đến từ vùng được ưu tiên. Có nghĩa là không phải cứ được học bổng EM là giỏi hơn người khác đâu nhé 😉

Lợi ích của việc du học bậc cao học – Long D Hoang

Du học bậc cao học không giống như bậc đại học. Đại học là một bước nền tảng mà đa số mọi người (ít nhất là ở Việt Nam) sẽ trải qua. Hoặc nếu không học đại học mà đi làm, đa số người ta cũng sẽ … quay lại học đại học sau một thời gian.

Còn cao học không như thế. Bước tiếp thêm 1-2 năm nữa là một ván cược lớn hơn, bởi vì người ta phải chấp nhận bỏ dở những gì đã xây dựng được trong những năm làm việc trước đó. Hoặc nếu đi du học khi chưa có kinh nghiệm làm việc, xác suất chọn ngành không phù hợp là rất cao.

Tréo ngoe thay là rất nhiều người khi được hỏi tại sao lại chọn khóa học đó lại đưa lại rất nhiều câu trả lời hồn nhiên.

Thực ra chọn học cao học (hay bất cứ khóa học nào cũng thế thôi), người ta sẽ phải trải qua mấy bước:

  1. Biết mục đích và nguyện vọng của mình.
  2. Biết khóa học đem lại lợi ích gì.
  3. So sánh xem mục đích và lợi ích có khớp nhau không.
  4. Đánh giá mình có đủ khả năng để thu nhận và phát huy hết những lợi ích đó không. Nếu chưa đủ thì cần làm gì, bỏ ra bao nhiêu nữa để có đủ khả năng.
  5. Dựa trên phân tích chi phí – lợi ích rồi mới quyết định đi học.

Phần 5 của loạt bài về du học này sẽ được viết thành 3 phần nhỏ (hoặc có thể mình sẽ viết 2 phần tiếp theo thành phần 6 và phần 7): lợi ích của việc du học bậc cao học, một số mục đích phổ biến khi du học và so sánh chúng với lợi ích, và một số việc cần chuẩn bị để đảm bảo tận dụng được khóa học tốt.

Chú ý: Bài viết này chỉ dành cho những bạn đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam.

Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu

Một môn cực kì phổ biến mà gần như ai học cao học ở Anh cũng phải động vào đó là (Advanced) Research Methods. Nếu như ở Việt Nam, môn này được nhiều bạn học cho qua, thì ở Anh đó là môn phải học nếu muốn tốt nghiệp. Hồi học kì 1 ở University of Nottingham, mình được một giáo sư “cứng” về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội đứng lớp (sau cùng thì người ta vẫn xếp kiến trúc vào khoa học xã hội). Phương pháp của bà là 50% bài giảng, 50% workshop. Sau 10 tuần, sinh viên sẽ từng bước thực hành xây dựng đề cương nghiên cứu. Bài tập hết môn là viết một cái đề cương nghiên cứu dài 3,500 từ (hơi ít).

Đến kì 2, sinh viên sẽ ngay lập tức được áp dụng phương pháp lẫn kiến thức nguyên lý, chỉ số, chỉ báo vào môn Case Study. Tức là sẽ chủ động tự làm tất tần tật các công đoạn của một nghiên cứu nhỏ: lập đề cương và kế hoạch, đem dụng cụ và bảng hỏi ra thực địa để khảo sát, tổng hợp và phân tích thông tin, báo cáo định kì. Kết thúc là một cái báo cáo nghiên cứu viết theo format của một bài báo nghiên cứu khoa học.

Sang kì 3, sinh viên sẽ được tống vào mặt nhiệm vụ: nghiên cứu và viết một luận văn (ở Anh gọi là dissertation) dài 20,000 từ trong vòng hơn 3 tháng. Mục đích cuối cùng của Case Study và Dissertation không phải là để cho có, mà còn nhắm đến việc công bố ở dạng các bài báo nghiên cứu khoa học.

Cần chú ý một chút: các khóa thạc sỹ ở Anh thường xuyên hướng tới các môn dạy tư duy-phương pháp nghiên cứu và các môn khai phóng hàn lâm. Còn các khóa học thạc sỹ ở Mỹ lại hướng tới các kiến thức và kĩ năng để giữ các vị trí công việc chuyên nghiệp hơn.

Xây dựng mối quan hệ

Việc xây dựng mối quan hệ tốt với các giáo sư thông qua công việc trong chính chuyên ngành của họ thường ít được sinh viên đại học ở Việt Nam chú ý. Các bạn sinh viên học khoa học tự nhiên có vẻ khá hơn chút, chịu khó làm trợ lý nghiên cứu cho các thầy. Còn lại nhìn chung việc này không quá phổ biến.

Học cao học ở nước ngoài là cơ hội để các bạn … sửa sai, nhất là những bạn muốn làm nghiên cứu. Chỉ cần các bạn nhiệt tình, giáo sư sẽ hỗ trợ tận răng cho việc nghiên cứu của bạn. Sinh viên ở khóa mình thường xuyên được giáo sư hỗ trợ chuyển luận văn và case study thành các bài báo nghiên cứu. Hồi mình mới về Việt Nam, thầy chủ động nhắn mình gửi abstract cho hội nghị khoa học PLEA 2017. Sau đó suốt mấy tháng, trò viết, thầy duyệt, đi đi lại lại nhiều lần. Thầy sửa từ ý tưởng đến cả câu từ. Ai đã quen Long đủ lâu sẽ biết trình tiếng Anh và độ kĩ tính của Long gớm ghiếc thế nào. Thế mà thầy còn sửa cho đỏ toẹt cả bài. Lại có thêm một bài học nữa về chuyện “Know your audience”.

Xong nhiều lúc làm việc với bên hội đồng khoa học của hội thảo mà chỉ muốn … bóp cổ cái đứa đang viết email trả lời mình. Nhưng do thầy nhiệt tình quá nên mình lại bấm bụng. Cuối cùng cũng đăng được bài báo khoa học trên Kỷ yếu hội nghị.

Trường hợp như mình không hề hiếm. Tính đến nay đã có tầm 20 người được thầy cô mình hướng dẫn như vậy rồi. Có người tốt nghiệp xong 1 năm đã có bài nghiên cứu đăng trên Springer. Học trò đều là first author hẳn hoi, các thầy cô chỉ là second & third authors thôi.

Không chỉ trong nghiên cứu, các thầy cô còn sẵn sàng giới thiệu mình với các đơn vị hành nghề hay các cơ hội học tập khác. Việc các sinh viên đứng đầu khóa được các công ty kiến trúc tuyển dụng và bảo lãnh visa cho ở lại Anh là việc thường xuyên, gần như năm nào cũng có ở khóa mình. Còn sinh viên đi học PhD cũng không phải khó (nói thật, trong mắt mình là dễ) khi đã có mối quan hệ và các công bố khoa học như trên.

Thử sức trong phạm vi trường học

Các cơ hội để thử sức có thể đến từ bất cứ đâu. Bạn có thể tham gia các cuộc thi chuyên ngành, tham gia các câu lạc bộ (club hoặc society) của sinh viên, hoặc thử sức ở các vị trí làm việc cho trường. Nhiều bạn bè của mình trong lẫn ngoài cộng đồng Chevening đã làm trưởng khóa, tình nguyện viên, hoặc đại sứ sinh viên quốc tế cho trường.

Cái hay ở chỗ: các thầy cô hết sức hỗ trợ. Cô giáo môn Project 2 của mình thậm chí còn lấy chính đề bài của một cuộc thi kiến trúc quốc tế làm 1 trong 3 đề bài của môn học. Sinh viên nào chọn đề bài đó sẽ được hỗ trợ để chuyển đồ án thành một poster gửi đi dự thi luôn.

Hồi đó đội mình giành được giải nhất toàn UK (thực ra là vì chả có đứa nào thèm gửi bài dự thi thôi, mình đoán thế). Đội mình, cùng đội giải nhì được đi tham gia vòng chung kết ở Belarus. Không phải chuyện đi thi được giải hay không, mà là lần đầu tiên mình được đến khu vực các nước Liên Xô Cũ.

Mình được nói chuyện với những người mà cái gì cũng chỉ quy ra được Ruble hoặc US Dollar, thậm chí ít người trong số họ nói tiếng Anh giỏi. Họ không hề nghèo, thậm chí rất giàu. Nhưng họ nghèo cái khác.

Rồi mình được học hỏi những cách làm đồ án rất giàu cảm hứng. Họ thể hiện đồ án tốt đến nỗi mà thầy dẫn đoàn phải bảo “Tao tưởng như mình ngửi được không gian chúng nó vẽ ra”. Đó là cái mà mấy đứa học ở UK thiếu.

Cuối cùng là nhận ra tại sao hình như chả sinh viên kiến trúc nào ở mấy trường tốt ở Anh đi thi. Mà rộng hơn ra thì, có vẻ như chỉ có sinh viên Việt Nam hay các nước còn ở vùng trũng về học thuật mới vui vầy với nhau trong các cuộc thi quốc tế.

… và ngoài trường học

Đến Belarus là lần đầu tiên mình biết được dân Kazakhstan toàn người lai Á-Âu. Có những trường hợp đặc biệt như kiểu bố người Hàn Quốc, mẹ người Nga, và giờ cả nhà ở Kazakhstan :)) Và vì là con lai nên họ rất đẹp. Chỉ kì cục là riêng đám con trai Kazakh lại hơi bị … khiêm tốn về ngoại hình.

Đó cũng là lần đầu tiên được ờ trong khách sạn Marriott ở Minsk trong 3 ngày, ăn uống party bằng voucher của khách sạn hoặc được ban tổ chức chiêu đãi. Ai muốn đi chơi sẽ có xe đón rước đến tận trung tâm thành phố.

Hay ho hơn, một số bạn may mắn có cơ hội thực tập hay làm việc bán thời gian ở các vị trí phù hợp với ngành học. Một người bạn của mình đã từng thực tập marketing ở International Students House tại London. Các sinh viên ngành Environmental Design của mình cũng được giới thiệu cho nhiều công việc cộng tác với các công ty trong ngành trong các dự án rất thú vị, như tái sinh một khu ở đã bị bỏ hoang chẳng hạn. Sau các kinh nghiệm như vậy, khả năng được các công ty tuyển dụng đương nhiên rất cao.

Quan trọng hơn cả: những cơ hội này rất phù hợp với mục tiêu học hỏi chuyên ngành, và nó sẽ đến với những người chịu bỏ công sức làm việc nghiêm túc.

Chuẩn hóa kiến thức và bằng cấp

Nói gì thì nói, một lợi ích hết sức thực tế của việc đi học nước ngoài là lấy một bằng cấp được thế giới công nhận.

Ở Anh, có 24 trường nằm trong một nhóm gọi là Russell Group, gồm các trường đại học dẫn đầu UK luôn đảm bảo duy trì chất lượng nghiên cứu tốt nhất và dạy-học vượt trội, cùng với các mối liên kết mạnh với khu vực công và hành nghề tư nhân. Hầu hết các trường này nằm trong top 100 hoặc 150 của các bảng xếp hạng QS và THE. Rất nhiều học giả Chevening đã chọn học tại các trường này. Đặc biệt UCL và LSE – các trường hàng đầu về khoa học xã hội, kinh tế học, luật, đều có tới cả trăm Chevener theo học mỗi năm.

Từ chỗ tốt nghiệp ở các trường thậm chí còn chả được xếp hạng, đến chỗ được vào top 100 hoặc thậm chí top 10, là một bước nhảy vọt rõ ràng.

Hơn nữa, một bộ kiến thức vững vàng là hành trang … xóa mù dài hạn. Điểm mạnh của kiến thức này không phải là nó có tính thực dụng cao, học xong là áp dụng được ngay. Điểm mạnh của nó là những người thực sự hiểu và biết cách tư duy sẽ vận dụng nó vào được mọi vấn đề. Phương pháp tư duy nghiên cứu khoa học xã hội mà tôi được học là một trong những thứ như vậy.

Tự do để học, học để tự do

Việt Nam chưa có đủ tài nguyên để sinh viên được có tự do học thuật. Cách tổ chức và quy định chương trình không cho phép sinh viên khám phá nhiều môn tự chọn. Và ngay cả khi có cơ hội, sinh viên cũng không được chọn những môn có tính khai phá tư duy như nhân quyền hay nhân chủng học. Chưa kể là cơ sở vật chất và con người còn hạn chế.

Còn ở Anh, nhiều chương trình thạc sỹ có các môn tự chọn để sinh viên thoải mái chọn theo hướng nghiên cứu hoặc phát triển nghề nghiệp của họ. Ví dụ như một người học về Educational Leadership & Management ở UCL hoàn toàn có thể chọn môn “vĩ mô” như Values, Vision and Moral Purpose hoặc môn “vi mô” như Developing Personal Leadership Skills.

Sinh viên cũng có quyền hẹn gặp với bất cứ giáo sư nào trong các khung giờ giáo sư tiếp sinh viên. Chỉ cần đến phòng của giáo sư và điền tên mình vào khung giờ đó. Việc tiếp và giải đáp thắc mắc của sinh viên là trách nhiệm của các giáo sư.

Trường cũng cung cấp một loạt khóa học ngắn hạn miễn phí gọi là in-sessional courses. Rất nhiều khóa học trong đó hỗ trợ phát triển các kĩ năng mềm thực dụng như: tiếng Anh (yeah, lại tiếng Anh), viết luận văn, viết luận. Mình cũng đã tham gia hai khóa học về presentation và dissertation writing như vậy.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu ở các đại học tốt thì phong phú khỏi phải nói. Sinh viên có thể sử dụng tài khoản sinh viên để truy cập vào hầu hết các kho bài nghiên cứu khoa học trên thế giới, đọc và download hoàn toàn miễn phí. Thư viện có hàng chục nghìn đầu sách với đủ kiểu vị trí ngồi học. Bạn được quyền ồn ào ở chỗ học nhóm. Còn ở khu đọc chuyên ngành hoặc phòng đọc riêng, người ta giữ yên lặng đến mức nghe thấy tiếng thẻ rơi trên thảm.

Và nếu bạn chọn một trường thuộc “nhóm tốt”, bạn sẽ thấy chương trình của họ tập trung nhiều vào việc phát triển con người có tư duy độc lập và phản biện, để nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và tự do hơn. Họ không muốn tạo ra các nô lệ cho công việc chỉ đi học để lấy công cụ thực dụng làm việc. Cái gọi là môi trường học thuật mà người ta ca ngợi ở các nền giáo dục tiên tiến, thực chất là từ mục tiêu tạo ra con người biết cách suy nghĩ, khám phá, phát triển và thuần thục chính bản thân.

Tóm lại, các lợi ích của việc du học bậc cao học ở Anh (và có thể ở các nước phát triển khác) là:

  • Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu.
  • Xây dựng các mối quan hệ.
  • Thử sức để học hỏi trong và ngoài trường học.
  • Nâng cao và chuẩn hóa kiến thức lẫn bằng cấp.
  • Học để tự do.

Hi vọng các bạn cảm thấy phần này bổ ích mặc dù nó hơi dài. Hẹn gặp lại ở phần tiếp theo, liên quan chặt chẽ tới phần này 😀

Tính toán cơ hội khi xin học bổng – Reckoning the odds – Long D Hoang

Bài này sẽ chỉ ra các nguyên tắc cơ bản cần xem xét trước khi xây dựng chiến lược săn học bổng.

*Chú ý: Đây là những phân tích để cung cấp góc nhìn rất thực tế về việc săn học bổng, chứ không phải để ngăn cản hay làm nhụt chí các bạn. Ngôn từ và quan điểm tôi viết ra sẽ đi ngược lại ý thích hay quan điểm của nhiều người. Nhưng mọi câu chuyện tôi nói đều là có thực.

Người chưa được học bổng nên đọc để hiểu hơn về cơ hội và khả năng của mình.

Người vừa mới được học bổng cũng nên đọc để hiểu hơn tại sao mình đạt học bổng, tránh việc đưa ra những thông tin hay quan điểm thiếu cơ sở khiến cho nhiều người khác tốn công sức vô ích.

*Các học bổng được nhắc đến ở đây là học bổng bậc thạc sỹ do các chính phủ hoặc quỹ đa chính phủ cấp.

Nguyên tắc 1: Mỗi học bổng có một bộ tiêu chí riêng

Các tiêu chí năng lực bên trong: là các yếu tố bên trong mà ứng viên hoàn toàn có thể trau dồi và thay đổi để đạt các tiêu chí này

  • Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn
  • Nền tảng kiến thức và khả năng nghiên cứu (ở ngành ứng tuyển)
  • Khả năng tư duy và giao tiếp
  • Các kĩ năng, phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu. Ví dụ: động lực cá nhân, khả năng lãnh đạo, kĩ năng tạo mối quan hệ, khả năng làm đại sứ văn hóa.

Trong đó, 3 yếu tố chuyên môn, học thuật, và tư duy là có thể so sánh được tương đối rõ ràng giữa ứng viên này với ứng viên khác dựa trên số năm kinh nghiệm, thành tích học và ngành học, và các bài luận xin học bổng. Tuy nhiên, nếu các ứng viên có ngành ứng tuyển khác nhau, việc so sánh cũng tương đối khó.

2 yếu tố động lực và phẩm chất cá nhân rất khó có thể so sánh và hoàn toàn dựa trên đánh giá cảm tính.

Các tiêu chí bên ngoài: là các yếu tố bên ngoài được mặc định từ khi sinh ra hoặc ứng viên ít có khả năng thay đổi.

  • Đa dạng quốc tịch, đa dạng văn hóa, đa dạng miền địa lý (3 tiêu chí): nhiều chương trình học bổng không công khai điều này, nhưng chắc chắn họ luôn hướng tới sự đa dạng quốc tịch, đa dạng văn hóa, và đa dạng về miền địa lý. Erasmus Mundus là một trong những chương trình hiếm công khai việc họ sắp xếp các geographical windows (các suất học bổng cố định cho các vùng địa lý ngay cả khi ứng viên không hoàn toàn đạt yêu cầu về học thuật)
  • Quan hệ ngoại giao giữa các nước: các học bổng cho phép ứng viên quốc tế, bất kể quốc tịch, ứng tuyển đều có tính chất ngoại giao nhất định. Ví dụ: trong suốt 10 năm từ 2006 đến 2015, người Việt Nam luôn nằm trong nhóm 2 nước được nhiều học bổng Endeavour nhất, thậm chí còn thường xuyên giành nhiều nhất. Nếu chỉ xét các yếu tố chủ quan, thì không thể nào người Việt Nam có nhiều suất như vậy. Chúng ta chắc chắn không thể giỏi tiếng Anh hay có trình độ học thuật tốt hơn ứng viên Ấn Độ được.
  • Ưu tiên cho các vùng khó khăn. Ví dụ: Việt Nam là một “vùng trũng” của thế giới về học thuật. Vì thế các sinh viên Việt Nam chắc chắn luôn được ưu tiên một số suất nhất định trong học bổng Erasmus Mundus (tôn chỉ của Erasmus Mundus là trao đổi học thuật, đặc biệt là đào tạo học giả cho các vùng còn đang kém phát triển).
  • Ưu tiên ngành. Ví dụ: học bổng BBS ưu tiên ứng viên học ngành quản lý và xử lý nước. Ứng viên có thể không hẳn giỏi chuyên môn hay tư duy tốt hơn ứng viên ngành khác, nhưng anh ta là ứng viên khá nhất dự định học ngành xử lý nước, vậy thì anh ta phải được học bổng thôi.
  • Các tiêu chí ưu tiên khác về profile: là người khuyết tật, đang làm việc cho cơ quan nhà nước cấp Bộ, đang hoặc sẽ làm việc cho NGO, người thân làm chính trị – ngoại giao.
  • May mắn.

Mỗi học bổng có một cách quy định riêng biệt về trọng số của các tiêu chí trên. Ví dụ: Chevening coi trọng tiêu chí lãnh đạo, Fulbright coi trọng tiêu chí đại sứ văn hóa, AAS coi trọng profile và triển vọng đóng góp cho nhà nước, Erasmus Mundus coi trọng khả năng học thuật, Endeavour lại có tính ngoại giao cực mạnh. Đặc biệt, không phải lúc nào tiêu chí năng lực cũng là tiêu chí quan trọng nhất.

Muốn xin học bổng, trước hết phải tìm hiểu được chính xác bộ tiêu chí của học bổng.

Nguyên tắc 2: Người được học bổng là người phù hợp nhất, chứ không phải người giỏi nhất

Chính xác hơn, người được học bổng là người thể hiện được rằng họ là lựa chọn phù hợp nhất với học bổng.

Phù hợp nhất tức là sao? Ví dụ nhé:

  • Là ứng viên giỏi lãnh đạo nhất cho học bổng ưu tiên lãnh đạo tương lai.
  • Là ứng viên “naïve” nhất cho học bổng ưu tiên các đại sứ văn hóa.
  • Là ứng viên khá khẩm nhất đến từ vùng Đông Nam Á.
  • Là ứng viên DUY NHẤT ứng tuyển một chương trình thuộc Erasmus Mundus mà đến từ Châu Á.

Có nghĩa là họ KHÔNG NHẤT THIẾT phải người giỏi nhất về chuyên môn, hay học giỏi nhất, hay có động lực lớn nhất, hay giỏi lãnh đạo nhất.

Ví dụ:

  • Đỗ Hữu Chí được học bổng Fulbright với GPA vừa đủ điểm tốt nghiệp.
  • Một số học giả Chevening năm 2015 được học bổng với điểm loanh quanh 7.0 – 7.6
  • Một bạn được học bổng Erasmus Mundus ngành lâm nghiệp, mặc dù ngành học và kinh nghiệm làm việc chẳng liên quan gì đến lâm nghiệp.

Chúng ta thường tìm hiểu học bổng thông qua profile, hoặc may mắn hơn là bài luận của những người đã dành được học bổng. Nhưng những việc đó sẽ không giúp ích được nhiều cho việc chuẩn bị hồ sơ, nếu như chúng ta không biết được TẠI SAO họ giành được học bổng (hay họ được chọn do đáp ứng được tiêu chí nào), và NHỮNG ỨNG VIÊN CẠNH TRANH là ai để so sánh hồ sơ dựa trên hệ quy chiếu của học bổng.

Tóm lại, mục đích của việc tìm hiểu hồ sơ thành công là xem người ta có gì phù hợp với tiêu chí, có gì vượt trội so với những người cạnh tranh, chứ không phải xem người ta giỏi như thế nào. Nói cách khác, “giỏi” là phải được so sánh với đúng hệ quy chiếu của học bổng, chứ không phải “giỏi” vì anh ta được học bổng.

Nguyên tắc 3: Muốn thành công cần cả năng lực và rất nhiều may mắn

3 yếu tố năng lực, tiêu chí học bổng, và may mắn có vai trò rất khác nhau trong mỗi trường hợp săn học bổng thành công (hoặc không thành công). Sẽ rất hàm hồ khi dựa vào việc một người được học bổng mà khái quát ra quy luật, kiểu như: Anh ta được học bổng toàn phần vì anh ta năng lực và phẩm chất cá nhân tốt, hay coi nhẹ vai trò của may mắn trong học bổng.

Để hiểu hơn về vai trò của các yếu tố này, hãy xét các trường hợp sau.

Giả sử phổ năng lực của các ứng viên cho một học bổng tuân theo đúng quy luật phân bố 5% thực sự kém – 90% năng lực trung bình sàn sàn như nhau – 5% vượt trội hẳn, xuất sắc.

Trường hợp 1: số suất học bổng vừa đúng bằng số lượng 5% ứng viên. Nếu tiêu chí chủ yếu của học bổng là năng lực, công việc lựa chọn sẽ rất đơn giản: trao học bổng cho đúng 5% xuất sắc. Ví dụ: có 200 hồ sơ và sau 3 vòng xét tuyển người ta lọc ra được 10 người thực sự vượt trội hơn hẳn 190 người còn lại về nền tảng kiến thức, kinh nghiệm, tư duy, và phẩm chất cá nhân. Số học bổng là 10 suất => lấy đúng 10 người đó.

Trường hợp 2: số suất học bổng nhiều hơn 5% ứng viên. Ngay cả khi tiêu chí chủ yếu là năng lực, ban xét duyệt vẫn không thể chọn ra đủ số người để trao học bổng. Khi đó họ chỉ có lựa chọn: chọn thêm từ những người không thực sự đạt yêu cầu dựa trên các yếu tố ưu tiên bên ngoài hoặc bốc thăm ngẫu nhiên. Ví dụ, có 300 hồ sơ ứng tuyển, 15 người thực sự xuất sắc đạt yêu cầu, còn hơn 200 người còn lại chỉ sàn sàn như nhau. Số suất học bổng là 30. Vậy 15 người còn lại sẽ được chọn do may mắn chứ không hẳn do năng lực tốt.

Trường hợp 3: Số suất học bổng ít hơn nhiều so với 5% ứng viên. Khi đó họ buộc phải lựa chọn trên yêu tố ưu tiên bên ngoài hoặc bốc thăm ngẫu nhiên trong số 5% đó để chọn ra người được học bổng. Ví dụ, có 10,000 hồ sơ ứng tuyển mà chỉ có 10 suất học bổng. Vậy thì trong 500 người ổn nhất, vẫn phải bốc thăm ra 10 người may mắn. Hoặc, người ta phải dùng một tiêu chí không liên quan đến năng lực để lọc ứng viên ngay từ những vòng đầu tiên.

Các trường hợp trên mới chỉ xét các học bổng coi tiêu chí năng lực là quan trọng nhất. Thực tế, không phải khi nào học bổng nào cũng coi tiêu chí năng lực là quan trọng nhất, như trường hợp dưới đây.

Trường hợp 4:

Một ứng viên không học và làm gì liên quan đến lâm nghiệp được học bổng EM ngành lâm nghiệp.

Bất kể bạn này có động lực hay tầm nhìn đến mấy, chắc chắn trong hàng nghìn hồ sơ phải có hàng chục người khác có kiến thức, có kinh nghiệm nhiều hơn và cũng có động lực và tầm nhìn tốt. Vậy câu trả lời ở đây chỉ có thể là: không phải lúc nào năng lực cũng là yếu tố quyết định. Chuyện này xảy ra không chỉ với EM đâu, mà còn với nhiều học bổng quốc tế khác với số lượng hồ sơ lên tới hàng chục nghìn.

Nguyên tắc 4: Biết ưu tiên học bổng dựa trên điều kiện thực tế

Có một sai lầm rất kì cục và phổ biến: săn học bổng mà không có sự ưu tiên.

  • Viết một bộ hồ sơ chung để ứng tuyển cho tất cả các học bổng, không quan tâm mấy đến sự khác nhau về tiêu chí => không biết ưu tiên công sức và thời gian cho đúng học bổng phù hợp với mình, cũng không biết ưu tiên thể hiện tố chất nào cho học bổng nào.
  • Dành nhiều hi vọng cho các học bổng như nhau => không biết ưu tiên tâm trí cho đúng học bổng, để đến khi trượt cái học bổng không phù hợp với mình thì lại thất vọng tràn trề.

Việc ưu tiên phải dựa trên (1) sự phù hợp của tiêu chí học bổng đối với năng lực cá nhân, và (2) tỉ lệ giữa số suất học bổng và số lượng hồ sơ.

Ưu tiên thế nào?

  • Ưu tiên số 1: học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp với năng lực cá nhân, số suất học bổng nhiều hơn 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: với những học bổng này, khi có năng lực thực sự vượt trội (thuộc nhóm 5%), bạn chắc chắn sẽ được học bổng.

Nhược điểm: phải nằm trong số 5% mới tự quyết định được số phận, không thì hoàn toàn chỉ cầu may.

  • Ưu tiên số 2: học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp năng lực cá nhân, số suất học bổng xấp xỉ 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: với những học bổng này, khi có năng lực thực sự vượt trội (thuộc nhóm 5%), bạn chắc chắn sẽ được học bổng.

Nhược điểm: phải nằm trong số 5% mới được học bổng.

  • Ưu tiên số 3: các học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp năng lực cá nhân, số suất học bổng nhiều hơn 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: không cần quá giỏi, may mắn hơn người khác một chút nữa là được học bổng.

Nhược điểm: không tự quyết định được số phận, đỗ cũng chẳng biết tại sao mình đỗ.

  • Không ưu tiên: các học bổng có số suất học bổng ít hơn nhiều so với 5% tổng số hồ sơ, các học bổng không đặt tiêu chí năng lực lên hàng đầu. Lý do không ưu tiên: giỏi đến mấy cũng chỉ kiểm soát được 30% cơ hội (thông qua viết hồ sơ và bài luận), phần còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào sự may mắn (ứng viên cạnh tranh có xuất sắc không, ban xét duyệt bốc trúng mình không, có ai cạnh tranh cùng vùng miền không)

Kết luận: Săn học bổng đòi hỏi những tìm hiểu và tính toán chiến lược, cơ hội kĩ lưỡng dựa trên thông tin thật chứ không phải quan điểm kiểu: “Tôi cho rằng/Tôi nghĩ rằng…”. Tức là phải tìm hiểu rất nhiều trường hợp khác nhau, nhất là những trường hợp trượt học bổng, chứ không phải cứ nhìn vào những trường hợp thành công. Không kém phần quan trọng: cần liên tục nâng cao năng lực của bản thân để vào nhóm 5%, thậm chí 2%. Càng có kiến thức nền tảng tốt, kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu dày dạn, tư duy và khả năng đặc biệt tốt, càng có nhiều khả năng quyết định số phận hồ sơ. Ngược lại, thiếu đi một thứ trong những thứ trên, phần trăm may mắn cần thiết sẽ lại phải tăng lên một phần.

Trước khi ứng tuyển, hãy tự hỏi mình có kiến thức chuyên ngành phù hợp không (không nhất thiết phải có bằng cấp)? Có kinh nghiệm phù hợp không? Tư duy đã ở trong nhóm 5% chưa hay vẫn mù mờ cảm tính, thiếu phản biện như hàng triệu người Việt Nam khác?

Trả lời được các câu trên, các bạn sẽ có cái nhìn thực tế hơn về bản thân và cơ hội của bản thân, bất kể đã được học bổng hay chưa.

Bonus: hồi tôi làm hồ sơ ứng tuyển Chevening, tôi tính toán thế này:

  • Background: bằng đại học về kiến trúc, phù hợp với ngành Environmental Design định ứng tuyển.
  • Kinh nghiệm và năng lực công việc: 3 năm, đã có kinh nghiệm thiết kế công trình nhỏ lẫn thi công công trình siêu cao tầng.
  • Tư duy và khả năng trình bày bằng tiếng Anh (viết và nói): ổn, tự tin không mấy người cùng ngành có thể cạnh tranh.
  • Khả năng lãnh đạo: lãnh đạo được cái đời mình *kidding* suốt 2 năm làm giám sát liên tục phải “huých” các đội nhà thầu đảm bảo chất lượng, giữ tinh thần trách nhiệm trong công việc.
  • Số lượng hồ sơ và số suất học bổng Chevening: vô tình tìm được ở đâu đó số lượng hồ sơ xấp xỉ 200, mà số lượng suất học bổng sẽ khoảng 30.

Kết luận: hoàn toàn có quyền tự quyết định số phận :v

Con đường đến với nước Mỹ – Xin tiền tư bản đi học!

Tháng 7 này, người lữ hành là tôi sẽ khăn gói quả mướp đến xứ sở của những cây xương rồng cao hơn đầu người, xứ sở của giống mèo Bob cat hoang dại có năng lực siêu nhiên trèo được lên ngọn cây xương rồng đầy gai để tránh kẻ thù, xứ sở của sa mạc, của cát, của Grand Canyon. Tôi sẽ đến Arizona làm nghiên cứu sinh ngành Government and Public Policy, tại trường University of Arizona. Vì gần đây có nhiều bạn hỏi tôi về cách thức xin học bổng tiến sỹ, tôi mạo muội viết bài này để kể về quá trình gian nan của mình. Tôi hi vọng sẽ phần nào giúp ích được cho những bạn đang khao khát nuôi giấc mơ Mỹ 🙂

Để xin được một suất học bổng tiến sỹ ở Mỹ, đặc biệt là các ngành xã hội, bạn phải chiến đấu với nhiều ứng viên nặng ký ở khắp nơi trên thế giới. Đây thực sự là một quá trình rất cạnh tranh. Theo như tôi tìm hiểu, thường 1 trường không bao giờ nhận quá 10% số ứng viên nộp hồ sơ. Đối với 1 số ngành như kinh tế, sự cạnh tranh còn cao hơn nữa. Nhiều bạn hỏi mình có bí kíp thần kỳ nào để vượt qua được bao nhiêu hồ sơ như vậy. Bí quyết của tôi là SỰ CHÂN THÀNH + SỰ QUYẾT TÂM + MỘT KẾ HOẠCH CỤ THỂTôi xin chia sẻ kế hoạch và từng bước apply. Lưu ý bài viết này phù hợp nhất cho những bạn đang nung nấu ý định xin tiến sỹ ngành xã hội mà đặc biệt là political science hoặc/và public policy. Tôi không rõ về quy trình apply ngành kỹ thuật nên tôi không chắc bài viết có thể phù hợp.

Thời gian chuẩn bị:   8– 12 tháng. Deadline các trường thường là tháng 12- tháng 1. Mình bắt đầu rục rịch chuẩn bị từ tháng 4, tháng 5.

Số trường cần nộp: Để chắc chắn bạn nên nộp khoảng 5-8 trường. Tôi nộp 7 trường và hiện đã được nhận 4 trường, còn 1 trường chưa có kết quả.

Tài chính: 1500-2000 USD. Mỗi tháng tôi trích 1 ít tiền lương để vào 1 tài khoản riêng để khi nộp đơn khỏi sốt ruột hehe. Chi phí bao gồm lệ phí của các trường, thi các thể loại GRE, Tiếng Anh, nộp bảng điểm, nộp điểm GRE, điểm tiếng Anh.

Hồ sơ tiến sỹ gồm những gì và chuẩn bị ra sao:

Các thể loại statements (bài luận):

Đây có thể được coi là phần quan trọng nhất trong hồ sơ của bạn. Đây là cơ hội duy nhất dể bạn thể hiện bản thân bạn trước hội đồng tuyển sinh. Tuỳ từng trường, bạn có thể sẽ phải viết academic statement of purpose, personal statement và diversity statement. Nếu trường nào yêu cầu bạn chỉ viết một bài luận là personal statement, thì mặc định đó là statement of purpose. Vậy sự khác nhau giữa các bài viết này là gì?

Statement of purpose:  Đây là nơi bạn phải trả lời được cách câu hỏi sau: Lĩnh vực nghiên cứu bạn quan tâm là gì (Viết phần này có lẽ là khó nhất vì bạn phải thể hiện là mình có một kiến thức nhất định về lĩnh vực mình muốn theo đuổi, làm sao viết một cách cụ thể, nhưng không cụ thể đến mức khiến người ta nghĩ bạn không cởi mở cho những ý tưởng mới). Định hướng nghề nghiệp trong tương lai của bạn là gì? Vì sao việc học tiến sỹ lại giúp bạn đi theo con đường này? Bạn đã chuẩn bị cho con đường này như thế nào (các nghiên cứu bạn đã từng tham gia trước đây, bài viết đc đăng, vì sao bạn phải chọn trường này mà không phải trường khác, etc?). Khác với statement of purpose khi bạn nộp hồ sơ học master, đây gần như là letter bạn viết để apply cho 1 vị trí nghiên cứu chuyên nghiệp.

Personal statement/diversity statement:  Đây là cơ hội để bạn chia sẻ những kinh nghiệm, trải nghiệm của bản thân, background ( văn hoá, gia đình, giáo dục, etc.) đã hình thành nên con người bạn hiện nay như thế nào? Con người bạn sẽ đóng góp thế nào vào sự đa dạng của trường? Những trải nghiệm trong cuộc sống của bạn (học thuật, hoặc không liên quan đến học thuật) ảnh hưởng thế nào đến quyết định bạn đi học tiến sỹ.

Độ dài tuỳ của mỗi bài luận tuỳ thuộc từng trường nhưng giao động khoáng 2-5 trang.

Khi tôi bắt tay vào viết các bài luận này, tôi đã lên mạng tìm nhiều các bài mẫu để tham khảo. Tôi đã đọc rất nhiều profile đẹp, tôi còn nghĩ ” trời, profile họ đẹp thế này, làm sao để mình cạnh tranh được đây”. Tôi hoang mang lắm khi nghĩ đến tỷ lệ nhận của trường thấp và đọc các bài viết hay. Đọc hết forum này đến forum khác, đọc tips này đến tips khác, đầu óc tôi trở nên mụ mị và mất tự tin. Nhưng rồi đến một ngày, tôi tĩnh tâm lại và nhớ tới lời động viên của thầy supervisor ở Anh, thầy đã nói với tôi “Thầy tin em có khả năng, và em sẽ đỗ những trường em muốn”, thầy còn nói “write something that makes you unique”. Nhớ đến lời thầy, tôi không đọc nữa. Và tôi đã tìm thấy một thứ gia vị cho bài viết của mình, đó là SỰ CHÂN THÀNH. Một người chị mà tôi vô cùng ngưỡng mộ cũng thường hay bảo tôi rằng không có gì đáng giá hơn sự chân thành. Và thế là câu chữ cứ tuôn ra. Trong bài personal statement, tôi viết về passion của mình đối với việc làm research, việc được đi, quan sát và viết. Tôi kể về những cảm xúc của mình khi lần đầu được tiếp xúc với những thông tin khác với những gì tôi được biết, được dạy. Tôi đã rất buồn, mất niềm tin, thậm chí đã khóc, nhưng nỗi buồn dần bị thay thế bởi sự phấn khởi được học cái mới, được nhìn thế giới bằng một góc khác đi- sinh động hơn, đa chiều hơn và khách quan hơn. Tôi tâm sự trong bài rằng những trải nghiệm ấy khiến tôi không còn là một con người bướng bỉnh chỉ tin rằng trắng-đen, tốt-xấu là rõ ràng. Nó cũng khiến tôi bớt phán xét hơn, và bao dung hơn với mọi người. Cuốn tiểu thuyết 1984 của George Orwell có tác động rất mạnh đến suy nghĩ của tôi, và tôi đã chia sẻ điều ấy trong bài. George Orwell viết một câu thực sự rất ám ảnh, đó là “Who controls the past, controls the future. Who controls the present controls the past”. Tôi chia sẻ rằng “I feel this sentence whenever I think about….”. Một bạn đã khuyên tôi nên dùng động từ khác vì “feel” nghe mạnh quá, nhưng tôi vẫn quyết định giữ vì tôi biết đó mới thật sự là tôi. Tôi viết về niềm vui, cảm xúc khi được đến thăm The Little Sai Gon và quan sát cuộc sống của người Việt Nam ở đó.

