Cần thay đổi tư duy quản lý văn hóa

LTS: Mình viết bài này cũng cách đây độ mấy tháng và có gửi cho Vietnamnet, sau đó không hề thấy có phản hồi. Thậm chí mình email hỏi tình hình sử dụng bài viết thế nào, họ cũng không có phản hồi luôn, nghĩ là chắc bài không được đăng rồi. Vậy mà hôm nay, khi đi phỏng vấn, người phỏng vấn bảo “em có nói là em có viết báo, vậy em gửi cho anh mấy bài em viết được không?” thì mới về nhà vào Vietnamnet search tên mình để tìm lại những bài mình viết cho Vietnamnet thì lại thấy bài này đã đăng cách đây 1 tháng mà mình không hề được biết. Bài viết này mình viết lấy cảm hứng từ những vụ lùm xùm thời gian gần đây liên quan tới quản lý văn hóa ở Việt Nam. Bài viết không chỉ chỉ ra những kẻ hở trong cơ chế và chính sách quản lý văn hóa hiện hành mà còn đề xuất một sự thay đổi về tư duy quản lý văn hóa, lấy khán giả làm thước đo, tăng cường chế tài xử phạt, xử phạt nghiêm minh, xóa bỏ cơ chế “xin-cho”, và chấn chỉnh lại các cơ quan báo chí tránh để họ tiếp tay truyền bá những thứ “rác rưởi văn hóa” đến cho quần chúng. Những vụ việc gần đây như “liveshow Chế Linh” hay “không duyệt rồi lại duyệt Nguyễn Thị Mơ đi thi hoa hậu” càng làm cho vấn đề trở nên nóng hỏi. Xin chia sẻ với các bạn độc giả bài viết này. 

http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/41686/quan-ly-van-hoa–chap-nhan-nop-phat-de—vi-pham-.html

Trân trọng,

Trần Ngọc Thịnh

Quản lý văn hóa: Chấp nhận nộp phạt để…vi phạm?

(TuanVietNam) – Văn bản quản lý của chúng ta thì nhiều, nhưng chế tài thì lại quá yếu, thực thi luật pháp không hiệu quả. Thành ra có những khi người ta chấp nhận nộp phạt để được vi phạm, vì cái lợi nhuận họ đạt được vượt xa con số mà họ phải nộp.

Trước những biến tướng, và sự ồ ạt xâm lấn của văn hóa lai căng, những hiện tượng phản văn hóa tràn lan đang băng hoại truyền thống, thuần phong mỹ tục của văn hóa dân tộc, một vấn đề cần phải đặt ra là vai trò quản lý của Nhà nước đối với văn hóa.

Tự đặt ra câu hỏi, quản lý Nhà nước đối với văn hóa như thế nào mà vẫn để những hiện tượng phản văn hóa ngang nhiên tồn tại thách thức cơ quan quản lý và công luận. Hay là đã đến lúc chúng ta cần phải thay đổi tư duy quản lý văn hóa.

Pháp luật chỉ tồn tại trên giấy tờ?

Hiện tượng phản văn hóa tràn lan trên các phương tiện thông tin đại chúng, một phần là do khâu quản lý văn hóa của chúng ta còn yếu. Nhưng yếu ở chỗ nào?

Thứ nhất, quản lý văn hóa còn mang nặng tính “xin-cho”. Chính cái cơ chế “xin-cho” này là nguồn gốc phát sinh tiêu cực. Hơn thế nữa, cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa lại quá ôm đồm.

Với nhân lực vừa thiếu, vừa yếu lại đòi quản một lĩnh vực rộng như vậy thì làm sao có thể quản lý nổi. Thử hỏi, Cục
nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch có đủ nhân lực để đi kiểm tra hết tất cả các hoạt động nghệ thuật biểu diễn trên toàn quốc?

Tư duy quản lý phổ biến là “xin-cho”, cái gì mình cũng phải biết, phải cho phép. Thành ra là quản mà như không quản vì có cho quản cũng không thể quản được.

Tư duy quản lý văn hóa của chúng ta lại theo kiểu “không quản được thì cấm”, thành ra đánh đồng tất cả, làm ảnh hưởng tới cơ hội hưởng thụ văn hóa của người dân và cơ hội phát triển văn hóa của những người làm văn hóa chân chính.

Cần phải thay đổi tư duy quản lý này, bằng một khuôn khổ pháp lý, trong đó khuyến khích sự phát triển của mọi loại hình văn hóa, và xử lý những biến tướng văn hóa một cách nghiêm khắc.

