Danh sách các học bổng để đi du học sau đại học

Korean Government Scholarships 

The Korean Government Scholarship Program is designed to provide higher education in Korea for international students in order to promote international exchange in education and mutual friendship between the participating countries.
Duration

  • Master’s : 3 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2013) – 1 yr. of Korean language + 2 yrs. of Master’s
  • Doctoral : 4 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2014) – 1 yr. of Korean language + 3 yrs of Doctoral
  • Integrated Master’s & Doctoral : 5 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2015) – 1 yr. of Korean language + 4 yrs. of Integrated Master’s & Doctoral

Application Qualifications

  • Both applicant and his/her parents must be citizens of the foreign country. Applicants cannot have Korean citizenship.
  • Applicants should be in good health, both mentally and physically, to stay in Korea for a long period of time.
  • Should be under 40 years of age as of September 1, 2010
  • Hold a Bachelor’s or Master’s degree as of September 1, 2010
    * Applicants who are enrolling or have already enrolled in the same academic program in Korea as the one they are applying for will not be admitted.
    * For Master’s program (or Integrated Master’s & Doctoral program): students who hold a Bachelor’s degree or a diploma that is equivalent to or higher than Bachelor’s degree
    * For Doctoral program: students who hold a Master’s degree or a diploma that is equivalent to or higher than Master’s degree.
    * Applicants who are expecting the adequate diploma should present their diploma by September 1, 2010 before entry.
  • Should have a grade point average (G.P.A.) at least 2.64 on a 4.0 scale, 2.80 on a 4. 3 scale, 2.91 on a 4.5 scale or grades/marks/score of 80% or higher from the previous attended institution
    * If the grade is difficult to convert to percentage, official explanatory documents from the attended university are required.

Click here to download Application
Moreinfo: http://www.niied.go.kr

Kinh nghiệm apply học bổng New Zealand 2012

Tác giả: Lê Quang Kiệt (NZ ASEAN Scholarship holder 2012)

(Định post cái này vào dịp Tết nhưng sau khi đi “thăm dò” một vài người thân thiết, ai cũng khuyên nên post đi, có đứa còn càm ràm mình “Chuyện tốt chứ có gì đâu mà giấu thấy ghê!”, nên thôi, post đại, ai hông thích thì đừng “ném đá”, tội nghiệp em lắm 🙁 )

Ngày bé, vẫn luôn nghĩ rằng: hễ mình chăm chỉ, luôn cố gắng, sống tốt với mọi người thì mọi người cũng sẽ tốt với mình, rằng mọi điều tốt đẹp sẽ đến với mình. Lớn lên, đi học, đi làm, nhận ra rằng: không hẳn mình tốt với người khác thì người khác cũng sẽ tốt với mình; người hướng thiện và chăm chỉ không hẳn sẽ luôn thành công… Nói chung là thấy cuộc sống này nhiều bất công…

3 năm trước, hăm hở đi kiếm học bổng để đi học. Đi du học – với một đứa cực ghét những bài học thuộc lòng, kiểm tra theo kiểu “chép chính tả”, những lí thuyết sáo rỗng – chẳng phải là để chạy theo bằng cấp hay phô trương, lòe thiên hạ, mà chỉ đơn giản là để nạp thêm kiến thức, mở rộng vốn sống. Tự nhiên nghĩ: hễ người ta đã “bay” ra được với thế giới ngoài kia một lần, khát khao được bay tiếp, bay xa hơn, cao hơn là điều hiển nhiên.

Đi du học, chí ít là còn để nuôi ước mơ thay đổi cuộc đời mình, gia đình mình – nhất là với những đứa có hoàn cảnh gia đình khó khăn như mình. Chỉ những ai phải xuất phát từ những vạch đầu tiên đầy chông chênh, trắc trở và nhiều gian khó mới thấy được hết những rào cản của cuộc sống này.

“Lỡ đò” hết vài lần, cay đắng nhận ra những thứ không thuộc về mình thì sẽ mãi mãi không thuộc về mình, chán nản nhận ra có những thứ tưởng chừng dễ nhưng hễ dính dáng tới giấy tờ là sẽ thành rắc rối to.

Tháng 6, giấc mơ đi học lại bùng cháy. Âm thầm làm hồ sơ với quyết tâm: lần này mà không được là sẽ không bao giờ nộp nữa! Rồi cũng như những lần trước, đi xin giấy tờ, đi xin chứng nhận, lên mạng lục tung thông tin ngành học, trường học…

Tháng 7 – những đắn đo suy nghĩ, về mình, về gia đình, những lo lắng như ai sẽ chăm cho bố mẹ khi mình vắng nhà làm mình chùn bước. Rồi đánh tiếng thở dài, lại quyết tâm nộp. Số đến khổ! Gửi hồ sơ ngay ngày cuối cùng người ta nhận, mà lại còn bị đến trễ hơn so với giờ quy định. Cũng may, bộ phận tiếp nhận hồ sơ vẫn nhận.

Tháng 8 – một buổi trưa thứ 6, nhận một cuộc điện thoại từ Hà Nội mà vẫn không tin vào tai mình: được gọi đi phỏng vấn.

Tháng 9 – bước vào phòng phỏng vấn với tâm trạng cực kỳ thoải mái và dễ chịu. Phỏng vấn xong còn thấy thoải mái hơn, ít nhất cũng đã nói được hết những gì mình nghĩ, mình dự định…

Tháng 10 – nhiều hy vọng nhưng vẫn không dám tin mình có cơ hội bởi so với những ứng viên khác, hồ sơ của mình chẳng “đẹp” hay “mịn” gì cả. Giữa lúc không dám tin ấy, cái email với dòng chữ “Congratulations” ấy đã “bay” vào hộp thư mình. Khóc tu tu như trẻ con bị mẹ đánh…

17-11 – còn những 4 tháng (hay chỉ còn 4 tháng?) nữa, sẽ xách vali đi Auckland, bắt đầu quay lại thời SV, chăm chỉ trong 2 năm để lấy bằng Thạc sĩ. Còn sau đó? Chuyện gì đến sẽ đến, chưa dám nói trước… Chỉ biết và chỉ mong, những điều tốt đẹp sẽ đến…

Và nếu bạn vẫn còn đang thắc mắc, không biết cái thằng ít tóc, lắm lời, hay khó chịu mà vẫn từng gặp, từng biết đang nói cái gì, thì đây: mình đã nhận được học bổng của Chính phủ New Zealand để đi học Thạc sĩ tại Unitec – Institute of Technology, Auckland và sẽ lên đường vào nửa cuối tháng 2-2012.

Và nếu bạn vẫn luôn nghĩ rằng những đứa gia đình khó khăn sẽ không có điều kiện tiếp cận với những nguồn học bổng như thế này? Suy nghĩ lại đi! Mình là con nhà nghèo chính hiệu nhé!