Nhiều bạn đang muốn apply đi học hỏi tôi nên viết statments thế nào, tôi chỉ có một lời khuyên như thầy tôi đã khuyên tôi: Viết về những gì khiến bạn là bạn của ngày hôm nay với tất cả sự chân thành. Có bạn bảo tôi nhưng bạn không có câu chuyện gì đặc biệt cả. Tôi không tin! Đằng sau mỗi con người là một câu chuyện, một trải nghiệm không ai giống ai, hãy KỂ CÂU CHUYỆN CỦA BẠN.

Letter of recommendation (thư giới thiệu): Thư giới thiệu là một phần CỰC KỲ quan trọng của hồ sơ. Thông thường, các trường yêu cầu 3 thư giới thiệu đối với hồ sơ tiến sỹ. Hãy chọn 3 người hiểu bạn, đánh giá cao bạn và nhờ họ viết thư. Khoảng 3 tháng trước deadline, tôi viết email cho những người tôi muốn nhờ họ viết thư, tôi hỏi họ nếu họ có thể viết cho tôi một STRONG recommendation letter. Tôi không muốn một lá thư bình thường, tôi muốn một lá thư có sức nặng. Bạn đừng ngại khi phải hỏi như thế, nếu họ không thể viết strong cho bạn, họ sẽ nói rõ ràng như vậy. Khoảng 1,5 tháng trước khi deadline, tôi gửi cho họ statements của mình, CV, và một số ý tôi muốn có trong thư. Đừng ngại khi phải gửi cho họ một số ý, các giáo sư rất bận nên sẽ đánh giá cao điều này. Dựa vào những ý đấy họ sẽ viết dựa trên trải nghiệm làm việc với bạn hoặc dạy bạn. Dù bạn trúng tuyển hay không, cũng nên viết một note cảm ơn (mình khuyến khích là viết tay) để thể hiện sự biết ơn vì họ đã bỏ thời gian, công sức viết cho bạn :).

Writing sample (bài viết mẫu): Đây cũng là một phần CỰC KỲ quan trọng vì ban tuyển sinh muốn đánh giá khả năng viết của bạn- một kỹ năng không thể thiếu nếu muốn học PHD. Khi tôi hỏi một thầy về vai trò của writing sample, thầy đã trả lời tôi thế này “We are primarily using the writing sample to judge the strength of your writing style. We will ask ourselves: How well prepared do we believe you are to be writing on the PhD program?”. Vậy chọn bài writing sample thế nào? Trước hết, bạn cần chú ý đến yêu cầu của từng trường: độ dài của bài là bao nhiêu (ngành của mình thường là 20-25 trang), có cần phải là original research hay không, có cần phải viết đúng chủ đề ngành học mà bạn đang apply hay không? Từ đó lựa chọn bài tốt nhất và phù hợp nhất. Tôi chọn một bài term paper được các thầy đánh giá cao, chỉnh sửa lại theo comments của thầy. Bài term paper đó của tôi chỉ có 10 trang nhưng yêu cầu của các trường là 20-25 trang vậy là tôi phải đọc thêm literature để viết thêm, tìm thêm các ý mới, vv. Nếu có thời gian hãy gửi bài cho một giáo sư hoặc một người nào đó trong lĩnh vực của bạn đọc lại.

GRE, TOEFL: Tôi sẽ chia sẻ về phần này trong một bài khác, hiện tôi đã buồn ngủ quá rồi 🙂

Có nên liên hệ với giáo sư trước khi apply: Học tiến sỹ ở Mỹ, bạn phải học coursework trước khi bạn được tự làm một nghiên cứu độc lập (hay còn gọi là luận văn tiến sỹ). Coursework sẽ chuẩn bị cho bạn kiến thức sâu về ngành mà bạn học và phương pháp nghiên cứu khoa học. Qua quá trình học coursework, ý tưởng nghiên cứu của bạn sẽ thay đổi ít nhiều. Như vậy trường thường không bắt buộc bạn phải liên hệ với các thầy trước khi apply. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi, việc liên hệ trước với trường và các thầy có rất nhiều ưu điểm. Thứ nhất, các thầy sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bạn không thể tìm thấy trên website, từ đó bạn sẽ phần nào biết được trường đó có phù hợp với bạn không. Thứ hai, bạn sẽ cho trường thấy bạn là một thí sinh nghiêm túc, có định hướng rõ ràng, và dám take initiative. Có bạn hỏi tôi làm thế nào để viết thư mà các thầy sẽ trả lời? Tôi viết cho nhiều thầy ở các trường khác nhau mà tôi apply, và gần như tôi nhận được tất cả hồi âm và cuối cùng đều có Skype với họ. Bí quyết của tôi không gì khác ngoài SỰ CHÂN THÀNH. Bạn rất khó nhận được hồi âm nếu các thầy cảm nhận được là bạn có một mẫu thư và gửi cho một loạt giáo sư khác nhau. Trước khi liên hệ với một giáo sư, tôi thường đọc một số bài báo mới nhất của thầy, note ý và viết ra một vài câu hỏi. Trong thư đầu tiên, tôi nói ngắn gọn về mình đặc biệt là research interest của mình, rồi nhắc đến một số bài báo của thầy, và thể hiện mong muốn được nói chuyện với thầy để xem chương trình học đó có phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của mình không. Khi nói chuyện, tôi cũng hỏi những câu hỏi liên quan đến những sinh viên thầy đang hướng dẫn, cách thầy làm việc với sinh viên (thầy hướng dẫn bao nhiêu người, tần suất thầy gặp sinh viên, thầy mong muốn gì ở sinh viên, etc). Những thông tin này ít nhiều giúp tôi hình dung phong cách thầy làm việc với sinh viên, và xem có phù hợp với phong cách và nguyện vọng của tôi không. Bạn có thể liên hệ với cả PHD director của chương trình. Thầy sẽ cung cấp cho bạn thông tin chi tiết về quá trình tuyển sinh, học bổng, chương trình học, những tố chất mà chương trình cần có ở thí sinh, etc. Thầy cũng có thể recommend cho bạn giáo sư phù hợp để bạn liên hệ. Khi chuẩn bị nói chuyện với thầy ở Arizona nơi tôi sẽ học, tôi có đôi chút hồi hộp. Nhưng từ ngay giây phút đầu tiên khi thầy cất tiếng chào, tôi nhận ra thầy là một người Anh (vốn khá có cảm tình với người Anh, nên tôi tự nhiên thấy rất thoải mái). Câu chuyện cứ thế tuôn trào, tôi chia sẻ những mơ ước, nguyện vọng của mình. Thầy nói là “kế hoạch của em rất tốt và rõ ràng, thầy khuyên em nên apply, thầy đã nói chuyện với rất nhiều bạn nhưng có nhiều bạn thầy khuyên chưa nên apply hoặc không nên apply vì không phù hợp, thầy không muốn họ tốn 80 USD mà”. Tôi cũng nói chuyện với thầy PHD Director ở Colorado, thầy thì có phong cách Mỹ chính hiệu :)). Khi thầy chia sẻ là mỗi năm chỉ nhận 1-2 sinh viên quốc tế vì sinh viên quốc tế khá tốn kém haha. Lúc thầy nói vậy, tôi nghĩ làm sao đến lượt mình. Thật sự rất bất ngờ, trường lại nhận tôi. Lúc tôi nói rằng tôi sẽ không đến Colorado mà đến Arizona, thầy đã trả lời rằng Arizona cũng rất tốt, và rằng “tôi và em sẽ có lúc gặp nhau” :D. Tôi tin rằng những buổi Skype như thế này cũng giúp tôi khá nhiều trong quá trình apply.

Quá trình nộp hồ sơ thật sự dài và mệt mỏi. Nhiều lúc mệt mỏi, mắt díp lại mà vẫn phải ngồi làm việc, tôi lại nghĩ tại sao thân phải làm tội đời như vậy?. Nhưng rồi tưởng tượng đến ngày được đặt chân đến nước Mỹ, được theo đuổi đam mê của mình, tôi lại quên hết cả mệt mỏi và những cơn buồn ngủ để 6 tháng ròng rã học GRE, viết bài luận, liên hệ với trường :). Ngày nhận được kết quả tim tôi như vỡ oà sung sướng, cuối cùng tôi đã làm được. Có một em gái hỏi tôi “chị làm thế nào mà đi làm về vẫn chuẩn bị hồ sơ được,? Tối về em buồn ngủ lắm nên không thể làm gì được”. Nhắn nhủ đến em: Hãy tưởng tượng giờ này một năm sau em đang ở đất nước ấy, em đang đi giữa những con người, cảnh vật xa lạ đang chờ em khám phá, tưởng tưởng đến cảm giác khi em chạm tay vào giấc mơ ấp ủ bấy lâu, rồi EM SẼ TÌM CÁCH ĐỂ LÀM ĐƯỢC!

Tôi biết mấy năm tới con đường sẽ nhiều chông gai, nhưng cứ đi rồi sẽ đến!

Chả hiểu sao khi viết bài này tôi lại nghĩ đến phim La La Land có lẽ vì tôi thấy đồng cảm. Đời ngắn lắm, hãy cứ ước mơ, hãy cứ theo đuổi cái gì con tim mình muốn mặc cho người ta cho rằng bạn không có năng lực, người ta khuyên bạn nên làm những thứ mà họ cho là đúng, người ta tìm cách hạ thấp bạn và ngay cả khi xã hội quay lưng với bạn. Dù sao hãy cứ ước mơ!

PhD ở Mỹ, liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ, TẠI SAO KHÔNG NHỈ?

Bạn muốn theo con đường nghiên cứu/học thuật và bạn quyết định chọn nước Mỹ là nơi gửi gắm vài năm tuổi xuân của mình để theo đuổi tấm bằng PhD- chiếc vé đưa bạn đến với nghiên cứu/học thuật. Bạn đã có trong tay một bộ hồ sơ tốt nhất trong khả năng của mình: một bài luận thể hiện được con người bạn, điểm GRE và GPA đạt theo yêu cầu của trường, thư giới thiệu ổn, một bài viết mẫu tốt nhất mà bạn có thể viết… Còn  thiếu gì không nhỉ? Về mặt lý thuyết thì bạn đã có đầy đủ tài liệu cần thiết rồi đấy, chỉ cần ấn nút submit hồ sơ là bạn có thể thảnh thơi thư giãn, chờ đợi đến ngày hồ sơ của mình được một trường nào đó chấp nhận.

Nhưng hãy chờ chút, còn một việc mà tôi tin rằng nếu thực hiện, cơ hội được nhận của bạn sẽ cao hơn rất nhiều: LIÊN HỆ VỚI GIÁO SƯ CỦA TRƯỜNG TRƯỚC KHI NỘP HỒ SƠ. 

Để nộp hồ sơ xin PhD các ngành xã hội ở Mỹ, việc liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ là không bắt buộc vì trước khi chính thức bước vào giai đoạn viết luận văn, bạn sẽ phải học course work khoảng hai năm. Quá trình học course work sẽ định hình ý tưởng nghiên cứu của bạn, và ý tưởng này có thể thay đổi ít nhiều so với những gì bạn chia sẻ trong bài luận. Ngoài ra việc liên hệ trước với giáo sư không đảm bảo 100% là hồ sơ của bạn sẽ thành công.

Nhưng vì sao ta vẫn nên chủ động liên hệ với trường, với giáo sư trước khi nộp hồ sơ?

Thứ nhất, chủ động liên hệ với giáo sư chứng tỏ bạn là một THÍ SINH NGHIÊM TÚC và CÓ KẾ HOẠCH RÕ RÀNG. Việc đi học không phải là ý tưởng bất chợt đến trong lúc vui vui, mà bạn đã thật sự suy nghĩ về nó bởi bạn đã dành thời gian tìm hiểu và bỏ công sức liên hệ với trường để tự “chào bán bản thân”. Có thể bạn đang nghĩ “ý định của tôi hoàn toàn nghiêm túc mặc dù tôi không liên hệ với bất kỳ ai”. Tuy nhiên, tôi cho rằng liên hệ với trường, với giáo sư trước khi nộp hồ sơ đem lại cho bạn cơ hội thể hiện sự nghiêm túc đó ra, và biết đâu có thể dập tắt một số hoài nghi về bạn mà họ có thể có nếu chỉ đánh giá bạn dựa trên giấy tờ. Một người bạn của tôi có điểm speaking TOEFL chưa đạt yêu cầu của trường, bạn thật sự lo lắng vì không muốn mất thời gian thi lại. Bạn chủ động liên hệ với trường, và sau khi kết thúc cuộc nói chuyện qua Skype với giám đốc Chương trình PhD (PhD Program Director), thầy đã nói với bạn ấy là “Tiếng Anh của em rất tốt, tôi không thấy có vấn đề gì về kỹ năng nói của em. Thật may là em đã liên hệ với chúng tôi, nếu không chúng tôi sẽ có chút hoài nghi về khả năng tiếng Anh của em nếu chỉ nhìn vào điểm”.

Thứ hai, tôi tin là nếu bạn đi bước này, bạn sẽ khiến bản thân mình ĐẶC BIỆT hơn những thí sinh khác, bạn sẽ khiến người ta chú ý đến bạn hơn. Hãy thử tưởng tượng hồ sơ của bạn chỉ là một trong một trăm, hai trăm, hay thậm chí hàng trăm hồ sơ mà trường nhận được hàng năm. Rõ ràng việc bạn liên hệ trước sẽ đem lại lợi thế cho bạn. Nếu bạn không liên hệ, phải đợi mãi đến khi hội đồng tuyển sinh ngồi lại với nhau và đọc từng hồ sơ, người ta mới biết đến tên bạn, và người ta chỉ có thể tìm hiểu con người bạn thông qua những gì bạn viết. Nhưng hãy nghĩ nếu bạn để lại ấn tượng tốt sau một cuộc nói chuyện qua Skype hoặc gặp trực tiếp với một giáo sư, hội đồng tuyển sinh chắc chắn sẽ lưu ý hơn đến hồ sơ của bạn “À, tôi đã nói chuyện với em này rồi, có vẻ rất nhiệt tình, tràn đầy năng lượng và thật sự thích nghiên cứu. Để xem hồ sơ thế nào nào?” Nếu giáo sư mà bạn có cùng research interest có cảm tình và muốn làm việc với bạn, thì khả năng cao họ sẽ “đấu tranh”cho bạn nếu họ tham gia vào hội đồng tuyển sinh đấy.

Tôi có một cô bạn người Mỹ vừa hoàn thành PhD, cô ấy đã khuyên tôi thế này “Mai cố gắng liên hệ với trường và giáo sư nhé, nếu Mai có thể sang Mỹ gặp trực tiếp họ thì càng tốt. Việc này không đảm bảo chắc chắn Mai sẽ được nhận nhưng sẽ làm tăng cơ hội của cậu lên rất nhiều đấy.” Khi tôi hỏi một vị giáo sư làm sao để apply thành công. Thầy đã trả lời tôi rằng “em đã chủ động liên hệ với chúng tôi, bước đầu em đã làm được một việc rất tốt rồi. TÌM HIỂU MỘT NGƯỜI KHI GẶP HOẶC NÓI CHUYỆN TRỰC TIẾP SẼ RẤT KHÁC VỚI VIỆC TÌM HIỂU MỘT NGƯỜI QUA GIẤY TỜ”.

Thứ ba, chủ động liên hệ trước còn giúp bạn trả lời câu hỏi liệu chương trình PhD của trường đó có phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng, kinh nghiệm và kỹ năng của bạn không. Biết đâu khi Skype hoặc trò chuyện trực tiếp giáo sư, bạn nhận ra họ đang tìm kiếm những tố chất khác với những gì bạn có, giáo sư mà bạn muốn làm việc cùng sắp chuyển trường/ nghỉ hưu, research interest của bạn không còn là ưu tiên của trường nữa, vân vân và vân vân. Và thế là bạn tiết kiệm được gần trăm đô tiền nộp hồ sơ rồi đấy 😀

Khi tôi lên kế hoạch liên hệ với giáo sư, tôi không thật sự tự tin vào bản thân mình, tôi lo sợ nhiều thứ: kiến thức của mình có ít quá không, mình có cơ hội được không, mình có làm phiền họ không, vân vân và vân vân. Nhưng cô bạn người Mỹ và thầy hướng dẫn bên Anh của tôi động viên tôi là “HÃY LUÔN NGHĨ RẰNG TRƯỜNG SẼ TỰ HÀO KHI CÓ MỘT SINH VIÊN NHƯ EM. KIẾN THỨC, SỰ HAM HỌC HỎI, VÀ QUAN ĐIỂM/GÓC NHÌN KHÁC BIỆT- DO SỰ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HOÁ, GIÁO DỤC, TÍNH CÁCH SẼ ĐÓNG GÓP VÀO SỰ ĐA DẠNG CỦA TRƯỜNG”. Bạn tôi luôn nói với tôi một câu rất truyền cảm hứng. Tôi xin chia sẻ lại với bạn bởi tôi tin là nó sẽ rất hữu ích mỗi khi bạn đang hoài nghi về chính mình:

 BE CONFIDENT. NEVER SELL YOURSELF SHORT

       HÃY TỰ TIN. ĐỪNG BAO GIỜ ĐÁNH GIÁ THẤP BẢN THÂN

Nếu bạn đang muốn tưới thêm gia vị mang tên tự tin vào hồ sơ của bạn, tôi cũng xin khuyên bạn như những gì thầy và bạn tôi đã nói với tôi. Tôi tin rằng NẾU BẠN LUÔN CỐ GẮNG THÌ HÃY TIN RẰNG BẠN XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC NHẬN VÀ ĐÓ LÀ MAY MẮN CỦA TRƯỜNG KHI CÓ MỘT SINH VIÊN NHƯ BẠN!! 

Tiếp theo tôi xin chia sẻ kinh nghiệm quá trình tôi liên hệ với trường và các giáo sư. Kinh nghiệm của tôi chỉ giới hạn trong các ngành xã hội, mà cụ thể là Political Science và Public Policy ở Mỹ. Kinh nghiệm này có thể không phù hợp với các bạn đang apply ngành kỹ thuật hoặc ngành xã hội ở các nước khác.

Theo tôi ta nên chuẩn bị liên hệ từ khoảng 3-4 tháng trước khi deadline

          1.Ta nên liên hệ với ai?

Tôi thường liên hệ với Giám đốc Chương trình PhD (Phd Program Director) của trường và một hoặc hai giáo sư có hướng nghiên cứu phù hợp nhất với sở thích và nguyện vọng của tôi. Vì sao lại là hai đối tượng này?

Với PhD programme director, bạn có thể khai thác các thông tin liên quan đến quá trình tuyển sinh mà bạn không thể tìm thấy trên website. Ví dụ thông tin về số lượng hồ sơ trung bình trường nhận hàng năm, tỷ lệ được nhận, họ có ưu tiên sinh viên quốc tế không, điểm GRE “cut-off” là bao nhiêu, người ta có ưu tiên funding cho hướng nghiên cứu mà bạn quan tâm hay không? Nếu thấy bạn phù hợp, thầy có thể giới thiệu bạn đến một hoặc hai giáo sư đang tìm sinh viên có hướng nghiên cứu như bạn. Ngoài ra, PhD programme director chắc chắn nằm trong ban tuyển sinh, nên nếu bạn để lại ấn tượng tốt, họ sẽ xem xét hồ sơ của bạn kỹ hơn.

Đối với các giáo sư mà bạn quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu của họ (tôi sẽ gọi tắt là faculty member), bạn có thể hỏi họ đang tìm kiếm sinh viên có tố chất thế nào (kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu, các khoá học đã học, vv), các nghiên cứu họ đang làm và hướng đi trong tương lai, họ thường nhận bao nhiêu sinh viên hàng năm, và cách họ làm việc với sinh viên.

  1. Nên liên hệ thế nào để đảm bảo nhận được hồi âm?

Tôi đã nghe kể rằng có nhiều bạn gửi email cho rất nhiều giáo sư, nhưng hầu như không nhận được hồi đáp. Giáo sư là những người rất bận rộn, họ đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau ở trường: làm nghiên cứu, giảng dạy, và làm các dịch vụ khác phục vụ trường. Tôi chỉ có một lời khuyên dành cho bạn: HÃY LUÔN THỂ HIỆN SỰ CHÂN THÀNH trong mỗi email bạn gửi đi. Hãy tìm hiểu thật kỹ các thông tin về trường , về khoá học, đọc các nghiên cứu của giáo sư bạn quan tâm, đọc kỹ một vài nghiên cứu mà bạn thấy hứng thú nhất và ghi lại những câu hỏi bạn băn khoăn để nếu có cơ hội Skype, hãy trao đổi với họ.

Email đầu tiên nên ngắn gọn, giới thiệu được background của bạn, thể hiện sự quan tâm và mong muốn apply vào trường, nhắc đến một hoặc hai bài báo của giáo sư mà bạn quan tâm nhất và giải thích vì sao bạn quan tâm (nếu bạn viết cho một faculty member), hoặc nêu lên mong muốn được nói chuyện qua Skype/ nói chuyện trực tiếp (nếu bạn ở Mỹ) để hỏi một số câu hỏi liên quan đến quá trình tuyển sinh (nếu bạn viết cho PhD programme director).

Ta tuyệt đối không nên viết một lá thư chung chung cho một loạt giáo sư. Đây thường là lý do hàng đầu thư của ta sẽ bị cho vào thùng rác. 

Đây là email mà chắc chắc các giáo sư sẽ lắc đầu quầy quậy khi đọc, và email sẽ đi thẳng từ hòm thư của bạn đến  thùng rác của thầy.

Dear Professor ABC,

My name is X, I am a student at Y College/I am working for Z company/institute and I plan to apply for graduate school on T and I’m getting in touch to ask if you can give me any advice or direction about that.

Sincerely,

Your name

Còn đây là một email mà xác suất bạn nhận được hồi âm sẽ cao hơn rất nhiều. Nếu bạn nộp ngành Public Policy, với chuyên ngành hẹp hơn là Non-profit management, và research interest tập trung vào NGO, bạn  có thể viết một email như sau:

Dear Professor ABC

My name is “TÊN BẠN”, from Viet Nam. I plan to apply for the PhD program of Public Policy at “TÊN TRƯỜNG BẠN APPLY” this year. From my own research, I have found out that my research interests closely align with yours.

Having a Master’s degree/ Bachelor’s degree in “CHUYÊN NGÀNH CỦA BẠN” at “TÊN TRƯỜNG ĐH HOẶC THẠC SỸ” and  “SỐ NĂM” years of experience in non-profit sector, I have developed a strong interest in internal politics within an NGO and coordination among NGOs working on the same area of interests. I am also particularly interested in power dynamics between NGOs and their donors, and power relations of transnational actors in promoting sustainable development programs in developing countries. I was so excited to find out that part of your research centers on nonprofit management, and inter-organizational relations. These are the topics I really want to build my expertise in. I have read two publications which you authored (“xxx”, and “yyy”) and I really enjoyed them both. They gave me ideas for my future research. Your papers have made me realize that “NHỮNG BÀI HỌC BẠN RÚT RA TỪ BÀI BÁO”

I hope you don’t mind my getting in touch. I would like to ask if you are accepting graduate students in 2018 and if my research interests fit with your priorities in the coming time. If you are, I would like to talk to you a little more by Skype. Please let me know if you would you like to see my CV and know more about my research qualifications.

I am very interested in the “TÊN TRƯỜNG BẠN APPLY” and your work! I hope to have an opportunity to discuss my research interests with you.

I know you are very busy so I greatly appreciate any time you can give me!

I look forward to hearing from you!

Your name,

Với email này, cơ hội bạn nhận được hồi đáp cao hơn rất nhiều phải không? Vì sao?

Vì email này thể hiện bạn là một người nghiêm túc, bạn đã thực sự tìm hiểu về trường, và tận dụng tất cả những thông tin có trên website. Email này cũng thể hiện bạn thực sự muốn làm nghiên cứu và đã suy nghĩ đến hướng nghiên cứu bạn sẽ theo đuổi trong tương lai. Việc nhắc đến các bài báo của giáo sư chứng tỏ bạn đã tìm hiểu kỹ profile nghiên cứu của họ, điều này cho thấy bạn tôn trọng thời gian của các giáo sư- những người lúc nào cũng bận rộn.

Nếu là email cho PhD programme Director, bạn cũng có thể áp dụng email trên nhưng không cần nhắc đến các bài báo và hãy thể hiện là bạn đã tìm hiểu rất kỹ về quy trình nộp hồ sơ trên website nhưng vẫn còn một số câu hỏi liên quan đến quá trình này mà bạn muốn thảo luận sâu hơn.

Tiêu đề của email cũng cần thể hiện được ngay nội dung của email. Bạn có thể dùng tiêu đều sau cho email:

Email cho PhD Programme Director:  Fall 2018 Prospective PhD Student: Admission Info needed;

Email cho faculty member: Fall 2018 Prospective PhD Student: Research Interest Info needed

Nếu sau một hoặc hai tuần mà không nhận được phản hồi, bạn có thể gửi một email follow-up. Tôi gửi email có cấu trúc như trên cho một vị giáo sư nhưng sau hai tuần tôi không nhận được bất cứ hồi âm nào. Tôi quyết định viết một email follow-up nhưng cũng bặt vô âm tín. Khoảng gần hai tháng sau, khi tôi gần như không quan tâm đến email ấy nữa thì giáo sư hồi âm và rất xin lỗi vì thầy đi nghỉ nên không kiểm tra email thường xuyên. Sau đó thầy hẹn Skype với tôi, trong lúc nói chuyện thầy có chia sẻ rằng, năm nay trường sẽ chỉ lấy 1 hoặc 2 sinh viên quốc tế. Thật bất ngờ sau đó tôi lại được chọn. Tôi tin rằng một phần do tôi đã chủ động liên hệ trước. Vậy, các bạn đừng ngại ngần mà hãy chủ động nhé!

  1. Ta nên nói chuyện thế nào để gây ấn tượng và thu được nhiều thông tin

Nếu bạn đã nhận được lời đồng ý nói chuyện qua Skype với các thầy cô rồi, CHÚC MỪNG BẠN! Để đạt được kết quả tốt nhất từ cuộc nói chuyện này, ta hãy chuẩn bị thật kỹ. Hãy nói với tất cả sự NHIỆT HUYẾT và CHÂN THÀNH của bạn. Tôi thường viết ra các câu hỏi theo chủ đề, để một khoảng trống sau mỗi câu hỏi để ghi lại những câu trả lời của giáo sư nếu cần thiết. Cuộc nói chuyện đầu tiên bao giờ cũng khiến ta hồi hộp hơn cả, nhưng sau một vài lần như thế, bạn sẽ thấy sự tự tin của mình tăng lên đáng kể. Trước buổi nói chuyện đầu tiên, tôi chuẩn bị rất kỹ, tôi nghĩ đến các tình huống có thể xảy ra và tập nói thử một mình hoặc nói với một người bạn nhiều lần.

Và sau đây là một số câu hỏi mà tôi nghĩ bạn có thể tham khảo:

– What do you think is the biggest strength of the program?

-What do you  look for in a prospective student?

– Among all criteria: GPA, GRE scores, letter of recommendation, statement of purpose, and writing sample, how do you weigh these criteria, which is weighed the most heavily?

– Do you set a minimum score for GRE or GPA, but on average, what is considered to be competitive score of GRE and grade of GPA? Can experiences in research help compensate for normal GRE scores?

– Do I need to submit a sample on the topic I am interested in pursuing for the PHD?

– What prerequisite courses are required before a prospective student applies?

– Do you give priority to students who have experiences in qualitiative or quantitative experiences?

– How many applications do you receive each year on average? And how many are admitted? What is the attrition rate? And do you know why they left?

– What are the process of admissions? Does interview involve? When will I know the result? Which month the course start?

– Are students considered for assistantship automatically if admitted?

– How do you support students for publications?

– How does the department prepare the students to become a teaching assistant/research assistant?

– What is the student to professor ratio?

– How available are faculty to the students?

-Do students have the opportunities to present at conferences? And do you fund them?

-Are students assigned advisors or do they choose one?

-Where do students find work after graduation, in academia or outside acamedia? How long after graduation, are they able to find job?

-What is your advice for successful applications?

– Is the alumni network active? What are the main actvities of the network?

-It seems that you invest a lot in a PhD student, what are your expectations of students? How do you expect them to return?

-Other questions specifically relate to professors’ papers, their research interests and your interests.

Còn một số câu hỏi nữa mang tính cá nhân nên cho phép mình không chia sẻ lên đây. Bạn có thể chia các câu hỏi trên theo các chủ đề như 1) admission process 2) research interest 3) student-professor mentorship 4) ABC để tiện theo dõi khi trò chuyện. Nếu bạn có thêm câu hỏi nào nữa, thì hãy bổ sung vào danh sách trên nhé!

Mặc dù liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ không đồng nghĩa với việc bạn chắc chắn sẽ được nhận, tôi tin rằng đây là một việc nên làm và sẽ đem đến nhiều lợi thế cho hồ sơ của bạn. Chúc các bạn may mắn!

Viết luận xin học bổng của xứ tư bản! Trương Thanh Mai

Như đã hứa trong bài “Con đường đến nước Mỹ- Xin tiền tư bản đi học“, hôm nay tôi xin chia sẻ kinh nghiệm quá trình viết bài luận của mình.Hi vọng sẽ giúp ích cho những bạn đang ấp ủ ước mơ đi học.

Nếu ví bộ hồ sơ nộp học bổng của bạn như một ngôi nhà, thì bài luận (Statement of Purpose, Personal Statement) là phần móng của ngôi nhà. Ngôi nhà của bạn dù có đẹp đến đâu, lung linh đến đâu mà móng yếu thì nó khó có thể tồn tại lâu dài. Dù bộ hồ sơ của bạn có điểm GPA cao, điểm GRE hấp dẫn, CV đẹp, etc. nhưng một bài luận tồi, thì cơ hội đậu của bạn gần như rất thấp. Trong khi đó nếu điểm GRE của bạn không đẹp lắm, bạn có thể gỡ gạc bằng điểm GPA và ngược lại. (Trong post này tôi sẽ tập trung vào bài Statement of Purpose).

Thử thách lớn nhất của tôi khi bắt tay vào viết luận là tôi không biết bắt đầu từ đâu và như thế nào. Vì sao? Tôi nhận ra là vì tôi viết với tâm thế của một người đang CỐ HẾT SỨC ĐỂ GÂY ẤN TƯỢNG cho người khác đọc. Đúng là bài luận là nơi để bạn và tôi chia sẻ bản thân với ban tuyển sinh. Nhưng đặt mình vào vị trí như thế tôi lại bị rơi vào cái bẫy của chính mình: CỐ GẮNG VIẾT MỘT CÁI GÌ ĐÓ THẬT ĐẶC BIỆT. Càng cố viết ấn tượng, tôi lại thấy sao bản thân mình chả có gì ấn tượng để hấp dẫn người ta rót tiền cho mình :)). Sau những “nhọc nhằn” để gây ấn tượng, tôi tìm một cách tiếp cận khác cho bài luận của mình. Tôi coi bài luận là cơ hội để tôi lắng nghe tiếng nói thật sự của con tim mình. Tôi muốn thành thật trả lời 2 câu hỏi lớn mà tôi luôn loay hoay đi tìm: TÔI THẬT SỰ YÊU THÍCH CÁI GÌ? VÀ TÔI MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO. Tôi tin rằng nếu bạn có thể trả lời được 2 câu hỏi này, bài luận của bạn đã xong gần một nửa mặc dù nó có thể chưa thành hình thành khối.

Nhờ mối quan hệ bạn bè mà tôi biết rằng một số trường đang ưu tiên funding cho ngành chính sách liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu (BĐKH). Khi biết như vậy, tôi chợt cảm thấy mình có ít nhiều lợi thế cạnh tranh: đến từ một nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu này, đã có kinh nghiệm làm liên quan đến giải quyết BĐKH này, etc. Một lần, tôi tâm sự với bạn tôi:
– Chắc em sẽ nộp vào ngành chính sách môi trường, BĐKH, người ta đang có nhiều fund.
-Em có thật sự yêu thích nó không?
-Em nghĩ là em sẽ thích thôi
-Em nghĩ là em sẽ thích? Vậy là em không thật sự thích? Em đừng nghĩ là em sẽ thích, em đừng tự xây địa ngục cho mình.
-Em vào được hệ thống của họ rồi em sẽ nhìn ngó xem xét
-Em không bao giờ nên làm thế. Xin học bổng PhD cũng như …chuẩn bị cho một cuộc hôn nhân vậy, em không thể biết chắc là em sẽ mãi yêu và hạnh phúc đến cuối đời với người em lấy, nhưng ít nhất cái nền móng ban đầu em có thể kiểm soát được: đó là tình yêu.
Tôi phì cười với cách so sánh này nhưng tôi tin rằng đấy là một lời khuyên chính xác. Thấy cũng khuyên tôi hãy lắng nghe tim mình và viết với tất cả sự chân thành.

Có nhiều bạn hỏi tôi, hiện bạn đang băn khoăn không biết mình thực sự thích gì? Và đang loay hoay giữa 2-3 lĩnh vực khác nhau. Hãy thử đọc các bài báo, cuốn sách, xem phim tài liệu khác nhau về các chủ đề đó, hãy nghĩ lại các công việc bạn đã làm và THẬT LÒNG trả lời các câu hỏi sau: Bạn có cảm thấy hứng thú không? Bạn có muốn đào sâu tìm hiểu thêm không? Bạn có những giây phút “Aha, thì ra là thế” sau khi đọc/xem/làm việc xong không? Bạn có giữ được niềm say mê và nhiệt thành ngay khi đọc đến lúc hoàn thành không? Nghĩ đến việc 10-20 năm nữa vẫn tiếp tục “hiến” mình cho lĩnh vực ấy bạn có cảm thấy vui không? (Tất nhiên mọi thứ đều tương đối, nhưng tôi nghĩ chọn được lĩnh vực bạn yêu thích đã cho bạn một nền móng ban đầu rồi).

Câu hỏi bạn muốn trở thành ai trong tương lai cũng quan trọng như thế. Tôi nhận ra tầm quan trọng của câu này, khi tất cả các thầy mà tôi có cơ hội nói chuyện đều hỏi tôi câu này gần như ngay khi bắt đầu cuộc nói chuyện “Sau này em muốn làm gì?”. Vì sao việc chân thành lắng nghe trái tim mình trả lời 2 câu hỏi “bạn thích gì” và “bạn muốn làm gì” lại quan trọng đến như vậy? Vì nó không chỉ đảm bảo rằng việc đi học PhD của bạn có phải là lựa chọn sáng suốt không, mà còn là nền móng vững chắc để bạn có thể viết được một bài luận thuyết phục.

Nếu bạn đã tìm được câu trả lời rồi, xin chúc mừng bạn. Bây giờ hãy xem xét xem ta nên viết ra thế nào nhé.

1.Viết như một câu chuyện

Hãy viết bài luận của bạn như kể một câu chuyện. Tôi không có ý là bạn phải có lời thoại chằng chịt cho bài luận của bạn, mà ý tôi là bạn hãy đúc tạc bài luận của mình sao cho nó có một chỉnh thể hoàn chỉnh, logic và có liên kết từ đầu đến cuối. Và quan trọng nhất hãy tìm cho bài luận của mình một CHỦ ĐỀ, và mọi thứ bạn đưa vào bài luận (research interest, lý do chọn trường, kinh nghiệm học tập và làm việc, vv) đều liên quan đến chủ đề ấy. Hãy lấy truyện ngắn “Tên cớm và Bản thánh ca” của O.Henry làm ví dụ. Soapy là một người thanh niên vô gia cư, lấy ghế đá trong công viên Madison ở New York làm nhà, nhưng khi mùa đông đến anh không thể sống như vậy được vì quá lạnh. Câu chuyện xoay quanh một chủ đề nhất định : Nỗ lực của Soapy để “được” cảnh sát bắt vào tù ở Khám Đảo sống qua 3 tháng mùa đông khắc nghiệt bằng cách xù tiền sau khi ăn ở nhà hàng, đập phá cửa sổ cửa hàng, ” sàm sỡ” phụ nữ trên đường, vv. Nếu tác giả tham lam kể mọi thứ ông ấy muốn như tình trạng vô gia cư ở NY ra sao, mùa đông lạnh thế nào, abcxyz, thì truyện sẽ rất nhàm chán.

Áp dụng vào bài luận của mình thế nào nhỉ?

Nếu bạn tìm thấy lĩnh vực mình yêu thích rồi, giả sử là civil society (Xã hội dân sự). Nhưng bạn không thể chỉ nói “civil society always intrigues me” vì như thế qua rộng. Hãy chọn cho mình một chủ đề trong civil society, ví dụ: the role of civil society in making the state accountable to citizens. Và những thứ khác xung quanh bài luận là để bổ trợ cho chủ đề này. Sau đó bạn có thể triển khai rộng hơn: kinh nghiệm làm việc cho ABC, việc học ở XYZ, các cuốn sách của OPQ, etc. đã cho bạn nhìn ra được vấn đề này; việc học PHD sẽ giúp bạn giải quyết, nghiên cứu sâu hơn vẫn đề này thế nào? Sau khi tốt nghiệp bạn sẽ có định hướng như nào: giảng dạy, nghiên cứu tiếp về vấn đề này thế nào, etc. Tất nhiên là không ai bắt bạn chỉ được làm nghiên cứu như thế khi đi học, nhưng viết luận như vậy sẽ gây thiện cảm bới bạn tuyển sinh sẽ thấy bạn là một người có say mê, nhiệt thành và có định hướng rõ ràng.