Văn bản quản lý của chúng ta thì nhiều, nhưng chế tài thì lại quá yếu, thực thi luật pháp không hiệu quả. Thành ra có những khi người ta chấp nhận nộp phạt để được vi phạm, vì cái lợi nhuận họ đạt được vượt xa con số mà họ phải nộp.

Điều này rất nguy hiểm bởi nó sẽ tạo ra một cách hành xử coi thường pháp luật, đứng trên cả pháp luật. Về lâu dài, khiến người ta “nhờn” pháp luật. Biến pháp luật thành một thứ hình  thức trên giấy tờ là chính.

Có những khi người ta chấp nhận nộp phạt để được vi phạm. Ảnh minh họa

Đâu là thước đo?

Với một tác phẩm văn hóa, ranh giới giữa cái đẹp hay xấu, hở hay không hở, nghệ thuật hay dung tục, phù hợp hay không phù hợp là mỏng manh và mang tính chủ quan tùy theo đối tượng tiếp nhận.

Chính vì lẽ đó, dễ dàng nhận thấy các ca sỹ, những người làm nghệ thuật tung ra những bộ ảnh dung tục, những phát ngôn bừa bãi, thô thiển, lại ra sức biện minh cho các hiện tượng phản thẩm mỹ đó.

Mặc dù bị số đông công chúng phản đối, họ không biết xấu hổ, hay hổ thẹn, thậm chí còn quay sang đôi co, chỉ trích lại khán giả với thái độ coi thường, thiếu tôn trọng.

Việc có những quan điểm trái chiều về một tác phẩm văn hóa là điều dễ hiểu, vì phông văn hóa và kiến thức cảm thụ văn hóa của mỗi người khác nhau. Nhưng không phải vì thế mà những người “sản xuất” ra sản phẩm phản văn hóa lại có thể lý luận, biện minh.

Việc phân định đúng sai, phù hợp hay không phù hợp, phản cảm hay nghệ thuật không nên chỉ trao cho 1 lãnh đạo, hay 1 vụ, cục quản lý nào. Bởi lẽ nó dễ dẫn đến những đánh giá chủ quan của người quản lý. Việc này nên để cho công chúng, trước hết là các chuyên gia am hiểu lĩnh vực, tiếp đó là những người trực tiếp hưởng thụ các tác phẩm đánh giá.

Đánh giá dựa trên số đông của công chúng có trình độ am hiểu, khách quan sẽ là thước đo để cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra quyết định xử phạt dựa trên khuôn khổ pháp lý nghiêm minh.

Vai trò của truyền thông, báo chí

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để đo lường được phản hồi của công chúng? Tôi cho rằng, đây là vai trò quan trọng của các đơn vị truyền thông, báo chí. Với nhiệm vụ đưa tin về các hoạt động văn hóa nghệ thuật diễn ra hàng ngày trên khắp cả nước, các đơn vị truyền thông, báo chí là nơi đưa thông tin văn hóa tới độc giả một cách nhanh chóng nhất.

Các cơ quan báo chí có vai trò phát hiện những hiện tượng văn hóa lệch lạc, lai căng, phản văn hóa để các cơ quan quản lý Nhà nước xử lý. Cơ quan truyền thông báo chí như là cánh tay nối dài của cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa.

Ở đây, cũng phải nhấn mạnh tới việc một số cơ quan truyền thông, báo chí nhiều khi lại trở thành nơi truyền bá những hiện tượng phản văn hóa đến với công chúng. Điều này vô hình chung đã làm cho hiện tượng phản văn hóa đó có cơ hội “hành hạ” đa số công chúng.

Ró ràng, vai trò của cơ quan truyền thông, báo chí là phải hoạt động như một “bộ lọc” văn hóa, loại trừ ngay từ đầu những thứ phi văn hóa, phản văn hóa, không cho phép đăng tải lên trang báo của mình những thứ vốn dĩ đã là “rác rưởi” văn hóa. Cái này đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý, sàng lọc tin tức và quan trọng hơn cả là cái tâm và cái đức của người làm báo. Ngăn chặn việc giới văn nghệ sĩ mua chuộc, thao túng nhà báo, biến các đơn vị truyền thông, báo chí thành công cụ PR để lăng xê bản thân.

Điều này đòi hỏi mỗi một đơn vị truyền thông, báo chí phải xây dựng một bộ quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp và nâng cao mức sống của anh em đội ngũ phóng viên.