Và nếu bạn vẫn luôn nghĩ rằng, để được học bổng, bạn phải tốt nghiệp những trường danh giá, rằng bạn phải nắm trong tay giải thưởng này nọ, rằng bạn phải đi học tiếng Anh ở một trung tâm nổi tiếng nào đó? Suy nghĩ lại đi! Mình đã tự học tiếng Anh, với người thầy là sách, là nhạc, là những người bạn nước ngoài đi du lịch theo kiểu Tây “balô”… Những khóa học tiếng Anh để “học chiêu” đạt điểm cao với mình là quá xa xỉ và tốn kém…

Và nếu bạn vẫn luôn nghĩ học bổng du học chỉ dành cho những ai có điểm số cao!? Nghĩ lại luôn đi! Điểm của mình thấp tè, 7.54/10 (hay 3.02/4) mà thôi!

Hay giả như bạn vẫn luôn nghĩ là rớt học bổng liên tiếp nghĩa là bạn không còn cơ hội nữa?! Suy nghĩ lại nhé?! Mình đã rớt và vẫn được!

Với những ai vẫn đang ấp ủ niềm hy vọng, khát khao và ước mơ vươn lên, hãy nuôi dưỡng ước mơ của mình! Xấu hổ là khi có ước mơ mà không dám nắm lấy cơ hội, chấp nhận rủi ro để thực hiện ước mơ. Còn nếu chẳng may không thành, chẳng có gì đáng phải xấu hổ cả! Cứ đi rồi sẽ đến, cứ gõ cửa sẽ mở! Thà đi đường vòng, nhiều chông gai, thách thức mà thành công của nó còn vinh quang, rực rỡ hơn gấp nhiều lần đi đường thẳng, được người khác trải thảm.

 

Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường – mình vẫn tin như vậy…

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

Minh Bùi tên đầy đủ là Bùi Quang Minh tên thường gọi là Minh Beta, sinh năm 1983 là một người bạn của Thịnh. Minh Bui apply học bổng Fulbright nhưng sau đó lại xin học bổng của trường Harvard chứ không lấy Fulbright nữa. Dưới đây là bài viết tóm tắt quá trình apply MBA và chia sẻ kinh nghiệm của Minh Bui. Minh nghĩ sao viết vậy, hy vọng giúp ích được ít nhiều cho các bạn sẽ apply những năm tới.

 

 

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

 

… Gọi là giấc mơ Harvard vì cái tên này là ước mơ của mình từ khi còn học high school ở Ams. Lúc đó nó chính xác là một giấc mơ, rất rất xa vời. Đến giờ, khi nghĩ đến việc mình sắp được sang Harvard để học MBA, mình vẫn còn lâng lâng :D.

 

Disclaimer: Cái note này ghi chép lại những kinh nghiệm cá nhân của mình trong quá trình apply để đi học MBA. Những đánh giá và nhận định ở đây có thể mang tính chủ quan. Mình viết bài này để dành riêng cho mình, và cũng mong muốn chia sẻ một chút gì đó với các bạn đi sau. I tend to rant, so bear with me. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng nhé 😀

 

Quick facts (cho các bạn chưa biết về MBA):

  1. MBA là gì: MBA = Master of Business Administration, tức là Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh. Khác với các bằng thạc sĩ khác, MBA đa số đều yêu cầu bạn có kinh nghiệm làm việc một vài năm. Bạn không cần phải có background về business/economics để học MBA, hầu như ngành nào cũng có thể theo học MBA.
  2. GMAT là gì: GMAT là một bài test mà hầu hết các trường danh tiếng đều yêu cầu khi bạn apply học MBA
  3. Học MBA làm gì: Để nâng cao kiến thức về lĩnh vực quản trị & kinh doanh (duh), để chuyển từ công việc chuyên môn lên các vị trí quản lý, để được tăng lương (nếu bạn xác định muốn đi làm cho các công ty/tập đoàn sau khi tốt nghiệp) hoặc để nâng cao kỹ năng về business start-up nếu bạn muốn làm riêng.
  4. Bằng MBA khá có giá trị, nhất là các trường top. Ví dụ như các sinh viên của Harvard và Stanford khi tốt nghiệp có rất nhiều cơ hội việc làm, với mức lương khởi điểm trung bình lên tới $140,000 một năm chưa kể bonus cuối năm.  Vì nó có giá trị nên rất nhiều người muốn theo học, như Stanford có đến hơn 7000 hồ sơ xin học cho lớp học hơn 300 sinh viên, mà toàn là các nhân vật hoành tráng apply cả.

 

I.               MY STATS:

 

–       Mình qua Úc học bằng học bổng AusAID của chính phủ Úc, tốt nghiệp Sydney University năm 2007 với bằng 1st class honors, có một vài awards và học bổng của trường.

–       GMAT 750 (Q50, V41) or 98 percentile.

–       TOEFL được waiver nhưng lúc thi để nộp Fulbright là 113/120 TOEFL iBT.

–       Work: 2 năm làm research/trading commodities ở Louis Dreyfus Commodities (công ty MNC về commodities, gốc Pháp, văn phòng ở Singapore), sau đó về VN mở business riêng (DOCO Donuts & Coffee), rồi vừa run biz vừa rejoin LDC, văn phòng ở Việt Nam (senior position).

–       Extra: Vice President của hội sinh viên VN ở NSW, Úc (VDS), tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, một vài giải thi hát, 1 bài hát đã released, tham gia 1 vài dự án phim ảnh linh tinh…

 

II.              KẾT QUẢ APPLY:

 

(Khi viết tên các trường mình sẽ mở ngoặc kèm theo Rank xếp hạng chương trình, theo US News 2013 để các bạn dễ hình dung, ví dụ Harvard (#1) và Stanford (#1) vì 2 trường này đồng hạng cao nhất trên US News)

 

–       Tháng 4/2011, mình apply học bổng Fulbright (học bổng toàn phần của chính phủ Mỹ). Tháng 9 thì nhận được học bổng này. Bước tiếp theo là apply vào các trường.

–       Fulbright đứng ra apply cho mình vào 4 trường: Stanford (#1), UC Berkeley (#7), UCLA (#15), và Emory (#19).

–       Cả 4 trường này mình đều phải làm hồ sơ như 1 applicant bình thường. Ngoài ra mình còn tự apply thêm nhiều trường nữa – tổng cộng là hơn 10 trường, tất cả đều cùng một Round với deadline trong tháng 1/2012. Lý do: Sợ là không vào được trường nào, apply nhiều cho chắc. Lúc đó mình đang có học bổng Fulbright nên sống chết cũng phải vào được 1 trường nào đó.

–       Kết quả: mình được nhận vào tất cả các trường mình applied (Harvard, Stanford, Wharton, Berkeley Hass, Cambridge, Chicago). Đa số các trường đều cho $$$. Có một vài trường mời đi phỏng vấn thì mình từ chối vì lúc đó đã có Admit của các trường mình thích hơn rồi. Đa số các trường đều cho học bổng. 3 trường xếp hạng cao nhất là Stanford (#1), Harvard (#1),  và Wharton của U.Penn (#3) release kết quả vào 3 ngày liên tiếp là 28, 29, 30 tháng 3 (!)… và mình được Admitted vào cả 3 trường. Rất rất hài lòng với kết quả này, vì thật sự thì đây là một điều khá ít khi xảy ra, kể cả với các bạn Mỹ. I’m really proud of this achievement.