Nói một cách khác, bạn có thể xây dựng cốt truyện bằng cách trả lời 5 câu hỏi sau:

-Bạn yêu thích lĩnh vực gì?
-Vấn đề mà bạn muốn giải quyết trong lĩnh vực yêu thích của bạn là gì?
-Vì sao bạn lại chọn vấn đề này
-Việc đi học PHD sẽ giúp ích gì cho bạn trong việc giải quyết, tìm hiểu sâu vấn đề nào?    Bạn đã có kỹ năng, kiến thức gì liên quan đến vấn đề này (qua công việc, nghiên cứu, học tập, etc.)?
-Tại sao bạn nghĩ học ở trường này sẽ giúp bạn có cơ hội hiểu hơn về vấn đề ấy
-Khi tốt nghiệp bạn có định hướng gì?

VẤN ĐỀ = CHỦ ĐỂ xuyên suốt bài

2.Viết rõ ràng, rành mạch

Trước khi bắt tay vào viết, tôi thường lên một dàn ý, gồm nhiều đoạn văn mỗi đoạn trả lời 1 câu hỏi trong các câu hỏi trên. Tôi cũng gạch ra những ý chính tôi muốn cho vào mỗi đoạn và số lượng từ ước lượng cho mỗi đoạn (vd: câu hỏi 1:300 từ, câu 2: 400 từ, vv) dựa vào tổng số từ/trang yêu cầu của trường.

Để bài viết được rõ ràng, dễ đọc, tôi áp dụng những quy tắc sau đây:
Quy tắc 1: Mỗi đoạn chỉ viết 1 ý. KHÔNG VIẾT VÀI BA Ý TRONG MỘT ĐOẠN. Thỉnh thoảng có bạn nhờ tôi đọc bài luận, tôi nhận thấy đây là một lỗi rất hay gặp. Viết quá nhiều ý trong một đoạn sẽ làm cho đoạn văn trở nên rối rắm, mất trong sáng và khó cho người đọc theo dõi.

Quy tắc 2: Đi thẳng vào vấn đề không vòng vo loanh quanh. Câu đầu tiên mỗi đoạn phải chỉ ra cho người đọc biết bạn đang viết về vấn đề gì. Khi viết về vấn đề nghiên cứu bạn quan tâm, bạn có thể bắt đầu như ví dụ sau: My primary research interests lie in civil society, particularly the role of CS in making the states accountable to citizens. Viết thẳng vào vấn đề không chỉ cho thấy bạn có khả năng viết mạch lạc, mà con giúp ban tuyển sinh tiết kiệm thời gian nữa đấy. Nếu bạn đang thấy mình viết về biển cả nhưng đã mất 5 dòng bắt đầu bằng việc tả núi non xung quanh thì phanh lại nhé :D. Hehe

Quy tắc 3: Các đoạn văn phải được liên kết với nhau. Bài luận là một chỉnh thể thống nhất với một chủ để xuyên suốt nên các đoạn văn phải có sự liên kết. Tôi thường cố gắng viết sao cho khi câu kết thúc đoạn văn này sẽ gợi mở ý cho đoạn tiếp theo.

Quy tắc 4: Không nhập nhèm dẫn chứng, chứng cứ. Ngày xưa đi học văn, ta hay viết “có ai đó đã nói…”, “người xưa cho hay…”. Khi viết luận, nếu bạn muốn dẫn chứng ý của một tác giả nào đó, thì nên viết rõ ràng tên người ta, và trích dẫn đúng chuẩn mực.

Luôn luôn có DẪN CHỨNG cho mỗi một câu statement. Nếu bạn nói bạn passionate, enthusiastic, etc. thì sau đó phải chứng minh điều đó thông qua phân tích nhưng việc/dự án bạn đã làm. Tuy nhiên, tôi nghĩ không nên viết thẳng như vậy, mà viết thông qua các bằng chứng để họ tự nhìn thấy điều đó. Ví dụ, thay vì viết “I am open-minded” rồi để đấy. Bạn nghĩ sao nếu ta viết thế này: “My postgraduate days in the UK afforded me the chance to live in a small world where I had an opportunity to work and study with people from diverse backgrounds, continents and nationalities. This opportunity taught me how to keep my mind wide open and embrace the differences”

Quy tắc 5: Không viết câu quá dài hoặc quá ngắn. Câu quá dài sẽ khiến cho câu trở nên rối rắm, tối nghĩa nhưng dùng quá nhiều câu đơn sẽ gây nhàm chán. Nếu bạn viết thế này: My primary research interests lie in civil society, particularly the role of CS in making the states accountable to citizens because after working for many different organizations, I have realised that their roles are bla bla..Nhưng nếu bạn viết thế này cũng không ổn: My primary research intererests lie in civil society. I like to do reserach on the role of CS in making the states accountable to citizens. I have worked for many organizations. I’ve realised that there are many problems. CS are not bla bla (ví dụ thôi, thực tế sẽ không có ai viết thế này hihi)

3.Sử dụng từ ngữ đơn giản

Viết đoạn này làm tôi nhớ đến một câu chuyện được bạn tôi kể cho nghe cách đây mấy năm. Có một em sinh viên đi thi IELTS về, rất tự tin về bài viết của mình vì em sử dụng được nhiều từ khó, thành ngữ đặc biệt. Kết quả bài viết chỉ được 4,5 điểm. Nhiều người nghĩ rằng phải viết những từ nghe đao to búa lớn mới thể hiện được là mình đỉnh, chất và mới có thể gây ấn tượng. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là bài luận của bạn phải thể hiện được ý tứ của bạn một cách RÕ RÀNG, ĐÚNG Ý TƯỞNG CỦA BẠN, không phải là nơi để bạn thể hiện là ta biết nhiều từ hay lắm. Nếu bạn đang phấn khởi vì vừa hấp thụ được cả đống từ mới GRE hoành tráng, hãy để dành những từ ấy cho …các cuộc thi. Hãy sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu.

Cẩn thận với các trạng từ, tính từ mạnh vì chúng rất nhạy cảm và chủ quan. Tôi đã từng đọc nhiều bài luận mà có nhiều bạn tự kể về mình ví dụ như “I am extremely hard-working”, “I have a wonderful problem solving skill”, etc. Vấn đề của những từ như “extremely”, “wonderful” là làm sao để bạn có chứng cứ thuyết phục được là bạn CỰC KỲ chăm chỉ, và bạn giải quyết vấn đề MỘT CÁCH TUYỆT VỜI. Nếu bạn nói bạn rất chăm, nhưng evidence là bạn làm 8 tiếng một ngày, thỉnh thoảng làm cuối tuần thì nó chả hợp lý tý nào. Cũng giống như bạn nói với 1 ai đó “Anh yêu em hơn bất cứ thừ gì trên đời’, nhưng chỉ thỉnh thoảng bạn mới đến gặp người ta, vài ba ngày mới nhắn tin một lần thì có phải dở không? Thôi thì thà cứ nói “Anh yêu em vừa vừa” thì bạn đỡ phải gồng mình chứng minh. Hehe. Nguyên tắc ở đây là: TỪ NGỮ CÀNG MẠNH, BẰNG CHỨNG CÀNG PHẢI MẠNH!

4.Lượng hóa khi cần thiết

Nếu có thể hãy đưa các con số vào bài viết của bạn. Hãy xem ví dụ nào đó như sau:
Together with 7 other members, I was able to undertake a detailed analysis of documents of more than 500 projects funded by ABCD
Dùng các con số bạn đã khéo léo thể hiện được phạm vi dự án mình đã từng làm mà không phải nói thẳng ra là “Tôi đây á, đã từng phân tích một đống tài liệu rồi nhé”

5.Bài luận không phải là CV

Một điểm quan trọng nữa đó là đừng biến bài luận thành anh chị em của CV, nghĩa là đừng liệt kê lại những gì đã có ở CV. Bạn hãy chọn một vài dự án/công việc bạn đã liệt kê ở CV và phân tích kỹ hơn trong bài luận để bổ trợ cho CHỦ ĐỀ bạn chọn. Điều quan trọng là luôn luôn nhấn mạnh vào BÀI HỌC RÚT RA TỪ dự án/công việc ấy-những thứ mà bạn không thể thể hiện trong CV. Ví dụ nếu bạn đang viết về một dự án nào đó, thay vì chỉ liệt kê tên dự án, bạn hãy viết rõ dự án đem lại cho bạn bài học gì. Ví dụ như: This research made me realize the role of NGOs and non-profit community networks in providing assistance to marginalized populations such as rice farmers, and urban poor people when formal support from the government failed to reach them

6.Review, review, review

Cảm giác sung sướng nhất là khi làm xong bản draft đầu tiên. Khi xong draft, tôi bỏ đấy 1, 2 ngày không nghĩ gì, động gì đến nó. Sau đó tôi quay lại chỉnh sửa và hoàn chỉnh thành bản final. Tôi gửi bài essay của tôi cho 5 người đọc (cả người Việt Nam và nước ngoài, cả người cùng ngành và khác ngành, cả giáo sư và bạn bè tôi). Mỗi người sẽ có một ý kiến khác nhau, nhưng việc CÓ THAY ĐỔI hay không là tuỳ thuộc vào bản thân bạn. Vậy nên, hãy gửi cho mọi người đọc bạn nhé!

7.Một số tips khác không biết đặt tên là gì 😀

-Cẩn thận khi bắt đầu bài luận bằng 1 câu nói nổi tiếng, 1 câu trích dẫn, 1 câu thơ, 1 câu văn trừ khi bạn sử dụng nó một cách cực kỳ “thông minh” và liên quan.

-Mặc dù tôi luôn tin rằng “sự chân thành” là thứ gia vị đậm đà nhất trong bài luận của bạn, hãy luôn nếm để nó đừng đậm quá nhé. Ví dụ, tôi từng đọc bài của bạn viết là bạn muốn đi học 1 ngành nào đó vì bố/mẹ/anh/chị muốn như thế. Có thể đúng là như thế, nhưng bạn không cần phải trình bày như thế vì có thể làm người ta nghĩ là “ồ, sao con bé này chẳng có chính kiến gì thế” 😀

-Khi viết lý do bạn chọn trường này, đừng viết một cách chung chung và kiểu tâng bốc người ta “vì đây là một nơi tuyệt vời, là ngôi trường tốt nhất thế này thế kia”. Hãy viết sao cho họ thấy rằng bạn thật sự đã tìm hiểu về họ. Hãy đọc chương trình học của họ, cho họ biết bạn đang mong được học những môn gì. Hãy nêu tên 2-3 thầy có research interest gần như bạn, viết 1-2 dòng về họ và nghiên cứu của họ đã khiến bạn suy nghĩ gì. Tìm hiểu xem trường đấy có điều gì đặc biệt hơn các trường khác không. Khi tôi đọc về trường ở Colorado, có một điều tôi thấy rất thích thú, đó là họ có một câu lạc bộ dành cho sv PhD- nơi sv thường xuyên gặp gỡ và trao đổi. Tôi cũng chia sẻ điều này trong bài luận.

-Viết luận cho học bổng master hay PhD bạn đều có thể viết theo cách trên, tuy nhiên mức độ phức tạp (sophisticated) của PhD sẽ ở mức độ cao hơn. Vì vậy, khi kể về các “Aha moment” (khoảnh khắc bạn phát hiện ra điều gì đó làm bạn suy nghĩ, thay đổi), bạn hãy khéo léo lựa chọn thời điểm nhé. Theo tôi, nên chọn những khoảnh khắc từ khi bạn học ĐH trở lên. Bạn có tin không nếu bạn đọc được một bài viết như này “Khi tôi…8 tuổi, bố mang về một tờ báo về các vấn đề quốc tế, tôi đã say mê ngay lập tức trước các sự kiện quan hệ quốc tế, các vấn đề chính trị xã hội, bla bla. Từ đó tôi biết rằng đó là thứ mà tôi yêu thích và muốn theo đuổi suốt cả cuộc đời” (hehe). Bạn sẽ hoài nghĩ phải không? HÃY LỰA CÁC AHA MOMENT CẨN THẬN nhé!!

P/S:
Trong truyện “Tên cớm và bản thánh ca”, sau khi làm mọi cách mà không “được” vào tù ở Khám Đảo, Soapy chán nản tìm về “tổ ấm” là chiếc ghế ở công viên Madison. Anh đi ngang qua một ngồi nhà thờ cổ, và bất ngờ nghe được một bản thánh ca du dương. Bản thánh ca ấy khiến anh xúc động mạnh, và muốn được sống tử tế, thanh cao. Anh nghiêm túc suy nghĩ đến việc làm lại từ đầu và đi tìm việc. Nhưng vì thấy anh lang thang một mình ở bên ngoài nhà thờ khá lâu, cảnh sát đã nghi ngờ và đưa anh vào tù ở Khám Đảo 3 tháng đúng giây phút anh muốn làm lại cuộc đời

-Có một cuốn sách rất hay về viết mà bạn có thể tham khảo có tên “On writing well” của William Zinsser

Đôi điều chia sẻ về học bổng Chevening – Trương Thanh Vân

Học bổng chính phủ Chevening vẫn luôn có 1 sức hút lạ kì bởi tầm ảnh hưởng của học bổng này hay bởi những Chevening scholars luôn là những bạn tâm huyết và lấy cộng đồng làm trung tâm.

Bên dưới là 1 bài chia sẻ vô cùng chân thành và thực tế không chỉ dành riêng cho HB Chevening mà còn là học bổng chính phủ nói chung.
Ghi chú trước khi đọc: Bài viết này được mình tâm huyết viết ra từ tối hôm qua nhưng do mạng dạo này quá yếu kém (chắc do cá mập lại cắn cáp quang), mình không thể post được và đã rất ức chế. Hôm nay mình ăn trộm một ít mạng của cơ quan để post lên nhưng chẳng hiểu sao lại lỗi font chữ nên mình phải để cái font chữ trông quê mùa này.
Nhân dịp mới nhận VISA UK và nhân dịp học bổng Chevening mở đơn vào ngày 8/8 và sẽ hết hạn vào 8/11, mình xin trả lời một số câu hỏi mà nhiều bạn và anh/ chị inbox mình hỏi về học bổng Chevening (học bổng của Chính Phủ Anh), mình nghĩ đây cũng là thắc mắc của nhiều bạn và anh/ chị khác nữa, nên mình trả lời luôn trên đây.
Mình đã rất may mắn khi được học bổng này nên mình cũng hi vọng giúp đỡ được các bạn phần nào trong quá trình xin học bổng.
1. Nhân tố đóng vai trò quan trọng để Chevening lựa chọn bạn vào vòng phỏng vấn? (CV, bài luận, ielts)
Mình nhận thấy bài luận và CV là hai điểm quan trọng nhất để bạn được lựa chọn vào vòng phỏng vấn.
Với bài luận: bạn phải nói rõ về lí do chọn khóa học, thể hiện được bằng chứng về kinh nghiệm lãnh đạo và tiềm năng lãnh đạo, networking và kế hoạch tương lai cụ thể nhưng không viển vông (đừng đưa ra một kế hoạch nghe quá to tát và không có khả năng thực hiện được – ví dụ như một kế hoạch chung chung và vĩ mô như kế hoạch của tôi là đưa Việt Nam thành nước phát triển hàng đầu thế giới, hay cải thiện nền giáo dục VN…Nên cụ thể hóa và thực tế hơn).
Về hồ sơ: học bổng Chevening và rất nhiều các học bổng chính phủ khác như Úc, Bỉ, New Zealand Asean yêu cầu tối thiểu 2 năm kinh nghiệm làm việc. Nhiều bạn hỏi mình là “em mới ra trường nhưng em có 2 năm kinh nghiệm làm việc volunteer khi còn đi học thì có được không?”.
Mình nhận thấy 2 năm kinh nghiệm ở đây cần phải nhấn mạnh là kinh nghiệm mạnh. Đại đa số những người được lựa chọn có nhiều hơn 2 năm kinh nghiệm. Bạn đương nhiên sẽ khó cạnh tranh hơn với những người này.
Không phải ngẫu nhiên mà các học bổng và các trường đưa ra tiêu chí 2 năm kinh nghiệm làm việc. Có thể lí giải như sau.
Thứ nhất:  khi bạn đã đi làm được hai năm, bạn sẽ hiểu rõ được con đường bạn muốn theo đuổi và công việc bạn đang làm, các bạn mới ra trường sẽ khó xác định rõ được điều này.
Thứ hai:  học thạc sĩ ngay sau khi ra trường sẽ khiến bạn vất vả hơn vì bạn chưa đủ tích lũy kiến thức để học được trong môi trường học thuật. Trường mình đã gửi cho mình một danh sách các sách cần đọc trước khóa học và mình nhận thấy nếu mình đi học ngay sau khi ra trường thì mình sẽ chẳng hiểu sách viết cái gì, vấn đề không phải là ngôn ngữ tiếng Anh, mà vấn đề là mình đã phần nào tích lũy được kiến thức nền để tiêu hóa các sách học thuật này.
Có quá nhiều bạn hỏi mình về việc Ielts có phải là nhân tố quyết định không?
Bạn ấy được 7 ielts thì có cạnh tranh được với các bạn 8 ielts không? Ielts là điều kiện bắt buộc phải có nhưng không phải nhân tố cạnh tranh. Chevening chỉ yêu cầu ielts sau khi bạn đã vượt qua vòng phỏng vấn. Nếu bạn đã vượt qua vòng phỏng vấn, bạn sẽ nhận được thư có điều kiện, và khi đó bất cứ ai được trên 6.5 ielts không có điểm nào dưới 6 – mức điểm học bổng yêu cầu – thì sẽ nhận được Final award letter. Tuy nhiên, bạn cần phải kiểm tra xem trường của bạn yêu cầu mức Ielts nào nữa nhé, có trường yêu cầu hơn mức yêu cầu của học bổng.
Vậy nếu bạn đã đạt được mức Ielts mà học bổng và trường yêu cầu thì bạn không cần phải thi nữa. Và nếu bạn chưa có Ielts thì bạn cứ nộp hồ sơ, đầu tư thời gian viết bài luận và khi bạn qua vòng phỏng vấn rồi thi cũng được (Đây là cách tiết kiệm tiền đó ).
Tuy nhiên, các bạn nên dành nhiều thời gian củng cố vốn tiếng Anh bằng cách đọc các báo chí tiếng Anh, các sách bằng tiếng Anh về xã hội và chuyên ngành bạn đang làm, nghe các chương trình tiếng Anh. Các cách này sẽ giúp bạn rất nhiều trong buổi phỏng vấn cam go và khi sang Anh học. Trên forum Trái Tim Việt Nam online có bạn chia sẻ là kĩ năng nói tiếng Anh của bạn ấy không tốt nên khi đi phỏng vấn bạn ấy không thể nói được nhiều mặc dù người phỏng vấn cũng đã tạo điều kiện hỏi thêm để bạn ấy có cơ hội nói thêm. Rào cản ngôn ngữ làm bạn ấy không thể hiện được bản thân.
2. Vòng phỏng vấn:
Cứ tự tin, thoải mái và là chính mình. Nói vậy thội chứ lúc mới bước vào phòng phỏng vấn, mình run lắm :D:D Nhiều bạn hỏi mình đi phỏng vấn được hỏi gì? Thực ra các câu hỏi trong vòng phỏng vấn có thể tìm được trên rất nhiều trang web. Tuy nhiên vì hồ sơ của mỗi người khác nhau, bài luận khác nhau nên nhiều câu hỏi sẽ khác nhau…Nên các bạn cần hiểu rõ những gì mình đã viết trong bài luận, những gì mình nói trong buổi phỏng vấn, và công việc mình làm vì các bạn sẽ bị xoáy vào những chỗ bất ngờ, không đoán trước được.
Kinh nghiệm và tiềm năng lãnh đạo – Leadership
Nhiều bạn nói rằng không dám nộp học bổng này vì không có kinh nghiệm gì về leadership? Trong buổi phỏng vấn anh Graham cũng nói rõ khi đặt câu hỏi về leadership rằng “we are not looking for a Prime Minister, we are looking for people with leadership potential”. Tiềm năng lãnh đạo thể hiện ở trong nhiều việc bạn làm có thể trong công việc, có thể trong cuộc sống. Bạn có thể kể về một lần bạn lead một nhóm thực hiện một hoạt động trong công việc hay không bắt buộc phải trong công việc, bạn có thể kể về một lần bạn lead một nhóm bạn đi leo núi hay bạn tổ chức một chuyến picnic cho một nhóm bạn. Điều quan trọng là ví dụ bạn kể cần nói rõ được bạn đã thể hiện được leadership như thế nào?
Kinh nghiệm mình kể là về lần tham gia chương trình về Biến đổi khí hậu và mình được lead một nhóm các bạn đến từ nhiều quốc gia đi thu thập dữ liệu cho dự án. Mình đề cập đến cách mình lead là gì và lí do vì sao mình chọn cách lead đó. Các khó khăn trong khi lead hoạt động này, cách vượt qua khó khăn và kết quả đạt được cuối cùng như thế nào.
Điều mọi người cần chú ý là tránh liệt kê, tránh nói quá chung chung hoặc nói quá tủn mủn. Ví dụ: Không nên nói trong thời gian qua tôi đã lead nhóm A làm cái này, tôi lead cả nhóm B làm cái kia. Cái người ta cần nghe là bạn lead các hoạt động đó như thế nào? Không phải là bạn lead được bao nhiêu hoạt động…Tránh nói quá tủn mủn, ví dụ: Tôi đã lead hoạt động A, và tôi giao cho thằng X việc này, giao cho thằng Y việc kia…..(Sau khi được học bổng, mình có nói chuyện với một số bạn được chevening năm nay và một số anh chị Alumni, và mình rút ra được chú ý này.)
Networking
Networking là kĩ năng liên kết và tạo dựng mối quan hệ. Nghe có vẻ hơi trừu tượng nhưng thực tế là các bạn tìm đến những cơ hội để gặp gỡ những người cùng mối quan tâm để chia sẻ, đồng thời bạn phải phát triển bản thân tốt hơn để người ta muốn tham gia vào network với mình và duy trì network này. Ví dụ như này cho dễ hiểu, bạn chủ động tìm kiếm cơ hội tham gia một khóa học/ hội thảo… và bạn quen được nhiều người trong các chương trình này, bạn giữ được mối quan hệ với những người này. Họ thấy bạn tốt, tài năng và ham học hỏi nên họ cứ muốn network với bạn, và bạn và họ luôn hợp tác, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau. Network bạn xây dựng được đã mang lại điều gì cho bạn?
Câu hỏi về nước Anh và học bổng Chevening
Cũng giống như khi bạn đi nộp đơn xin việc, ban phỏng vấn sẽ không thể chọn bạn nếu bạn không rõ về công ty/ tổ chức bạn xin ứng tuyển hoặc sản phẩm của công ty đó là gì? Chắc chắc các bạn sẽ được hỏi các câu hỏi về nước Anh và học bổng Chevening, bạn cần thuyết phục ban phỏng vấn bằng những lí do vì sao bạn chọn nước Anh mà không phải Mỹ hay Úc hay…và học bổng Chevening mà không phải Fulbright hay ADS..etc…
Mình được hỏi các câu hỏi trừu tượng như các giá trị của Anh rồi đến những câu hỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng lại chính là điểm để bạn thể hiện sự hiểu biết về nước Anh như ‘’khi đến Anh, bạn muốn đi đâu?” Thoạt đầu nghe chữ ‘’giá trị’’ mình cũng hơi lúng túng, nhưng sau vài giây suy nghĩ mình đã nhận ra rằng giá trị chính là những thứ mà người ta thường nhắc đến khi nói tới nước Anh, và lúc đó mình như vào đà, mình nói về nền dân chủ lâu đời ( có dẫn chứng năm 2015 kỉ niệm 750 năm nền dân chủ của Anh), mình nói về luật phúc lợi động vật lần đầu tiên trên thế giới ở Anh, tình yêu và ý thức bảo vệ thiên nhiên và động vật của người Anh, về nước Anh là quê hương của các học thuyết kinh tế và phát triển ( có dẫn chứng vài nhà kinh tế học nổi tiếng), rồi sức ảnh hưởng của nước Anh lên âm nhạc, kịch, phim ảnh etc…Đối với câu hỏi thứ hai mình đã trả lời rằng ‘’tất nhiên đầu tiên tôi muốn đến London vì London từ lâu đã được coi là thủ đô văn hoá của thế giới, và năm 2016 kỉ niệm 400 năm ngày mất của Shakespeare và tôi tin đây là một cơ hội có một không hai để đến thăm quê hương ông ở Stratford-upon-Avon in Warwickshire.
Mỗi người phỏng vấn sẽ có cách đặt câu hỏi và kiểm tra sự hiểu biết thật sự của bạn về nước Anh và học bổng Chevening nên mọi người nên dành thời gian thực sự tìm hiều :). Một chị Alumni chia sẻ rằng, sau khi chị ấy nói là mê nước Anh vì có the Beattle rồi là Shakespeare, thì ngay lập tức người phỏng vấn hỏi lại là vậy bạn yêu tác phẩm nào và có câu nói nào trong các tác phẩm của Shakespeare mà bạn yêu thích. Vì vậy chìa khóa là chỉ nên nói những gì mình thực sự hiểu và quan tâm.
Vấn đề xã hội
Mình được hỏi các câu hỏi về các vấn đề mà đất nước đang phải đối mặt và dựa vào câu trả lời của mình mà ban phỏng vấn trao đổi thêm. Mình nghĩ tất cả các câu hỏi của ban phỏng vấn đều sẽ có sức nặng như nhau khi đánh giá bạn, nên hãy chuẩn bị thật kĩ cho buổi phỏng vấn vì “Fail to prepare, prepare to fail” mà, khi trả lời thì đối với mọi câu hỏi các bạn nên suy nghĩ một vài giây, sắp xếp ý trước khi bắt đầu nói :).
Cuối cùng,  mình thấy Chevening cũng muốn tìm đến những người có mối quan tâm đến các vấn đề rộng lớn hơn.
Nói tóm lại, mình thấy xin học bổng là một quá trình gian nan vì trong cùng một khoảng thời gian mình phải vừa đi làm, vừa đi dạy, vừa phải chuẩn bị hồ sơ, viết bài luận cho học bổng và viết bài luận cho trường, lại vừa dành thời gian đi chơi với gia đình nữa.
Nhưng giây phút nhận được email trúng học bổng là giây phút chắc mình chẳng bao giờ quên được trong đời, cảm giác vô cùng khó tả.
Mình hi vọng chia sẻ của mình giúp được phần nào cho các bạn trong quá trình xin học bổng, và nếu bạn có thêm câu hỏi nào nữa các bạn hoàn toàn có thể inbox hoặc để lại dưới phần comment dưới đây :). Trong note này mình chỉ để cập đến kinh nghiệm nộp học bổng Chevening, còn rất nhiều các học bổng khác cho các bạn lựa chọn. Mọi người nên nộp một vài học bổng để có nhiều cơ hội hơn. Năm nay mình chỉ nộp mỗi học bổng Chevening nên thực sự là mình đã rất lo lắng.
Trương Thanh Vân- Chevening Scholar 2017

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (Phần 3)

Phần 3: Fallacy Busted – Những quan niệm sai lầm về học bổng chính phủ

Như tên của bài viết, mình sẽ nói về những nhầm lẫn hoặc sai lầm mà mọi người hay mắc phải khi nghĩ đến hoặc ứng tuyển học bổng chính phủ.

1. Điểm IELTS/TOEFL là một tiêu chí quan trọng khi xét duyệt hồ sơ, cho nên điểm này càng cao thì hồ sơ càng dễ được chọn.
=> Thực tế là điểm bài thi chuẩn hóa Tiếng Anh của các bạn chả có ý nghĩa gì hết ngoài chuyện nó chứng minh được bạn đủ khả năng để đi học ở nước nói tiếng Anh. Chẳng thiếu gì những người đã được nhận học bổng chính phủ mà điểm IELTS chỉ đạt mức tối thiểu. Một số chương trình thuộc Erasmus Mundus khẳng định rằng mức điểm số IELTS hay TOEFL không bao giờ là tiêu chuẩn xét duyệt hồ sơ của họ và ứng viên chỉ cần qua mức sàn là được. Ban xét duyệt hồ sơ của đại học Nottingham đã khẳng định với mình là điểm IELTS của bạn chỉ cần đạt 6.5, còn lại thì 8.0 hay 8.5 cũng chẳng khác gì 6.5 cả, tức là hồ sơ của bạn sẽ không “đẹp” lên vì cái điểm IELTS. Học bổng AAS cũng khẳng định tiếng Anh của ứng viên có tốt hay trung bình thì ban giám khảo cũng chẳng dựa vào trình độ tiếng Anh để đánh giá chất lượng hồ sơ.
Tóm lại, ngoại trừ một số rất ít chương trình nêu rõ rằng điểm bài thi tiếng Anh cao là lợi thế (thường là các chương trình học về báo chí hay học bổng Fulbright), điểm bài thi IELTS của bạn chỉ cần 6.5, không cần cao hơn.
2. – Các học bổng phát triển như Chevening, Fulbright, AAS, v.v không chào đón, không cấp học bổng cho ứng viên đến từ khối tư nhân.
– Ứng viên từ các công ty tư nhân có rất ít cơ hội với học bổng phát triển.

=> Cái này sai hoàn toàn. Bà Karen Maddocks, làm việc trong Văn phòng Khối Thịnh vượng chung của Anh quốc năm 2007, cho biết:

Học bổng này (học bổng Chevening) không chỉ dành cho viên chức nhà nước hoặc những ai làm việc tại Hà Nội. Chúng tôi rất khuyến khích tất cả những ai làm việc cho mọi lĩnh vực, ở mọi nơi trên cả nước VN nộp hồ sơ thi. Tất cả ứng cử viên đều được đánh giá hoàn toàn dựa trên khả năng, theo tiêu chuẩn của chương trình Chevening. <careerbuilder.vn, URL: http://careerbuilder.vn/en/talentcommunity/hoc-bong-chevening-khuyen-khich-moi-ung-vien-xuat-sac.35A50171.html>

Nếu bạn nào vào Chevening alumni directory để tra cứu về ứng viên Việt Nam thì sẽ thấy một đống ứng viên đã được học bổng khi làm ở các công ty tư nhân. Mình biết một anh được giành được học bổng Chevening lúc đang self-employed. Anh này cũng được học bổng AAS khi làm cho một công ty tư nhân của Úc.
Tóm lại là bỏ ngay cái ý nghĩ học bổng phát triển không “chơi” với khối tư nhân đi nhé.

3. GPA cao là một tiêu chí quan trọng khi xét tuyển hồ sơ, cho nên điểm này càng cao càng dễ được chọn
=> Cái này chỉ đúng với học bổng tài năng (merit-based) thôi nhé. Còn với học bổng hỗ trợ phát triển, điểm GPA thực ra không mấy quan trọng. Nó chỉ chứng minh ứng viên đủ khả năng để hoàn thành khóa học tương lai thôi. Ban xét duyệt học bổng phát triển không tìm người học giỏi, mà họ tìm kiếm những người có thể tận dụng những gì thu được sau thời gian du học để làm lợi cho nước nhà và mối quan hệ song phương. Thực tế, điểm của người viết bài này có mỗi 7,6 so với một đống hồ sơ của các bạn nộp ngành kinh tế, truyền thông, xã hội, toàn bằng giỏi với điểm trên 8,0. Nếu điểm GPA quan trọng thì tác giả chắc “tách tành tạch” từ vòng hồ sơ của Chevening rồi chứ đâu có ngồi đây mà chém gió được. Anh Đỗ Hữu Chí, được học bổng Fulbright năm 2010 có điểm tốt nghiệp đại học thấp đến mức mà theo anh nói thì: “Điểm ra trường của tôi đâu như được nhỉnh hơn 5 phẩy một chút (lạy Phật, vừa đủ)…”

4. Cần phải có một bộ CV “đẹp”, tức là nhiều dự án và các hoạt động xã hội sẽ thì hồ sơ mới có tính cạnh tranh cao. Cho nên cứ tham gia nhiều hoạt động vào để hồ sơ “đẹp”.
=> Cái này cũng chỉ đúng với học bổng merit-based. Với học bổng hỗ trợ phát triển thì chưa chắc. Như đã nói ở trên, học bổng phát triển tìm kiếm người có khả năng làm lợi cho mối quan hệ song phương. Khả năng này do tố chất con người quyết định. Cái thể hiện rõ nhất và nhiều nhất những tố chất đó là bài luận cá nhân chứ không phải bảng thành tích hoạt động. Hơn nữa, ban xét duyệt hồ sơ muốn biết bạn học được gì từ những kinh nghiệm và hoạt động xã hội chứ không phải những bảng liệt kê thành tích khô khan.
Bản thân mình cũng chẳng tham gia hoạt động xã hội nào. Kinh nghiệm làm việc thì cũng như các bạn là tốt nghiệp rồi đi làm 3 năm thôi. ^^ Nhưng vẫn lấy được học bổng.
Thế nên là bây giờ thay vì dành thời gian đi hoạt động xã hội với mục đích làm đẹp hồ sơ, thì hãy chuyên tâm vào làm việc và phát triển khả năng nghề nghiệp và các kĩ năng mềm cho tốt đi. Có được học bổng hay không thì về lâu về dài bạn cũng được lợi.

5. – Nếu định học lên bậc cao hơn ở một ngành không phù hợp với ngành đã tốt nghiệp ở bậc đại học thì không xin được học bổng?=> Không đúng. Đỗ Hữu Chí tốt nghiệp Kiến trúc mà sang Mỹ học về Comic Arts đấy thôi. Hoặc, anh Đinh Quang Anh học Kiến trúc rồi sang Úc học về Sustainable Development vẫn được học bổng AAS.

6 – Những người được nhận các học bổng toàn phần của chính phủ đều (cần phải) là những người xuất sắc? (xuất sắc trong học tập, trong công việc, trong hoạt động xã hội)
=> Không đúng. Ban xét học bổng tìm người phù hợp với học bổng nhất chứ không phải tìm người xuất sắc nhất về học tập hay công việc. Việc phù hợp hay không phù hợp dựa trên tiêu chí tuyển chọn của học bổng đó. Với học bổng dạng merit-based như EM hay Endeavour thì ban xét duyệt đúng là tìm những người có thành tích học tập và làm việc xuất sắc, có khả năng nghiên cứu khoa học tốt, nhưng đơn giản chỉ vì tiêu chí của họ là tìm người như vậy. Với học bổng Chevening, người ta tìm người có tố chất lãnh đạo và tiềm năng gây ảnh hưởng khi trở về nước. Với học bổng Fulbright, người ta tìm kiếm người có khả năng làm đại sứ văn hóa cho Việt Nam tại Mỹ, có tiềm năng lãnh đạo và khả năng thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa hai nước. Với học bổng AAS, người ta tìm kiếm những cá nhân từ ngành và vùng nhất định có khả năng thay đổi ngành và vùng đó (thường xuyên ưu tiên cho vùng sâu vùng xa và nông thôn). Cho nên nếu một ngày đẹp trời, bạn vô tình được gặp một người từng được hb AAS và thấy người này nửa câu tiếng Anh cũng không nói được cho ra hồn mặc dù đã được học ở Úc, thì cũng đừng lấy làm lạ. (Chuyện này là có thật, và có không ít khi mà quota dành cho Nhóm 1 và 2 của AAS rất nhiều). Cho nên, không phải cứ xuất sắc là được chọn, không phải cứ xuất sắc mới nên ứng tuyển học bổng, và không phải được chọn là xuất sắc. Họ chỉ xuất sắc ở mảng mà học bổng đó muốn họ xuất sắc thôi ^^.

Các bạn thấy đó, con đường đến với học bổng chính phủ thực ra rất rộng mở. Mỗi người đều có lựa chọn phù hợp với khả năng của bản thân.
Có thể bạn sẽ cho rằng những trường hợp được học bổng mà tôi kể trên là những trường hợp đặc biệt (outlying cases). Có thể họ là những người đặc biệt, xuất sắc về tư duy hay phẩm chất. Nhưng điều mình muốn nhấn mạnh ở đây là chỉ cần bạn có thế mạnh về 1 trong các mặt: thành tích, tư duy, networking, tính cách. Những ví dụ mình kể đều là những người chỉ dùng một thế mạnh mà đã thành công.
Bản thân mình là một người coi trọng tư duy và kinh nghiệm hơn thành tích học tập ở Việt Nam. Bởi vì, thử làm một so sánh nho nhỏ, một bên là cái bảng điểm đại học không thể nào thay đổi được, bên kia là kĩ năng tư duy và học hỏi từ trải nghiệm mà bạn có thể tích lũy mỗi ngày sau khi tốt nghiệp. Bạn nghĩ đầu tư vào cái nào cho hiệu quả lâu dài và bền vững hơn?
Hy vọng các bạn đã tìm được những thông tin có ích.

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (phần 2)

Phần 2: Các bước xin học bổng chính phủ
Bài viết này sẽ không bao gồm thông tin về các thủ tục. Bạn sẽ phải tự tìm hiểu về các thủ tục cần thiết liên quan đến một bộ hồ sơ học bổng.

Mình không đảm bảo những ai tuân theo quy trình này sẽ được học bổng, nhưng mình chắc chắn những người đó sẽ tận dụng được tối đa 4 yếu tố (ngoại trừ sự may mắn) mà mình đã nêu ở bài trước. Hiển nhiên, tận dụng được càng nhiều thì khả năng hồ sơ tốt và được chọn càng cao.

Từ khi có ý tưởng du học đến khi chính thức nhận được học bổng, một quy trình xin học bổng bài bản và hoàn chỉnh cần có 3 bước: (1) chuẩn bị trước khi làm hồ sơ, (2) làm hồ sơ, và (3) chuẩn bị phỏng vấn.

Thời gian cần thiết cho các bước này lần lượt là: tối thiểu 3 năm cho bước chuẩn bị, khoảng 2 tháng cho bước làm hồ sơ và 1 tuần cho bước chuẩn bị phỏng vấn.