Với vai trò quản lý Nhà nước về hoạt động văn hóa nghệ thuật, xin đề xuất với Bộ Văn hóa – Thể thao – du lịch những giải pháp sau:

1. Xây dựng khuôn khổ pháp lý về quản lý văn hóa theo tư duy mới, xóa bỏ cơ chế “xin-cho” nhằm giảm tiêu cực. Xóa bỏ tư duy quản lý ôm đồm. Nhiệm vụ của cơ quan quản lý là giám sát thi hành luật, chứ không phải đi cấp phép, bởi sẽ không bao giờ có đủ nhân lực để đi cấp phép văn hóa. Quản lý theo tư duy kiểu cũ thì sẽ không bao giờ bắt kịp với tốc độ phát triển của văn hóa đặc biệt trong bối cảnh hội nhập ở nước ta.
2.Có một khuôn khổ pháp lý đúng đắn chưa đủ, cần phải có 1 chế tài xử phạt đủ mạnh, đủ nghiêm khắc mang sức răn đe. Không thể xây dựng một chế tài lỏng lẻo, mức phạt thấp sẽ chỉ làm “nhờn” tính thực thi và hiệu lực của pháp luật. Cần đề xuất mức xử phạt nặng, thậm chí tước giấy phép hành nghề, cấm không cho tham gia thị trường văn hóa để chấn chỉnh hiện trạng văn hóa của nước nhà.
3.Nâng cao vai trò và thu hút sự tham gia của công chúng trong việc phát hiện và đánh giá các hiện tượng phi văn hóa, phản văn hóa. Công chúng sẽ đóng vai trò là người cầm cân nảy mực trong việc đánh giá tác phẩm văn hóa là phù hợp hay không phù hợp, là nghệ thuật hay phi nghệ thuật.

 

Để làm được điều này, các phương tiện truyền thông, báo chí tăng cường tính tương tác với độc giả. Với mỗi tin bài về một hiện tượng văn hóa, quy định rõ ràng thành luật là phải có một khảo sát đo lường đánh giá, phản hồi của công chúng thay vì chỉ đưa tin chung chung.

 

Dựa trên đánh giá đó mà cơ quan quản lý văn hóa sẽ đưa ra những biện pháp xử lý nghiêm minh, nhằm ngăn chặn sự “đôi co” phí phạm thời giờ và tốn kém giấy mực, vô hình chung lại càng lăng xê những hiện tưởng phản văn hóa đó.

Trần Ngọc Thịnh

Ngân hàng Xây dựng

Bài này được biên tập lại và đăng trên Vietnam Economic Forum (VEF) tại địa chỉ http://vef.vn/2012-02-24-ngan-hang-xay-dung-co-can-luc-nay- ) . Bài dưới đây là bài gốc.

 

—-

 

Hiệp hội Bất động sản Việt Nam vừa có đề xuất với Bộ Xây Dựng về việc thành lập Ngân hàng Xây dựng Việt Nam. Bộ Xây Dựng cũng đã có công văn đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét đề xuất này của Hiệp hội Bất Động Sản. Tuy nhiên, trong bối cảnh chúng ta đang tập trung vào tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và khi thị trường bất động sản đang đóng băng thì liệu rằng đây có phải là thời điểm thích hợp để thành lập một ngân hàng mới?

 

Thời gian vừa qua, Bộ Xây Dựng đã có những động thái rất tích cực trong việc tìm kiếm giải pháp khơi thông thị trường bất động sản, huy động vốn để phát triển nhà ở cho người nghèo, người thu nhập thấp nhưng tiếc là những ý tưởng, đề xuất đó còn thiếu tính khả thi và chưa phù hợp với bối cảnh thị trường tại thời điểm đưa ra đề xuất.

 

Cách đây không lâu, tôi đã có một bài phản biện chính sách về đề xuất của Bộ Xây Dựng trong việc đề xuất Quỹ Nhà ở xã hội (http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/36088/ai-tu-nguyen-dong-quy-tiet-kiem-nha-o-.html) . Trong bài viết đó, tôi đã đưa ra những phân tích để chỉ ra những điểm chưa hợp lý, không khả thi trong đề xuất này. Bài viết này sẽ tập trung phân tích những vấn đề liên quan tới đề xuất thành lập Ngân hàng Xây dựng của Hiệp hội Bất động sản.

 

Thứ nhất, tôi cho rằng thời điểm đề xuất thành lập Ngân hàng Xây dựng là chưa phù hợp bởi lẽ trong bối cảnh suy thoái kinh tế, một trong những mục tiêu quan trọng Chính phủ đặt ra là phải tái cơ cấu hệ thống kinh tế mà trong đó tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là rất quan trọng. Hiện nay Việt Nam đang có tương nhiều ngân hàng trên thị trường. Trong đó có rất nhiều ngân hàng mới có tăng trưởng tín dụng kém, gặp khó khăn trong việc đảm bảo thanh khoản gây mất an toàn cho hệ thống. Sau một thời gian cấp phép thành lập Ngân hàng một cách ồ ạt, Ngân hàng Nhà nước đã phải ngừng cấp phép thành lập mới ngân hàng. Trong thời điểm rà soát lại hệ thống ngân hàng hiện nay, có lẽ chưa phải là thời điểm phù hợp để thành lập một ngân hàng mới.