 

III.            VÀI KINH NGHIỆM CHUNG

 

1.     Start early:

–       Nếu mình có lời khuyên nào cho các bạn, thì lời khuyên quan trọng nhất là hãy chuẩn bị càng sớm càng tốt. Nếu bạn xác định được là mình muốn theo học MBA thì bạn sẽ chú ý để luyện tiếng Anh nhiều hơn, có thêm thời gian học GMAT, đạt kết quả học tập ở bậc đại học tốt hơn, và chăm chỉ tham gia các hoạt động ngoại khóa hơn…

–       Đến giai đoạn nước rút thì thời gian càng quan trọng. Mình chỉ có 2 tháng để thi lại GMAT và viết essays, and I kick myself often for delaying all this until the last minute.

 

2.     Aim high:

–      Năm 2011, khi đã xin được học bổng Fulbright, mình còn không có ý định apply lại vào Harvard vì tự nhiên lúc đó thấy lười biếng và nghĩ thôi học trường nào cũng được. Đó là lý do mình không ôn lại GMAT sớm hơn và không apply trường nào ở Round 1. Đến khi bắt đầu apply ở Round 2 thì càng ngày càng máu và lúc đó mới quyết tâm apply vào Harvard và Stanford. Lúc này thời gian không còn nhiều nữa, mình vừa phải đi làm, vừa phải ôn GMAT và vừa phải viết essays trong khoảng thời gian rất ngắn.

–       Nếu tâm lý mình không thay đổi kịp, thì mình đã không apply vào Harvard và Stanford, và mình cũng không lo thi lại GMAT hay chắm chúi đầu tư vào essays. Không apply thì đương nhiên không được nhận.

–       Do đó, mình khuyên các bạn chuẩn bị sớm và aim high để đạt kết quả tối ưu.

 

3.     Know your story and be focused:

–       Mình khá là may mắn vì các công việc và ngành học của mình lại rất liên quan đến nhau. Nói là may mắn vì mình không plan trước những việc này, mà toàn là hứng lên thì theo, may thế nào lại vẫn liên quan 😀

–       Nếu các bạn xác định được từ sớm, thì bạn hãy nhìn sự nghiệp của mình như một cái cây đang lớn thẳng. Hãy biết bạn đang ở đâu, bạn đang mọc như thế nào và bạn muốn vươn đến đâu. Các công việc của bạn nên nằm trên đường thẳng đó, hoặc là đừng có chệch quá và đừng nhảy lung tung. Nếu bạn thay đổi liên tục, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi giải thích những quyết định này – Admissions people sẽ nghĩ quyết định học MBA của bạn cũng là 1 cái random choice.

–       Sẽ tuyệt vời hơn nữa nếu bạn kết nối được cái cây đó đi xa hơn nữa, đến những điểm bắt đầu là tuổi thơ, là quá khứ, là cội nguồn, là những mong ước thơ bé của bạn. Nếu đường thẳng đó chạm được đến những cái gốc rễ sâu kín nhất thì nó sẽ vững chắc hơn nhiều, và như một cái cây có gốc, nó sẽ dễ đơm hoa kết trái hơn!

–       Ví dụ như câu chuyện của mình: Mình học đại học với 3 majors, gồm có Economics, Finance và Agribusiness. Công việc của mình ở Louis Dreyfus là về commodities (research và buôn bán đường, coffee, oilseeds… cả futures contracts lẫn physical products). Mình đã start-up DOCO Donuts & Coffee – về lĩnh vực thực phẩm ăn uống. Khi viết essays, mình đã nhắc đến quá khứ nghèo khó của gia đình, khi mà thực phẩm là nỗi ám ảnh và là mong ước hạnh phúc. Mình đã nhắc đến những người họ hàng gần còn nghèo khó, phải chạy bữa hàng ngày. Và mình nói về kế hoạch trong tương lai: làm về food processing, để bring customers food and happiness, để tạo việc làm cho nhiều người và để benefit Vietnam’s agriculture.

 

4.     However, be fun

–       Sự nghiệp của bạn nên là 1 cái cây lớn thẳng, nhưng bạn nhớ tô màu cho nó. Đừng quá tập trung vào việc học tập và công việc mà quên đi các lĩnh vực khác.

–       Hãy là một leader trong mọi lĩnh vực, kể cả trong hobby của bạn. Đối với mình, mình thích âm nhạc và hát hò, nên cái hobby này đã đi suốt với mình từ khi mình còn học đại học. Hãy dùng mọi resouces của bạn để vừa enjoy cái hobby đó, vừa làm được điều gì có ích và phát triển kỹ năng leadership của mình.

–       Trong bài essays và khi phỏng vấn, Ad-com tỏ ra rất quan tâm khi mình viết về dự án âm nhạc của mình (Việt Nam ơi). Thậm chí họ còn mở bài hát trên youtube ra xem :D.

–       Mình nghĩ ad-com đánh giá cao các ứng viên năng động, dám sống hết khả năng với các lĩnh vực mình quan tâm.

 

5.     Be humble, personal and sincrere

–       Khi làm hồ sơ xin học, nhất là cho các trường top, nhiều bạn có tâm lý là phải gồng mình lên để thể hiện. Don’t. Hãy để các con số và các thông tin khác trong Data Sheet tự nói lên các thành quả của bạn, đừng kể lể quá nhiều về chúng.

–       Các trường rất kị các ứng viên arrogant. Họ muốn tìm các ứng viên khiêm tốn và thành thật. Họ muốn thấy bạn đã có những thành công nhất định nhưng lại rất open to learn, và willing to change.

–       Khi viết essays, mình viết nguyên 1 bài essay khá personal, lead bằng cái tên Minh Beta. Mình giải thích tại sao mình chọn cái tên này, và nó liên quan gì đến cách suy nghĩ và nhìn nhận của mình. Đây là 1 đoạn trích trong bài essay cho Harvard:

 

Answer a question you wish we’d asked? (400 words)

 

I wish you’d asked: “Why do you often go by the name Minh Beta?”

 

I have used this pseudonym for years to distinguish myself from others named Minh Bui, a popular Vietnamese name. I appreciate that Beta refers to an “unfinished” product, which resonates with my life’s philosophy; I consider myself a “work in progress” and a change agent, constantly seeking self-improvement and subsequently creating positive societal change.”

 

6.     Apply for as many as you can!

–       Nhiều người sẽ khuyên bạn là nên tập trung vào 1 vài trường thôi. Mình thì nghĩ khác. Chiến lược của mình là tập trung apply vào 3-4 trường chính, nhưng rải hồ sơ khắp nơi. Kinh nghiệm của mình là các trường thường hỏi nhưng câu essays khá giống nhau, nếu không giống thì cũng biến tấu từ essay này sang essay kia được, và không mất quá nhiều thời gian. Tất nhiên là cái này tùy vào goal của từng bạn, và đương nhiên là đừng mất công apply vào trường nào bạn không định đi học nếu được nhận. Apply vào nhiều trường thì khả năng được nhận vào trường tốt của bạn sẽ cao hơn.