1. Chuẩn bị

Một hồ sơ tốt đều cần có bước chuẩn bị được đầu tư tối thiểu 3 năm, 3 năm của nỗ lực làm việc và chất xám. Để hiểu được lý do, hãy điểm qua những tiêu chí cơ bản mà các ban xét duyệt hồ sơ thường sử dụng để đánh giá ứng viên:

  • Thành tích học tập và nghiên cứu (nếu có) được thể hiện qua bảng điểm (hoặc GPA) và giấy chứng nhận (đối với một số học bổng như Erasmus Mundus hay Endeavour, thành tích học tập chưa tốt có thể được hỗ trợ bởi một quá trình làm việc giàu thành tích ở ngành liên quan)
  • Bài luận cá nhân (personal statement, letter of motivation, statement of purpose, study objectives)
  • Thư giới thiệu (letter of recommendation, reference, reference letter)
  • Tiêu chí đặc thù của học bổng hoặc của khóa học (có thể là phẩm chất cá nhân, thành tích hoạt động xã hội, khả năng sử dụng ngôn ngữ, v.v…)

Những tiêu chí trên được mình tổng hợp dựa trên các thông báo chính thức và kinh nghiệm ứng tuyển 5 học bổng: Erasmus Mundus (EM), Học bổng Song phương Việt-Bỉ (BBS), Học bổng Chevening, Học bổng Australia Awards (AAS), và Học bổng Fulbright.

Đối với học bổng tài năng (merit-based), sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về mức độ quan trọng):
1. Thành tích học tập (hoặc làm việc)

2. Thư giới thiệu

3. Tiêu chí đặc thù của học bổng

4. Bài luận cá nhân

Thực tế, thành tích học tập luôn là “ngôi sao” của những hồ sơ học bổng tài năng. Trong nhiều chương trình thuộc EM, ban xét duyệt công khai với ứng viên là thành tích học tập chiếm tới 40% “weighting”. Điều tương tự xảy ra đối với Endeavour 2016:

<Nguồn trích dẫn: 2016 Round Endeavour Applicant Guidelines>

The selection criteria for all categories of the Endeavour Scholarships and Fellowships are the same. The following are the selection criteria and their relative weighting:

1. record of high-level academic achievement and/or relevant work experience in the applicant’s chosen field of study (40%)

2. well-defined study, research and/or professional programme (20%)

3. statement on how the international study, research or professional development opportunity would further the applicant’s academic and/or professional career (20%)

4. statement on how the international study, research or professional development opportunity will benefit Australia and the applicant’s potential to foster ongoing collaboration and cooperation with their home and host country (10%)

5. statement in support of the applicant’s service to the community. Unpaid service within the applicant’s field of expertise or community service (10%).

Ngược lại so với thành tích học tập, bài luận cá nhân thường ít có sức nặng (đôi khi gần như không có chút giá trị nào) ở các học bổng tài năng. Thực tế, thư xin học bổng mà các ứng viên Việt Nam viết để gửi cho học bổng EM thường có chất lượng không cao nếu không muốn nói là horse crap! Có thể nhiều bạn được EM đọc đến dòng này sẽ tự ái, nhưng nếu các bạn được đọc những bài luận của những người đã từng được những học bổng có tính cạnh tranh cao về tư duy và phẩm chất cá nhân như Fulbright hay Chevening, hoặc các học bổng trường thuộc Ivy League thì tôi tin các bạn sẽ … tắt đài :))

Một ví dụ khác chứng minh sự chênh lệch về mức độ quan trọng của thành tích học tập và bài luận: một bạn được học bổng Endeavour có thành tích học tập vô cùng xuất sắc nhưng bài luận được viết qua loa đến mức còn chả buồn kiểm tra ngữ pháp.
Nói đến như vậy, chắc mọi người cũng đã hiểu tối thiểu 3 năm để chuẩn bị cho học bổng tài năng sẽ được dùng cho việc gì rồi phải không? Rõ ràng, các bạn nên dành thời gian cho công việc học tập và nghiên cứu để có một bảng điểm thật xuất sắc cùng những bài báo cáo khoa học được công bố trên các báo hay tạp chí càng có uy tín cao càng tốt. Bên cạnh đó, nếu học bổng yêu cầu những hoạt động xã hội hay trình độ ngoại ngữ tốt thì các bạn cũng nên dành nhiều thời gian cho những việc đó.
Vậy những bạn đã không để ý đến thời gian học đại học và không còn cơ hội thay đổi bảng điểm thì sao?

Các bạn có thể chuẩn bị cho học bổng tiềm năng hoặc học bổng tài năng-tiềm năng. Đối với học bổng tiềm năng, sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về sức nặng):

1. Bài luận cá nhân.

2. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

3. Thành tích học tập

4. Thư giới thiệu

Đối với học bổng tiềm năng, thành tích học tập của bạn thường chỉ cần đạt một điều kiện cần và không cần cao. Ví dụ, học bổng Chevening yêu cầu ứng viên phải có bằng tốt nghiệp đại học tương đương Second Class Honour ở Vương quốc Anh (tức là GPA trên 7.0), bạn đạt và bạn được xét duyệt công bằng với một người có GPA cao hơn. Giữa 2 người, một người có GPA cao và bài luận khá, một người có GPA thấp và bài luận xuất sắc, Chevening sẽ đánh giá cao người thứ hai hơn. Ví dụ: người viết có điểm GPA 7.6/10 – có lẽ là thấp đến mức bất cứ ứng viên nào thuộc ngành kinh tế hoặc xã hội cũng có điểm cao hơn. Nhưng mà mình vẫn được Chevening chọn 😉 Lý do chỉ có thể là mình có một bài luận tốt vì học bổng Chevening không yêu cầu nộp CV và cũng chẳng có chỗ nào cho các bạn thể hiện thành tích (ngoại trừ bảng điểm) đâu.
Đối với học bổng tài năng-tiềm năng, yếu tố sức nặng (weighting) phụ thuộc vào từng quy trình xét duyệt của học bổng cụ thể. Ví dụ, học bổng Fulbright và AAS đều là dạng tài năng-tiềm năng. Tuy nhiên, nếu vòng hồ sơ đầu tiên của Fulbright xét tính cạnh tranh của toàn bộ hồ sơ bao gồm cả bài luận, phẩm chất đặc thù, thành tích học tập và khả năng ngôn ngữ, thư giới thiệu thì vòng screening (vòng duyệt hồ sơ đầu tiên do người Việt Nam thực hiện) của AAS coi thành tích học tập, cụ thể là điểm GPA là yếu tố tiên quyết. Có nghĩa là rất có thể một bộ hồ sơ có SOP viết cực tốt nhưng GPA dưới 8.0 sẽ bị loại, trong khi một bộ hồ sơ SOP kém hơn nhiều nhưng tốt nghiệp Giỏi với GPA 8.4 sẽ được chọn. (Gì chứ về SOP thì tác giả rất tự tin rằng mình viết hay hơn nhiều người trong target group 3 của AAS, cơ mà tác giả vẫn bị loại từ vòng gửi xe)
Vậy thì 3 năm chuẩn bị cho học bổng tiềm năng được dùng để làm gì?

Các bạn hãy dùng 3 năm đó để vừa nỗ lực làm việc, vừa suy nghĩ về ngành mà bạn đang làm. Hãy dành ít nhất 1 năm cuối ở trường đại học để nghiền ngẫm và hệ thống lại những lý thuyết mà bạn đã có được để xác định con đường lâu dài mà bạn định phát triển. 2 năm tiếp theo là thời gian để bạn tích lũy kinh nghiệm, phát hiện những hiện tượng, những vấn đề cần được giải quyết trong ngành và thử sử dụng những lý thuyết học được để giải quyết nó. Khi những lý thuyết và kinh nghiệm làm việc của bạn không thể nào giải quyết những vấn đề mà bạn phát hiện, đó là lúc bạn cần đi học thêm. Nếu đi học thêm mãi ở Việt Nam mà chưa có được cái bạn cần, đó là lúc bạn cần xin học bổng để du học.

Nói nghe có vẻ ngắn gọn và đơn giản, nhưng để có thể tìm ra vấn đề và nhận ra khoảng cách không thể bù đắp giữa kiến thức và vấn đề còn tồn tại trong ngành, bạn sẽ phải luôn luôn quan sát, luôn luôn động não và trăn trở về những gì đang xảy ra xung quanh mình. Quá trình này cũng sẽ giúp bạn khẳng định niềm đam mê đối với một công việc mà bạn đã chọn. Và, chắc chắn các ban xét duyệt học bổng tiềm năng muốn tìm kiếm những con người có động cơ và đam mê như vậy để trao học bổng.
Một điều cuối cùng rất quan trọng trước khi làm hồ sơ xin học bổng: các bạn cần giỏi tiếng Anh. Thực ra, không cần xin học bổng các bạn cũng nhất thiết phải giỏi tiếng Anh. Giỏi cả nghe, nói, đọc, viết chứ không phải chỉ có nói và nghe. Trên quan điểm dài hạn mà nói, bạn nên luôn tích lũy kiến thức tiếng Anh ngay từ khi còn học đại học để khi tốt nghiệp đại học đã có một vốn liếng kha khá đủ để thi được IELTS 6.5 bất cứ khi nào mà không cần ngồi luyện thi. Đừng để đến khi làm hồ sơ mới cuống lên cày cuốc để thi IELTS. Bạn nào bảo tự học tiếng Anh để có thể thi được 6.5 mà không cần luyện thi là việc khó khăn thì mời gặp bạn Hoàng Đức Long :))
(Mình cực kì ghét lũ lười)
2. Lập hồ sơ xin học bổng
Lập hồ sơ xin học bổng bao gồm 2 việc chính là viết bài luận và viết thư giới thiệu. Việc viết bài luận cho hồ sơ xin học bổng là một quá trình rất hại não, nhất là khi bạn ứng tuyển học bổng tiềm năng. Mình bỏ ra 8 tuần để hoàn thiện toàn bộ các bài luận cần thiết cho hồ sơ học bổng Chevening. Ứng viên của học bổng Fulbright bỏ ra 3 tháng cho 2 bài luận Personal Statement và Study Objectives là chuyện bình thường. Tuy nhiên, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu bạn có bước chuẩn bị tốt (như mình đã nói ở trên), vì khi đó bạn đã có hết những ý tưởng cần thiết trong đầu rồi. Vấn đề bây giờ là viết nó ra như thế nào.
Để viết tốt, các bạn cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

  1. Họ hỏi gì thì ta trả lời đó: hãy đọc kĩ đề bài mà ban xét duyệt yêu cầu đối với bài luận. Họ hỏi về academic achievements thì viết về cái đó, đừng viết về professional skills hay extracurricular activities. Theo kinh nghiệm của mình, có 4 dạng bài luận với yêu cầu khác nhau:
    Personal Statement (PS): viết về sự phát triển của cá nhân bạn, bao gồm những sự kiện quan trọng đã ảnh hưởng đến nhân cách, nguyện vọng, đam mê, kĩ năng của bạn. Một số học bổng hoặc khóa học yêu cầu bạn nêu cả những dự định học tập và sự nghiệp tương lai.
    Study Objectives (SO): viết về những mục tiêu nghiên cứu và học tập trong tương lai, nguồn gốc của những mục tiêu này và sự liên quan giữa kinh nghiệm học tập và lao động của bạn với những mục tiêu tương lai.
    Letter of Motivation: tổng hợp cả Personal Statement và Study Objectives. Tùy từng học bổng mà Letter of Motivation sẽ thiên về PS hơn SO, hoặc ngược lại.
    Bài luận dạng câu trả lời: một số học bổng như AAS và Chevening yêu cầu ứng viên trả lời 4 câu hỏi mà họ cho sẵn. Các câu hỏi có thể về: động cơ xin học bổng, khả năng học tập, phẩm chất lãnh đạo, dự định tương lai, v.v…
  2. K.I.S.S: Keep It Short and Simple. Từ ngữ súc tích và càng đơn giản, càng phổ biến càng tốt. Cần súc tích vì những điều bạn muốn nói bao giờ cũng rất nhiều trong khi lượng từ được phép dùng luôn khá ít. Chevening cho phép mỗi câu trả lời không quá 300 từ. Fulbright cho phép mỗi bài luận không quá 1000 từ. AAS yêu cầu mỗi câu trả lời không quá 2000 kí tự kể cả dấu cách và xuống dòng.
  3. Hãy viết những suy nghĩ chân thành và có cơ sở của bạn. Có nghĩa là bạn phải thật sự tin tưởng vào điều bạn định viết thì mới viết. Đừng viết những gì bạn đoán, hãy viết những gì bạn suy luận có bằng chứng.
  4. Hãy viết những điều mà chỉ có bạn mới có thể viết. Đừng viết những điều mà ai trong cùng ngành với bạn cũng có thể nghĩ đến. Trước khi viết, hãy thử nghĩ: “Viết như thế này thì có thật sự khác biệt không, hay cũng chỉ giống như một vài bạn nào đó?” Để thật sự khác biệt, các bạn hãy nêu trải nghiệm và suy luận cá nhân của mình, bởi vì trải nghiệm của mọi người không bao giờ giống nhau. Hãy viết càng cụ thể, càng chi tiết càng tốt.
  5. Đừng biến bài luận thành một bài khoe thành tích. Thành tích của bạn đã được thể hiện rất rõ qua CV (nếu họ yêu cầu bạn nộp). Ngay cả khi không có CV, việc khoe thành tích cũng không tạo ấn tượng tốt với người duyệt vì chẳng ai thích một đứa chỉ nói về những cái “được” của bản thân. Thay vào đó, hãy cân bằng những cái “được” đó bằng những cái “mất”. Hãy kể những khó khăn bạn đã gặp và bạn vượt qua khó khăn như thế nào. Mọi thành tích đều có cái giá phải trả nhất định và người ta muốn biết về những cái giá đó trong bài luận của bạn. Việc nói về những khó khăn bạn đã vượt qua cũng chứng tỏ được đam mê, ý chí, và nguyện vọng cống hiến cho ngành hoặc cho xã hội của bạn.
  6. Mỗi sự việc bạn nêu trong bài luận đều phải liên kết với nhau theo cách: sự việc này là lý do cho sự việc kia. Ví dụ: bạn học trong trường thấy kiến thức về corporate social responsibility không đủ => bạn phải đi học thêm ở ngoài qua training hay workshop => nhưng lý thuyết suông không đủ => bạn đi thực tập hoặc đi làm bán thời gian/toàn thời gian để lấy kinh nghiệm.
  7. Rất rất cần có một người “cứng” về khả năng viết luận tiếng Anh để duyệt bài luận cho bạn. Tốt nhất, bạn hãy đi học những lớp học viết luận và tư duy phản biện để vừa biết cách viết, vừa có người sau này sẽ duyệt bài luận cho bạn.

Về cấu trúc bài luận, không thể có một cấu trúc hoàn hảo, áp dụng được với mọi bài luận vì yêu cầu nội dung của mỗi bài luận khác nhau. Nhưng thường xuyên chúng ta sẽ được yêu cầu viết một personal statement nói về những mốc quan trọng của cuộc đời và dự định tương lai. Dưới đây là cấu trúc và nội dung mà mình đã áp dụng với bài personal statement gửi cho học bổng Fulbright, Đại học KU Leuven và Đại học Nottingham.

  1. Mở đầu là một cái “hook”. Đây là điểm nhấn đầu tiên, nhất thiết phải gây ấn tượng với người đọc. Điểm nhấn này có thể là một trải nghiệm công việc hoặc một sự việc mà bạn vô tình phát hiện. Các sự việc này phải liên quan đến vấn đề cốt lõi mà bạn muốn giải quyết trong tương lai. Ví dụ về “hook” của mình:

    The building’s design was supposed to be environment-friendly and based on the curves of the Vietnamese “ao dai”. Yet Lotte Center Hanoi’s architecture actually results in pollution and hints at nothing of Vietnamese culture.

    Ai đã từng nhìn thấy cái Lotte Center Hanoi sẽ rất bất ngờ và thấy ngay cái sự việc này rất tréo ngoe :)) Thế là đủ cho một cái hook.
    Và sau đó mình diễn giải để liên kết sự việc này với vấn đề mình muốn giải quyết trong tương lai:

    As I had the chance to see Lotte’s initial concept proposals, its unexpected failure compounded my concern for architectural sustainability in Vietnam. Truth be told, Lotte Center is only one example among many buildings failing to follow environmentally and culturally sustainable schemes. The situation moved me to address its two causes: the lack of rational design approaches and the fact that investors are unaware of the long-term benefits of sustainable architecture.

  2. Thân bài 1: hãy kể một câu chuyện, có thể bắt đầu từ bất cứ thời điểm nào nhưng muộn nhất cũng phải là thời điểm bạn bắt đầu học đại học. Với mình, thân bài bao gồm các sự kiện từ thời gian học đại học cho đến khi đi làm và kết thúc ở dự định đi du học. Mạch câu chuyện của mình thế này:
    Học ở trong trường và phát hiện ra vấn đề: lý thuyết thiết kế kiến trúc dạy ở đại học chưa khoa học
    => ( – ) không thích tí nào nhưng phải cố để sau này còn có khả năng để đi học thêm
    => (+) đạt được thành tích học tập tốt, ít nhất là hơn bạn đồng môn
    => ( – ) nhưng lý thuyết trong trường hóa ra không áp dụng được nhiều trong thực tế, gây ra nhiều khó khăn trong công việc
    => (+) cố gắng hết sức và làm quen được với môi trường chuyên nghiệp, rèn luyện được nhiều kỹ năng như quản lý thời gian, làm việc trong áp lực
    => ( – ) tuy nhiên công việc thiết kế bàn giấy khiến mình ít kinh nghiệm thực tế thi công
    => (+) vào cơ quan nhà nước và được làm trong dự án Lotte Center Hanoi, học được nhiều kiến thức mới về thi công và rèn luyện được kĩ năng lãnh đạo
    => ( – ) nhưng vấn đề lý thuyết mà mình phát hiện ngay từ khi còn đi học đại học vẫn tồn tại và không cách nào dùng kinh nghiệm hay lý thuyết mới để bù đắp được
    => (*) muốn đi học thạc sỹ ở nước ngoài
    Bạn có thấy mọi thứ xảy ra đều có nguyên nhân của nó không? Ngoài ra, mình còn cân bằng bài luận bằng cách khó khăn và thành tích phù hợp để câu chuyện trở nên tự nhiên hơn nhiều.
    Thân bài 2: những dự định của bạn khi đi học và sau khi đi học. Hãy nói lý do bạn chọn trường đó và ngành học đó. Với mình, lý do đó là 3 lợi ích sau:
    – Học thuật: ngành đó và trường đó phù hợp với những vấn đề lý thuyết mà mình đã nói ở trên.
    – Kĩ năng tư duy: được làm quen với tư duy phản biện, tư duy mới trong kiến trúc.
    – Cơ hội network: có cơ hội xây dựng mối quan hệ với các ứng viên xuất sắc của Fulbright, những người sau này có khả năng giúp mình thực hiện những dự định tương lai.
    Cụ thể mình đã viết phần này như thế nào, các bạn có thể xem trong link này
    https://www.dropbox.com/s/gkerpd0a1iblcbo/Hoang%20Duc%20Long%20Personal%20Statement.doc?dl=0
    Còn đây là bài mình viết cho học bổng Chevening:
    https://www.dropbox.com/s/5g83lea6cdt6z34/Chevening%20application%20answers.docx?dl=0 (4 câu trả lời, mỗi câu đều 300 chữ không hơn không kém một từ)
  3. Kết luận: tóm lại một cách đơn giản bloh blah gì cũng được, vì nếu bạn viết tốt những phần trên thì phần này nên đơn giản để cho não người đọc còn kịp thư giãn.

Về thư giới thiệu, các bạn nên chọn những người có nhiều thời gian làm việc với mình nhất. Mình không muốn nói nhiều về phần này vì không phải ai cũng có khả năng tham gia ở mức độ nào đó vào nội dung thư giới thiệu. Chỉ khuyên các bạn nên chọn người có càng nhiều cơ hội và thời gian làm việc với bạn càng tốt. Không quan trọng địa vị, chỉ cần là giảng viên hoặc người quản lý trực tiếp cũng được. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn quen những người thực sự rất có uy tín đối với ban xét duyệt học bổng thì nên xin thư giới thiệu của những người đó. Về nội dung thư giới thiệu, hãy đảm bảo nguyên tắc: “nói có sách, mách có chứng.”

3. Chuẩn bị phỏng vấn

Nếu bạn đã vượt qua vòng hồ sơ và được phỏng vấn, cơ hội của bạn đã rất cao rồi vì thường thì số lượng người được phỏng vấn chỉ cao cấp 2 – 3 lần số ứng viên sẽ được chọn thôi. Với Chevening năm nay, họ đã dự tính có khoảng 20 trên tổng số trên dưới 70 người được chọn.
Mục đích của vòng phỏng vấn gồm có:

  1. Khẳng định ứng viên là người đã viết hồ sơ xin học bổng.
  2. Tìm hiểu những thông tin khác về ứng viên mà bài luận chưa thể hiện được.

Kết quả của học bổng sẽ phụ thuộc vào kết quả của vòng phỏng vấn lẫn chất lượng bài luận.
Đối với học bổng phát triển, các câu hỏi của vòng phỏng vấn sẽ xoay quanh các vấn đề sau:

  1. Tại sao lại là nước chúng tôi?
  2. Tại sao lại là ngành này?
  3. Tại sao lại là trường này?
  4. Tại sao lại là học bổng này?
  5. Những khó khăn bạn sẽ gặp phải khi đi du học?
  6. Dự định tương lai của bạn có ích gì cho Việt Nam và nước chúng tôi?
  7. Các câu hỏi liên quan đến tố chất đặc biệt của ứng viên, hoặc tố chất đặc thù mà học bổng yêu cầu ở ứng viên.

Trong trường hợp bạn trả lời ngắn gọn, tự tin, đầy đủ, logic các câu hỏi cơ bản (4 câu đầu tiên) thì ban phỏng vấn thường sẽ không hỏi nhiều câu hỏi khác vì nội dung họ cần biết đã được trả lời quá rõ rồi. Nếu bạn không quản lý câu trả lời tốt, bạn có thể sẽ được hỏi những câu nằm ngoài dự kiến của mình. Khi đó nội dung câu hỏi sẽ liên quan đến nội dung câu trả lời trước đó của bạn. Tuy nhiên, nếu ban phỏng vấn cảm thấy thú vị với bất cứ một vấn đề nào bạn đã nói thì họ vẫn có thể hứng lên và hỏi bất cứ câu nào. Nhưng thật ra, nếu bạn có thể trả lời tốt cả 4 câu đầu tiên thì mình tin bạn có đủ cơ sở để trả lời bất cứ câu hỏi nào liên quan đến những dự định của mình.
Khi phỏng vấn, hãy lắng nghe câu hỏi, dừng lại 10 – 30 giây để suy nghĩ và trả lời thật chậm rãi. Nói chậm và rõ ràng để dễ kiểm soát những gì bạn nói và giữ bình tĩnh cho bản thân.
Đây là bản câu trả lời mà mình đã chuẩn bị cho Chevening.
https://www.dropbox.com/s/m1gka958wcs513d/Interview%20preparation.docx?dl=0
Khi đi phỏng vấn, gần như các câu hỏi của họ đã được mình chuẩn bị câu trả lời, và mình đã nói được tất cả những gì mình muốn nói. Cũng nhờ sự chuẩn bị kĩ càng nên hôm đó mình rất tự tin. Chưa kể hôm đó một người trong ban phỏng vấn còn ấn tượng với “personalised British English accent” :”> (cái này là yếu tố phụ thôi chứ bạn nói Vietnamese English cũng chả có vấn đề gì đâu)
Cuối buổi phỏng vấn bạn sẽ được đặt câu hỏi cho ban phỏng vấn. Bạn có thể hỏi bất cứ vấn đề gì. Mình đã hỏi là năm nay liệu sẽ chọn bao nhiêu người :)) Khi được phỏng vấn xong, nhớ bắt tay, cảm ơn và chào từng người trong ban phỏng vấn.
Phần việc còn lại lúc này là chờ đợi. Thời gian chờ đợi có thể là vài tuần đến vài tháng tùy học bổng. Chevening đã bắt mình chờ 2 tháng rưỡi. Số lượng người được chọn thực tế là 33 😀 Theo lời của political officer của British Embassy, người đã tham gia quá trình xét duyệt của Chevening nhiều năm nay, năm 2015 chứng kiến một số lượng lớn nhất ứng viên được chọn để tham gia khóa đào tạo thạc sỹ tại Anh, và cũng là năm mà chất lượng ứng viên Việt nam cao nhất.

33 is the highest ever number of full-time students. And we have had the highest ever standard of scholars as well.

Điều này có nghĩa là với các học bổng phát triển (như Chevening và Fulbright), chất lượng ứng viên hoàn toàn có thể ảnh hưởng tới số lượng người được chọn và kinh phí chứ không nhất định phải tuân theo con số đã định sẵn. Đó cũng là lý do mà một số học bổng phát triển chỉ nêu con số dự định chứ không bao giờ khẳng định sẽ chọn số lượng đó.

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (Phần 1)

Bản thân mình đã muốn viết về việc xin học bổng lâu rồi nhưng chưa có thời gian, thông tin cũng như “credit” để viết. Bây giờ, khi đã được chọn vào Main List của học bổng Chevening, mình quyết định sẽ viết một hướng dẫn đầy đủ nhất có thể cho những ai có ý định xin học bổng chính phủ. Điều này cũng phù hợp với nhu cầu của nhiều bạn mình quen hoặc đã từng giải đáp thắc mắc về học bổng. Mình nghĩ một số thông tin ở đây còn có ích đối với những người định xin các loại học bổng khác ở cấp độ thạc sĩ nữa.

Phần 1: Phân loại, những yếu tố cần thiết khi xin học bổng và cách lựa chọn học bổng chính phủ

Các cách phân loại dưới đây hoàn toàn do tác giả đề xuất mà không dựa trên một nguồn tham khảo nào. Ngoại trừ học bổng tài năng (merit-based) và học bổng hỗ trợ phát triển, các tên gọi loại học bổng khác đều do tác giả đề xuất.

1. Phân loại học bổng

1.1 Phân loại dựa trên điều kiện giới hạn ứng viên

  • Học bổng cạnh tranh quốc tế: Học bổng này cho phép mọi ứng viên quốc tế, không phân biệt quốc gia, ứng tuyển. Theo đó, những người ứng tuyển các học bổng dạng này sẽ phải cạnh tranh với ứng viên trên toàn thế giới. Một số học bổng cạnh tranh quốc tế: Erasmus Mundus của Ủy ban Châu Âu (EC), Endeavour của Chính phủ Australia, học bổng OFID, học bổng Eiffel của Pháp, học bổng MEXT của Nhật Bản.
  • Học bổng (hỗ trợ) phát triển: học bổng phát triển ở Việt Nam là học bổng do một quốc gia tài trợ, trao cho các cá nhân triển vọng ở Việt Nam dựa trên những bản kí kết hợp tác phát triển giữa quốc gia này với Việt Nam. Những người ứng tuyển các học bổng này chỉ phải cạnh tranh với các ứng viên Việt Nam. Một số học bổng phát triển có thể kể đến bao gồm: học bổng Fulbright của Mỹ, học bổng Chevening của Anh, học bổng AAS (tên gọi trước đây là ADS hay AusAID) của Úc, học bổng BBS (tên gọi trước đây là BTC) của Bỉ, học bổng Irish Aid của Ireland.

1.2 Phân loại dựa trên tiêu chí lựa chọn

  • Học bổng tài năng (merit-based): học bổng được trao dựa trên tài năng, học lực, khả năng nghiên cứu, và cả nguyện vọng cống hiến xã hội. Dĩ nhiên, để chứng minh bạn có học lực hay khả năng nghiên cứu xuất sắc, có tài năng đặc biệt, hay có nguyện vọng cống hiến cho cộng đồng, cho xã hội, bạn cần có nhiều thành tích tương ứng và có giấy chứng nhận để chứng minh những phẩm chất này. Học bổng tài năng của chính phủ thường xuyên là học bổng cạnh tranh quốc tế (Erasmus Mundus, Endeavour, Eiffel của Pháp, v.v)
  • Học bổng tiềm năng: học bổng được cấp cho những người có tiềm năng thực hiện những nhiệm vụ mà cơ quan, tổ chức cấp học bổng giao phó như: trở thành đại sứ văn hóa tại nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển của ngành, địa phương và đất nước, trở thành nhà lãnh đạo cơ quan quản lý hoặc ngành trong tương lai, xúc tiến mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và đất nước nơi ứng viên học. Các học bổng tiềm năng có thể kể đến: học bổng BBS, học bổng Chevening, học bổng Irish Aid.
  • Học bổng tiềm năng – tài năng: học bổng được trao cho những người có cả tài năng đã được chứng minh qua thành tích và tiềm năng được thể hiện qua các bài luận. Một số ví dụ về loại học bổng này: học bổng Fulbright, học bổng AAS.

2. Những yếu tố cần thiết khi xin học bổng

Sau 1 năm ứng tuyển cùng lúc cả 5 học bổng chính phủ (có cả merit-based và phát triển), mình đúc kết ra 5 yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình xin học bổng chính phủ bao gồm: sự may mắn, thành tích học tập và hoạt động, khả năng tư duy và viết luận, khả năng network, và phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu.

  • May mắn: Yếu tố này đôi khi mang tính quyết định, đặc biệt đối với những học bổng có giới hạn ngành học. Ví dụ: học bổng Erasmus Mundus có hơn 100 chương trình học dành cho nhiều ngành khác nhau và sự thành công của ứng viên từ Việt Nam có khi chỉ phụ thuộc vào việc người đó ngẫu nhiên chọn đúng chương trình có ít ứng viên. Mình đã từng apply 2 chương trình thuộc EM là STeDe và 4CITIES nhưng sau đó xin rút lui khỏi SteDe vì mình hoàn toàn không thấy hứng thú với nó nữa. Trớ trêu thay, SteDe năm đó ít ứng viên đến nỗi trong quá trình xét tuyển, giáo sư phải mail cho mình yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, mặc dù lúc đó mình đã hủy hồ sơ. Tất nhiên mình từ chối, và học bổng EM cho STeDe năm đó thuộc về một bạn ít tuổi hơn mình, cũng tốt nghiệp ĐH Kiến trúc HN. Nếu xét về các phẩm chất và sự phù hợp với chương trình, mình có nhiều lợi thế lúc đó vì đã có chứng nhận 2 năm làm việc trong một dự án nghiên cứu khoa học cấp quốc gia về quy hoạch đô thị bền vững (STeDe là chương trình học về quy hoạch vùng bền vững), ngoài ra còn có cả IELTS 8.0 và DELF B2, mà STeDe nói rất rõ là sẽ đánh giá cao ai có khả năng sử dụng tốt cùng lúc 2 ngôn ngữ Anh và Pháp 🙂 Nhưng mình đã không ứng tuyển STeDe, để rồi bị rejected trong chương trình 4CITIES (năm nay 4CITIES có hơn 900 hồ sơ ứng tuyển).
    Một trường hợp khác, một bạn (mình biết bạn này nhưng xin phép được giấu thông tin cá nhân) được nhận vào một chương trình cũng thuộc EM. Nhưng khả năng sử dụng tiếng Anh của bạn đó thì … thậm chí còn không đủ để tự phát biểu về công việc mình làm. Vậy đó, các bạn đừng nghĩ để được học bổng cần có những phẩm chất cao siêu gì. Đôi lúc, may mắn là tất cả những gì bạn cần.
  • Thành tích học tập và hoạt động: các thành tích này bao gồm điểm đại học, bài báo, báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu, và thành tích hoạt động xã hội. Dĩ nhiên, điểm đại học càng cao, càng nhiều bài báo và báo cáo khoa học phù hợp với ngành định học, thành tích hoạt động xã hội phong phú là những lợi thế khi ứng tuyển học bổng. Ví dụ về các bạn đã thành công trong việc tìm học bổng nhờ các thành tích tốt thì rất nhiều. Các bạn có thể xem trong cơ sở dữ liệu về ứng viên được học bổng EM mỗi năm ở trên trang facebook Erasmus Mundus Vietnam.
  • Khả năng tư duy và viết luận: khả năng tư duy sẽ được thể hiện qua những suy nghĩ về ngành chuyên môn và xã hội mà bạn tích lũy trong suốt quá trình từ khi bạn bắt đầu có ý thức (nói cách khác, từ lúc bạn đi nhà trẻ) cho đến khi bạn ứng tuyển học bổng. Tư duy này càng độc đáo, sâu sắc, dài hạn, thiết thực cho ngành và xã hội thì khả năng bạn được chọn càng cao. Tất nhiên, bạn phải có khả năng viết luận tốt để thể hiện những điều đó một cách thuyết phục trong những bài luận cá nhân khi xin học bổng. Một ví dụ điển hình cho việc tư duy và viết luận dẫn đến thành công là chính tác giả :)) GPA rất thấp (7.6) nếu so với các bạn học ngành kinh tế và xã hội (thường là 8.4, thậm chí trên 9.0), không có hoạt động xã hội, không có hoạt động nghiên cứu nào đáng kể, không có một giải thưởng nào. Chỉ bằng bài luận và mình đã thuyết phục được ban xét tuyển của Chevening 🙂
  • Khả năng network: là khả năng tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ có lợi, cụ thể ở đây là có lợi cho hoạt động xin học bổng. Những trường hợp thường thấy nhất là network với các giáo sư có uy tín trong ngành và trên thế giới để xin được những thư giới thiệu hoặc được trực tiếp giới thiệu cho các học bổng. Đối với học bổng dạng merit-based như Erasmus Mundus hay Eiffel, những sự giới thiệu này cực kì có giá trị. Có bạn chỉ có GPA rất thấp nhưng được sự giới thiệu của các giáo sư hàng đầu ở Châu Âu mà được học bổng EM rồi đấy. Thậm chí, có bạn ứng viên học bổng Đại sứ quán Pháp còn quen biết cả thành viên của ban phỏng vấn 😉
    Networking không phải là điều gì đó xấu. Ngược lại, nó giúp cho các bạn tiếp cận được nhiều cơ hội và thông tin hơn, đồng nghĩa với việc thúc đẩy sự công bằng về cơ hội và minh bạch thông tin. Theo điều tra của đài ABC năm 2013, 80% công việc được tìm thấy thông qua networking.
  • Phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu: các học bổng phát triển thường yêu cầu ở những ứng viên những phẩm chất đặc thù phù hợp với mục tiêu và tinh thần của học bổng đó. Ví dụ, học bổng Chevening muốn chọn những người có tố chất lãnh đạo, có tiềm năng trở thành người dẫn đầu ngành chuyên môn hoặc quản lý trong tương lai; học bổng Fulbright muốn tìm kiếm những người có khả năng thúc đẩy sự trao đổi văn hóa Việt-Mỹ; hoặc, học bổng AAS luôn có một quota nhất định cho những ứng viên đến từ các Ủy ban nhân dân, các bộ và cơ quan ngang bộ, các ứng viên người dân tộc thiểu số hoặc từ vùng khó khăn. Thực tế, có những người được học bổng AAS, được sang Úc rồi trở về Việt Nam mà vẫn không sử dụng được Tiếng Anh ở mức độ nghe, nói, đọc, viết cơ bản 😉

3. Lựa chọn học bổng

Viêc lựa chọn học bổng phụ thuộc vào việc bạn có yếu tố nào trong 5 yếu tố trên.

  • Bạn có thành tích học tập và hoạt động tốt: bạn phù hợp với học bổng merit-based.
  • Bạn có khả năng tư duy và viết luận tốt: bạn phù hợp với học bổng tiềm năng.
  • Bạn có khả năng network tốt: bạn phù hợp với mọi loại học bổng. Tuy nhiên theo kinh nghiệm và thông tin mình có được, bạn cần có thêm 1 trong 4 yếu tố còn lại thì khả năng được chọn mới cao ^ ^.
  • Bạn có cả thành tích học tập và hoạt động lẫn khả năng tư duy và viết luận: bạn phù hợp với tất cả mọi loại học bổng.
  • Bạn có may mắn: mình không còn gì để nói ngoài câu: “Biết được mình sẽ gặp may thì còn gọi gì là may mắn nữa.”
  • Bạn có phẩm chất đặc thù mà một học bổng nào đó yêu cầu: bạn đặc biệt phù hợp với học bổng đó. Cứ mạnh dạn ứng tuyển.

Nên nhớ, việc bạn sở hữu chỉ 1 trong 5 yếu tố trên cũng đủ để bạn ứng tuyển học bổng rồi.

Kinh nghiệm xin học bổng PhD

Kinh nghiệm nộp hồ sơ học bổng bậc tiến sĩ tại các đại học Úc (có bổ sung ý Ba: Chuẩn bị)

Định không chia sẻ bài viết này, nhưng vì thấy có ích cho một số bạn nên post lại đây. Có thể sẽ có ích nhiều cho các bạn có xuất phát điểm thấp và trung bình như mình. Phần chia sẻ này dựa vào kinh nghiệm cá nhân đúc rút từ quá trình nộp hồ sơ ở Úc và New Zealand. Các chiến lược mình áp dụng trong này đều học từ thầy Vũ Hồ (xem link ở dưới bài). Tổng kết: Năm 2016 mình apply hai học bổng chính phủ gồm học bổng Endeavour và học bổng chính phủ New Zealand (trượt cả hai), 6 học bổng trường (1 trường của New Zealand – Aukcland University và 5 trường ở Úc) thì được 4 trường Úc cho học bổng toàn phần gồm Flinders University, Latrobe University, University of Canberra và Monash University. Có mấy điểm mình thấy làm cho hồ sơ lột xác hoàn toàn so với trước đây là:

Một là sense of purpose (hiểu rõ mục đích bản thân): Mục đích đời bạn là gì? Các mục tiêu ngắn hạn của bạn? Bạn sẽ đi con đường nào để theo đuổi những mục đích và mục tiêu đó? Hình dung cuộc sống của bạn khi có học bổng sẽ thay đổi như thế nào? Học bổng sẽ giúp bạn đạt được điều gì?