 

Thứ hai, hiện nay hệ thống ngân hàng Việt Nam có tương đối nhiều ngân hàng huy động vốn và cấp tín dụng cho mục đích xây dựng. Bên cạnh hầu hết các ngân hàng thương mại đang cấp tín dụng cho các doanh nghiệp bất động sản, thì Việt Nam cũng có một số ngân hàng chuyên trách hỗ trợ cho mục tiêu xây dựng. Ví dụ như Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB), Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP) cũng có chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người nghèo, người thu nhập thấp theo diện chính sách. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (VBARD) cũng có dự án hỗ trợ xây dựng và cải tạo nhà ở do Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tài trợ. Trong lĩnh vực bất động sản cũng đã có Ngân hàng phát triển nhà Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) và ngân hàng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội (HABUBANK). Khi một hệ thống các ngân hàng hiện có như hiện nay, thì việc lập mới một ngân hàng xây dựng theo đề xuất của doanh nghiệp bất động sản có lẽ là chưa cần thiết. Chưa kể, sẽ khó có một ngân hàng nào chỉ giới hạn cho vay với các doanh nghiệp bất động sản bởi lẽ như vậy tăng trưởng tín dụng sẽ thấp đặc biệt khi các doanh nghiệp bất động sản đang gặp khó khăn khi thị trường đóng băng như hiện nay.

 

Thứ ba, vào thời điểm thị trường bất động sản đang đóng băng như hiện nay, các doanh nghiệp bất động sản đang hoạt động cầm chừng, nhiều doanh nghiệp phải giảm giá sản phẩm để bán tháo, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn đứng trước nguy cơ phá sản thì e rằng việc thành lập Ngân hàng xây dựng vào thời điểm này là chưa hợp lý. Hơn nữa, ngân hàng nhà nước đang có động thái hạ lãi suất khiến cho hoạt động huy động vốn từ người dân không còn trở nên hấp dẫn so với các loại hình đầu tư khác nên e rằng ngân hàng xây dựng đề xuất thành lập sẽ gặp khó khăn trong huy động vốn. Nếu như thị trường bất động sản đang trong giai đoạn phát triển thị vượng, thị trường không rơi vào suy thoái thì phù hợp hơn khi đề xuất thành lập ngân hàng mới.

 

Thứ tư, một băn khoăn nữa là về quản trị ngân hàng mới. Tôi không rõ là đơn vị nào sẽ góp vốn và tham gia quản trị ngân hàng mới này. Nếu là một Hiệp hội thì nhiệm vụ chính của họ là đại diện cho các doanh nghiệp thành viên chứ không phải là sở hữu một ngân hàng, bởi lẽ nếu Hiệp hội sở hữu một ngân hàng thì e rằng Hiệp hội sẽ rơi vào tình thế khó khăn khi quyết định ngân hàng xây dựng sẽ rót vốn cho thành viên này mà không phải là thành viên kia. Khi đó nguy cơ xảy ra xung đột lợi ích hiện hữu. Nếu như Ngân hàng Xây dựng do các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội bất động sản góp vốn thành lập thì cũng bất hợp lý, bởi lẽ họ đang thiếu vốn, và gặp khó khăn trong thanh toán nợ ngân hàng thì lấy đâu tiền ra để đầu tư làm ngân hàng. Ngay cả trong trường hợp, Ngân hàng Xây dựng được thành lập bởi một tổng công ty Nhà nước thuộc Bộ Xây Dựng thì có lẽ là không hợp lý khi đầu tư ngoài ngành của các doanh nghiệp nhà nước thời gian vừa qua đang bị báo động vì kém hiệu quả nhìn từ bài học nhãn tiên của Tập đoàn Điện Lực.

 

Mặc dù, đánh giá cao những nỗ lực của Bộ Xây Dựng trong việc tìm kiếm các giải pháp nhằm khai thông thị trường nguồn vốn nhằm phát triển thị trường nhà ở cho người nghèo, người thu nhập thấp, với những phân tích ở trên, tôi đề xuất Bộ Xây Dựng và Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu kỹ lưỡng về việc thành lập Ngân hàng Xây dựng trong thời điểm hiện nay. Có lẽ vào bối cảnh thị trường như hiện nay, theo ý kiến cá nhân tôi, việc thành lập mới một ngân hàng xây dựng theo đề xuất của Hiệp hội Bất động sản là chưa chín muồi.

error: Content is protected !!