–       Mình apply cả chục trường, và dùng bài luận của Berkeley và Harvard làm gốc để phát triển ra essays của các trường khác. Trong tháng 1/2011, trung bình 2 ngày mình apply 1 trường. A lot of copy and paste! Nhưng đương nhiên là mình phải nhào nặn cho khớp câu hỏi của từng trường. This strategy worked for me.

 

IV.            CÁC YẾU TỐ RIÊNG

 

1.     GMAT

 –       Mình không có bí quyết ôn thi gì đặc biệt, nhưng mình khá là thích GMAT vì nó rất “smart”. Vì thích nên mình cảm thấy học cũng dễ vào hơn.

–       Mình recommend các bộ sách: Official, Manhattan và Sentence Correction Bibble. Trang web của Manhattan với các bài tests cũng rất hay và sát với bài thi thật.

–       Kỹ năng quan trọng bậc nhất của GMAT là quản lý thời gian. Cái này tuy đơn giản nhưng bạn phải thật sự kỷ luật. Mình thi GMAT mấy lần mà khi thi lần cuối vẫn không thật sự gò mình theo biểu đồ thời gian hợp lý được, vẫn bị tâm lý la cà và “làm cố” để đúng.

 

2.     Resume

 –       Ngắn gọn hết sức. Resume của mình nộp cho các trường chỉ 1 trang. Năm nay Harvard thay đổi essays ngắn hơn năm ngoái rất nhiều, nên Resume có lẽ phải dài hơn. Nhưng dù gì thì cũng mình nghĩ không nên để Resume quá dài.

–       Dùng “Action verbs”, các từ mạnh, mang tính tích cực. Tham khảo: http://www.ocs.fas.harvard.edu/students/resources/resume_actionwords.htm

–       Cố gắng miêu tả thành quả và kinh nghiệm bằng các con số và chỉ số cụ thể mang tính định lượng. Đừng miêu tả chung chung.

–       Nếu có thể thì hãy viết resume để nêu bật được định hướng và khả năng về leadership của bạn.

 

3.     Essay

 –       Liệt kê tất cả những gì bạn muốn chuyển tải ra và tìm cách “nhét” chúng vào các câu trả lời Essays. Một hướng tốt là liệt kê các câu chuyện theo nhiều chiều, nhiều phương diện. Các câu chuyện của bạn nên phản ánh nhiều chiều về cuộc sống của bạn, về thời gian (cũ vs gần đây), lĩnh vực (công việc v.s sở thích), cá nhân v.s cộng đồng…

–       Hãy nhớ là Data sheet đã chuyển tải được khá nhiều thông tin về bạn, nên đừng phí nhiều word count ở Essay để lặp lại thông tin.

–       Do not brag! Tell things the way they are. People will be impressed if your stories are impressive.

–       Cố gắng viết súc tích và truyển tải càng nhiều thông tin càng tốt. Mình đã bỏ rất nhiều thời gian để dò từng

chữ một, cân nhắc chữ nào cần chữ nào không. Vì bạn chỉ có ngần đó chữ, make them count!

–       Khi viết essay và chuẩn bị hồ sơ, hãy tiên lượng những mối băn khoăn người đọc sẽ hỏi về bạn. Tại sao bạn lại chọn công việc này? Tại sao bạn bỏ việc kia? Tại sao bạn thích hát mà không đi làm ca sĩ chuyên nghiệp… Bạn chỉ có một cơ hội để giải thích những điều này trong hồ sơ. Nếu Adcom (Admissions Committee) có băn khoăn điều gì thì họ cũng sẽ không có cơ hội hỏi bạn – until U get an interview. Mà với các trường top thì họ có quá nhiều good applicants – they simply wont take the risk.

 

4.     Interview

 –       Tùy trường, nhưng theo mình thì Interview chỉ để họ hiểu thêm về bạn. Tất nhiên cũng tùy từng trường hợp, nếu application của bạn thật sự tốt thì Interview chỉ để confirm điều này. Cũng có thể là họ thích hồ sơ của bạn nhưng có một vài thắc mắc… hoặc là họ đã định cho bạn Out nhưng muốn cho bạn thêm một cơ hội cuối cùng. Nhìn chung thì Interview không mang quá nhiều sức nặng – trừ khi bạn perform exeptionally well/badly, đó là cảm nhận của mình.

–       Lời khuyên này bạn sẽ nghe nhiều & thấy nhàm, nhưng vẫn đúng: Just be yourself. Các trường chỉ muốn thấy bạn là người tự tin, có common senses, nhanh nhạy và có thể survive in the business world.

–       Nhưng đồng thời, preparation is the key. Khi chuẩn bị phỏng vấn cho Harvard, mình đã list ra tất cả các điều trên trời dưới bể họ có thể hỏi và ứng phó thử, để nếu không may họ hỏi một vài câu hỏi cắc cớ thì mình không bị động. Cuối cùng thì buổi phỏng vấn diễn ra rất tự nhiên, như là coffee chat vậy (thank god!).

 

Mình cũng chỉ biết đưa ra các lời khuyên chung chung như vậy để các bạn tham khảo. Nếu bạn nào có câu hỏi cụ thể thì có thể tham gia vào buổi Coffee Chat tại Hà Nội vào ngày 26/6 tới.

 

Nguồn: Minh Bui (Minh Beta)

 

Kinh nghiệm giành học bổng Chevening ngay lần đầu đăng ký

Lê Minh Khương là một trong những người đã vinh dự nhận học bổng danh giá Chevening 2012/2013. Bạn đã lên đường sang Anh để theo học ngành Truyền thông doanh nghiệp tại University of West London.

Hi vọng những kinh nghiệm của Minh Khương sẽ giúp ích cho các bạn chinh phục được học bổng danh giá này.

Xin chào Minh Khương, chúc mừng bạn đã giành được học bổng Chevening. Bạn có thể cho biết bạn đã biết đến Chevening như thế nào và quy trình đăng kí ra sao không?

Mình biết đến Chevening khi đọc quyển bút ký “Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương” của chị Ngô Thị Giáng Uyên. Chị cũng giành được học bổng Chevening học MBA năm 2004. Lúc đó trong hình dung của mình, Chevening là một học bổng vô cùng danh giá mà mình không dám mơ tới. Mãi tới lúc thầy giáo hướng dẫn luận văn ngành ngôn ngữ Anh của mình khuyến khích mình nộp, lúc đó mình mới bắt đầu tìm hiểu về học bổng này.

Về quy trình đăng ký học bổng, mình có thể nói rằng quy trình đăng ký không khó, nhưng có sự sàng lọc rất cao. Chevening có hàng ngàn hồ sơ nộp mỗi năm nhưng chỉ có 30 người lọt vào vòng phỏng vấn. Trong số đó chỉ chọn ra 10 người nhận học bổng. Sau khi apply, khoảng cuối tháng 3 Đại sứ quán sẽ liên lạc bạn nếu bạn lọt vào vòng phỏng vấn. Sau đó danh sách những người đạt học bổng Chevening sẽ được thông báo.