Trước đó mình có ý muốn đi du học, nhưng chưa xác định được cụ thể tại sao mình cần đi học (mà chỉ có ý định trốn chạy vì công việc ngột ngạt thôi). Thấy “mông lung như một trò đùa” nên những câu hỏi kiểu như nên đi học về cái gì, sau này học xong thì làm gì, học bổng giúp thay đổi điều gì trong cuộc sống v.v. đều không có một định hướng gì để trả lời cả. Do chưa có xác định được rõ ràng nên toàn bộ những hồ sơ mình đã nộp trong năm 2014-đầu 2016, đặc biệt là phần phát biểu về mục đích (statement of purpose) và đề cương nghiên cứu (research proposal) đều phiên phiến, mơ hồ và thiếu dấu ấn cá nhân (personal touch). Bản thân mình còn thấy thế thì người ta chấm học bổng không thấy mới lạ!

Có bạn cứ bảo học xong thạc sĩ rồi mà còn mông lung. Mình thì thấy, mỗi giai đoạn cuộc đời đều rơi vào một số các mông lung đặc thù: lúc cuối cấp 3 thì không biết học đại học gì, lúc tốt nghiệp đại học thì không biết nên làm gì, đến lúc đi làm rồi không biết làm nghề này có đúng không hay chuyển nghề khác, lúc học xong thạc sĩ rồi thì không biết nên học tiến sĩ hay tiếp tục đi làm là đủ, v.v. Nói chung, cuộc sống mà thiếu mông lung thì có gì đó không đúng. Nếu có mông lung tức là phải nghiêm túc để tìm kiếm lối ra. Quá trình tìm kiếm mục đích của mình bắt đầu bằng việc suy nghĩ thật chín chắn cái gì mình thực sự đam mê – cái này rất quan trọng. Nếu không đam mê thì sau này khó mà theo đuổi được. Đối với mình, nghiên cứu là nghề nghiệp nền tảng nên phải học PhD. Mà học PhD phải cụ thể hóa bằng chủ đề nghiên cứu – thứ mình phải quan tâm và gắn với nghề nghiệp lâu dài. Sau khi đã trằn trọc suy nghĩ về định hướng nghề nghiệp của mình, thì việc tham khảo cả ý kiến của thầy cô và đồng nghiệp đi trước sẽ rất có ích. Họ là những người từng va chạm các vấn đề như mình nên chia sẻ của họ là cực kỳ giá trị. Mỗi lần trao đổi với họ giúp mình nhận ra mục đích của mình còn chưa phù hợp chỗ nào để mà điều chỉnh. Khi mục đích lớn dần dần lộ rõ thì các phần khác của bộ hồ sơ trở nên liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất do xoay quanh một định hướng. Chốt lại, không có sense of purpose thì viết cái gì cũng nhạt.

Hai là research proposal (đề xuất nghiên cứu).

Có lẽ cái này là phần khó nhất, và là điểm khởi đầu trong hồ sơ apply tiến sĩ. Trước đây đề tài nghiên cứu thạc sĩ của mình là về “nghi thức thể hiện sự tôn trọng trong đời sống người Việt”, dù mình khá hứng thú với nó, nhưng thực tế nó ít được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm và cũng khó khơi gợi được sự quan tâm của các giáo sư ở Úc. Do đó mình nghĩ phải tìm một chủ đề mới, thực tế hơn. Trước khi có bản cuối cùng mình có phải đến vài ba chủ đề khác nhau, mỗi chủ đề viết thành 4-5 bản khác nhau, cái về Internet và truyền thông xã hội, cái về mạng lưới tương tác ảo, cái về tổ chức xã hội tự nguyện, v.v. Khi đã chọn cho mình một chủ đề với ý tưởng thú vị, việc tiếp theo là xây dựng nó thành một đề xuất nghiên cứu (research proposal). Vì không thạo với tài liệu chuyên ngành liên quan đến chủ đề lựa chọn nên dù mình tự mày mò, tự xây dựng, tự sửa cho mình nhưng rốt cuộc vẫn rối như canh hẹ. Sau đó, mình quyết định tham khảo các anh chị tiền bối trong ngành bằng cách trao đổi với họ, gửi proposal cho họ góp ý, rồi từ đó tìm cách sửa chữa lại. Mình gửi đi khoảng 4-5 người. Qua đó mình thấy mình học hỏi được rất nhiều thứ. Đúng là phải soi mình vào một cái gương thì mới thấy mình thế nào. Qua đó, phải nói research proposal của mình tốt lên hẳn. Kết quả là khi mình gửi đi thì hầu hết giáo sư đều đồng ý nhận hướng dẫn ngay từ lần đầu tiên với comment đại ý là đề tài của mày promising (đáng mong đợi) và thú vị.

Tóm lại, tìm ra được ý tưởng nghiên cứu hấp dẫn, nằm trong một topic đúng mốt (không chỉ quan trọng đối với Việt Nam mà phù hợp với định hướng nghiên cứu của trường và được cả giáo sư họ quan tâm), xác định được được lỗ hổng của nghiên cứu hiện tại, đặt ra câu hỏi đích đáng , có một hình dung tốt về phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng, quyết định phần lớn thành bại của một hồ sơ học PhD.

Ba là chuẩn bị.

Quá trình chuẩn bị cho một hồ sơ PhD gồm nhiều phần. Ngoài đề cương nghiên cứu, có ba phần tối quan trọng mình muốn chia sẻ ở đây.

Đầu tiên là chuẩn bị các giấy tờ có công chứng như bằng cấp, bảng điểm, giấy chứng nhận, giấy khai sinh, hộ chiếu. Một trong những khó khăn nhất, tốn thời gian và mệt mỏi nhất (chắc là ở Việt Nam) chính là xin công chứng các giấy tờ. Cái thì phải về quê xin bản sao và công chứng ví dụ như giấy khai sinh; cái thì phải công chứng ở phường; cái thì phải lên thành phố (ví dụ các bản có tiếng Anh, phường không có năng lực công chứng); cái thì phải về trường (ví dụ bảng điểm). Đó là chưa kể việc dịch các văn bản sang tiếng Anh. Kinh nghiệm của mình là: (i) phải luôn có các túi clear bag để đựng và ghi tên các loại giấy tờ; (ii) khi rỗi thì công chứng luôn tất cả giấy tờ có thể; (iii) bắt đầu làm cái này càng sớm càng tốt (ví dụ từ trước mấy tháng khi xin học bổng); (iv) lưu trữ các giấy tờ cả bản cứng và cả bản scan (scan đẹp vào). Đừng chờ đến khi chuẩn bị học bổng rồi mới làm, đầu óc mình rất mệt mỏi phải lo các thứ khác trong hồ sơ, nhìn việc hành chính nhiêu khê mà thấy nản luôn. Liên quan đến công chứng, chắc không ai sang như mình, lên hẳn Đại sứ quán Úc công chứng. Mỗi loại giấy tờ ở đây (tất nhiên phải là giấy tờ tiếng Anh) được công chứng với giá 40 đô – nghĩa là giấy tờ gồm 1 hay nhiều trang thì đều 40 đô. Mình làm tới 7-8 loại luôn (máu thôi rồi!), tổng tiền Việt lên tới 6-7 triệu gì đó. Anh officer ở Đại sứ quán thấy thế nhìn mình với ánh mắt ái ngại. Nhưng nó thể hiện cho triết lý của mình: đã máu thì làm tới luôn. Được cái, công chứng bởi Đại sứ quán thì dùng được lâu dài, nhiều đại học, cơ quan Úc nó chấp nhận (kể cả khi mình đi xin việc).

Thứ hai là chuẩn bị thư giới thiệu (letter of recommendation/referee letter). Mỗi hồ sơ học bổng đại học Úc và cả New Zealand, yêu cầu từ 2-3 thư giới thiệu. Thường một thư giới thiệu (có trường bắt buộc ví dụ Auckland University) từ giáo sư hướng dẫn luận văn thạc sĩ, hoặc của một giáo sư viết nghiên cứu cùng mình; và một thư của người tuyển dụng mình, hoặc một người trong ngành làm việc cùng mình. Kinh nghiệm của mình là: luôn chú ý xây dựng các mối quan hệ – hay xây dựng vốn xã hội, sẽ đến lúc cần đến. Sau khi tốt nghiệp Flinders University, mình vẫn thỉnh thoảng gửi email chúc mừng, hỏi thăm các giáo sư từng quen biết và hướng dẫn từ hồi đi học (hồi đi học thì cố gắng thể hiện nổi bật một chút cho người ta nhớ ). Vậy nhưng các bạn cũng biết, mỗi trường hai lá thư, mà mình apply đến 6-7 học bổng, nên mỗi người mình phải xin 2-3 lá. Cái nhiêu khê nhất là mình phải nhờ họ tự vào hệ thống submit thư giới thiệu (ví dụ học bổng Endeavour), có cái họ phải tự gửi đi (mất thời gian viết thư, gửi đi, có nơi phải gửi post, rồi check xem đến chưa). Khi nhờ vả họ nhiều thế quả ái ngại vô cùng (nhưng kinh nghiệm cho thấy, mình phải đạp lên tất cả. Đùa thôi!). Cái mình có thể giúp họ được là: (i) phân loại các hồ sơ ra, phân bố người viết thư vào các loại học bổng khác nhau, đừng để có người phải viết nhiều thư quá. Thường thì mình cũng cân đối cả giáo sư trong nước và nước ngoài; (ii) chuẩn bị sẵn tất cả thông tin cần thiết (thông tin về mình, về trường, loại học bổng, v.v.) cho họ, để họ chỉ có mỗi việc viết và gửi đi. Hôm đầu tiên gặp giáo sư hướng dẫn PhD thầy có nhắc bảo tao có biết và ngưỡng mộ giáo sư hướng dẫn luận văn của mình và tin tưởng vào sinh viên cô ấy hướng dẫn. Thế mới thấy thư giới thiệu quan trọng ra sao.

Thứ ba và quan trọng là chuẩn bị xuất bản phẩm (academic publication). Rốt cuộc thì chấm học bổng PhD luôn dựa vào giá trị/chất lượng học thuật (academic merit). Tiêu chí này ngoài điểm GPA (thường sẽ yêu cầu bạn tốt nghiệp honours hoặc Masters hạng A – High Distinction), thì phải có xuất bản phẩm (liên quan đến đề tài đề xuất thì càng tốt). Việc chuẩn bị này dĩ nhiên phải lâu dài. Hồi học xong thạc sĩ, mình mới chỉ có khoảng chục bài báo trong nước và một chương sách (đều là tiếng Việt). Biết thiếu hụt của mình là các xuất bản bằng tiếng Anh và chất lượng quốc tế, thời gian về nước từ tháng 9/2014 ngoài việc xung phong viết báo cho viện nơi mình làm, mình cũng tập trung để xuất bản ba bài tiếng Anh, trong đó có hai bài trên tạp chí có peer-review, một bài trên tạp chí quốc tế (dù chỉ là open access journal). Bên cạnh đó mình cũng may mắn có một chương sách bằng tiếng Anh đang review xuất bản ở thời điểm nộp hồ sơ. Việc có bài tiếng Anh cực quan trọng, vì nó cho phép người xét duyệt có thể đọc và hiểu được trình của mình (đỡ phải dịch nữa!). Thế nên bằng mọi giá phải có bài báo tiếng Anh, và tốt hơn thì trên các tạp chí peer-review và có thứ hạng cao. Thực tế các học bổng đều có thang điểm dành cho từng loại xuất bản phẩm (cao nhất là bài báo, chương sách nhà xuất bản uy tín). Nhìn chung, hồ sơ của mình tại thời điểm sau tháng 3/2016 (gồm những xuất bản phẩm vừa kể) mạnh hơn rất nhiều so với năm trước do có xuất bản phẩm. Tóm lại, nếu các bạn định đi học PhD thì chuẩn bị xuất bản nghiên cứu là không thể tránh khỏi. Mà điều này phải chuẩn bị trong thời gian dài (ví dụ một bài báo peer-review mất ít nhất 1 năm để đi tới cùng, tính từ thời điểm nộp bài lên tạp chí). Đây cũng là điểm cần cân nhắc khi đi học PhD: có đáng không? Luôn và nên cần hỏi như vậy.

Bốn là chọn và liên lạc với giáo sư hướng dẫn (supervisor).

Có một số chiến thuật để tiếp cận với giáo sư hướng dẫn. Trước hết là tìm kiếm từ rộng đến hẹp. Xác định trình độ của mình ở mức trung bình thôi (mình nghĩ cái này nên trung thực với bản thân, biết mình đang ở đâu!), nên mình chọn các trường đại học rank thấp và trung bình thôi. Trong các trường đó, mình tìm về các khoa liên quan đến chủ đề nghiên cứu mình quan tâm, ví dụ mình quan tâm đến thảm họa tự nhiên từ góc độ xã hội học thì sẽ tìm khoa nhân học, xã hội học, nghiên cứu phát triển, v.v. Trong các khoa đó có các hồ sơ (profiles) của các giáo sư. Mình tìm tới từng profile, đọc, tham khảo một số các nghiên cứu của họ, tìm chỉ số trích dẫn của họ (chẳng hạn qua Google Scholar), suy nghĩ xem có liên hệ nào giữa họ và đề tài của mình hay không (cố tìm ra!). Sau đó, chọn “nạn nhân” để đầu tư thời gian. Lưu ý là mỗi khoa, mỗi thời điểm chỉ nên lựa chọn một giáo sư thôi vì họ có thể trao đổi với nhau. Mình gửi nhiều người họ cũng có thể biết, và như thế không hay. Ngoài ra, khi chọn giáo sư thì không nên chọn người có thâm niên quá cao, vì họ có thể không có nhiều thời gian để trả lời thư của mình, hoặc không có nhiều thời gian để hướng dẫn cho mình sau này (sau này sang bên Monash học mình mới biết, nhiều trường hợp giáo sư thâm niên rất ít khi gặp và trao đổi với sinh viên, làm sinh viên toàn tự bơi. Về lâu dài thì rất khổ!). Hơn nữa, giáo sư rank cao cũng sẽ chọn các sinh viên xuất sắc (outstanding), mình nên biết lượng sức mình mà lựa chọn người cho phù hợp. Mình thường chọn các associate professor hoặc các senior lecturer hoặc những người có citation thấp hơn một chút. Kết quả phản hồi rất tốt.

Một vấn đề quan trọng nữa là liên lạc email. Đầu tiên là tiêu đề thư, ngắn gọn, súc tích, và làm rõ ý định của người viết thư. Nội dung thư đầu tiên mình cũng không đặt quá nhiều vấn đề kiểu như lá thư trăn trối cuối cùng (nhét được bao nhiêu thông tin thì cố nhét) vì giáo sư họ sẽ khiếp, không có thời gian mà đọc thư quá dài. Mình chỉ giới thiệu đề tài nghiên cứu của mình, đặc biệt nhấn mạnh vào sự tương đồng giữa mình và các research interests hay topics mà họ đang theo đuổi, rồi cuối cùng chốt hỏi một câu xem họ có quan tâm đến đề tài của mình không. Trong phần tái bút, mình cũng chèn thêm tài khoản researchgate.com hoặc academia.edu để họ cần thì vào xem.

Thời điểm gửi thư thì mình dùng Boomerang để set thời gian đúng 8h sáng bên nước họ và thấy rất hiệu quả. Tất cả giáo sư mình gửi đều phản hồi (sớm hay muộn thôi) và hầu hết đều đồng ý. Sau đó mình mới hỏi họ cho phép mình đặt tên họ vào hồ sơ xin nhập học (admission) và học bổng (scholarship). Như vậy đến đây đã xong một bước quan trọng là xin được giáo sư đồng ý hướng dẫn, việc tiếp theo là hoàn thành hồ sơ xin nhập học và học bổng. Tóm lại, cách liên lạc với giáo sư phải thể hiện mình tôn trọng thời giờ vàng ngọc của người ta, và qua đó cho họ thấy mình là người chuyên nghiệp.

Liên quan đến liên hệ giáo sư, mình cũng chia sẻ thêm là chăm đi các events và workshops rất có ích. Thời điểm mình đang mơ hồ tìm kiếm thì có dự một event do Chính phủ Úc tổ chức ở Hà Nội. Ở đó mình có trao đổi với một chị người Úc rời đại sứ quán Úc về nước làm tiến sĩ. Ngay lập tức mình xin kết nối với nhóm nghiên cứu bên đó thì được ngay. Sau đó giáo sư chủ động gọi mình phỏng vấn qua Skype và qua đó mình được nhận. Đặc biệt là trong supervisory panel của mình có một leading scholar trong mảng environmental politics, và bác ý cũng đồng ý làm hướng dẫn hai cho mình vì thích đề tài của mình. Quả thực họ rất nhiệt tình ủng hộ mình trong quá trình nộp hồ sơ cho trường, thậm chí còn viết của thư support gửi cho trường và hứa cho thêm tiền để làm thực địa và đi dự conference nữa. Kinh nghiệm là cứ đi kết nối nhiều vào, mạnh dạn trình bày ý tưởng, và nắm bắt mọi cơ hội tới.

Năm là làm bài luận (essays).

Một trong những phần quan trọng của hồ sơ xin nhập học và hồ sơ học bổng là viết các bài luận theo các câu hỏi khác nhau. Việc viết này quả thực tương đối thách thức theo nghĩa mình vừa đang đi làm kiếm tiền, vừa phải lo viết bài xuất bản, nên việc viết bài luận phải tranh thủ và tập trung cao độ. Hơn nữa, việc hoàn thành các bài luận này thường không phải một lúc là xong, mà kéo dài rất mệt mỏi. Viết thế nào để thuyết phục hội đồng cho học bổng quả không dễ. Vậy viết thế nào?

Ý tưởng, nội dung của các bài cần phải có ‘personal touch’, tức là cần phải mang dấu ấn cá nhân, chứ không phải cứ copy các bài mẫu trên mạng, tạo ra các bản sao. Đã là bản sao thì không thể xuất sắc hơn bản chính được, dù nó được trau chuốt đến đâu. Dấu ấn cá nhân là hình ảnh, trải nghiệm, mục đích cá nhân được in đậm trong đó. Đó là cái phân biệt hồ sơ của bạn với hàng loạt hồ sơ khác.

Thứ hai là phải viết logic và mạch lạc. Mỗi bài luận thường có các câu đề bài, ví dụ hỏi: Tại sao mày là một ứng cử viên xuất sắc để nhận học bổng này? và được giới hạn trong một lượng tự nhất định (ví dụ 100-200 từ). Người chấm học bổng phải đọc rất nhiều hồ sơ, nên họ không có quá nhiều thời gian để thẩm thấu cái gì quá phức tạp, cao siêu. Mình cần phải viết cái gì rất rõ ràng, dễ hiểu. Để làm được điều đó, kinh nghiệm của mình là trước khi viết, vạch ý ra thật rõ ràng. Ví dụ một câu trả lời mình dự định có 3 ý, thì xây dựng 3 ý thật rõ ràng, đi kèm các lập luận và ví dụ cụ thể của bản thân (nhất thiết phải của bản thân). Hơn nữa, cần sắp xếp 3 ý này theo tuyến tính, hay theo một logic nào đó. Ví dụ, ý A, B và C được sắp xếp theo trật tự thời gian, từ quá khứ tới hiện tại. Như vậy, người đọc sẽ biết mạch văn của mình. Không chỉ mạch lạc, logic trong nội bộ một bài luận, mà các bài luận cũng nên liên kết với nhau, cùng làm toát lên mục đích nghề nghiệp của mình.

Thứ ba, tự sửa cho mình. Để hoàn thiện một bài luận, bản thân mình phải tự sửa rất nhiều lần. Đây là một quá trình phản thân (reflective process) rất cần thiết. Một bài luận của mình thường có rất nhiều bản thảo. Ví dụ mình hoàn thành một bản thảo, sau đó cách hai ba ngày bỏ đi không nghĩ tới, rồi quay lại đọc bản thảo đó. Cách này khiến mình nạp lại năng lượng, làm mới đầu óc mình, từ đó nhìn nhận bản thảo rõ ràng hơn, dễ tìm các điểm chưa được mà khắc phục. Ngoài cách trên, nếu nhờ được ai xem giúp cho mình thì rất tốt.

Sáu, sắp xếp một hồ sơ (điện tử) gửi đi.

Hình dung là người nhận và xét duyệt sẽ có hàng tá bộ hồ sơ gửi đến. Làm thế nào để bộ hồ sơ của mình nổi bật và dễ thiện cảm? Có mấy gợi ý.
Thứ nhất, ghi tên rõ ràng. Mỗi file trong hồ sơ cần ghi tên rõ để họ nhìn là biết file đó là gì.

Thứ hai, đối với các bằng cấp, bảng điểm, nên ghi thêm năm. Hình dung họ nhìn vào list các file bảng điểm là biết mình tốt nghiệp năm nào.

Thứ ba, đối với các files như passport, giấy khai sinh thì nên ghi thêm tên mình.

Thứ tư, các files trong một bộ hồ sơ nên đánh số thứ tự: 1, 1.1., 1.2. Thứ tự nên theo yêu cầu trong form hồ sơ học bổng/nhập học. Khi họ mở hồ sơ ra thì đã biết nên đọc file nào trước.

Thứ năm, nên bổ sung thêm một số files có tác dụng làm rõ thêm các tài liệu khác, dù không được yêu cầu. Ví dụ mình bổ sung thêm một bản báo cáo đánh giá luận văn thạc sĩ của mình từ các examiners, có dấu xác nhận của trường cũ.

Thứ sáu, đừng nên tiếc tiền mà không chuẩn bị các file đẹp nhất có thể. Ví dụ nếu scan các ấn phẩm xuất bản thì nên scan màu, cắt gọt các phần đen, thừa đi.

Thứ bảy, khi gửi hồ sơ tới một địa chỉ cụ thể, tiêu đề thư nên ghi rõ hồ sơ của ai, dành cho học bổng hay nhập học.

Thứ tám, nội dung thư nên nói rõ phần đính kèm gồm những files gì.

Thứ chín, nếu toàn bộ hồ sơ quá nặng để đính kèm thì chia thành hai thư, nhưng cần nói rõ là sẽ có 2 thư, mỗi thư gồm các tài liệu gì đính kèm. Lưu ý, số thứ tự của hai phần vẫn thống nhất với nhau.

Thứ mười, vẫn nên set thời gian gửi email vào đầu giờ làm việc buổi sáng của bên nước họ.

Cuối cùng, kiên nhẫn chờ đợi, thành công sẽ tới.

Năm nay, trước khi thành công đến thất bại viếng thăm liên tiếp. Bắt đầu với học bổng New Zealand sau khi đã vào vòng 3, sau đó đến trường Aucland cũng bị từ chối nốt dù đã chấp nhận nhập học, tiếp đó học bổng Endeavour cũng trượt (cái mình cực kỳ hy vọng), trường Western Sydney University cũng từ chối dù đã cho nhập học. Thời điểm đó cứ cách 1-2 tuần là một tin báo trượt. Chắc ai đã từng apply học bổng rồi mà trượt nhiều và liên tục thì mới thấy đau khổ và thất vọng thế nào. Thực sự thì tới thời điểm nhận được mấy tin báo thất bại liền, mình không còn tin ở khả năng mình nhận được học bổng nữa. Thực tế là đa số các trường ở Úc mỗi năm chỉ dành 1-2 suất học bổng cho sinh viên quốc tế làm PhD thôi (ví dụ University of Canberra họ báo ngay cho mình từ khi chuẩn bị hồ sơ kiểu như để mày nghĩ cho kỹ đỡ mất công làm). Khi mình so các tiêu chí chấm điểm học bổng thì thấy hồ sơ của mình chỉ ở mức trung bình thôi, đặc biệt là phần xuất bản phẩm (đòi hỏi các bài báo trên tạp chí peer-review).

Nhưng cuối cùng, may mắn cũng mỉm cười. Vào một buổi trưa của chuyến công tác, đang nằm võng ở Trà Vinh, mình nhận được email thông báo học bổng. Rồi có thêm 3 trường nữa gửi thư thông báo học bổng liên tiếp làm mình không tin nổi luôn. Việc này cho thấy một điều này: nhiều khi may mắn chiếm một phần rất quan trọng đối với việc apply học bổng. Nhiều khi mình trượt nhưng mình đến đến rất gần với thành công, chỉ thiếu một chút may mắn thôi (mà may mắn đó có thể do hội đồng chấm hắt hơi, đau đầu hay vừa cãi nhau với partner) và cần phải kiên trì chờ đợi. Ví dụ năm 2016, học bổng Endeavour dành cho PhD cho Việt Nam duy nhất 1 học bổng, trong khi đó Bangladesh tận 6-7 người. Năm trước đó Việt Nam còn được đến 5-6 giải thì phải. Có một anh tâm sự (không biết đúng không) bảo năm nay review hồ sơ học bổng có nhiều bạn nổi bật hơn cả những người năm trước đạt giải nhưng do chính sách cắt giảm của Úc nên không được chọn. Vậy đó, đôi lúc mình cố rồi mà hoàn cảnh khách quan thì phải chịu. Nhưng có lẽ, cứ cố gắng, đi đúng hướng, làm đúng cách thì rồi thành quả sẽ tới.

 

Tác giả https://www.facebook.com/trungkien.onfire/posts/10208833688094812

Kinh nghiệm xin học bổng New Zealand Asean Scholarship – Quỳnh Anh

Kinh nghiệm săn học bổng toàn phần chính phủ New Zealand

Nhiều bạn/em nhắn tin hỏi mình kinh nghiệm apply hồ sơ học bổng. Có nhiều tin nhắn vào mục chờ mà gần đây mình mới đọc được. Vì mình cũng đang trong giai đoạn chuẩn bị để sang nhập học mà vẫn đi làm nên không đủ time trả lời từng bạn một. Do đó mình viết chung bài này hi vọng những chia sẻ của mình phần nào giúp các bạn thực hiện được mục tiêu/ước mơ của mình. Đây là câu chuyện của mình nên cũng có thể có những điều chỉ đúng với cá nhân mình. Do đó, các bạn hãy xem như đây là 1 nguồn để tham khảo nhé.
Mình nghĩ điều đầu tiên là mỗi người cần trả lời câu hỏi vì sao mình lại muốn đi du học. Có thể ban đầu điều mong muốn này cũng chỉ mơ hồ nhưng hãy nuôi lớn dần ước mơ. Bản thân mình lúc đang học năm cuối Đại học thấy nhiều bạn đi du học, làm được nhiều điều, rồi đọc quyển “Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương” của 1 chị đạt học bổng Chevening thì mình đã nhen nhóm ước mơ du học để được trải nghiệm, mở mang kiến thức và tìm hiểu về văn hóa. Mình cũng tưởng tượng bản thân cầm theo cái máy ảnh, vai khoác balo đi khám phá nơi này nơi kia ở Châu Âu đầy lãng mạn. Những năm đó mình lên Internet tìm hiểu về học bổng Eramus Mundus, học bổng Chevening, học bổng Irish Aid, học bổng Fulbright…Nhưng thật ra chỉ có vậy.

Rồi mình đi làm, lập gia đình và sinh con. Cơ hội để đi du học khi đã có gia đình khó hơn nhiều. Mình cất ước mơ  du học vào 1 ngăn. Nhưng hành trình làm mẹ và giai đoạn đồng hành với con rất tuyệt vời. Đây là 1 chủ đề khác mình sẽ chia sẻ sau. Chính trong quá trình nuôi con, dạy con, mình thấy bản thân cần trau dồi thêm rất nhiều. Đọc sách về cách giáo dục của Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, Do Thái, Trung Quốc…mình cũng mong muốn con gái được tiếp xúc với những môi trường tuyệt vời. Cùng với mơ ước của bản thân, được học tập và trải nghiệm ở 1 nền giáo dục tiên tiến hơn, mình lại tìm hiểu. Trong số người quen của mình, có anh chị nào từng đi du học là mình lại hỏi han, tìm hiểu để được nói về chủ đề đó chứ chưa quyết tâm vì mình nghĩ đi du học không mang theo con được. Tình cờ khi làm việc cùng 1 chị ở Mc Kenzy, mình biết được thông tin là đi du học Mỹ bằng học bổng Fulbright có thể mang con theo. Đặc biệt nếu học Havard thì con được học ở Havard Square rất tuyệt vời. Túm lại là vẫn có cơ hội dù xác suất thành công rất nhỏ. 1 chị bạn thân khác của mình có nói với mình “Em đừng nghĩ là em đi du học chỉ vì minh, mà em đang đi để mang đến 1 tương lai tốt đẹp hơn cho con”. Câu nói đó khiến mình suy nghĩ rất nhiều. Mình thấy đúng là như thế! Mình muốn tìm hiểu về thế giới, muốn con có cơ hội học tập ở những nền giáo dục tiên tiến thì trước tiên mình phải làm gương. Sau 1 thời gian soát xét mọi khía cạnh thì mình hạ quyết tâm sẽ tìm kiếm học bổng toàn phần để đi du học và có mang con theo. Có nhiều lý do nhưng sau khi tìm hiểu thì mình chỉ lựa chọn học bổng Fulbright và học bổng New Zealand Asean (NZA). (Các học bổng khác trong list mình lập cũng đều rất hay nhưng phù hợp với những bạn độc thân, chưa có gia đình). Mình tìm hiểu về New Zealand từ đầu năm 2015 và càng tìm hiểu thì mình càng cảm thấy quá yêu đất nước New Zealand dù chỉ biết qua internet, báo chí… Khi mình chia sẻ ý định của mình thì mọi người cũng đều nói con người mình phù hợp với văn hóa và cuộc sống New Zealand. Và cuối cùng thì mình chỉ apply duy nhất học bổng New Zealand Asean(NZA).

 

Như đã nói ở trên và trong ảnh mình gửi thì mình lập plan từ tháng 3/2015. Lúc đấy mình mới nghiêm túc tìm hiểu lại về tất cả các học bổng, note ngắn gọn các điều kiện apply và deadline. Việc lập plan này với cá nhân mình thấy rất hữu ích. Tuy nhiên thời gian từ lúc quyết định đến lúc nộp hồ sơ là 1 năm là thời gian không dài, nếu không muốn nói là quá gấp, nhất là với người đã tốt nghiệp đại học được gần 8 năm như mình (mình tốt nghiệp cuối năm 2007, tháng 3/2015 bắt đầu lập plan). Vì tiếng Anh tuy trong công việc mình vẫn dùng nhưng rất ít. Khoảng nửa năm ôn luyện và thi IELTS cũng là rất thách thức. Lúc đó mình chỉ nghĩ, nếu mình không quyết tâm, không nỗ lực thì sẽ chẳng bao giờ thực hiện được ước mơ. Và cứ đặt mục tiêu cao nhất là học bổng toàn phần, nếu chưa được thì ít nhất mình đã có động lực để nghiêm túc ôn luyện lại tiếng Anh cũng như quá trình chuẩn bị hồ sơ sẽ giúp mình nhìn lại bản thân thấu đáo hơn.
Mình khuyên mọi người hãy tìm hiểu thật kỹ tiêu chí của học bổng, xem mình hợp với học bổng nào hay mình cần nâng cao gì để phù hợp với tiêu chí học bổng. Tự trả lời tại sao bạn lại muốn đi du học? Tại sao lại apply học bổng này mà không phải học bổng khác? Tại sao chọn ngành này lại không phải ngành khác? Hãy thật hiểu bản thân và biết cách trình bày để hội đồng xét duyệt học bổng hiểu được bạn. Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ như yêu cầu của học bổng.
Kinh nghiệm để có bộ hồ sơ mạnh hay đẹp thì mình không có vì mình mới chỉ apply duy nhất học bổng New Zealand Asean (NZA). Mọi người vào các trang web như hotcourses/nguonhocbong.com là được nhiều thông tin nhất và cập nhật nhất. Bạn sẽ có rất nhiều kinh nghiệm hay từ các bạn đi trước.

Kinh nghiệm xin học bổng du học hay nói đúng hơn bí quyết săn học bổng du học  của mình gói gọn như sau:
1. Lập plan cụ thể theo tháng, tuần, ngày.
2. Quyết tâm và đọc nhiều để được truyền thêm cảm hứng.
3. Hãy nghĩ rộng hơn, xa hơn: không phải đi du học là để có cv tốt hơn, thu nhập cao hơn mà hãy hướng đến những mục tiêu xa hơn như: để hiểu hơn về thế giới, để trực tiếp cảm nhận nền văn hóa. Để đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng…
4. Tìm đến nhiều người đã đạt học bổng vì mỗi người sẽ đều có những lời khuyên hữu ích cho mình.
5. Chia sẻ mục tiêu với những người thân/bạn bè để lỡ chẳng may lúc nào nản hoặc kết quả chưa như mong muốn thì được động viên kịp thời (Minh may mắn có nhiều bạn bè, đồng nghiệp, người thân như vậy lắm. Có khi còn tin vào mình hơn cả chính bản thân mình ấy)
6. Nghiêm túc nghĩ về các dự định cả về công việc & cuộc sống của bản thân và gia đình trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.

————————————————

Chân thành cảm ơn Quỳnh Anh 1 bài viết rất tâm huyết và nhiều lời khuyên bổ ích & giá trị cho các bạn trẻ Việt Nam.

Kinh nghiệm apply New Zealand ASEAN Scholarship – Ngọc Diệp

Hi các bạn,

Tiếp nối tinh thần chia sẻ của các anh chị NZAID 2012, NZAID 2013 tiếp tục truyền lửa cho các bạn muốn đi học tại đất nước Kiwi.
Mình mới tổng hợp 1 vài câu hỏi liên quan mà các bạn có gửi email cho mình. Mình post lại lên đây, hi vọng helpful với các bạn. Chúc các bạn may mắn và thành công!!

Mình xin lưu ý là trong số các câu hỏi dưới đây, câu hỏi số 1, và 4 là những câu hỏi đã đc đem ra thảo luận trong buổi chia sẻ cuối năm ngoái, và đc chị điều phối viên chtr HB trả lời. Do đó, phần trả lời này là do mình tổng hợp lại thông tin từ buổi chia sẻ đó. Nói vậy để các bạn mừng nhé!

Chúc các bạn may mắn và thành công, và năm sau lên đường sang NZ để đi du lịch, à nhầm, đi học :D:D

À, mình xin lưu ý, các bạn cần đọc rất kỹ hướng dẫn của HB và dành thời gian để tìm hiểu đấy nhé! Những câu hỏi nào đã có trong hướng dẫn của HB thì mình sẽ k trả lời đâu, mà sẽ refer lại cái hướng dẫn đó cho các bạn.

*** Hiểu về HB này. Theo mình thì đây là điều hết sức quan trọng trước khi apply, là mình cần hiểu về bản chất/ agenda đằng sau nó. Mục đích của HB này là ‘to country, through people’, nghĩa là HB này k chỉ là dành cho bạn, mà dành cho VN và sự phát triển của đất nước. Những ng cho bạn HB muốn biết sự đóng góp có thể của bạn cho VN sau khi trở về. Việc bạn sẽ làm việc ở khu vực nào, lĩnh vực nào, k quan trọng. Quan trọng là bạn biết sự đóng góp của bạn sẽ là gì? Càng cụ thể, càng tốt.
Và khi trả lời câu hỏi này, bạn cũng nêu lưu ý về thời gian, từ short to medium-long term.

Theo kinh nghiệm của mình, điều này nó như kim chỉ nam trong suốt application của bạn vậy. Nên các bạn nên nhớ lấy nó, và khi proof-reading thì cần kiểm tra xem, hồ sơ của mình đã giúp ng đọc trả lời đc câu hỏi về sự đóng góp của bạn chưa?

Ok, bây giờ đến phần FAQ nhé!

1. Q: Có phải các HBCP khác thường yêu cầu 2 năm kinh nghiệm, còn HB New Zealand thì k yêu cầu 2 năm k?
A: Short answer là Không phải thế. Trong chtr có ghi rõ, nếu bạn nào dưới 25 tuổi, k đủ 2 năm kinh nghiệm thì bạn vẫn được quyền nộp hồ sơ và được xem xét/đánh giá nếu như bạn có thành tích học tập cao ở bậc ĐH – bằng giỏi, rồi là xếp hạng etc. Còn đối với ng đã đi làm rồi, hay học bậc PhD, thì kinh nghiệm làm việc là số 1.
Vậy thì cái này có nghĩa gì? Có nghĩa là nếu bạn đang trẻ, mới ra trường, mà muốn đi học luôn, thì đây là 1 HB phù hợp với bạn.

TUY NHIÊN, bạn cũng k nên vì thế mà ỷ lại, nộp 1 hồ sơ trống trơn chỉ có mấy năm đi học. Bạn nên kể ra những kinh nghiệm, hoạt động giúp bù đắp sự thiếu hụt kinh nghiệm đi làm của mình. Vì ngta sẽ k muốn cho bạn HB nếu như bạn chỉ là 1 nerdy, k có hoạt động ngoại khóa. Nếu như khi còn trẻ mà bạn k có hoạt động ngoại khóa, k có hoạt động cộng đồng thì khó có thể tin là về sau bạn sẽ tham gia các hoạt động này
Tuy nhiên, đừng liệt kê và chỉ liệt kê nhé!! Hãy chon ng đọc hồ sơ thấy bạn đã làm gì và bạn đạt đc gì
trong hoạt động đó!

2. Tớ phải chọn trường như thế nào?
Tùy tiêu chí mà bạn ưu tiên thôi. Nhìn chung thì mọi người có các tiêu chí như: ranking của trường/ của ngành; môi trường sống của thành phố theo học, các tụ điểm ăn chơi etc.
Mình chỉ có ý kiến về ranking của ngành mình học hơn là ranking của trường, các bạn có thể tham khảo trên trang QS.
Về môi trường sống của thành phố mình thì mình có thể nói ngắn gọn theo những gì mình biết là: đảo Nam thì rất đẹp, Wellington thì k phải là tụ điểm ăn chơi, nhưng nó là thủ đô nên các hoạt động sôi nổi vô cùng, services dành cho sinh viên quốc tế thì tuyệt vời (ở Vic sinh viên quốc tế rất đc đánh giá cao) nhưng chi phí ở đây xác định là đắt đỏ.