Theo bạn, đâu là những điểm cộng đã giúp hồ sơ của bạn đặc biệt hơn những ứng cử viên khác? Bạn đã chuẩn bị những gì cho hồ sơ xin học bổng của mình?

Theo mình điểm cộng là sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho học bổng. Trước hết, khi đăng ký cần đọc kỹ yêu cầu của học bổng. Như khi mình đăng ký học bổng Cheveing, các điều kiện tiên quyết là: Tốt nghiệp loại giỏi, IELTS 6.5, bản tuyên ngôn cá nhân (personal statement) phải chứng tỏ bạn có thể là “nhà lãnh đạo tiềm năng và những người có tầm ảnh hưởng trong tương lai, phát triển bản thân và nâng cao kiến thức và chuyên môn mới để đóng góp vào sự phát triển của nước nhà sau khi trở về”.

Khi đã biết yêu cầu của học bổng, để hồ sơ nổi bật và thuyết phục, mình phải chứng minh mình có khả năng và sự phù hợp. Vì mình học chuyên ngành ngôn ngữ nhưng nộp đơn vào ngành truyền thông nên mình cần chứng minh mình có khả năng và sự phù hợp cho ngành này:

Vốn tiếng Anh tốt giúp bạn có được lợi thế giao tiếp lưu loát và tự tin hơn với người phỏng vấn. Chevening yêu cầu IELTS 6.5 nhưng để “lọt vào tầm ngắm” của người xét hồ sơ, bạn nên có IELTS ít nhất là 7. Thành tích học tập tốt đúng như yêu cầu của Chevening. Bạn nên có sẵn thư nhập học của một trường bất kỳ (Admission/Offer letter) để chứng mình bạn đủ điều kiện học. Nêu các kinh nghiệm làm việc liên quan đến các lĩnh vực ưu tiên của Chevening. Và cuối cùng là có sự cống hiến trong cộng đồng, xã hội:  Mình từng dạy tiếng anh cho các em học sinh bảo trợ của tổ chức phi chính phủ của Pháp – Passerelles numériques tại Đà nẵng, tham gia phiên dịch cho một số hội nghị quốc gia như Hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN 2008. Mình ít tham gia Đoàn hội nào mà chỉ tập trung vào kinh nghiệm tình nguyện cho các tổ chức từ thiện như gây quỹ, tham gia giảng dạy tiếng Anh. Lúc nộp học bổng, mình liên lạc các tổ chức này xin xác nhận.

Tiếng Anh theo bạn có phải là yếu tố tiên quyết để nhận được học bổng Chevening?Quá trình học tiếng của bạn ra sao để chuẩn bị cho chuyến du học sắp tới?

Rất nhiều năm qua, tiếng Anh luôn là ưu tiên hàng đầu để mình rèn luyện. Có tiếng Anh, bạn mới mở được cánh cổng tri thức tới thế giới. Về quá trình học tiếng Anh của mình, mình tự ôn IELTS khoảng hai tháng trước khi thi lần 1 đầu năm 2011 và thi lại 1 lần nữa vào giữa năm 2011. Lần 1 mình đạt 7.5 IELTS, lần 2 mình đạt 8.5.

Kinh nghiệm học tiếng Anh của bản thân mình là ít luyện qua sách vở nào mà chủ yếu xem phim và chương trình thời sự không qua phụ đề. Sau một thời gian dài, điều này giúp mình có sự phản xạ tốt. Từ những năm Đại học, mình cũng tham gia trang Couchsurfing để cho người nước ngoài ở homestay khi họ du lịch tới Đà Nẵng. Mình thường dành rất nhiều thời gian trò chuyện về văn hoá và đất nước họ. Đây có lẽ là sự chuẩn bị kiến thức tốt nhất cho chuyến du học của mình.

Chương trình học bổng đã hỗ trợ bạn những gì?

Học bổng của mình là học bổng toàn phần, bao gồm: học phí khoá học thạc sĩ, chi phí ăn ở lúc ở Anh, vé máy bay khứ hồi, tiền trợ cấp ban đầu lúc tới Vương quốc Anh và chi phí hỗ trợ cho luận văn thạc sĩ.

Mời Khương chia sẻ lời khuyên mà theo bạn là hữu ích nhất trong quá trình săn học bổng?

Khi săn học bổng bạn phải có một sự cố gắng bền bỉ và nỗ lực tuyệt đối. Mình rất may mắn khi được học bổng ngay lần đầu đăng ký, nhưng có những anh chị đã phải kinh qua rất nhiều năm để cải thiện hồ sơ. Hãy nhớ điều quan trọng là không được bỏ cuộc.

Ngoài ra, theo mình, tiếng Anh tốt là một điều vô cùng quan trọng. Nhiều bạn bè mình biết học rất giỏi nhưng cũng ngậm ngùi bỏ rất nhiều học bổng vì không đáp ứng được yêu cầu tiếng Anh. Như mình đã nói ở trên, việc dồn hết tâm huyết chuẩn bị hồ sơ kỹ lưỡng ngay từ những bước đầu cũng không thể bỏ qua.

Cảm ơn Khương về những chia sẻ quý báu, chúc bạn có một chuyến du học thật thú vị!

 

Tác giả: Lan Hương Trịnh

Kinh nghiệm nộp học bổng NZASEAN 2016

Mình làm cái gì cũng chậm chạp nhưng mà cuối cùng cũng xong rồi đó. Học bổng NZAid năm nay hạn chót là 30/4 nha. Quy trình nộp đơn và câu hỏi sẽ khác hoàn toàn so với các năm trước, nên các bạn cứ theo hướng dẫn của Đại sứ quán mà làm ha.
Mình có làm 1 video tóm tắt những điều cần suy nghĩ trước khi nộp đơn. Do videoscribe không có phần mềm hỗ trợ tiếng Việt nên mình phải làm bằng tiếng Anh nha. Làm xong mới thấy có lỗi chính tả nhỏ nhỏ mà không sửa được nữa. Xin lỗi các bạn.
Link: https://www.youtube.com/watch?v=SPvrrkckSAU
Ngoài ra, mình có một số lưu ý như sau:
– Hồ sơ của bạn phải nhất quán từ trên xuống dưới, và cho thấy được sự khát khao đi học của bạn.
– Vì một trong những sứ mạng của học bổng là đào tạo ra những người có thể góp phần thay đổi xã hội, làm điều gì đó cho đất nước phát triển hơn… nên bạn phải chứng minh được bạn là người có ảnh hưởng tới người khác. (Đó là lí do có câu hỏi về khả năng, kinh nghiệm, tinh thần lãnh đạo của bạn.)
– Theo như năm trước thì sẽ có câu hỏi là nước bạn đang gặp vấn đề gì? Bạn muốn giải quyết vấn đề gì của đất nước? Việc đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của nước bạn như thế nào? Rồi góp phần gì vào việc hàn gắn thế giới? Đại loại là như vậy. Do đó điều bạn trình bày phải là điều bạn thực sự trăn trở. Bạn đã làm cách này cách kia mà vẫn không giải quyết được vấn đề đó. Bạn đã tìm hiểu nhiều nơi (kể ra) và bạn thấy chỉ có cách đi du học mới giúp bạn tìm ra cách giải quyết vấn đề này. Tại sao. (phải nêu lí do abcd vào)
Khi viết nhớ có số liệu, dẫn chứng cụ thể. Để cho mọi người thấy bạn có tìm hiểu thực sự, có đọc tài liệu về vấn đề bạn quan tâm, chứ không phải bạn tự tưởng tượng ra. Đây là vấn đề bạn trăn trở tìm tòi bấy lâu chứ không phải bạn mới thích gần đây, thấy hay hay thì nộp đơn thử. Khi dẫn chứng số liệu thì nhớ ghi nguồn tham khảo.
Đây là những điều mình rút ra được sau rất nhiều lần nộp đơn. Haha. Còn lại mình thấy câu hỏi năm nay được chia nhỏ ra, nên cũng dễ cho các bạn sắp xếp ý để trả lời. Nên các bạn cứ theo đó mà làm. Vậy nha. Chúc các bạn may mắn.
Tác giả: An Nhien

6 bước cần làm trước khi nộp học bổng New Zealand ASEAN – HannahEd

Vậy là học bổng New Zealand chính thức mở vào ngày 01/02/2018. Là một trong 30 cá nhân xuất sắc được nhận học bổng này, mình Hannah xin chia sẻ 6 bước cần làm trước khi bạn chính thức bắt tay vào chinh chiến học bổng này. Các bước sau được dịch từ chính website của Đại sứ quán và bằng chính kinh nghiệm của mình.

Bước 1

  • Đọc và hiểu thật kỹ về học bổng New Zealand ASEAN. Mục tiêu của học bổng là gì, bạn sẽ nhận được gì khi nộp thành công học bổng này. Các bạn cần lưu ý học bổng nằm trong chương trình Viện trợ của New Zealand AId và mục tiêu nhằm tìm kiếm những cá nhân có thể đóng góp cho đất nước, cộng đồng, có tương lai trở thành những nhà lãnh đạo. Link:  Our scholarships

“New Zealand Scholarships help to build a cadre of well-educated and highly capable people who can contribute to better development outcomes and help generate sustainable growth in developing countries. We also want to identify innovators and potential leaders, and provide them with opportunities to develop their skills and networks so they can contribute to their home country.”

Bước 2

  • Đọc và hiểu thật kỹ về yêu cầu cơ bản nhất của học bổng, ví dụ bạn cần có ít nhất 1 năm kinh nghiệm làm toàn thời gian và 2 năm làm bán thời gian. Năm 2017 có một bạn sinh năm 1995 mới ra trường nhưng có hai năm kinh nghiệm part-time giành được học bổng. Link: country page (bạn đọc kỹ phần Eligibility và click chọn Vietnam nhé)

“I have at least one year full-time (two year’s part-timework experience relevant to my career and/or preferred qualification unless I am applying straight from secondary school or during my first year of tertiary study (for countries offered undergraduate study).”

Bước 3

  • Đọc và hiểu kỹ hơn những tiêu chuẩn, phẩm chất cụ thể ngoài mức sàn mà học bổng đang tìm kiếm. Link: Who we are looking for .

“You’ve got self-drive: Successful applicants will show ambition and drive to achieve, and will take responsibility for getting things done. They will also have a long-term vision of what they are working towards.”

 

Bước 4

  • Đọc và hiểu nếu được học bổng bạn cần làm gì ví dụ trở về nước làm việc, đảm bảo thành tích học tập tốt, thái độ tốt. Link: we expect from you

Bước 5

Bước 6

  • Đọc và hiểu kỹ hướng dẫn nộp học bổng ví dụ bạn cần nộp học bổng Online, tạo tài khoản và trả lời các câu hỏi trong form online. Link: Application Guidance 

Tác giả: Hannah Dinh – hannaed.com

 

New Zealand ASEAN Scholarship for Vietnam 2018

The New Zealand ASEAN Scholar Awards (NZAS) recognise New Zealand’s close cultural, economic, and geographic ties with Southeast Asia. They seek to empower individuals with the knowledge, skills and qualifications to contribute to the economic, social, and political development of their region. These scholarships are offered for postgraduate level study only.

NZAS are funded by the New Zealand Aid Programme, the New Zealand Government’s international aid and development programme. They are managed by the Ministry of Foreign Affairs and Trade.

The New Zealand Aid Programme offers scholarships to people from Viet Nam who are motivated to make a difference at home.

Applications open from 1 February 2018 to 30 March 2018. Read Application dates for more information.

Eligibility

Applicants from all eligible countries must meet the following conditions to be eligible for a New Zealand Scholarship:

I will be at least 18 years old at the time I start the scholarship.
I am a citizen of a participating country (as listed above) and I am residing in and applying for a scholarship from my country of citizenship.
I confirm that I am not also a citizen or permanent resident of any the following countries: New Zealand, Australia, Israel, South Korea, Japan, USA, any European Union country, Qatar, United Kingdom, Canada, Saudi Arabia and the United Arab Emirates. (Note: This criteria does not apply to people from Niue, Cook Islands and Tokelau who are New Zealand citizens, and it also does not apply to NZ-Samoan dual citizens.)
On 31 December 2018, my country will have been my main country of residence for the last two years or more (unless you are a member of the diplomatic corps or a dependent of a member of the diplomatic corps).
I confirm that I am not currently serving in the military.
I expect to meet immigration requirements for a student visa to New Zealand or the Pacific Island country I will study in (i.e. medical checks, etc.).  Check the following websites for further information:

I expect to meet the academic entry requirements (including English language ability) for my preferred programme of study and institution. Refer to the website of your preferred institution to confirm entry requirements.
I confirm that I have not previously had a New Zealand Scholarship terminated because of poor academic performance (within the past 5 years) or breach of scholarship contract.
I intend to return to my country for two years or more at the end of my scholarship to contribute to my country’s development.
I have at least one year full-time (two year’s part-time) work experience relevant to my career and/or preferred qualification unless I am applying straight from secondary school or during my first year of tertiary study (for countries offered undergraduate study).

(Part-time work is defined as up to 29 hours per week, Full-time work is defined as 30 plus hours per week).

Priority sectors

We want scholars who are interested in studying subjects that can improve the social and economic development of your country. We’ve chosen priority sectors that can help your country and that New Zealand has expertise in.

If you can show that your study is connected to any of these sectors, you are more likely to be selected.