3. Tớ có phải có admission của trường trước khi apply cho HB không?
Cái này là MUST have, như trong hướng dẫn của HB. Và admission phải là uncon***ional nhé.
Tuy nhiên, nếu vì bạn chưa đủ điểm IELTS thì bạn có thể xin trường con***ional offer để kịp nộp HB, sau đó tất nhiên là bạn phải thi lại cho đủ điểm để đạt uncon***ional offer.
Xin lưu ý là nếu k đủ điểm IELTS và/hoặc k đc uncon***ional offer của trường thì đừng mong là đc HB, các bạn sẽ bị loại ngay từ vòng screening hồ sơ :D

Mình có 1 lưu ý với các bạn định apply vào Victoria University of Wellington (VUW) là: Nếu các bạn apply vào VUW, các bạn có 1 lợi thế về thời gian xét hồ sơ. Theo như mình đc nghe chính thức từ đại diện trường VUW ở VN, nếu như các bạn sinh viên Việt Nam apply vào VUW VÀ apply cho HB NZAID này, các bạn hãy viết rõ điều đó trên subject của email của mình, thì hồ sơ của các bạn sẽ đc duyệt trong vòng 24h (thay vì 4 tuần như thường lệ). Như mình đã trình bày ở trên, VUW có service tuyệt vời cho sinh viên quốc tế.

4.GPA của tớ phải bao nhiêu và IELTS phải mấy “chấm” thì mới đc HB?
Trong tiêu chí HB k nêu rõ GPA phải là bao nhiêu, nhưng có ghi, top students in university. Cho nên nếu như bạn có điểm GPA cao thì đó sẽ là 1 lợi thế.
Xin lưu ý, theo như chị ĐPV thì đối với sinh viên còn chưa có nhiều kinh nghiệm, GPA có thể count tới 30% cơ hội HB của bạn. Vì sao? Đơn giản vì bạn chưa có nhiều kinh nghiệm thì GPA là cái gần như duy nhất khẳng định bạn sẽ thành công mà 

Nếu bạn k có GPA cao thì sao? THì bạn sẽ phải bù đắp nó bằng việc thể hiện kinh nghiệm của bản thân, sự khác biệt của cá nhân thông qua các quan điểm, tầm nhìn của mình trong thời gian 5-10 năm nữa, vvv
Và xin lưu ý, GPA cao hay thấp có tính tương đối. Vì sao? Vì 1 số trường cho điểm cao hơn hẳn, dễ hơn hẳn (ví dụ như FTU, ai cũng bằng giỏi) còn 1 số trường khác (ví dụ HV Ngoại giao, ĐHHN) chấm khó hơn. Đây là nhận định của bên chtr HB cũng như của 1 số bạn sinh viên nói chung trong buổi trao đổi thong tin hôm đó. Và câu trả lời của chị điều phối viên là: nếu như bạn đến từ 1 trường mà GPA của ai cũng cao, thì ng xét HB sẽ k tính yếu tố này là yếu tố quyết định HB cho bạn nữa. Ngược lại, bạn đến từ 1 trường GPA rất khó khăn, thì việc điểm của bạn đạt mức tương đối sẽ lại là điểm cộng.

Tóm lại, k có mức điểm sàn cho GPA để đc HB. Nhưng nếu có GPA cao thì nhìn chung là 1 lợi thế. Còn nếu bạn k có điểm GPA cao lắm, thì cũng đừng nản mà hãy cố gắng ghi điểm ở những tiêu chí khác nhé!

5. Tớ có thể apply học các ngành nào? Những ngành mà HB đã nêu

Tuy nhiên, mình có 1 note quan trọng là, các ngành như TESOL và Finance có tỷ lệ chọi rất cao, cao hơn hẳn các ngành khác. Còn các ngành khác như, mỹ thuật/ hội họa, dược, etc thì rất ít người apply (nếu như k muốn nói là…..) Cho nên các bạn nào đang học ngành này mà ấp ủ vượt biên, thì hãy chuẩn bị tinh thần đổ bộ đi. Cơ hội của các bạn là rất nhiều (trích từ phát biểu của điều phối viên chtr)

Mình đặc biệt lưu ý các bạn đang học về hội họa, nghệ thuật. Mình tin là các bạn sẽ rất thích NZ ở điểm này vì ở đây nghệ thuật và văn hóa của người Maori thực sự rất hấp dẫn. Cho dù nó có bị thương mại hóa 1 phần nào đó, nhưng nó thực sự vẫn là 1 văn hóa sống, bạn sẽ thấy nó thường trực trong đời sống hàng ngày ở đây.

6. Ngành tớ học BA với ngành học MA không liên quan, tớ có apply được không?
Miễn là trường chấp nhận bạn vào học, thì coi như câu hỏi này đã đc trả lời.
Nếu như bạn đã qua admission của trường, thì hãy chuẩn bị trả lời câu hỏi này trong application gửi HB và/hoặc vòng phỏng vấn HB: Vì sao bạn lại chuyển hướng học sang ngành khác.

 

Tran Ngoc Diep

ngocdiep279@gmail.com

NZ ASEAN CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC – Duy Cris Trần – Thạc sĩ Tài Chính, Đại học Massey, New Zealand.

Cám ơn Anh Cris D. Tran đã dành thời gian chia sẻ hành trình apply học bổng của Anh và những công việc hiện tại Anh đang làm để đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Anh Duy Cris là ứng viên thành công học bổng NZAid khi Anh đang làm cho khối tư nhân, ngành tài chính. Vậy bí quyết thành công của Anh là gì? profile của Anh ra sao? chúng ta cùng khám phá nhé!!!
****** PHẦN 1***** PROFILE CỦA ANH DUY CRIS KHI ANH APPLY NZAID –
Cấp 3: theo học Tại THPT ở Singapore – Đại học: Trường Southern Methodist- Khoa Quản trị kinh doanh chuyên ngành Tư vấn tài chính – Mỹ với học bổng toàn phần và GPA khủng: 3.8/4 – Nghề nghiệp: Cố vấn và phân tích chiến lược tài chính + Product Lead, Đông Á Bank. Trước đó, Anh cũng làm thực tập tại HSBC. – Hoạt động ngoại khoá: + National Intercollegiate Ethics Bowl and Texas Regional Ethics Bowl + National Wall Street Journal Biz Quiz
➤ Trích dẫn “Anh rất biết ơn học bổng chính phủ New Zealand đã tạo điều kiện hết sức cho Anh được đi học và thể hiện ước mơ của mình. Anh biết mình có rất nhiều “bất lợi” trong hồ sơ ví dụ: Anh là dân tài chính, lại không làm cho tập đoàn nhà nước, công ty nhà nước hay bất cứ trường đại học nào. Bản thân Anh lại tốt nghiệp đại học ở nước ngoài nữa. Vậy mà hội đồng xét duyệt vẫn cho Anh cơ hội được vào vòng phỏng vấn. Khi phỏng vấn, Anh cảm thấy rất tự tin vào ước mơ của mình. Có bao nhiêu tâm huyết, ấp ủ Anh đều chuẩn bị rất kĩ để trình bày. Các câu hỏi thường gặp dĩ nhiên vẫn là: học gì, ngành gì, trường gì, vì sao học ngành đó/ trường đó, và dự định quay trở về ra sao?
➤ Thế Anh trình bày thế nào?
Anh bảo rằng Anh rất tâm huyết đối với ngành tư vấn tài chính. Nếu như ở Việt Nam và thế giới đã có những tập đoàn nổi tiếng level 1, level 2 như McKinsey & Company với những dự án triệu $ đánh vào những tập đoàn lớn, vậy phân khúc thấp hơn thì ai làm? Thị trường ở Việt Nam vẫn đang rất tiềm năng và rất cần những bên tư vấn tài chính chuyên nghiệp. Anh muốn được đầu tư thời gian, công sức và tâm huyết để tackle mảng này, cố gắng cung cấp những dịch vụ tư vấn tài chính chuyên nghiệp cấp quốc tế nhưng ở phân khúc tầm trung. Anh hi vọng, đây sẽ là đóng góp quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế của các doanh nghiệp, ở Việt Nam nhưng tầm vĩ mô. Hẳn nhiên, Anh cũng có kế hoạch cụ thể để thực hiện nó và đó cũng là những gì Anh đang làm sau khi Anh quay trở về.
➤ Vậy Anh đã bắt đầu thực hiện hoá những dự định của Anh như thế nào?
Đầu tiên là ngay khi qua New Zealand mới 1, 2 tuần là Anh đã kiếm được việc làm trong trường để nắm bắt nhanh cuộc sống và cách người New Zealand làm viêc. Họ quá tuyệt vời. Sau một thời gian ngắn khác, ổn định việc học tập ở trường, Anh đã xin đi thực tập tại tập đoàn Frost & Sullivan, cũng là tập đoàn mà Anh đang làm việc hiện tại (khi quay về Việt Nam). Anh đã chứng minh cho họ thấy được năng lực của Anh cũng như định hướng phát triển thị trường Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là Việt Nam như thế nào. Dĩ nhiên, may mắn cũng không là ngoại lệ. Họ cũng đã có những hoạch định để phát triển thị trường Việt Nam rồi nên khi mình trình bày, họ rất ủng hộ. Với những nỗ lực không ngừng, dù chỉ là chàng intern nhưng Anh được họ coi trọng ngang ngửa với người đi làm full-time lâu năm. Anh rất tự hào. Khi quay về Việt Nam, Anh tiếp tục làm cho họ. Dù không có chi nhánh tại Việt Nam khiến Anh phải travel rất nhiều, nhưng Anh cố gắng quyết tâm đạt chỉ tiêu để mở được văn phòng tại Việt Nam trong thời gian tới. Tuy vậy, có được team quốc tế, Anh cùng mọi người đã và đang tư vấn cho rất nhiều doanh nghiệp trong nước nâng cao chất lượng và chiến lược cạnh tranh cho mặt hàng nông sản. Ngoài ra, Anh còn cover rất nhiều mảng khác. Như vậy, Anh lấy lợi thế của tập đoàn lớn với nhiều sư hậu thuẫn và nội lực quốc tế, team quốc tế để cùng Anh thực hiện các dự án nâng cao năng lực canh tranh cho Việt Nam, với Anh, đó cũng là cách để Anh đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam như Anh đã hứa với Hội đồng phỏng vấn”
***** PHẦN 2 ****** ANH CÓ LỜI KHUYÊN NÀO CHO CÁC BẠN APPLY HỌC BỔNG CHÍNH PHỦ NEW ZEALAND KHÔNG?
“Với Anh, không có bất cứ thành công nào đến chỉ từ may mắn! May mắn chỉ là 1 yếu tố trên hành trình chúng ta đi. Cái chính là chúng ta dám ước mơ, dám tạo sự khác biệt, dám dấn thân, ham học hỏi và tìm cơ hội thể hiện năng lực của mình…thì một ngày thành công sẽ đến với chúng ta. Hãy thể hiện cho Ban học bổng thấy rằng chúng ta có ước mơ, có chính kiến, có lộ trình thực hiện hoá ước mơ của chúng ta như thế nào. Chúng ta tin vào chúng ta, và mong rằng Ban học bổng cũng sẽ tin chúng ta và trao cho chúng ta cơ hội” “Tạo sự khác biệt đó chính là chìa khóa cho sự thành công. Ngay từ khi còn là sinh viên, Anh đã lựa chọn con đường đi cho mình khác với các bạn khác. Anh về Việt Nam thực tập trong mọi mùa hè, trong khi bạn bè Anh lại đi chơi. Bây giờ, dù được trả mức lương rất cao để làm chuyên viên cố vấn chiến lược cho Việt Nam, Anh vẫn chủ động làm những công việc vượt ngoài scope of work (phạm vi công việc) của mình ví dụ: chủ động đặt mục tiêu và tìm các dự án về cho tập đoàn. Anh mong muốn chứng minh năng lực của mình và khiến mọi người tự hào rằng mình là người Việt tâm huyết. Vì vậy, Anh cổ vũ các bạn trẻ hãy cố gắng tư duy khác biệt, và chủ động dấn thân tìm ra điểm mạnh riêng cho bản thân mình để khiến Ban học bổng không thể nào từ chối đam mê của mình.”
==> Vâng thưa các Anh Chị và các bạn, Anh Duy và OSLA Admin rất đồng tình và khuyến khích các bạn hãy cứ đam mê đi, cứ cố gắng và dấn thân đi, rồi một ngày đúng thời điểm, cơ hội sẽ đến. Học bổng chính phủ New Zealand đã thay đổi cuộc đời mình, đã chắp cánh ước mơ cho Anh Duy. Và chúng mình tin rằng, cơ hội đó cũng sẽ đến với các bạn. Chúc các bạn may mắn trong hành trình phía trước. Đây là một số bài báo mà Anh Duy viết, hoặc có trích dẫn ý kiến của Anh Duy. Các bạn có thể tham khảo hoặc Google Search: Cris Duy Trần nhé. http://www.thesaigontimes.vn/141060… http://www.computerweekly.com/news/…

Nguyễn Như Ngọc – Kinh nghiệm đạt học bổng toàn phần Chevening

‘Chị thích một câu nói trong bộ phim Forest Gump: Cuộc sống này như hộp kẹo sô cô la chứa những viên kẹo đủ sắc màu, bạn sẽ không bao giờ biết được những điều thú vị đang chờ đợi chúng ta ở phía trước…’


Hình 1. Thành phố Edinburgh đứng từ trên đồi Calton Hill

Luôn mong muốn khám phá chân trời mới, ‘có đủ sắc màu của từng viên kẹo so-co-la’ để trải nghiệm và trưởng thành, chị Như Ngọc đã lên kế hoạch tác chiến và cuối cùng vinh dự nhận được học bổng Toàn phần Chevening của chính phủ Anh. Hiện tại, chị đang theo khoá học ‘Quản trị Marketing’ tại Đại học Southamton, đồng thời là Đại sứ Du học Anh cộng tác viết bài cho Hội Đồng Anh tại Việt Nam lẫn UK. Chị cũng là người đạt giải Nhất cuộc thi viết ‘Nước Anh Trong Mắt Tôi’ do Hội đồng Anh phối hợp với Vnexpress tổ chức năm 2015, chinh phục Ban giám khảo và trái tim nhiều bạn đọc với bài viết xúc động ‘Thư gửi bố phương xa’.

Học bổng Chevening 2017/2018 đã vừa mở http://www.chevening.org/apply, hạn chót nộp đơn là  8/11/2016 lúc 12:00 GMT, chúng mình hãy cùng làm quen với chị Như Ngọc qua bài phỏng vấn nhỏ nhưng hết sức thú vị. Hi vọng những kinh nghiệm của chị sẽ giúp các bạn phần nào trên con đường chinh phục giấc mơ Chevening, giấc mơ Anh Quốc của mình.

1. Chị có thể chia sẻ một ít thông tin về học bổng chị đạt được không ạ?

Chương trình học bổng Chevening là một trong những chương trình học bổng danh giá nhất của chính Phủ Anh được tài trợ bởi Bộ Ngoại giao Anh, Khối thịnh vượng chung và các tổ chức đối tác. Năm 2015 có  khoảng 1.800 suất học bổng được trao cho các ứng viên tài năng đến từ hơn 130 quốc gia trên toàn thế giới, hướng tới mục tiêu bồi dưỡng các nhà lãnh đạo tương lai, các nhà sáng lập ý tưởng và các chiến lược gia xuất sắc.

Học bổng Chevening hỗ trợ việc học tập của sinh viên học khoá học Thạc sĩ tại các trường đại học. Học bổng bao gồm lệ phí xin thị thực vào vương quốc Anh, một vé máy bay khứ hồi đến vương quốc Anh, toàn bộ học phí (không vượt quá £18.000/1 năm), sinh hoạt phí hàng tháng cùng một số phụ cấp.

Để được xem xét trao học bổng Chevening, ứng viên phải đáp ứng các yêu cầu:

  • Có thành tích học tập tốt: Tốt nghiệp đại học loại Khá trở lên.
  • Điểm IELTS từ 6.5 trở lên.
  • Có ít nhất 2 năm kinh nghiệm làm việc và không phải là nhân viên của Đại sứ quán Anh, Hội đồng Anh và Bộ Phát triển Quốc tế Anh tại Việt Nam.
  • Ứng viên phải quay trở về nước ngay sau khi khóa học kết thúc (đúng hạn hoặc được gia hạn vì một lí do hợp lí).

Ứng viên sẽ được lựa chọn dựa trên các tiêu chí sau:

  • Các phẩm chất đạo đức và trí tuệ cần có ở một nhà lãnh đạo Việt Nam.
  • Động lực phát triển sự nghiệp để đạt được vị trí lãnh đạo trong vòng 10 năm.
  • Kế hoạch săn học bổng rõ ràng, mục tiêu nghề nghiệp cụ thể và cách thức thuyết phục để đạt được những điều đó.
  • Mức độ cam kết đóng góp cho những vấn đề toàn cầu
  • Mức độ cam kết với cộng đồng Chevening nói chung và cựu học giả Chevening tại Việt Nam nói riêng.

Trang web chính thức www.chevening.org.

Hoặc các bạn có thể tham khảo thêm những thông tin cần biết về Chevening tại đây.

 

2. Để đạt được học bổng này, chị đã lên kế hoạch rất kỹ lưỡng, chị có thể chia sẻ về thời gian cũng như quá trình chuẩn bị săn học bổng đến các bạn đang ấp ủ giấc mơ du học không?


Hình 2. Ước mơ đi du học được chị ấp ủ kể từ khi ngồi trên ghế nhà trường và luôn chia sẻ với những người bạn

 

Chị luôn mong muốn mình được trưởng thành hơn, mở mang kiến thức thông qua việc tiếp cận nền giáo dục tiên tiến ở nước ngoài. Ước mơ đi du học được chị ấp ủ kể từ khi ngồi trên ghế nhà trường và luôn chia sẻ với những người bạn. Chị đọc kỹ tất cả các tiêu chí học bổng mình nhắm tới, chọn học bổng phù hợp với bản thân nhất. Lúc đó, chị tìm kiếm mọi thông tin về Fulbright, Endeavor, Chevening,…trên các trang web chính thức, rồi tham gia tất cả các hội thảo, diễn đàn, Facebook chia sẻ cách nộp đơn xin học bổng từ các anh chị đi trước. Chị thậm chí còn chủ động liên lạc với các cựu du học sinh để có thêm được những chia sẻ kinh nghiệm về quá trình săn học bổng của các anh chị ấy. Một số anh chị còn nhiệt tình giúp chị chuẩn bị phỏng vấn, góp ý bài luận dù không quen biết từ trước. Trong số các bạn nhận học bổng cùng năm với chị, có một bạn viết blog chia sẻ cách ‘săn học bổng’ khá hay và gửi đến các bạn nhiều thông tin hữu ích. Chị xin giới thiệu để bạn nào ấp ủ ý định nộp đơn năm nay thì có thể nghiên cứu: https://duclonghoang.wordpress.com/ (Một bật mí nho nhỏ là người bạn này của chị (tên Long) có thể trả lời mọi thắc mắc liên quan đến cách thức nộp đơn đến chuẩn bị phỏng vấn và cả hành trình học tập ở Anh một cách hăng hái, và rất nhiệt tình. Đây là một trong những nguồn tham khảo quý giá nhất theo chị cảm nhận).

Chị nghĩ đa phần, các học bổng này không phải tìm kiếm người giỏi nhất, hoàn hảo về mọi mặt, mà họ sẽ tìm kiếm những ứng cử viên phù hợp nhất với các tiêu chí họ đề ra. Họ sẽ chọn những người có thành tích nổi bật trong quá khứ về học tập, phát triển cộng đồng, có mối quan hệ rộng, có tầm ảnh hưởng đến nhiều người, mong muốn cống hiến cho sự phát triển của nước nhà, và quan trọng nhất: mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng. Lúc viết bài luận cá nhân, chị luôn bám sát từng tiêu chí một, khẳng định chị đáp ứng được tất cả yêu cầu của họ, kèm theo dẫn chứng cụ thể những điều chị đã làm được trong quá khứ và vạch ra kế hoạch hành động tương lai.

Bản thân chị cũng là một tuýp người thích giao lưu, gặp gỡ, kết nối mọi người. Chị tìm kiếm tất cả cơ hội và say mê tham gia các hoạt động xã hội, ngoại khóa, làm tình nguyện như phiên dịch cho Quỹ Toàn Cầu Dành Cho Trẻ Em Khiếm Thính, Hội Chợ Triễn Lãm Giáo Dục Hoa Kỳ, câu lạc bộ Tiếng Anh Bell Club, Câu lạc bộ Thanh Niên Quốc Tế IYC, dẫn chương trình cho các cuộc thi tiếng Anh… Những hoạt động này không chỉ mang lại niềm vui cho bản thân của chị, mà còn giúp chị có thêm được động lực từ những người bạn mới, học được những điều thú vị của các nền văn hóa và phát triển bản thân mình. Một trong hai lá thư giới thiệu học bổng của chị đến từ mối quan hệ có được từ các hoạt động cộng đồng ý nghĩa này.

Chị thích một câu nói trong bộ phim Forest Gump ‘Cuộc sống này như hộp kẹo sô cô la chứa những viên kẹo đủ sắc màu, bạn sẽ không bao giờ biết được những điều thú vị đang chờ đợi chúng ta ở phía trước’. Thật vậy, trên con đường chuẩn bị hiện thực hóa giấc mơ đi du học, biết bao cơ hội tuyệt vời khác đến với chị: được đại điện các bạn trẻ Việt Nam tham gia các Chương trình giao lưu văn hóa ở Hoa Kỳ, In-đô-nê-xi-a, Ấn Độ và gần đây nhất là Mã Lai. Chính vì vậy, một thông điệp nhỏ chị muốn gửi đến các bạn trẻ: Không bao giờ là quá trễ để thực hiện hóa ước mơ của mình, bởi tương lai thuộc về những ai tự tao ra chúng (The future belongs to those who create it). Chẳng ai đánh thuế giấc mơ, đừng ngại chia sẻ nó với những người bên cạnh, hoặc thậm chí cả những người không quen. Không ngừng tìm kiếm, kết nối với những người đi trước, chuẩn bị hành trang trong cuộc sống thật kỹ càng để bản thân luôn sẵn sàng nắm lấy mọi cơ hội đến với mình vào một lúc nào đó mà ngay cả bạn cũng không ngờ đấy. Chị hy vọng hành trình của chị sẽ tạo được nguồn cảm hứng cho các bạn đang ấp ủ giấc mơ đi du học.

HÃY CỨ ĐI, RỒI BẠN SẼ TỚI.


Hình 3. The future belongs to those who create it. Tham dự hội thảo tại trường đại học Oxford cùng các bạn Chevening 2015/2016

 

3. Trước khi đi học, chị đi dạy tiếng Anh phải không ạ? Tại sao chị quyết định du học, và chọn ngành hiện giờ?

Chị may mắn có cơ hội được đi nhiều, tiếp xúc với những điều hay mới lạ về thế giới xung quanh, nên chị luôn muốn truyền tải những điều chị học được. Đi dạy tiếng Anh chỉ là công việc ngoài giờ, giúp thỏa mãn niềm vui được chia sẻ niềm say mê về vẻ đẹp ngôn từ của tiếng Anh, gặp gỡ các bạn trẻ để truyền thêm cảm hứng về cuộc sống, cũng như học hỏi thêm từ các bạn ấy.

Công việc trước đây của chị là làm về Marketing và Truyền Thông cho một tổ chức phi lợi nhuận. Chị cảm thấy tính cách mình phù hợp với công việc liên quan đến quảng bá, truyền thông do chị thích giao tiếp, viết lách, luôn muốn mình làm đại diện hay “đại sứ văn hóa” của một tổ chức, đất nước. Sau một thời gian đi làm, chị biết được mình muốn gì, có được, làm được những gì và cần phải bổ sung kiến thức nào. Chị tìm hiểu thông tin về ngành học giúp chị có thêm kiến thức chuyên sâu, rồi lựa chọn trường phù hợp với bản thân, đọc kỹ chương trình học. Ngành Quản trị Marketing tại trường Southampton với những môn chuyên ngành về Marketing chính là sự lựa chọn giúp chị trang bị thêm vốn kiến thức mình cần. Chị nộp đơn trình bày lý do mình muốn học, may mắn được trường nhận và có được sự hỗ trợ tài chính cả từ trường và học bổng Chevening. Thế rồi xách ba lô lên, rồi đi.


Hình 4. Một góc sân trường Southampton

 

4. Chị có thể chia sẻ về nguồn cảm hứng giúp chị viết một lá thư cảm động gửi về bố không ạ?

Cảm ơn em đã đọc bài viết của chị.

Buổi sáng đầu tiên khi chị thức dậy ở Southampton, một âm thanh thân thuộc làm chị tỉnh giấc mà cứ ngỡ như mình vẫn đang ở nhà. Mở cửa sổ phòng từ trên nhìn xuống, chị chợt giật mình khi nhìn thấy một cảnh vật quen thuộc: một đoàn tàu xe lửa chạy ngang qua giữa hai hàng cây xanh vắt. Đây thực sự là một sự trùng hợp ngẫu nhiên đáng quý, bởi nhà chị ở Sài Gòn cũng ngay đường ray xe lửa, ngày nào chị cũng nghe tiếng xe lửa, mở cửa sổ cũng thấy đoàn tàu. Không ngờ đi 14,000km rồi mà vẫn còn được nghe và được thấy. Bất chợt cảm xúc nhớ nhà, nhớ bố ùa về do bố chị ngày xưa là tài xế ngồi trên những chuyến tàu. Lúc đó chị trộm nghĩ có lẽ bố chị muốn gửi thông điệp đến chị là dù chị có ở phương trời nào, bố vẫn luôn bên cạnh và dõi theo từng bước chân của chị. Chính cảm xúc ấy đã giúp chị viết lá thư – dẫu biết rằng bố không bao giờ thực sự có thể đọc…

Bạn có thể đọc bài viết đầy “xúc cảm” tại đây

Tôi đã ‘săn’ học bổng Úc và thành công như thế nào?

Đàm Thị Tuyết, cô bạn có bề dày thành tích trong học tập cũng như giành học bổng thạc sĩ nghiên cứu và học bổng tiến sĩ khoa học- đã có những chia sẻ rất bổ ích

Tốt nghiệp thủ khoa, Khoa Kinh tế quản lý môi trường và Đô thị, Đại học Kinh tế quốc dân, chuyên ngành Kinh tế môi trường niên khóa 2002-2006, Đàm Thị Tuyết đã rất xuất sắc nhận được  học bổng Endeavour Postgarduate Award năm 2009-2011, thạc sỹ nghiên cứu (masters by research), Đại học Nam Úc (University of South Australia) và  học bổng tiến sỹ khoa học (PhD) khóa 2011-2014, Trung tâm Kế toán, Quản trị doanh nghiệp và Phát triển bền vững – the Centre for Accounting, Governance and Sustainability (CAGS), Đại học Nam Úc (University of South Australia).

Sau đây là những kinh nghiệm “săn” học bổng của cô bạn xuất sắc:

Cuộc “phiêu lưu” luyện thi IELTS và tìm học bổng

Lúc quyết định tham gia “trò chơi” (game) xin học bổng và du học, tôi vẫn chưa hình dung ra IELTS hay TOEFL là cái gì? Tôi tưởng tượng chúng là cái gì “rất ghê gớm – cao siêu”. Tôi tự giả định những người có các chứng chỉ này chắc tiếng anh phải “siêu” lắm.

Do đó, tôi suy luận “Với trình độ tiếng anh hiện tại, chắc mình mất 5 năm gì đó để luyện thi tiếng anh”. Tất nhiên chỉ cần chứng chỉ IELTS hoặc TOEFL là đủ, những tôi vẫn chưa rõ mình sẽ “thử sức” với cái gì?

 Tôi quyết định vào các diễn đàn và tìm kiếm trên internet về thi IELTS và TOEFL và các điều kiện cần thiết để xin học bổng. Sau này tôi nghiệm ra cho bản thân mình, sự “đam mê” rất quan trọng để có được thành công sau này.

Những ngày tìm hiểu thông tin về học và thi tiếng anh và học bổng, tôi ăn ngủ với chúng luôn. Gần như mọi thời gian, tiền bạc và tâm huyết đều gắn liền với học bổng và du học.

Tôi tham gia nhiều diễn đàn du học và tham dự rất nhiều hội thảo du học do các công ty tư vấn du học tổ chức ở Hà Nội. Mục tiêu để có thêm thông tin về các trường đại học, học bổng và quen thêm bạn bè cùng chung “lý tưởng”. Thời gian trôi đi, tôi có nhiều thông tin về học hành và thi tiếng anh, cộng với kinh nghiệm của những người đã dành được học bổng.

Tôi tự tin hơn và quyết tâm dành nhiều thời gian hơn vào công việc này. Tôi mất 6 tháng học thi liên tục để đạt IELTS trung bình (overall) 6.5 và không có môn nào (band) dưới 6. Đây là điều kiện tối thiểu để xin nhiều loại học bổng và xin học ở nhiều trường đại học ở cả Australia và các nước khác (như Châu Âu). Tất nhiên phải nói thêm tiêu chuẩn tiếng anh tối thiểu tùy thuộc vào từng ngành và lĩnh vực.

Trong thời gian luyện thi IELTS tôi vẫn tìm và ghi chép rất cẩn thận các loại học bổng phù hợp với chuyên ngành của mình. Sau khi có điểm tiếng anh đầu tiên IELTS 6.5 tôi bắt đầu chuẩn bị hồ sơ và nộp một số học bổng mà mình đủ điều kiện như học bổng phát triển chính phủ Nhật Bản JDS, học bổng phát triển chính phủ Australia ADS, học bổng Viện Hàn Lâm Đức DAAD và học bổng Endeavour. Mặt khác vẫn tiếp tục tự luyện IELTS để có điểm cao hơn. Vì tôi biết điểm số càng cao thì cơ hội dành học bổng càng lớn.

Kinh nghiệm cá nhân để dành học bổng

Trong số các học bổng JDS, ADS, DAAD và Endeavour mà tôi nộp đơn ở trên, tôi đã “thắng” học bổng Endeavour – học bổng mà tôi đã lựa chọn và học thạc sỹ nghiên cứu (masters by research) ở Đại học Nam Úc (University of South Australia) cùng với 2 học bổng khác làDAAD  và JDS. Cả 3 học bổng trên đều là học bổng toàn phần (tức là bao gồm học phí, chi phí sinh hoạt hàng thàng, vé máy bay khứ hồi, chi phí bảo hiểm y tế bắt buộc đối với học sinh nước ngoài, phí làm hồ sơ visa….).

Tôi chỉ nhớ giá trị học bổng Endeavour khỏang AUD $ 112,500 (đô la Úc) cho toàn khóa học thạc sỹ. Tôi không nhớ giá trị của 2 học bổng DAAD và JDS vì lúc đó tôi đã xác định sang Australia học thạc sỹ với học bổng Endeavour.

Thực ra tìm trên internet, các bạn sẽ thấy rất nhiều kinh nghiệm xin học bổng và du học. Tôi thấy nhiều thông tin rất có ích và bản thân tôi cũng bắt đầu “những bước đi đầu tiên” từ các bài viết đó. Nay tôi cũng muốn chia sẻ một vài kinh nghiệm cá nhân và hy vọng sẽ giúp ích được ai đó.

Cũng như nhiều lĩnh vực khác như xin việc và làm kinh doanh, việc xin học bổng và đi du học khác nhau đối với mỗi cá nhân. Qua đây tôi muốn nói, các bạn nên xác định sự thành công có thể mất vài năm (có khi đến 5 hoặc 10 năm) tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng cá nhân, năng lực thực tế của từng người và may mắn (dù may mắn không phải là yếu tố quyết định).

Nói chung các bạn nên xác định xin học bổng là “trường kỳ kháng chiến”. Điều này đặc biệt đúng nếu các bạn muốn xin những học bổng “lớn” chẳng hạn như học bổng do chính phủ cấp hoặc học bổng tòan phần do chính trường đại học tuyển sinh cấp hoặc các tổ chức tài trợ nhất định.

Tuy vậy, theo kinh nghiệm cá nhân tôi để thành công khi xin học bổng, các bạn cần một số điều kiện sau:

– Sự quyết tâm và kiên trì cao:

Những ai đã quyết tâm xin học bổng đi học nên xác định phương trâm bao giờ “thắng lợi” học bổng mới thôi. Dành học bổng đòi hỏi phải kiên trì vì rất ít người nộp đơn 1, 2 hoặc 3 lần học bổng mà đã thắng lợi ngay. Các bạn cứ cho phép mình “trượt vỏ chuối” 1 vài lần để thoải mái tư tưởng.

Nộp hồ sơ học bổng nhiều lúc rất tốn kém về mặt “tiền bạc”, thời gian và tinh thần. Về sự kiên trì tôi xin kể chuyện khi tôi nộp hồ sơ học bổng Eramus Mundus cuối năm 2006. Tức là lúc tôi còn chưa có chứng chỉ tiếng anh IELTS. Tất nhiên hồ sơ của tôi bị loại ngay từ vòng đầu.

Đăng ký học bổng này phải nộp hồ sơ qua đường bưu điện đến trường mà bạn đăng ký học (tất nhiên tôi không rõ bây giờ họ đã thay đổi hình thức qua nộp online hay chưa?). Lần đầu tiên tôi tốn mất gần 1 triệu đồng tiền gửi hồ sơ và chẳng có kết quả gì ngoài cái thư thông báo “tôi trượt vỏ chuối rồi”. Sau học bổng Eramus Mundus, tôi cũng gửi hồ sơ trực tiếp qua đường bưu điện đến một số trường ở Châu Âu như University of Birmingham, University of East Anglia,  University of Amsterdam, VU University Amsterdam… và một vài trường khác.

Việc gửi hồ sơ trực tiếp như thế thực sự rất tốn kém và không biết “có kết quả” gì không? Nhưng đổi lại, các bạn sẽ rèn thêm cho mình kỹ năng viết hồ sơ. Trong số tất cả những lần nộp hồ sơ như thế, tôi chỉ nhận được “administration acceptance” – tức là chấp nhận vào học mà không được học bổng.

Tôi hy vọng bây giờ các trường đại học không bắt buộc nộp hồ sơ qua đường bưu điện nữa, như vậy các bạn sẽ tiết kiệm được một khỏan tiền. Nhưng nếu các trường vẫn bắt buộc nộp hồ sơ qua đường bưu điện, thì các bạn vẫn nên thử trong khả năng tài chính của mình và tất nhiên thử nhưng vẫn có mục đích.

Câu chuyện thứ 2 về sự quyết tâm của tôi: tôi đã vay Cô ruột tôi 50 triệu đồng để mua máy tính xách tay và luyện thi IELTS. Tôi nói với cả nhà là tôi sẽ lấy tiền học bổng sau này (dù lúc đó tôi chưa biết bao giờ mình mới dành được học bổng) để trả “nợ”.

Bố mẹ tôi có khả năng cho tôi học tiếng anh và tìm kiếm học bổng trong 1 thời gian, nhưng tôi vay tiền trang trải cho việc học nhằm tạo một số áp lực cụ thể cho bản thân. Thực tế, tôi cố gắng nhiều hơn vì món nợ 50 triệu đồng luôn “ám ảnh” mình.

Đa số các học bổng tòan phần như tôi kể trên (ADS, JDS, DAAD, Endeavour) yêu cần kinh nghiệm tối thiểu 2 năm với thạc sỹ và có thể nhiều hơn đối với tiến sỹ. Vì vậy những ai muốn xin học bổng này cũng phải kiên trì chờ đợi ít nhất 2 năm từ ngày các bạn đi làm. Trong thời gian đó các bạn có thể chuẩn bị tiếng anh và làm hồ sơ (form) trước khi mình hội tụ đủ hết mọi điều kiện.

Sự quyết tâm và kiên trì thường bắt nguồn từ sở thích và ước mơ đi du học của các bạn. Nếu các bạn đã xác định con đường mà các bạn thực sự muốn đi trong những năm sắp tới là du học thì các bạn sẽ có thêm quyết tâm và sự kiên trì.

–  Tự tin vào bản thân rằng mình có khả năng dành học bổng:

Cái này bản thân tôi đến giờ làm vẫn chưa tốt. Như kể từ phần đầu, tôi thiếu niềm tin nghiêm trọng vào bản thân mình. Đến giờ tôi vẫn chưa khắc phục được hòan tòan, nhưng tôi muốn các bạn không bị mắc “sai lầm” này của tôi.

Kinh nghiệm của tôi vẫn là các bạn hãy tin mình có thể làm bất cứ điều gì mà những người khác đã làm và thành công. Hãy tin tưởng cơ hội thành công cho mọi cá nhân là như nhau dù nỗ lực mà mỗi người phải bỏ ra để có được thành công đó là khác nhau.

–  Kết quả học tập ở Việt Nam và chất lượng của bài luận (essay):

Ngoài điều kiện tiếng anh (IELTS và TOEFL) là bắt buộc. Nếu các bạn xin học bổng học sau đại học, thì kết quả học đại học ở Việt Nam phải tốt. Kết quả học tập chủ yếu thể hiện qua điểm tổng kết trung bình cuối khóa/chương trình học (GPA), các học bổng và giải thường mà các bạn đạt được.

Tùy từng chuyên ngành mà điểm tổng kết trung bình GPA khác nhau, tôi tham khảo các bạn bè được học bổng trước đó, GPA của ngành tài chính và ngân hàng khi xin học bổng khỏang 8.0 hoặc hơn, các ngành kỹ thuật thì khoảng 7.5. Nếu các bạn muốn xin học bổng học đại học thì điểm tổng kết phổ thông trung học phải tốt. Nhìn chung có GPA càng cao sẽ là một lợi thế lớn khi xin học bổng.

Thường mỗi học bổng đều có các bài luận có thể dưới dạng các câu hỏi cho thí sinh. Phần này cũng quan trọng và ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng. Tôi thấy các bài luận thường liên quan đến những vấn đề sau:

+ Kinh nghiệm làm việc trong quá khứ liên quan như thế nào đến ngành học?

+Tại sao bạn lại chọn ngành học này?

+ Lợi ích của ngành học mà bạn đăng ký đối với cá nhân bạn, đất nước bạn và đất nước bạn theo học?

+ Kế hoạch học tập/nghiên cứu cụ thể của bạn trong thời gian nhận học bổng là gì (câu này rất quan trọng và chắc chắn bắt buộc với bạn nào học nghiên cứu – research như thạc sỹ nghiên cứu và tiến sỹ)?