These are the priority sectors:

Agriculture development

  • Agri-business: agricultural economics, agri-business management, agricultural systems and management, rural development, logistics, supply chain and distribution management, value chain development, agriculture marketing, international agribusiness
  • Agriculture production: animal science, veterinary nursing, plant science, horticultural science, soil science
  • Agriculture trade and technology: phytosanitary, bio-security, biotechnology, agricultural trade
  • Post-harvest: food production, food sciences/technology, post-harvest processing, food storage and packaging, food safety

Renewable energy

  • Solar, hydro-electric and wind energy, energy engineering and renewable energy distribution systems,
  • Market reform and sector management, including energy economics and energy efficiency

Disaster risk management

  • Reducing risk: hazard and vulnerability assessment, risk management, natural resource management, geology, geotechnical engineering, water resource management
  • Readiness: disaster preparedness at national level or community level including public education
  • Response: disaster response and emergency management
  • Recovery: economic and social recovery from disasters
  • Climate change adaptation: including planning for infrastructure, land use and water use

Public sector management

  • Economic policy: public financial management, government budgeting, tax reform, public sector auditing, statistics, demography
  • Education: policy, qualifications management and reform, educational quality assurance, meeting workforce needs
  • Public sector leadership: legal reform, public administration, public policy and management, public sector leadership and governance, human resource capacity development, information management
  • International trade and business, trade facilitation, trade policy

Private sector development

  • Business/private sector management and leadership, small and medium sized enterprises (SMEs) development, entrepreneurship, marketing, accountancy
  • Business finance, commerce

Read the What You Can Study page to see examples of qualifications for these subjects.

Selection Preferences

We are guided by both the Priority Sectors (above) and Selection Preferences when shortlisting candidates.

Make sure you understand our Selection Preferences. Including:

  • Preference will be given for study at Masters level
  • Under the ‘private sector development’ area, preference will be given to applicants interested in developing particular capabilities rather than generalist management and business administration
  • Applications from across Viet Nam are welcome, including cities and rural areas, and from ethnic majority and minority groups

Contact us

We get many enquiries that can be answered by reading the extensive information on our website. For example, see EligibilityHow to Apply or Frequently asked questions.

For questions which are not answered by the information on this website, submit an online enquiry here (external link).

Từ kẻ ngỗ ngược thành học giả Fulbright

“Câu chuyện của tôi bắt đầu từ khi là cậu học sinh lười biếng, ngỗ ngược. Tôi đã nuôi dưỡng giấc mơ du học đến khi cánh cửa đại học Mỹ mở ra với mình”, Nguyễn Bá Trường Giang viết.

Tôi sinh ra ở làng quê ngoại thành Hà Nội. Hồi nhỏ, tôi lười học, đến lớp không bao giờ nghe giảng, chỉ mang vở ra vẽ. Có lần, tôi trèo lên nóc nhà giám hiệu, phi máy bay giấy bay lượn. Tôi cứ thầm ước sau này cũng bay cao, bay xa, dù khi ấy học dốt.

Tuổi thơ ngỗ ngược

“Thôi con ạ, con học dốt thế này, suốt ngày lêu lổng, học võ, đánh nhau, tụ tập thì chẳng hy vọng gì đâu”, mẹ đã nói như vậy cách đây đúng 24 năm, khi tôi học lớp 9.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 1
Nguyễn Bá Trường Giang tại lễ tốt nghiệp đại học.

May mắn đỗ vào cấp 3, tôi vẫn tiếp tục… đánh nhau, đốt pháo, nhiều lần bị đuổi học. Năm lớp 11, người bạn thân rủ tôi đi học tiếng Anh để bố cậu ta xin cho vào làm khách sạn. Cuộc đời cậu bé ngỗ ngược bắt đầu thay đổi từ đó.

Tôi và bạn đạp xe đến trung tâm tiếng Anh học giáo trình Streamline A. Hôm đầu vào lớp, nghe thầy nói tiếng Anh, tôi choáng lắm.

Bố mẹ rất vui vì 16 năm qua mới thấy con tôi học. Bố ra trường Sư phạm Ngoại ngữ mua cho băng cát-xét giáo trình Streamline A, B, C. Tôi nghe 1 tháng hết cả ba giáo trình. Chị tôi học trong Nam ra, mang cho cuốn từ điển bé xíu, tôi tra nát cả từ điển, đánh dấu nguệch ngoạc.

Học hết cấp 3, tôi thi đỗ hai trường đại học với điểm khá cao khiến người thân và bè bạn đều ngỡ ngàng. Ai cũng biết đến năm lớp 11, tiếng Anh của tôi chỉ 3,9, đến lớp 12 đã là 8,9.

Nuôi ước mơ du học

Tôi kể câu chuyện về hành trình vươn lên từ một cậu bé lười nhác, ngỗ ngược để nhắn nhủ các bạn trẻ hãy nuôi dưỡng ước mơ, để bước tới cánh cửa du học. Các bạn trẻ hãy quyết tâm, thành công rồi sẽ đến.

Tốt nghiệp đại học, tôi làm giảng viên tiếng Anh và đi dịch kiếm tiền. Đây chính là thời gian tôi rèn luyện, tu dưỡng bản lĩnh để chuẩn bị cho chuyến xuất ngoại đầu tiên của mình.

Tôi học say mê, nghỉ hè cũng lao vào học. Khi tốt nghiệp, tôi đã có hơn 10 cuốn sổ đầy ắp từ mới. Chiếc cát-xét bố mua tặng đã bị gãy nút “tua” vì nghe quá nhiều.

Từ bé, tôi đã mơ thấy cánh cửa đại học Mỹ mở ra. Đến một ngày, có người chị gái thân thiết làm ở Đại sứ quán Mỹ, khuyên tôi xin học bổng Fulbright. Tôi cũng chẳng nghĩ mình đạt được, vì học bổng này rất giá trị. Tôi vẫn đăng ký và được gọi đi thi tiếng Anh. Với sở trường ngoại ngữ, tôi vượt qua các vòng thi tuyển thuận lợi.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 2
Nguyễn Bá Trường Giang và nhóm Fulbrighter 2007 tại nhà Đại Sứ Michael W.Marine.

Bài luận của tôi nói về Việt Nam, về những khó khăn của thế hệ chúng tôi, tình hình chung của đất nước. Tôi thể hiện một niềm tin chắc chắn về tương lai của Việt Nam và kế hoạch tương lai của mình. Tôi hứa đi học về sẽ đóng góp hết lòng để phát triển đất nước. Quy định của Fulbright chỉ cho 800 chữ, nhưng tôi viết gần 2.000 chữ rồi kẹp vào hồ sơ.

Sau này, nhiều người nhờ tôi sửa giúp bài luận khi du học. Trong số đó, có người vào Đại học Harvard, Đại Học Luật Fordham, Michigan (Mỹ). Một em đỗ Đại học Oxford (Anh).

Trở thành học giả Fulbright

Đến vòng phỏng vấn xin học bổng, hai người phỏng vấn tôi, một người Mỹ và một người Việt, mặt mũi nghiêm trọng lắm. Có nhiều ứng viên gặp họ đã run, không biết bắt đầu thế nào. Tôi vào phòng, nhìn hai vị, cười tươi và chào họ. Không đợi họ hỏi, tôi bắt đầu câu chuyện ngay bằng câu hỏi xã giao: “Ông sang Việt Nam lâu chưa? Thời tiết oi bức quá, ông có quen không?”.

Chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Vị giáo sư đó hỏi: “Trong bài, tôi thấy em viết câu này, em có quan điểm thế nào mà viết thế?”. Tôi trả lời: “Tôi xin đính chính là không viết như thế…”. Người đó mỉm cười.