+ Sau khi hoàn thành khóa học bạn sẽ làm gì?

+ Tất nhiên sẽ có một số câu hỏi khác…

– Hãy tìm “đồng đội” cũng muốn xin học bổng và đi du học như bạn và hãy tìm những người có kinh nghiệm giúp đỡ mình

Kết bạn với những người có cùng mục tiêu chí hướng để động viên tinh thần và học hỏi lẫn nhau là cần thiết. Nếu các bạn đã có sẵn những người bạn được học bổng và đi du học thì tốt quá rồi. Nhưng theo tôi tốt nhất vẫn là những người chuẩn bị xin học bổng và du học như các bạn. Cùng trong một “trạng thái” các bạn sẽ hiểu nhau và chia sẽ được nhiều hơn.

Khi tôi nộp hồ sơ xin học bổng, tôi cũng có các anh chị đã đi du học trong cơ quan giúp đỡ nhưng thời kỳ họ xin học bổng (vài năm trước) có một số điều kiện khác với năm tôi xin học bổng. Và lại tôi thấy những người đã qua thời kỳ này họ sẽ cho bạn kinh nghiệm và những lời khuyên về kỹ năng và cả động viên tinh thần nữa… nhưng trong khi bạn trực tiếp “chiến đấu” bạn cần “đồng đội” hơn là những người đã tham gia “chiến đấu”. Hãy đến các lớp học IELTS, TOEFL để có thêm nhiều người bạn cùng chí hướng.

Nếu có những người bạn hoặc người thân đã được học bổng và đi du học rồi, bạn hãy nhờ họ xem giúp hồ sơ xin học bổng trước khi nộp, đặc biệt phần bài luận (essay). Các bạn có thể đọc và học từ trên internet, nhưng nếu có những người đã thành công xem và sửa hồ sơ của các bạn, điều đó không gì so sánh bằng.

Nếu không có sẵn bạn bè và người thân, các bạn hãy đến các công ty du học để “cộng tác” với họ. Tôi biết họ sẽ thu phí của các bạn nhưng thông thường họ có nhiều người có kinh nghiệm trong việc xin học bổng và du học giúp đỡ bạn.

Tóm lại: tôi nghĩ thành công hay không phụ thuộc nhiều nhất vào con người của bạn. Đó là ý chí quyết tâm, sự kiên trì, kiến thức và kinh nghiệm làm việc của các bạn. Nhưng sự giúp đỡ từ bạn bè, người thân đặc biệt là những người đã có kinh nghiệm rất quan trọng. Sự may mắn cũng rất quan trọng, nhưng tôi không muốn lạm bàn về “may mắn”.

Theo tôi may mắn là điều chúng ta không thể tác động đến. Nhìn chung, ít người có thể làm mình may mắn hơn. Vì vậy tôi nghĩ chúng ta hãy luôn tự tin và hi vọng là mình sẽ may mắn. Tôi cũng hi vọng những kinh nghiệm này giúp ích gì đó cho các bạn. Chúc các bạn thành công và may mắn.

Các bước xin học bổng chính phủ

Bài viết này không bao gồm thông tin về các thủ tục. Bạn sẽ phải tự tìm hiểu về thủ tục cần thiết liên quan một bộ hồ sơ học bổng.

Mình không đảm bảo những ai tuân theo quy trình này sẽ được học bổng, nhưng chắc chắn những người đó sẽ tận dụng được tối đa 4 yếu tố (ngoại trừ sự may mắn). Hiển nhiên, bạn tận dụng được càng nhiều thì khả năng hồ sơ tốt và được chọn càng cao.

Từ khi có ý tưởng du học đến khi chính thức nhận học bổng, một quy trình xin học bổng bài bản và hoàn chỉnh cần có 3 bước: (1) chuẩn bị trước khi làm hồ sơ, (2) làm hồ sơ, và (3) chuẩn bị phỏng vấn.

Thời gian cần thiết cho các bước này lần lượt là: tối thiểu 3 năm cho bước chuẩn bị, khoảng 2 tháng cho bước làm hồ sơ và 1 tuần cho bước chuẩn bị phỏng vấn.

Bí quyết săn học bổng toàn phần du học Mỹ

Để được nhận những suất học bổng giá trị tại Mỹ, bạn cần thường xuyên trau dồi kiến thức và có kế hoạch phát triển bản thân toàn diện, lâu dài.

Chuẩn bịMột hồ sơ tốt đều cần có bước chuẩn bị được đầu tư tối thiểu 3 năm – thời gian nỗ lực làm việc và chất xám. Để hiểu được lý do, hãy điểm qua những tiêu chí cơ bản mà các ban xét duyệt hồ sơ thường sử dụng để đánh giá ứng viên:

Thành tích học tập và nghiên cứu (nếu có) được thể hiện qua bảng điểm (hoặc GPA) và giấy chứng nhận (đối với một số học bổng như Erasmus Mundus hay Endeavour, thành tích học tập chưa tốt có thể được hỗ trợ bởi một quá trình làm việc giàu thành tích ở ngành liên quan).

Bài luận cá nhân (personal statement, letter of motivation, statement of purpose, study objectives).

Thư giới thiệu (letter of recommendation, reference, reference letter).

Tiêu chí đặc thù của học bổng hoặc của khóa học (có thể là phẩm chất cá nhân, thành tích hoạt động xã hội, khả năng sử dụng ngôn ngữ…).

Những tiêu chí trên được mình tổng hợp dựa trên các thông báo chính thức và kinh nghiệm ứng tuyển 5 học bổng: Erasmus Mundus (EM), Học bổng Song phương Việt – Bỉ (BBS), Học bổng Chevening, Học bổng Australia Awards (AAS), và Học bổng Fulbright.

Cac buoc xin hoc bong chinh phu hinh anh 1
Sinh viên trong giờ học trên giảng đường tại Đại họcLatrobe, Australia. Ảnh:Đoàn Toàn.

Đối với học bổng tài năng (merit-based), sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về mức độ quan trọng):

1. Thành tích học tập (hoặc làm việc).

2. Thư giới thiệu.

3. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

4. Bài luận cá nhân.

Thực tế, thành tích học tập luôn là “ngôi sao” của những hồ sơ học bổng tài năng. Trong nhiều chương trình thuộc EM, ban xét duyệt công khai với ứng viên là thành tích học tập chiếm tới 40% “weighting”. Điều tương tự xảy ra đối với Endeavour 2016:

Ngược lại so với thành tích học tập, bài luận cá nhân thường ít có sức nặng (đôi khi gần như không có chút giá trị nào) ở các học bổng tài năng.

Thực tế, thư xin học bổng mà các ứng viên Việt Nam viết để gửi cho học bổng EM thường có chất lượng không cao nếu không muốn nói là horse crap! Có thể nhiều bạn được EM đọc đến dòng này sẽ tự ái, nhưng nếu các bạn được đọc những bài luận của những người từng được những học bổng có tính cạnh tranh cao về tư duy và phẩm chất cá nhân như Fulbright hay Chevening, hoặc các học bổng trường thuộc Ivy League thì tôi tin các bạn sẽ… “tắt đài”.

Một ví dụ khác chứng minh sự chênh lệch về mức độ quan trọng của thành tích học tập và bài luận: Một bạn được học bổng Endeavour có thành tích học tập vô cùng xuất sắc nhưng bài luận được viết qua loa đến mức còn chả buồn kiểm tra ngữ pháp.

Nói đến như vậy, chắc mọi người cũng hiểu tối thiểu 3 năm để chuẩn bị cho học bổng tài năng sẽ được dùng cho việc gì rồi phải không? Rõ ràng, các bạn nên dành thời gian cho việc học tập và nghiên cứu để có một bảng điểm thật xuất sắc, cùng những bài báo cáo khoa học được công bố trên các báo hay tạp chí càng uy tín cao càng tốt.

Bên cạnh đó, nếu học bổng yêu cầu những hoạt động xã hội hay trình độ ngoại ngữ tốt, các bạn cũng nên dành nhiều thời gian cho những việc đó.

Vậy những bạn đã không để ý đến thời gian học đại học và không còn cơ hội thay đổi bảng điểm thì sao?

Các bạn có thể chuẩn bị cho học bổng tiềm năng hoặc học bổng tài năng – tiềm năng. Đối với học bổng tiềm năng, sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về sức nặng):

1. Bài luận cá nhân.

2. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

3. Thành tích học tập

4. Thư giới thiệu

Đối với học bổng tiềm năng, thành tích học tập của bạn thường chỉ cần đạt một điều kiện cần và không cần cao. Ví dụ, học bổng Chevening yêu cầu ứng viên phải có bằng tốt nghiệp đại học tương đương Second Class Honour ở Vương quốc Anh (tức là GPA trên 7.0), bạn đạt và được xét duyệt công bằng với một người có GPA cao hơn.

Giữa 2 người, một người có GPA cao và bài luận khá, một người có GPA thấp và bài luận xuất sắc, Chevening sẽ đánh giá cao người thứ hai hơn.

Ví dụ, người viết có điểm GPA 7.6/10 – có lẽ là thấp đến mức bất cứ ứng viên nào thuộc ngành kinh tế hoặc xã hội cũng có điểm cao hơn. Nhưng mà mình vẫn được Chevening chọn.

Lý do chỉ có thể là mình có bài luận tốt vì học bổng Chevening không yêu cầu nộp CV và cũng chẳng có chỗ nào cho các bạn thể hiện thành tích (ngoại trừ bảng điểm) đâu.

Đối với học bổng tài năng – tiềm năng, yếu tố sức nặng (weighting) phụ thuộc từng quy trình xét duyệt của học bổng cụ thể. Ví dụ, học bổng Fulbright và AAS đều là dạng tài năng-tiềm năng. Tuy nhiên, nếu vòng hồ sơ đầu tiên của Fulbright xét tính cạnh tranh của toàn bộ hồ sơ bao gồm cả bài luận, phẩm chất đặc thù, thành tích học tập và khả năng ngôn ngữ, thư giới thiệu, thì vòng screening (vòng duyệt hồ sơ đầu tiên do người Việt Nam thực hiện) của AAS coi thành tích học tập, cụ thể là điểm GPA là yếu tố tiên quyết.

Có nghĩa là, rất có thể một bộ hồ sơ có SOP viết tốt nhưng GPA dưới 8.0 sẽ bị loại, trong khi một bộ hồ sơ SOP kém hơn nhiều nhưng tốt nghiệp giỏi với GPA 8.4 sẽ được chọn.

Vậy thì 3 năm chuẩn bị cho học bổng tiềm năng được dùng để làm gì?

Các bạn hãy dùng 3 năm đó để vừa nỗ lực làm việc, vừa suy nghĩ về ngành mà bạn đang làm. Hãy dành ít nhất 1 năm cuối ở trường đại học để nghiền ngẫm và hệ thống lại những lý thuyết mà bạn đã có để xác định con đường lâu dài mà bạn định phát triển.

Hai năm tiếp theo là thời gian để tích lũy kinh nghiệm, phát hiện những hiện tượng, những vấn đề cần được giải quyết trong ngành và thử sử dụng những lý thuyết học được để giải quyết nó.

Khi những lý thuyết và kinh nghiệm làm việc của bạn không thể nào giải quyết những vấn đề bạn phát hiện, đó là lúc cần đi học thêm. Nếu đi học thêm mãi ở Việt Nam mà chưa có được cái bạn cần, đó là lúc cần xin học bổng để du học.

Nói nghe có vẻ ngắn gọn và đơn giản, nhưng để có thể tìm ra vấn đề và nhận ra khoảng cách không thể bù đắp giữa kiến thức và vấn đề còn tồn tại trong ngành, bạn sẽ phải luôn quan sát, động não và trăn trở về những gì đang xảy ra quanh mình.

Quá trình này cũng sẽ giúp bạn khẳng định niềm đam mê đối với một công việc mà bạn đã chọn. Và, chắc chắn các bạn xét duyệt học bổng tiềm năng muốn tìm kiếm những con người có động cơ và đam mê như vậy để trao học bổng.

Một điều cuối cùng rất quan trọng trước khi làm hồ sơ xin học bổng: Các bạn cần giỏi tiếng Anh. Thực ra, không cần xin học bổng các bạn cũng nhất thiết phải giỏi tiếng Anh. Giỏi cả nghe, nói, đọc, viết chứ không phải chỉ có nói và nghe.

Dài hạn, bạn nên luôn tích lũy kiến thức tiếng Anh ngay từ khi còn học đại học để khi tốt nghiệp đã có một vốn liếng khá để thi được IELTS 6.5 mà không cần ngồi luyện thi. Đừng để đến khi làm hồ sơ mới cuống lên “cày cuốc” để thi IELTS.

Mọi điều bạn cần biết về học bổng ADS

Học bổng ADS là một trong những chương trình học bổng toàn phần được Chính phủ nước Úc cung cấp cho các sinh viên Việt Nam có thành tích học tập xuất sắc. Thông qua chương trình học bổng, nước Úc đồng thời muốn nâng cao mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và nước Úc, hỗ trợ Việt Nam đạt được mục tiêu nước Công nghiệp hóa vào năm 2020.

Nếu bạn cũng đang có những dự định tìm kiếm cho bản thân một chương trình học bổng Chính phủ toàn phần, thì cùng tìm hiểu về chương trình học bổng ADS nhé.

học bổng ADS

1. Chương trình học bổng ADS

Chương trình học bổng phát triển Úc (ADS – Australia Develop Schorlarships) là chương trình học bổng toàn phần, cung cấp cho các công dân Việt Nam đăng ký học chương trình Thạc Sỹ tại các trường Đại học uy tín của Úc. Được cung cấp bởi Chính phủ Úc hàng năm và được quản lsy bởi Chương trình phát triển nhân lực Việt Nam – Úc, học bổng được thực hiện với mong muốn hỗ trợ và phát triển nguồn nhân lực của ưu tiên để đạt được mục tiêu phát triển đất nước lâu dài.

Đối tượng của học bổng ADS là những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc, đã tốt nghiệp Đại học những chuyên ngành đặc biệt, sở hữu những yếu tố Việt Nam đang cần phát triển trong nhiều năm tới, đồng thời có đủ khả năng đóng góp cho đất nước về sau.

Từ khi được ra đời từ năm 1974 đến nay, đã có hơn 4,000 sinh viên Việt Nam nhận được học bổng ADS và học tập tại các trường Đại học danh tiếng của Úc. Sau khi tốt nghiệp, hầu hết các cựu du học sinh đều đạt được những thành tích sự nghiệp cao, không chỉ ở tại trong nước mà còn ở nước bạn, góp phần hỗ trợ Việt Nam phát triển nhiều hơn.

2. Điều kiện để nhận học bổng ADS

– Ứng viên là công dân quốc tịch Việt Nam, đang sinh sống tại Việt Nam và không định cư, học tập tại các quốc gia khác.

– Độ tuổi dưới 40, không hạn chế về tình trạng hôn nhân nhưng không kết hôn với bất kì cá nhân mang quốc tịch Úc hoặc New Zealand tại thời điểm xin học bổng và đi học.

– Không phục vụ trong quân đội ở thời điểm xin học bổng.

– Cam kết trở lại Việt Nam làm việc ít nhất 2 năm sau khi kết thúc chương trình học.

– Đã có kinh nghiệm làm việc ít nhất 2 năm, và đã được chứng minh kinh nghiệm trong hợp đồng lao động.

– Đáp ứng những yêu cầu cụ thể đối với chương trình tham gia làm nghiên cứu sinh bậc Thạc sỹ.

– Đối tượng ứng viên đã tốt nghiệp Đại học chính quy, điểm trung bình ít nhất là 7.0. Nếu ứng viên đã có bằng tốt nghiệp tại Đại học nước ngoài thì cần có 50% điểm số môn học đạt loại A (loại cao nhất).

– Chương trình ưu tiên những ứng viên đang là công chức, viên chức nhà nước, giảng viên Đại học… đang công tác ở những lĩnh vực liên quan đến Nhà nước, có những ý nghĩa thiết thực đến sự phát triển của quốc gia.

– Khuyến khích những đối tượng là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng sâu vùng xa, có hoàn cảnh khó khăn như là người khuyết tật, tài chính gia đình hạn hẹp…

Xem thêm: Giải đáp thắc mắc du học Úc cần điều kiện gì?

3. Yêu cầu để đăng ký tham gia nhận học bổng ADS

– Bảng điểm tổng kết của trường Đại học, với điểm trung bình từ 7.0.

– Bằng tốt nghiệp Đại học.

– Giấy chứng nhận kinh nghiệm làm việc, ít nhất trong thời hạn 2 năm.

– Chứng chỉ Tiếng Anh, với điểm số IELTS từ 7.0 hoặc TOEFL iBT 70/120 trở lên.

– Bản trình bày kế hoạch học tập, mong muốn và dự định công việc sau khi tốt nghiệp.

4. Những chuyên ngành được cung cấp học bổng ADS

Không phải ngành học nào ứng viên đăng ký cũng sẽ được duyệt xét học bổng ADS. Tùy theo mỗi năm mà những quy định về ngành sẽ được nhận học bổng cũng sẽ khác nhau. Chương trình học bổng ADS năm 2016 sẽ dành suất cho các ngành nghề sau:

  • Quản trị và cải cách kinh tế (chính sách cạnh tranh, quản lý tài chính công, thương mại/hội nhập khu vực và quản trị…).
  • Cơ sở hạ tầng (quy hoạch giao thông, quản lý tài sản, an toàn đường bộ, tài chính cơ sở hạ tầng…).
  • Phát triển nhân lực (quản lý chất lượng/phát triển kỹ năng lãnh đạo tương lai, đào tạo nghề, cải cách, quản lý giáo dục Đại học).

Chương trình học bổng ADS 2016 không cung cấp cho các ngành học:

  • MBA.
  • Công nghệ thông tin.
  • Y.
  • Dược.
  • Truyền thông, báo chí và tuyên truyền.

5. Giá trị của học bổng ADS

  • Toàn bộ học phí chương trình Thạc sỹ.
  • Hỗ trợ chi phí sinh hoạt, cấp 1 lần lúc mới sang.
  • Được tham gia chương trình học chuẩn bị.
  • Bảo hiểm y tế cho sinh viên.
  • Trợ cấp nghiên cứu thực địa.
  • Khoa học Tiếng Anh hỗ trợ nếu cần.
  • Vé máy bay khứ hồi.

Xem thêm: Bí quyết săn học bổng du học Úc

Chương trình học bổng ADS sẽ là một cơ hội tuyệt vời cho các bạn học sinh, sinh viên Việt Nam mong muốn phát triển bản thân trong những lĩnh vực quản lý, phát triển xã hội, công tác công, quản lý hành chính Nhà nước. Đặc biệt chương trình hỗ trợ hoàn toàn mọi chi phí khi du học, không đòi hỏi chứng minh tài chính, tạo điều kiện cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cũng có thể thực hiện ước mơ du học Úc. Hãy nhanh tay đăng ký để có cơ hội nhận được học bổng ADS nhé.

Bí quyết xin học bổng Endeavour

Chị Hoàng Mỹ Linh, hiện công tác tại Trung tâm hạt nhân TP.HCM, thuộc viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, người vừa giành được một trong 48 suất học bổng Endeavour của chính phủ Úc dành cho Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm “săn” học bổng của mình.

Bám sát hướng dẫn

Những hướng dẫn chi tiết dành cho ứng viên khi làm hồ sơ có sẵn trên trang www.endeavour.deewr.gov.au. Chỉ cần in ra và thực hiện theo đúng từng bước chỉ dẫn.

Thư nhận vào học

Bạn phải chủ động xin được thư đồng ý nhận vào học (offer) của ít nhất một trường đại học ở Úc trước khi hết hạn nộp hồ sơ xin học bổng. Tùy theo yêu cầu của mỗi trường, bạn phải cung cấp các giấy tờ về quá trình học tập như bằng tốt nghiệp đại học, bảng điểm… Học viên làm nghiên cứu sinh và cao học bằng công trình nghiên cứu phải nộp thêm đề cương nghiên cứu, lý lịch khoa học, công trình công bố và thư giới thiệu.

Để có tính khả thi, nên chọn đề tài dựa trên nhu cầu thực tế trong nước và kinh nghiệm của mình, kết hợp với các hướng nghiên cứu khoa học hiện đại mà trường bạn định theo học có sẵn.

Bạn cũng cần tìm người hướng dẫn (supervisor) trước khi nộp hồ sơ xin offer của trường, vì đối với người làm nghiên cứu sinh và học cao học bằng công trình nghiên cứu thì việc được người hướng dẫn nhận đồng nghĩa với việc đã đi được 90% quãng đường. Để tìm supervisor, nên tham khảo thông tin trên website của trường, xem lý lịch khoa học của người định đề nghị hướng dẫn, xem các đề tài và hướng nghiên cứu mà họ đang thực hiện.

Trước khi liên lạc với người hướng dẫn, nên chuẩn bị một lý lịch khoa học trong đó nêu rõ bạn đã từng làm những nghiên cứu gì, đã có những công trình công bố nào và có đang tham gia chương trình, dự án quốc tế, vùng hay trong nước nào không.

Sau khi có lý lịch khoa học, bạn liên lạc với người hướng dẫn và trình bày sơ bộ hướng nghiên cứu định làm. Người hướng dẫn sẽ yêu cầu bạn gửi lý lịch khoa học. Nếu thấy kinh nghiệm và hướng nghiên cứu của bạn phù hợp, họ sẽ gợi ý để bạn làm đề cương, nếu không sẽ giới thiệu cho bạn người khác phù hợp hơn.

Đề cương nghiên cứu làm càng chi tiết càng tốt. Người hướng dẫn sẽ dựa trên đề cương này để quyết định xem có nhận bạn hay không. Đề cương cũng sẽ góp phần thuyết phục hội đồng xét học bổng.

Cân nhắc khi chọn người giới thiệu

Đây là những người sẽ giúp khẳng định ưu điểm và năng lực của bạn. Người giới thiệu nên là người tiếp xúc nhiều với bạn trong công việc và có thời gian quen biết tương đối dài, như vậy sẽ có tính thuyết phục cao. Tốt nhất nên nhờ một người từng là thầy cô hướng dẫn luận văn tốt nghiệp đại học hoặc cao học, một người hiện là cấp trên cao nhất, và người thứ ba thì có thể là đồng nghiệp hoặc cấp trên trực tiếp của bạn.

Phần tự luận càng ấn tượng càng tốt

Phần tự luận trong hồ sơ xin học bổng càng ấn tượng sẽ càng tốt. Đừng viết quá số từ cho phép. Nếu đã hết mức giới hạn từ mà bạn vẫn chưa diễn tả hết ý thì hãy tìm cách rút ngắn các câu văn. Phần tự luận là nơi để bạn thể hiện bản lĩnh, thuyết phục hội đồng xét học bổng vì sao bạn xứng đáng; nếu bạn được nhận học bổng để theo đuổi nội dung muốn học/ nghiên cứu thì sẽ mang lại lợi ích gì cho đất nước bạn, cho nước Úc và rộng hơn là cho cộng đồng quốc tế; bạn có những ưu điểm và tố chất gì để đảm bảo hoàn thành khóa học và phát huy những điều sẽ được học…

Tất cả các phần viết nên dựa vào năng lực thực tế của bạn. Cần dành nhiều thời gian suy nghĩ, chắt lọc và kiểm tra kỹ nội dung, lỗi chính tả. Chúc các bạn thành công!

http://www.sgtt.com.vn/detail32.aspx?ColumnId=32&newsid=62013&fld=HTMG/2010/0118/62013

Kinh nghiệm xin học bổng làm nghiên cứu sinh PhD ở Úc (Australia)

Có nhiều người hỏi nên mình viết bài này chia sẻ tất cả những gì mình biết để mọi người tham khảo, ai biết gì thêm hoặc chỗ nào chưa đúng thì góp ý nhé. Mình là một phụ nữ, có một em bé, khi mình bắt đầu PhD là lúc bé 18 tháng tuổi và ở nhà với bố. Đó thực sự là một quyết định vô cùng khó khăn đối với mình và rất nhiều người phụ nữ khác. Lý do mình quyết định đi lúc này là vì: bắt đầu sớm thì kết thúc sớm, con càng lớn càng cần mẹ chăm sóc và dạy dỗ. Khi mình xong thì con cũng khoảng 5 tuổi và chuẩn bị vào lớp 1. Trong việc này, mình luôn biết ơn sự đồng lòng của người bạn đời và cha mẹ đã giúp mình chăm sóc con trong khoảng thời gian không ngắn chút nào. Với công nghệ hiện đại ngày nay (điện thoại giá rẻ gọi về VN khoảng 500 đồng/phút, Skype, video call của Yahoo Messenger và hàng không giá rẻ), sự xa cách giữa người đi và ở cũng được rút ngắn nhiều.

Làm nghiên cứu sinh là một chặng đường gian khổ, khác hẳn với việc học coursework mà chưa chắc người bước vào đã nhận được kết quả cuối cùng. Sinh viên PhD thường bảo nhau “Chúng ta không phải loài người” là không sai tí nào đâu nhé. Vì thế cần phải cân nhắc cẩn thận khi quyết định có đi làm PhD hay không.

Bước 1: Quyết định đi làm nghiên cứu sinh, trước tiên hãy tự đặt câu hỏi cho mình:

– Mình đang hay sẽ giảng dạy bậc đại học không?

– Mình đang hay sẽ làm công việc tư vấn, hay muốn có một vốn hiểu biết rất sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào không?

– Mình đang hay định làm công việc nghiên cứu không?

Nếu cả ba câu trên mà KHÔNG thì có thể việc làm nghiên cứu sinh là không cần thiết.

Bước 2: Quyết định làm PhD trong nước hay nước ngoài

Có nhiều yếu tố cần được cân nhắc khi chọn làm PhD trong nước hay nước ngoài, nhưng chủ yếu là do yếu tố ràng buộc công việc hiện tại và gia đình chứ theo mình điều kiện làm nghiên cứu ở VN chẳng thể so sánh được với nước ngoài rồi. Ngoài ra, một cân nhắc không kém phần quan trọng: Mình có dự định di cư sang Úc không?

Bước 3: Xem xét liệu mình có được chấp nhận làm PhD?

Điều kiện để được chấp nhận học thường là: có bằng Master dạng research hoặc MPhil hoặc Master dạng coursework nhưng có làm luận văn tốt nghiệp hoặc có bằng Honour hoặc làm công việc nghiên cứu với thời lượng đáng kể (cái này hơi khó vì bằng đại học của VN ít được công nhận ở nước ngoài).

Vì vậy nếu ai chỉ có bằng Master dạng coursework thì khi xin học, trường có thể yêu cầu phải dự một khóa qualifying program trong vòng 6 tháng trước khi nhập học chính thức vào PhD.

Làm PhD có 2 dạng:

– thầy có project và tuyển PhD vào làm nghiên cứu. Khi đó thầy sẽ đăng thông báo tuyển PhD và tìm ứng viên có đủ khả năng và thích thú làm đề tài đó. Nếu ứng viên tự thấy background của mình phù hợp, bản thân thấy thích thú đề tài thì gửi thư trực tiếp cho thầy. Trường hợp này chỉ cần chuẩn bị CV và viết motivation letter cho tốt, không phải chuẩn bị proposal vì đề tài đã có sẵn. Nếu thầy chấp nhận thì sau đó làm thủ tục xin học với trường, tức là bỏ qua được bước 4,5 và 7.

– mình tự tiến hành một nghiên cứu độc lập của mình dưới sự hướng dẫn của thầy và tự xin nguồn tài trợ. Trường hợp này sẽ tiến hành tuần tự từ bước tiếp sau đây.

Bước 4: Viết proposal (định hướng nghiên cứu)

Nếu xin PhD ở Mỹ thì viết cái Statement of Purpose nêu lý do tại sao mình muốn làm nghiên cứu sinh ở trường đó và lĩnh vực nghiên cứu dự kiến là gì. Còn ở Anh và Úc thì khi viết định hướng nghiên cứu cần phải có cả literature review. Khổ nỗi ở VN làm gì có cơ sở dữ liệu hay sách vở gì để mà viết phần này đâu. Nhớ hồi mình gửi cái proposal cho GS John Tribe ở Surrey University, UK (TBT tạp chí Annals of Tourism Research), ông ý đáp lại chê là chỉ bằng cái proposal của MBA, đề nghị viết rồi gửi lại ông ấy xem, hic. Viết trả lời ông ấy là tôi sẽ cố gắng cái thiện cái proposal nhưng sau đấy lặn luôn vì biết với những gì mình có trong tay thì là một điều gần như không thể.

Xin nhớ cho là cái mình viết trong proposal không phải là cái mình sẽ làm sau này, có tới 99,9% trường hợp sang đến nơi, sau khi thảo luận xong với thầy là đổi lần thứ nhất, sau khi đọc cho nát sách và ra cái research question là có thể lại thay đổi vài lần nữa, rồi ngay cả khi đã bảo vệ xong confirmation (phải làm trong vòng 1 năm kể từ ngày nhập học) trong quá trình thu thập và xử lý số liệu lại thay đổi tiếp. Vì thế khi viết proposal đừng lo là mình sẽ gặp phải khó khăn gì với đề tài này, cứ chọn cái nào dựa trên sở thích của mình, hợp với xu hướng của thế giới và VN. Nếu không biết tìm ở đâu thì chịu khó hỏi bạn bè, người có kinh nghiệm, ai cùng ngành với mình đang làm PhD ở nước ngoài, thảo luận trên các group, forum, hay đánh bạo email cho người nào đó trong ngành của mình trên thế giới, mặc dù chẳng quen biết gì.

Có một câu chuyện hài hước cười ra nước mắt ở lĩnh vực du lịch, một người đã bị một hội đồng xét duyệt Tiến sỹ ở VN đánh trượt với lời phê đề cương nghiên cứu quá tệ. Người đó đã gửi đề cương nghiên cứu ra nước ngoài, được trường chấp nhận và dành học bổng danh tiếng nhất của nước đó.

Bước 5: Xin thầy hướng dẫn

Thực ra bước 4 gắn liền với bước 3 vì với cái mình định làm xin mỗi thầy (có từng thế mạnh riêng) mình phải lái lái đi thì họ mới quan tâm. Khi xin thầy hướng dẫn, cần tìm hiểu cho kỹ:

– kinh nghiệm, trọng tâm nghiên cứu (research interest) và danh tiếng của người đó về lĩnh vực mình muốn làm à lên hỏi bác Google là ra hết

– trọng tâm nghiên cứu và danh tiếng của ngành tại trường nơi người đó đang ngồi ở đấy à lên website của trường mà tìm hay hỏi bạn bè. Chú ý là ranking của trường không quan trọng bằng ranking của riêng ngành mình quan tâm. Ví dụ chả ai biết Griffith là trường nào ở Úc, nhưng nói đến tourism thì mọi người đều biết (là ở nước ngoài thôi).

– cá tính của người đấy thế nào, nhiều thầy giỏi thì giỏi nhưng mà đối xử với trò tệ lắm à lân la hỏi người nào đang làm PhD ở đấy, hay email cho cựu PhD của người đó mà hỏi (chỉ cần cái tên thôi lại hỏi bác Google là ra)

Xin kể cả nhà nghe chuyện đi xin thầy hướng dẫn của mình, tiếp tục câu chuyện ở trên.

Trong một buổi hội thảo du học Anh ở New World, lơ ngơ thế nào lại hỏi được contact của một ông GS ở Chichester Uni. Ông này khá nổi tiếng về các nghiên cứu ở VN và cũng interest với nghiên cứu của mình, nhưng khổ nỗi là ông ấy vừa chuyển từ Metropolitan Uni về đây, mà ở đây chưa nhận PhD về tourism.

Tiếp tục với một bà giáo ở ĐH Queensland . Tìm thấy bà ấy do search một hồi trên mạng, đã từng ở VN, thích thú nghiên cứu về tourism ở VN, rất nhiệt tình giúp mình làm cái literature review bằng cách gửi luôn một cái proposal của học trò bà ấy có đề tài na ná như của mình, bảo mình xem có cái nào cần và viết lại (không được chép nguyên xi đâu). Sau đấy mình có được cái proposal nhìn khá chuẩn, giờ vẫn biết ơn bà ấy.

Hè 2007 ra HN gặp senior MBA, Mr C bảo “Ở Úc thì Griffith là trường hàng đầu về du lịch”. Thế là lại lặn lội nghiên cứu website, xem trọng tâm nghiên cứu của nó là gì, tìm người hướng dẫn. May quá anh C giới thiệu cho chị H chỗ anh ấy vừa qua Griffith được mấy tháng, thế là mình có người hỏi xem ai là người hướng dẫn tốt. Bài học từ dì M và anh làm mình quá hiểu có thầy hướng dẫn tệ thì khổ thế nào. Chị H giới thiệu cho hai cái tên, mình nhắm mắt chọn luôn người có cái mác Professor.

Viết email cho ông GS hướng dẫn bây giờ, giới thiệu bản thân, gửi kèm CV, proposal vào tối thứ 6 thì sáng thứ 2 đã nhận được email ngắn gọn:

Dear …,

Thank you for your interest in having me supervise your PhD. thesis. I am willing to be your supervisor, should your application be accepted.

I have sent this communication to Dr. …, who is our contact faculty for PhD applications here on the Gold Coast campus.

I look forward to working with you.

Sincerely,

Mừng quá sức tưởng tượng, sau này mới biết ông ấy vừa từ Mỹ về lại trường, chưa có sinh viên PhD nào cả. Càng search mới biết ông ấy hàng đầu thế giới về ecotourism. Quan trọng hơn hết là trong vốn hiểu biết bao la của ông ấy về ecotourism thì VN là con số 0, nên ông ấy rất quan tâm. Thế mới thấy sự trùng lặp giữa cái mình muốn làm với interest của thầy quan trọng thế nào.

Câu chuyện về thầy hướng dẫn chưa hết đâu nhé, nó chỉ kết thúc khi chính thức biết tin mình nhận được học bổng đi học. ‘Không thầy đố mày làm nên’ nhưng không có tiền thì đố mày đi đâu được.

Bước 6: Nộp hồ sơ xin học và chờ

Các tổ chức cho học bổng thường yêu cầu phải được một trường nào đó chấp nhận học đã, nên phải có CoE trong tay thì mới đi hộp hồ sơ xin học bổng (trừ trường hợp xin học bổng của trường song song với việc xin học; học bổng 322 hay ADS có thể xin trước rồi mới xin học ở trường). Xin học PhD không có deadline, trường nhận hồ sơ quanh năm.

Mỗi trường mỗi khác, UQ cho phép nộp hồ sơ online (hoành tráng chưa) và phải trả admission fee là 60AUD, báo hại phải đi nhờ người trả bằng thẻ Visa/Master card hộ. Nhưng nộp xong chờ dài cổ nửa năm chả thấy trả lời trả vốn gì. Hội thảo du học Úc mình đã đến thẳng quầy hỏi, họ cho email, viết email hỏi thế mà vẫn lặn tăm.

Griffith yêu cầu gửi hồ sơ giấy trắng mực đen bằng đường bưu điện, nhưng lại không phải trả tiền nộp hồ sơ gì hết. Do cái thói lề mề cố hữu của mình, lại phải gửi chuyển phát nhanh mất 500 nghìn, 5 ngày tới Úc. 28/10 họ nhận được hồ sơ của mình (ngay trước deadline xin học bổng của trường có 2 ngày) thì tới cuối tháng 12 trả lời qua email đã chấp nhận và gửi Thư chấp nhận học CoE (certificate of enrolment). Cầm cái này có thể đi xin visa được rồi.

Sang đây thì có người lại than phiền xin học 2 trường trên thì Griffith lặn tăm, UQ trả lời.

Bước 7: Xin học bổng

Tới mục này, mình chỉ xin chia sẻ kinh nghiệm tìm học bổng PhD ở Úc. Có các lựa chọn sau cho người Việt mình:

– Học bổng 322 của nhà nước: 1,000AUD/tháng (12,000AUD/năm), vừa cho 1 người (chi tiêu trung bình bên này cho 1 người khoảng 700AUD/tháng), nghe mọi người kêu hay bị chậm, ràng buộc sau khi học xong phải trở về nước, không có hỗ trợ gì cho con nhỏ nếu mang theo, khi làm thủ tục hay bị lằng nhằng. Tuy nhiên xin học bổng 322 là dễ được nhất, miễn là được một trường nào đó trên thế giới nhận là được. Lưu ý PhD có thể đi làm trợ giảng ở các ĐH của Úc để có thêm thu nhập. Thông báo về học bổng 322 được gửi về các trường đại học hàng năm.

– Học bổng phát triển của chính phủ Úc dành riêng cho Việt Nam (ADS): 20,000AUD/năm. Học bổng này ràng buộc PhD sau khi học xong phải trở về nước, có hỗ trợ tiền gửi trẻ 5 tuổi trở xuống 50%, bao gồm cả tiền vé máy bay và visa. Không phải ngành nào đi làm nghiên cứu sinh cũng xin được học bổng này, mọi người vào đây tham khảo nhé http://www.ausaid.gov.au/scholar/studyin.cfm

– Học bổng cho các nhà lãnh đạo ( ALA ): 26,800AUD/năm (nghe nói hàng năm có review và tăng tiền), ràng buộc sau khi học xong phải trở về nước, cho 4 năm, có cho tiền trang trải ban đầu 5000$ để mua vé máy bay, phí visa, tiền đi dự hội thảo/field trip 2000$/năm, có hỗ trợ tiền gửi trẻ 5 tuổi trở xuống 50%… Học bổng này chú trọng đến những người có tiềm năng trở thành lãnh đạo sau này, nên ai có kinh nghiệm làm lãnh đạo hay khả năng chứng minh mình có tài lãnh đạo nhiều khả năng được. http://www.ausaid.gov.au/scholar/ala.cfm . Việt Nam nằm trong danh sách các nước được ưu tiên cho học bổng này, nên người Việt có nhiều khả năng được.

– Học bổng Endeavour: là học bổng cao nhất của Bộ GD Úc. Học bổng này không ưu tiên Việt Nam mà các ứng viên phải cạnh tranh trên toàn cầu. Ai có thành tích học tập xuất sắc, có công trình nghiên cứu, có thành tựu gì nổi bật thì có khả năng được học bổng này. Endeavour cho toàn bộ học phí, living allowance 30,000AUD/năm, tiền ổn định ban đầu 4000$ cho vé máy bay, phí visa, không có hỗ trợ gửi trẻ… và không có ràng buộc sau khi học xong phải trở về nước và vừa được nâng lên 4 năm. http://www.endeavour.deewr.gov.au/

– Học bổng của chính phủ Úc thông qua các trường (gọi nôm na là học bổng của trường): 20,000AUD/năm, hỗ trợ một phần tiền vé, không hỗ trợ phí làm visa, không ràng buộc phải về nước sau khi học xong. Tham khảo học bổng này phải vào trang web của từng trường nghiên cứu. Khi nộp hồ sơ học cho trường, thường có mục để đánh dấu vào xin học bổng của trường. Học bổng của trường cho 3 năm, nhưng có thể kéo dài tối đa 6 tháng nữa.

– Ngoài ra còn nhiều dạng học bổng khác, cần phải vào website thông báo học bổng của từng trường để tìm hiểu.

Endeavour, AL A , ADS có thời hạn nộp hồ sơ khoảng tháng 6,7 hàng năm, vì vậy ai muốn xin các học bổng này thì phải có CoE sẵn sàng trước tháng 6 hàng năm. Nói tóm lại cần khoảng 1 năm kể từ khi bắt đầu khởi động ôn tiếng Anh, thi IELTS và tất cả các bước ở trên.

Xin hết và chúc may mắn!

 

Nguồn: https://dohuehuong.wordpress.com/2009/08/06/kinh-nghiem-xin-hoc-bong-lam-nghien-cuu-sinh-phd-o-uc-australia/

HỌC BỔNG DU HỌC CẤP 3 – ÚC

Rất nhiều người hỏi mình về học bổng du học cấp 3, thì hôm nay may quá biết được học bổng này, mọi người tham khảo nhé:

– Trường: Pennisula Grammar
– Học bổng: Peninsula Grammar’s International Scholarship
– Giá trị: 100% học phí
– Đối tượng: Hoàn thành lớp 10 ở Việt Nam
– Tiêu chí lựa chọn: Điểm tổng kết cả năm, điểm các môn Toán, Lý, Hoá, và Tiếng Anh
– Thể lệ: Nộp hồ sơ và phỏng vấn.
– Deadline: Tháng 7 năm 2018

– Link: http://www.tps.vic.edu.au/international-scholarships.html

Các bậc phụ huynh nghiên cứu cho con em mình nhé. Ngấp nghé hay xa xa cũng bắt đầu chuẩn bị là vừa 

Scholarship program for the Executive Master in Development Policies and Practices

Dear Sir or Madam,

We are very pleased to announce that the online application for the Executive Master in Development Policies and Practices (DPP) for 2018-2019 is now open (http://dpp.graduateinstitute.ch/home.html). The deadline for the application is March 15, 2018.

The DPP is an international Executive Master program jointly organized by the Geneva-based Graduate Institute of International and Development Studies (IHEID) and the Asian Institute of Technology in Vietnam (AITVN). The program is designed for development practitioners, Asian and Expatriates, working for national, international, public or private organizations in the Greater Mekong countries (mainly Cambodia, Laos, Myanmar, and Vietnam). The program is divided in 3 Modules that lasts 2 full-time months and 4 part-time months at the participants’ place of work.

–       Module 1 (full-time): July – August 2018 in HanoiVietnam (5 weeks)

–       Module 2 (part-time): September – December 2018 (4 months at the participants’ place of work)

–       Module 3 (full-time): January – February 2019 in Geneva (3 weeks in Geneva gathering all participants from other regions)

 

The criteria for admission are:

  • Þ        Professionals who currently hold or aspire to hold key positions in a development or international cooperation role, in public or private-sector, NGOs or civil society associations
  • Þ        University degree (minimum 3 years) and several years of professional experience (or an equivalent combination of training and experience)
  • Þ        Support of the candidate’s organization
  • Þ        Proficiency in English. Knowing Spanish and/or French is a plus
  • Þ        Optimal age: between 30 and 45 years

An introduction workshop of the DPP program will be held in Da Nang on Friday, 12 Jan 2017 Grand Mercure Da Nang hotel, Lot A1, Green Island, Hoa Cuong Bac, Hai Chau, Danang City, and in Can Tho on Monday, 15 Jan 2018 at AIT campus, Learning Resource Center, Can Tho University, Campus II 2-3 Street, Ninh Kieu District, Can Tho. For further information and to register to the workshop, please contact Ms. Bich Diep at: diep@aitcv.ac.vn, 0936262684 or Ms. Pham Thuy at pthuy@aitcv.ac.vn, 0983437728.

We do hope that this program is of interest to your organization and your partner institutions. We would highly appreciate your help in disseminating the program information to all potential candidates.

Sincerely yours,

Dr. Nguyen Huong Thuy Phan

Academic Coordinator – Head of Region – Southeast Asia;

Graduate Institute of International and Development Studies

FAQ New Zealand Scholarship

Do you offer scholarships for citizens of my country?

The New Zealand Aid Programme offers scholarships to citizens of a number of developing countries for full-time tertiary level study in New Zealand.  A full list of eligible countries can be found here.

As a small country, we focus on providing educational opportunities to our neighbours in the Pacific, as well as to selected developing countries in Asia, Africa, Latin America, the Caribbean and other developing regions.

Where can I study?

For Tertiary education Scholarships, you can study at one of ten eligible New Zealand universities and institutes of technology. A full list of eligible institutions is available here.

For selected Pacific countries only, Tertiary Scholarships are available for study in the Pacific region; otherwise, study in another country is not supported.

It is important to find a tertiary institution that will meet your personal as well as academic needs.  Each institution specialises in different subjects.  There are a number of places you can find additional information:

  • Information on some relevant qualification options can be found on each of the country pages on our website.
  • The websites of New Zealand and Pacific universities have a variety of information on what you can study, and what it’s like to study there.
  • For more information on studying in New Zealand visit Study in New Zealand (external link)
  • For information on cost of living in New Zealand visit New Zealand Now (external link)
  • For Short Term Training Scholarships, study at diploma and certificate level are available at a range of New Zealand institutions (note, these Scholarships are only available in selected Pacific countries and Timor Leste). For more information about where you can do a Short Term Training Scholarship click here.

What subjects and qualifications can I study?

The types of qualifications available and priority subjects vary for each country and are listed on the information page for your country or region. For some countries, only postgraduate scholarships are available, and for other countries both undergraduate and postgraduate scholarships are available.

Scholarships are offered in priority sectors that are most relevant to the development needs of your country. This is so you can contribute to making a real and positive difference to your country on your return home at the end of your scholarship.

Preference will be given to candidates intending to study within the priority sectors for their country.  Applications outside these areas may be considered where they demonstrate a clear link between your intended area of study and the sustainable economic development of your home country.

What are ‘priority sectors’?

Priority sectors are areas in your country where a skill shortage has been identified by your government, which are a priority for investment in order to improve social and economic development of your country, and/or where New Zealand has particular expertise.

Study directly related to these priority sectors is preferred so that your country gets the most out of the investment made in training someone through a New Zealand Scholarship.

What types of scholarship are available?

The main types of scholarships available for full-time tertiary level study in New Zealand are:

Two other scholarship types are available:

Where can I get a scholarship application form?

We encourage online applications. Most eligible countries are able to apply online at this website from February 2018.

Read Application dates and method and How to apply for more details on the application process.

While we prefer you to apply online, we understand not all locations have access to the internet. Paper applications are available for certain countries.

You will need to contact the New Zealand High Commission or Embassy in your country to obtain a paper application form.  Contact information for each New Zealand High Commission or Embassy can be found here.

Do I need an offer of place at an institution before I apply?

For New Zealand Scholarships you do not require an offer of place at your selected institution before you apply.  If you are shortlisted for a scholarship we will seek a place at the institution you have requested in your application form on your behalf. However for PhD applicants and Masters by Thesis applicants, when you reach the shortlisting stage, you will need to have a Letter of Support from your proposed supervisor.

What does the scholarship cover?

The entitlements of the Scholarship include full tuition fees, a living allowance (paid fortnightly), an establishment allowance, medical and travel insurance, travel between your home country and New Zealand at the start and end of your scholarship, home leave or reunion travel for some eligible scholars, pastoral and academic support at your institution, and assistance with research and thesis costs for most postgraduate research students.

  • A top quality education at one of New Zealand’s world-class tertiary institutes or a major Pacific education institution.
  • Fully funded tuition
  • Financial support including a fortnightly living allowance, an establishment allowance, medical and travel insurance, travel to and from your home country at the start and end of your scholarship, home leave or reunion travel for some students, and assistance with research and thesis costs for most postgraduate research students.
  • Personal and academic support: We have international student advisors to help and support you with any issues with your scholarship, study or well-being.  When studying in New Zealand you will also have the assurance of the Code of Practice for the Pastoral Care of International Students which sets minimum standards to ensure international students in New Zealand are well informed, safe and properly cared for by their education provider.
  • Help getting prepared:  To help you get prepared for studying in New Zealand, you’ll have a pre departure briefing in your home country, and you’ll get support when you arrive in New Zealand.  We also offer a programme in New Zealand to help you prepare for academic studies here.

Can I bring my family with me to New Zealand?

The Scholarship does not provide any funding for you to bring your family with you to New Zealand or to support them while they are here.

The scholarship funding is not sufficient to cover the costs of supporting a family in New Zealand. You cannot bring any family members with you unless you have access to other funds. More information is available here.

If you decide to bring your family with you to New Zealand, Immigration New Zealand will require evidence of funds when your dependants apply for visas. For more information, visit Immigration New Zealand (external link).

What is the deadline for applications?

The deadline for application and the application process varies between countries/regions. Please check Application dates and method to confirm the deadline for your country/region. For most countries applications will close in March 2018.

Where do I send my application form? Can I apply online?

You are able to apply online through this website from February 2018.

If you do not have internet access and can only apply using a paper application, and you are from a country which allows paper applications, you must submit this to your nearest New Zealand High Commission or Embassy to arrive no later than 15 March 2018.

Contact information for each New Zealand High Commission or Embassy can be found here.

  • All applications and supporting documents must be sent in hard copy to the address listed on the information page for your country
  • Applications sent by email will not be accepted
  • Ineligible applications will not be accepted
  • Incomplete applications will not be accepted.

I don’t have an IELTS or TOEFL score. Can I still apply for a scholarship?

Yes, you can still apply for a scholarship, however you will not be successful unless your English language ability is good enough to be able to study at an English speaking institution.

If you are shortlisted for a scholarship, you will be asked at that stage to sit the appropriate English language test.  However, if you already have IELTS or TOEFL test scores which are no more than two years old you can enter them on your application.  You will not be disadvantaged if you have not sat the test when you apply.

IELTS is the International English Language Testing System. TOEFL is the Test of English as a Foreign Language.   These are the two tests we use for assessing scholarship applicants.

As a general rule, for those wishing to complete a postgraduate qualification an overall IELTS score of 6.5 and no band less than 6.0 is the minimum required.  For those wishing to complete an undergraduate qualification an overall IELTS score of 6.0 and no band less than 5.5 is the minimum required.  For those wishing to complete short term vocational training an IELTS score of 5.5 is the likely minimum.  Similarly, a TOEFL score of 80 on the internet-based test is required for undergraduate study and 90 for post graduate study.

Do I have to return to my home country at the end of my study?

Scholarships are for people who want to make a difference at home. All New Zealand Scholarships recipients and their families must return to their home country for at least two years at the conclusion of their study.

The purpose of the scholarship is to provide academic training so that you can gain new skills and knowledge to assist in the social and economic development of your country on your return home at the end of the scholarship.

I want to begin study this year / I want to begin study late next year. When do I need to apply?

There is only one selection round per year for all tertiary scholarships, and applicants apply in one year for study beginning the following year. For example, all applications received in the 2018 selection round will be considered for study beginning in 2019.

The expectation is that you will commence study in semester 1 (usually February/March). However, some programmes only commence in semester 2 (June/July). The main academic year in New Zealand starts in February/March. The application deadline is the same for all applications, regardless of intended start date of study.

I don’t meet the criteria to apply. Are there other scholarships I can apply for?

There are a range of other scholarships available to international scholars for study in New Zealand.

Visit Study in New Zealand (external link) for more information.  You may also wish to check the Scholarships Office of the education institution at which you wish to study.

Who can I contact for more information?

Read the information on the website carefully, including the information page for your country and the scholarships home page. If there is a specific question not answered by our website, you can email us via our Enquiry Form (external link)

Cơ hội đi Mỹ MIỄN PHÍ 2 năm kèm trợ cấp ngàn USD/ tháng

Bạn muốn đi Mỹ MIỄN PHÍ cho bản thân bạn và cả gia đình??

Bạn muốn nhận được bằng Master của những trường đại học hàng đầu bên Mỹ

Không những thế còn được nhận trợ cấp từ 1500-2000 USD/ tháng để trang trải sinh hoạt phí

và cơ hội giáo dục miễn phí cho con bạn từ lớp 1 đến lớp 12, bạn còn chần chừ gì nữa mà không tìm hiểu học bổng Fulbright – học bổng danh giá của Chính phủ Hoa Kỳ cho người Việt Nam.

Điều kiện để nộp hồ sơ khá đơn giản có 4 yêu cầu chính 

1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship) –> không có 2 quốc tịch

2. Have at least one undergraduate degree – đã có bằng đại học ở Việt Nam

3.  Có tối thiểu 2 năm kinh nghiệm tính từ ngày ghi trên bằng đại học tới ngày hết hạn nộp hồ sơ.

4. Có điểm tiếng Anh tối thiểu là TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Những đối tượng sau đây sẽ không được nộp hồ sơ 

  1. Người đã được nhận học bổng Fulbright

  2. Người đang sống và học tại Hoa Kỳ

  3. Người có bằng cử  nhân hay Thạc sỹ ở Đại học của Mỹ trong vòng 3 năm trở lại đây

  4. Nhân viên của phái đoàn ngoại giao Mỹ tại Việt Nam và những người thân thuộc bao gồm những người đang làm việc hoặc 1  năm sau khi kết thúc làm việc

  5. Người đã nhận học bổng cao học trong vòng 5 năm trở lại đây hoặc sắp nhận học bổng cao học khác.

Danh sách những ngành học được cho học bổng

Các bạn có thể tìm hiểu về các ngành học được cấp học bổng tại link này

Short introduction to Study Subjects in Vietnam Fulbright Student Program

Ngành nào có nhiều cơ hội dành học bổng hơn, các bạn đọc bài viết này 

Nộp ngành gì dễ được học bổng Fulbright???

Hồ sơ xin học bổng bao gồm 

  1. Hai bài essays (study objectives and personal statement)
  2. Ba thư giới thiệu
  3. Bằng đại học và bảng điểm (cho mỗi Đại học mà bạn theo học)
  4. Điểm TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Sơ yếu lý lịch

Nộp hồ sơ online tại địa chỉ https://iie.embark.com/apply. Hướng dẫn cách nộp hồ sơ tại địa chỉ https://vn.usembassy.gov/wp-content/uploads/sites/40/fvst2019-application-guidelines.pdf

Tiêu chí lựa chọn

Không phân biệt giới tính, màu da, ngành nghề, xuất thân, tổ chức mà hoàn toàn dựa vào năng lực và thành tích. Ưu tiên cho những ai chưa có kinh nghiệm trước đó với nước Mỹ. Một ứng viên thành công sẽ cần phải hội đủ các yêu cầu sau:

  • Mô tả rõ ràng và chi tiết mục tiêu học tập, thể hiện một sự kết nối rõ ràng giữa mục tiêu học tập với mục tiêu tương lai thông qua các bài luận
  • Có kinh nghiệm làm việc sâu rộng trong lĩnh vực dự định nộp hồ sơ và hiểu biết đầy đủ về ngành học
  • Thể hiện tiềm năng lãnh đạo dựa trên hoạt động ở trường, hoạt động ngoại khóa, cộng đồng và các hoạt động  nghề nghiệp khác
  • Thể hiện sự cống hiến cho Việt Nam và tiềm năng mang lại sự thay đổi tích cực khi quay về
  • Đóng góp thúc đẩy hiểu biết giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Mỹ thông qua các hoạt động trao đổi giáo dục và văn hóa
  • Sẵn lòng trở thành đại sứ văn hóa của Việt Nam
  • Thể hiện thành tích học tập xuất sắc và khả năng Anh ngữ tốt.

Khung thời gian 

  • Tháng 1/2018: Thông báo học bổng
  • Ngày 15/5/2018: Hết hạn nộp hồ sơ
  • Tháng 6 &7/ 2018: Xét duyệt hồ sơ và lựa chọn người vào vòng phỏng vấn
  • Tháng 9/ 2018: Phỏng vấn và lựa chọn người trao học bổng
  • Tháng 10 &11/2018: Người được học bổng thi lại GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • Tháng 11/2018 – Tháng 3/ 2019: Nộp hồ sơ cho các trường bên Mỹ
  • Tháng 4 & 5/2019: Xác nhận việc sắp xếp trường
  • Tháng 5/2019: Hội thảo định hướng trước khi lên đường
  • Tháng 6 & 7/2019: Kiểm tra sức khỏe và xin Visa
  • Tháng 7&8/2019: Lên đường sang Mỹ nhập học.

Cơ hội mà học bổng Fulbright đem lại 

  • Được vào học những trường danh tiếng của Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được nhận trợ cấp từ 1200 -2000 USD/ tháng để trang trải chi phí ăn học
  • Được hỗ trợ xin visa rất dễ dàng
  • Được tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa bên Mỹ rất thú vị
  • Được được vợ/ chồng và con cái theo, visa diện J2 có thể đi làm
  • Được cơ hội cho con cái từ lớp 1 đến lớp 12 học tại Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được cho vé máy bay và bảo hiểm y tế trong suốt quá trình học
  • Được gia nhập mạng lưới Fulbrigther khắp toàn cầu một network rất giá trị
  • Và được rất nhiều thứ khác nữa vô giá

 

Vậy còn chần chừ gì nữa mà không nộp hồ sơ nào các bạn ơi. Đừng lo lắng, đừng sợ sệt. Hãy mạnh dạn thử sức mình, nếu được ta ăn mừng, nếu chưa được năm sau ta thử sức tiếp.

Nếu trong quá trình nộp hồ sơ, bạn có thắc mắc gì, các bạn có thể liên hệ với mình. Trong quá trình chuẩn bị làm hồ sơ, viết luận, xin thư giới thiệu, các bạn muốn mình tư vấn thì chủ động liên hệ với mình. Contact của mình ở dưới đây

Email: tranngocthinh@gmail.com

Facebook:  www.facebook.com/tranngocthinh

Fanpage: www.facebook.com/tranngocthinh287

 

Chúc các bạn may mắn có được suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng ngàn USD/ tháng nhé.

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter Public Administration

AY 2009-2011

Ngành nào từ trước đến nay được nhiều học bổng Fulbright nhất??

Mặc dù trong FAQ (Tài liệu hỏi đáp), Fulbright Vietnam trả lời rằng không có quota cho từng ngành học được tài trợ.

“Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits”

Thực tế là Fulbright không phân bổ quota cho từng ngành học. Nhưng nhìn qua số liệu thống kê của học bổng Fulbright Vietnamese Student Program từ năm 1992  đến 2015 thì có thể thấy một sự phân bổ không đồng đều số lượng người nhận học bổng theo ngành học như sau

Đứng đầu là ngành Business, đây chính là nhóm nộp ngành MBA gồm nhiều phân ngành nhỏ như Marketing, Finance, Accounting, MIS…vv. Nhóm này đứng đầu với 112 người được học bổng/ 527 người được học bổng Fulbright từ 1992 đến 2015. Chia bình quân cho 23 năm, thì mỗi năm có gần 5 người nộp MBA được học bổng trong sốtrung bình 20 người được học bổng Fulbright hàng năm.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng trong 23 năm. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Hầu hết những bạn được học bổng ngành TESOL mà tôi biết đều là giảng viên dạy tiếng Anh ở những trường đại học công lập lớn của Việt Nam.

Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Ngành kinh tế cũng có nhiều người được vào những trường top như Williams College – số 1 nước Mỹ về Development Economics hay Harvard, Columbia..vv

Một điều thú vị là ngành Public Administration (quản trị công) khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng.  Những người theo học ngành này thì có người làm trong khối nhà nước, có người làm ở các tổ chức phi chính phủ. Tôi còn biết có bạn làm phóng viên của 1 đài truyền hình cũng được học bổng ngành này.

Đây cũng là ngành mà tôi đăng ký theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

 

Ngành tiếp theo, có nhiều người được học bổng là ngành Truyền thông (Communications)/ Báo chí (Journalism) với 36 người được học bổng, đa phần đều là nhà báo, phóng viên.

Ngành Luật có 33 người được học bổng. Đối với  những ngành khác, bạn có thể nộp hồ sơ xin học bổng trái ngành so với ngành học ở bậc đại học. Ví dụ bạn tốt nghiệp đại học Ngoại giao, nhưng xin học bổng về Public Admin hay Public Policy thì được. Riêng ngành Luật thì nếu bạn không có bẳng cử nhân Luật, bạn sẽ không thể apply xin học bổng ngành Luật. Những người được học bổng ngành luật đa phần là Luật sư. Nổi tiếng nhất chắc là anh Lê Công Định, Trương Trọng Nghĩa.

Ngành chính sách công (Public Policy) và Y tếcông cộng (Public Health) đang là một ngành rất hot ở Việt Nam và rất mạnh của Mỹ. Trước đến giờ Việt Nam chưa có đào tạo chính sách công bài bản, bởi lẽ chính sách chủ yếu làm ra trong phòng lạnh nên Mỹ muốn giúp mình phát triển nhân lực trong mảng chính sách công.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

Như vậy qua một số con số thống kê trong vòng 23 năm qua, chúng ta đã có một bức tranh khá rõ về những ngành học nào có nhiều khả năng được học bổng Fulbright. Điều này không có nghĩa là những ngành khác không có cơ hội. Học bổng Fulbright khuyến khích tất cả các bạn theo đuổi đam mê của mình chứ không có một ưu tiên cho ngành nào cả. Chỉ cần bạn thật xuất sắc thì bạn vẫn có thể được học bổng, mặc dù số liệu cho thấy xác suất thành công của những ngành ưu tiên như MBA và TESOL vẫn cao hơn rất nhiều những ngành khác.

Xin chia sẻ một số thông tin để các bạn tham khảo khi lựa chọn nộp hồ sơ cho học bổng Fulbright.

 

Source of Data: Dữ liệu sử dụng trong bài viết này là từ thông tin được công bố công khai của chương trình Fulbright Vietnam.

Disclaimer: Tất cả những nội dung tôi viết trên đây là quan điểm của cá nhân tôi, không đại diện cho chương trình Fulbright tại Việt Nam.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter 2009-2011 – Public Administration

www.tranngocthinh.com

Phóng sự VTV về cuốn sách Du học không khó

Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ Trần Ngọc Thịnh ra mắt cuốn sách Du học không khó. Bài viết sau đây xin giới thiệu tới các bạn cuốn sách này với hi vọng nó sẽ là một cuốn cẩm nang tốt cho các bạn trẻ.

Du học từ lâu đã là điều mong ước của rất nhiều bạn trẻ Việt Nam. Tuy nhiên, con đường đi tới ước mơ cũng lắm chông gai, có rất nhiều rào cản phía trước như tài chính, ngôn ngữ và học thuật. Vậy làm thế nào để vượt qua những rào cản đó? Làm thế nào để có thể hiện thực hóa giấc mơ du học của mình? Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ có trong cuốn sách mang tựa đề Du học không khó.

Du học không khó là ấn phẩm đầu tay của tác giả trẻ Trần Ngọc Thịnh. Cuốn sách được viết bởi rất nhiều công sức và tâm huyết của một cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright để dành tặng cho tất cả những bạn trẻ Việt Nam có ước mơ du học nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu.

Bên cạnh những câu chuyện người thật, việc thật về những gương điển hình du học sinh vượt khó, cuốn sách cũng chia sẻ hết sức tỉ mỉ những kiến thức, kinh nghiệm để giúp các bạn trẻ có thể hiện thực hóa ước mơ du học của mình. Tác giả sẽ chia sẻ những cách thức để vượt qua các rào cản chính trên con đường du học. Cuốn sách cũng gợi ý những bí quyết trong việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn để dành được những suất học bổng du học.

Cuốn Du học không khó được tổ chức một cách chặt chẽ và mạch lạc, giúp người đọc dễ hình dung và học hỏi. Các chia sẻ được viết rất tỉ mỉ và cặn kẽ kèm theo sự phân tích và ví dụ minh họa để độc giả dễ dàng hình dung ra các yêu cầu khi du học.

Mục đích chính của cuốn sách là để động viên, khích lệ tinh thần các bạn trẻ Việt Nam hãy lên đường đi du học để lập thân, lập nghiệp và phụng sự Tổ quốc với mục đích đem kiến thức, kinh nghiệm học được từ nước ngoài đem về góp phần dựng xây đất nước thực hiện đúng lời dặn dò của thế hệ cha anh để xóa nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.

Mời các bạn theo dõi lại nội dung trên qua video sau đây:

Nguồn: http://vtv.vn/doi-song/du-hoc-khong-kho-cam-nang-cho-cac-ban-tre-144152.htm

Chàng trai 8X “gây bão” với sách “Du học không khó”

(Soha.vn) – Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ, Th.S Trần Ngọc Thịnh sẽ ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Là cựu du học sinh Mỹ theo chương trình học bổng Fulbright của Hoa Kỳ. Anh từng là giảng viên đại học và hiện đang làm tư vấn độc lập cho các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Thạc sỹ, tác giả cuốn sách
Thạc sỹ, tác giả cuốn sách “Du học không khó” Trần Ngọc Thịnh.

Du học để lập thân, lập nghiệp

– Xin chào Thịnh, lý do nào mà bạn lại viết sách về du học?

Trần Ngọc Thịnh: Sau khi được học bổng Fulbright, mình mới thấy được sự vất vả, khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, kinh nghiệm chuẩn bị cho con đường du học. Vì vậy, trước khi qua Mỹ, mình bắt đầu viết blog để chia sẻ những kinh nghiệm, bí quyết với hy vọng giúp các bạn đi sau.

Cho tới tháng 6/2013, mình mới quyết định chuyển sang dùng Facebook vì WordPress tương tác không cao. Và chính khi đó, mình đã được các bạn trên cộng đồng Facebook gợi ý viết một cuốn sách giúp các bạn quyết tâm theo đuổi giấc mơ du học với tựa đề “Du học không khó”.

– Điều gì là động lực thúc đẩy bạn trong suốt quá trình thực hiện nó?

Trần Ngọc Thịnh: Là một chuyên gia tư vấn phát triển, mình cho rằng con người là yếu tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Ví như Nhật Bản, dù nghèo tài nguyên nhưng con người chịu khó và sáng tạo đã giúp Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc trên thế giới. Cách đây 300 năm khi Nhật còn là một nước phong kiến, Fukuzawa Yukichi – một nhà tư tưởng người Nhật đã khuyến khích thanh niên Nhật sang các nước phương Tây học hỏi và đem kiến thức, thành tựu công nghệ, khoa học kỹ thuật về áp dụng cho Nhật Bản. Chính vì lẽ đó, nước Nhật đã đi lên và trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

Vậy thì Việt Nam có “rừng vàng biển bạc”, dân số đông, thanh niên thông minh, giỏi giang tại sao lại không thể? Mình cho rằng cách duy nhất để có thể đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu là học hỏi cái hay, cái mới để đem về vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam.

–  Với “Du học không khó”, thông điệp mà bạn muốn gửi đến các bạn trẻ Việt Nam là gì?

Trần Ngọc Thịnh: Thông điệp của cuốn sách cũng chính là tên cuốn sách. Du học đã trở nên đơn giản hơn đối với các bạn học sinh, sinh viên. Nếu bạn thực sự có quyết tâm, biết nỗ lực, có kế hoạch chuẩn bị và được định hướng đúng đắn thì giấc mơ du học sẽ không còn quá xa vời.

Cuốn sách
Cuốn sách “Du học không khó” của chàng trai 8X Trần Ngọc Thịnh.

– Điều gì đặc biệt ở cuốn sách “Du học không khó” khiến nó khác các trang mạng, diễn đàn, thông tin trên mạng?

Trần Ngọc Thịnh: Cuốn sách này ra đời xuất phát từ nhu cầu, mong đợi của độc giả – những người theo dõi Facebook Page của mình từ lâu. Mình viết cuốn sách này cũng từ gợi ý của họ nên mình cố gắng viết những gì mà các bạn hay hỏi nhất hay gặp khó khăn nhất.

Điểm đặc biệt của cuốn sách cũng chính là sự tương tác. Ngay từ bìa sách tới nội dung cuốn sách đều được độc giả chia sẻ, góp ý từ đầu.

Hơn nữa, cuốn sách này ngoài cung cấp thông tin, còn có những câu chuyện người thực, hiện thực mang tính khích lệ, động viên và truyền cảm hứng các bạn trẻ để quyết tâm thực hiện ước mơ du học.

Cuốn sách này đặc biệt là mình không bán sách ở những hiệu sách mà phân phối thông qua hệ thống cộng tác viên phân phối tại các trường đại học.

– Tại sao lại không bán ở hiệu sách?

Trần Ngọc Thịnh: Cuốn sách gắn với một dự án Quỹ học bổng mà mình phát động từ khi còn học đại học. Mình muốn trích một phần lợi nhuận để gây dựng một quỹ học bổng giúp cho những bạn có hoàn cảnh khó khăn nhưng học giỏi và có quyết tâm du học.

Mình muốn phát triển hệ thống phân phối riêng để giữ được phần lợi nhuận để làm học bổng. Nếu bán ở hiệu sách, thì lợi nhuận không còn nhiều để làm quỹ học bổng. Thông qua hệ thống phân phối là các bạn SV tại các trường đại học, mình sẽ mang sách đến tận tay các bạn sinh viên.

– Có người cho rằng, việc Thịnh kiến nghị cuốn sách “Xách ba lô lên và đi” của Huyền Chip là để PR cho sách của mình, Thịnh nghĩ sao?

Trần Ngọc Thịnh: PR giống như một con dao hai lưỡi vậy. Một cuốn sách được độc giả đón nhận hay không là do nội dung sách. Cuốn sách có giá trị, chứa đựng nhiều thông tin bổ ích, ý nghĩa thì không cần PR cũng sẽ được độc giả đón nhận. Còn nếu viết sách bậy bạ, lừa bịp độc giả mà lại PR thì sẽ bị độc giả phản ứng giống như cuốn sách kể trên. Mình không PR bản thân và cũng không cần PR sách của mình bằng một nhân vật tai tiếng, một vụ scandal. Việc mình làm, ai theo dõi vụ việc từ đầu sẽ hiểu mục đích và ý nghĩa của nó.

“Đời du học không như là mơ”

– Hiện nay, có một số bạn trẻ đang đi du học như là một trào lưu, là mốt để được bằng bạn, bằng bè, mà kết quả lại không được nhưng mong muốn. Thịnh đánh giá như thế nào và có lời khuyên gì cho các bạn đó?

Trần Ngọc Thịnh: Trong một bài viết gần đây trên Facebook Page của mình có tên “Đời du học không như là mơ”, mình có nói về khó khăn mà các bạn trẻ đi du học gặp phải. Mình nghĩ, các bạn cũng không nên quá mơ tưởng về đời sống du học.

Trong cuốn sách này của mình cũng đề cập đến việc cái lợi và bất lợi ở từng giai đoạn khi bạn du học cũng như đưa ra lời khuyên khi nào bạn nên đi du học, cụ thể như sự chuẩn bị kỹ về mặt tài chính, tâm lý, sức khỏe, học vấn…. Một phần trong cuốn sách, mình cũng có trao đổi với phụ huynh về những điều cần khi quyết định cho con đi học.

Trần Ngọc Thịnh (ngoài cùng bên phải) muốn chia sẻ kinh nghiệm du học với các bạn trẻ.
Trần Ngọc Thịnh (ngoài cùng bên phải) muốn chia sẻ kinh nghiệm du học với các bạn trẻ.

– Vậy theo Thịnh nhận định những bạn trẻ đang chuẩn bị du học thiếu điều gì?

Trần Ngọc Thịnh: Ba điều: thông tin về học bổng, hệ thống giáo dục ở nước ngoài, những chia sẻ của người đi trước, và định hướng trong chọn trường, chọn ngành học phù hợp. Theo mình, điều quan trọng nhất là các bạn chọn được trường, ngành, học bổng phù hợp nhất với năng lực, sở trường, chuyên môn của các bạn.

– Việt Nam thanh niên giỏi, du học sinh đông, nhưng tại sao vẫn chưa phát triển?

Trần Ngọc Thịnh: Mình nghĩ một trong những lý do mà Việt Nam hay những nước đang phát triển gặp phải chính là hiện tượng “chảy máu chất xám”. Rất nhiều thanh niên du học nước ngoài mà không quay trở về. Vấn đề đặt ra là làm sao chúng ta kêu gọi, thu hút những nhân tài này quay trở về đóng góp cho sự phát triển đất nước.

– Mình được biết cuốn “Du học không khó” là một cuốn trong dự án về series sách du học mà bạn đang viết, bạn có thể bật mí cho các bạn độc giả được không?

Trần Ngọc Thịnh: Series sách về du học được mình ấp ủ từ lâu, bởi hiện nay sách về chủ đề này còn khá ít. Cuốn sách “Du học không khó” là cuốn đầu tiên được xuất bản. Sắp tới sẽ cố một số cuốn chia sẻ về kinh nghiệm săn học bổng, trải nghiệm của du học sinh Việt Nam khắp mọi miền thế giới…

Mục đích của series sách về du học này là giúp các bạn trẻ Việt Nam có một cái nhìn khách quan, chân thực về du học. Từ đó gây dựng một phong trào thanh niên Việt Nam đi du học để dựng xây đất nước. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trên trang web của Hội thích du học www.thichduhoc.net.

Cảm ơn Thịnh vì những trao đổi thú vị!

Sách phát hành từ ngày 24/12/2013, tại các đại lý phân phối chính thức, chi tiết xem tại http://phanphoi.duhockhongkho.com

Lễ ra mắt tại Hà Nội: 13h30 – 17h30 ngày 28/12/2013 tại Tầng 2, Thư viện Hà Nội, số 47 Bà Triệu

Ngoài ra, còn có lễ ra mắt tại Đà Nẵng và TP HCM trong tháng 1/2014. Thông tin cập nhật tại website chính thức của cuốn sách: www.duhockhongkho.com

Capstone Vietnam (capstonevietnam.com), Kansas State University (k-state.edu),  Lane Community College ( http://www.lanecc.edu/ ) và Hotcourses Vietnam (hotcourses.vn) hân hạnh là nhà tài trợ cho lễ ra mắt của cuốn sách “Du học không khó”.

Nguồn: http://soha.vn/xa-hoi/chang-trai-8x-gay-bao-voi-sach-du-hoc-khong-kho-20131220235658048.htm

Fulbrighter Trần Ngọc Thịnh ra mắt sách ‘Du học không khó’

 Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ Trần Ngọc Thịnh ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Du học không khó là cuốn sách đầu tay của tác giả trẻ Trần Ngọc Thịnh. Cuốn sách được viết bởi rất nhiều công sức và tâm huyết của một cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright để dành tặng cho tất cả những bạn trẻ Việt Nam có ước mơ du học nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu.

Tran Ngoc Thinh ra mat sach 'Du hoc khong kho' hinh anh 1
Sách được ra mắt vào ngày Giáng sinh 24/12.

Mục đích chính của cuốn sách là để động viên, khích lệ tinh thần các bạn trẻ Việt Nam hãy lên đường đi du học để lập thân, lập nghiệp và phụng sự tổ quốc để có thể đem kiến thức, kinh nghiệm học được từ nước ngoài đem về góp phần dựng xây đất nước thực hiện đúng lời dặn dò của thế hệ cha anh để xóa nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.Bên cạnh, những câu chuyện người thật, việc thật về những gương điển hình du học sinh vượt khó, cuốn sách cũng chia sẻ hết sức tỉ mỉ những kiến thức, kinh nghiệm để giúp các bạn trẻ có thể hiện thực hóa ước mơ du học của mình. Tác giả sẽ chia sẻ những cách thức để vượt qua các rào cản chính trên con đường du học. Cuốn sách cũng có những bí quyết trong việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn để dành được những suất học bổng du học.

Cuốn sách này cũng là một dự án thiện nguyện mà tác giả phát động nhằm gây quỹ học bổng nhằm hỗ trợ cho các bạn trẻ Việt Nam có thành tích học tập tốt , có ước mơ du học nhưng gặp phải những khó khăn, trở ngại trong quá trình theo đuổi giấc mơ du học của mình. Một phần lợi nhuận từ việc bán sách sẽ được dùng để gây quỹ học bổng. Ngoài ra, tác giả còn vận động thêm từ các nhà tài trợ khác.

Trần Ngọc Thịnh.
Sinh ngày 28/7/1984 tại Hải Dương
Anh là một blogger nổi tiếng với nhiều bài viết chia sẻ về du học và học bổng. Các bài viết chia sẻ về học bổng Fulbright của anh được nhiều người quan tâm tới học bổng danh giá này tham khảo khi nộp hồ sơ. Anh là cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright niên khóa 1999-2011. Anh có bằng Thạc sỹ về Quản trị hành chính công và Quản lý Phi chính phủ.
Công việc chính hiện nay của anh là là chuyên gia tư vấn độc lập cho các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như WB, IFC, ILO, IFAD, ADB…vv Ngoài ra, anh còn là một nhà báo tự do, các bài viết của anh về nhiều chủ đề khác nhau thường xuất hiện trên các báo.
Dự án phát triển và hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội Việt Nam.

Nguồn: https://news.zing.vn/tran-ngoc-thinh-ra-mat-sach-du-hoc-khong-kho-post379523.html

error: Content is protected !!