Sau này tôi mới biết đó là thủ thuật để xem người đối diện có phải tác giả thực sự của bài viết không. Chúng tôi ngồi nói chuyện về kinh tế Việt Nam, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực…

Tôi giành học bổng Fulbright trong sự vui mừng của gia đình và bạn bè. Sau một năm chuẩn bị, tôi được nhận vào trường Cornell, một trong 8 đại học thuộc nhóm Ivy-League (Havard, Yale, Princeton, Cornell, Dartmouth, Brown, Colombia, Pennsylvania). Các trường này có chất lượng giáo dục rất tốt.

Nguyễn Bá Trường Giang là học giả Fulbright, tốt nghiệp khoa Kinh tế, Đại Học Cornell, New York và khoa Luật, Đại học Luật Boston, Mỹ.

Trường Giang từng giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ – Văn hóa Anh – Mỹ, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; làm cố vấn pháp luật cao cấp tại Hãng luật Baker & McKenzie; giám đốc pháp luật tại Tập đoàn Thiên Minh và hiện là chuyên gia cao cấp tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).

Nguồn: https://news.zing.vn/tu-ke-ngo-nguoc-thanh-hoc-gia-fulbright-post616540.html

Các “cách” làm giảm cơ hội được học bổng – Long D Hoang

* Cảnh báo:

Bài này tiếp tục nói về thái độ trước, trong, và sau khi săn học bổng. Người viết sẽ nói thẳng. Mọi người cân nhắc trước khi đọc. Người viết không chịu trách nhiệm về việc có ai đó đọc xong rồi cảm thấy khó chịu.

* Chú ý:

  • Quan điểm của người viết: Không làm bất cứ việc gì với thái độ “liều ăn nhiều” – cầu may mắn. Không ai muốn trao cơ hội cho người không đủ nghiêm túc như vậy cả.
  • Bài viết dựa trên kinh nghiệm đọc và phản biện cho hàng trăm hồ sơ xin học bổng (cả đạt và không đạt). Khi tôi viết “nhiều người”, ý là nhiều người mà tôi đã được biết qua các hồ sơ trên.
  • Bài mang thể hiện quan điểm và bức xúc cá nhân.

Ai không đồng ý với những điều trên này hoàn toàn có thể dừng đọc tại đây.


Ở bài trước, tôi đã nói về cách tính toán cơ hội khi săn học bổng. Bài này sẽ dành cho những trường hợp tạm gọi là “thiếu hụt về nhận thức” khiến cho cơ hội đạt học bổng giảm đi. Thực ra đây chỉ là việc tổng kết và nhắc lại những gì mình đã nói (nhiều nội dung trùng với phần 2). Tuy nhiên tôi nhận thấy mình cần nói lại để đập tan nhiều ảo tưởng kì cục của nhiều người.

Chú ý: ngay cả khi mắc tất cả các lỗi này, người ta vẫn hoàn toàn có khả năng lấy được học bổng. Tuy nhiên khả năng đó rất thấp, và khi đó việc được học bổng hoàn toàn do may mắn.

1.   Du học khi kinh nghiệm chưa đủ về chất và lượng

Những người chưa đủ kinh nghiệm rất khó xin được học bổng. Bởi vì không có kinh nghiêm thì không thể biết được mình cần kiến thức gì, cần chọn khóa học nào cho chính xác. Mà khi chính mình còn không biết thì làm sao thuyết phục được ban xét duyệt học bổng.

Một số trường hợp dạng này:

Du học khi kinh nghiệm chưa đủ lượng

Một điều thường thấy: các bạn muốn du học thạc sỹ ngay sau khi tốt nghiệp đại học mà lại muốn có cả học bổng toàn phần nữa. Những trường hợp này đương nhiên không có chút kinh nghiệm làm việc nào nên không biết chọn khóa học phù hợp.

Những ứng viên có thể chọn được khóa học phù hợp để học tiếp luôn bậc thạc sỹ hầu như đều theo hướng nghiên cứu khoa học chứ không phải thực hành. Họ đã có kinh nghiệm cộng tác nghiên cứu hoặc tự nghiên cứu ở bậc đại học, nên nắm rõ ngành mà họ muốn tiếp tục nghiên cứu ở bậc cao hơn. Hầu hết những học bổng thạc sỹ không yêu cầu kinh nghiệm làm việc toàn thời gian (full-time) cũng dành cho những ứng viên như vậy.

Du học khi kinh nghiệm chưa đủ chất

Những người này thường có khoảng 1-3 năm kinh nghiệm, nhưng chỉ có 1 năm kinh nghiệm liên quan đến ngành dự định học. Hoặc có nhiều hơn 1 năm kinh nghiệm nhưng vị trí làm việc chỉ là thực tập sinh, hoặc tình nguyện viên bán thời gian.

Với kinh nghiệm như vậy, khả năng ứng viên xác định được một khóa học phù hợp, hoặc xây dựng được một kế hoạch làm việc hợp lý sau khi kết thúc khóa học là rất thấp. 1 năm kinh nghiệm không đủ để đảm bảo ứng viên sẽ tiếp tục được với ngành đã chọn. Vị trí thực tập sinh cũng có áp lực trách nhiệm và mức độ đóng góp khác hẳn, không thể so với những người làm việc chính thức toàn thời gian. Mà ban xét duyệt là những người phỏng vấn rất sắc sảo. Họ dễ dàng khai thác những điểm không chắc chắn ở ứng viên.

Tóm lại: Nếu ứng viên không có định hướng nghiên cứu, cũng chẳng phải người có nhận thức thiên tài, thì cứ đi làm trong một ngành suốt 2 năm, ở vị trí toàn thời gian đã, rồi hãy tính đến xin học bổng toàn phần. Ứng tuyển học bổng ở trạng thái kinh nghiệm chưa đủ chất hay lượng là một trong những hành động ngớ ngẩn, phí phạm thời gian nhất của người đi học.

2.   Không chuẩn bị kĩ càng

Không lên kế hoạch từ trước

Một kế hoạch săn học bổng hoàn chỉ thường được thực hiện trong tầm 5 – 7 năm mới có thể tạm đảm bảo sức cạnh tranh tối đa. Thời gian này bao gồm 2 – 4 năm học tiếng Anh, 2 năm vừa học tư duy và viết luận, vừa suy nghĩ thật kĩ về công việc mình muốn theo đuổi trong tương lai, 1 năm làm hồ sơ.

Việc lên kế hoạch này đảm bảo được 3 yếu tố:

  • Ngay cả khi không dành được học bổng, ứng viên vẫn có những kĩ năng có giá trị dài hạn, có thể áp dụng vào nhiều công việc khác nhau.
  • Ứng viên có đủ thời gian để hoàn thiện từng phần của bộ hồ sơ với chất lượng tốt, tránh tình trạng phải học tiếng Anh, thi chứng chỉ, làm giấy tờ bổ sung cùng lúc.
  • Dành được trọn vẹn thời gian từ khi cổng ứng tuyển mở cho đến hạn đóng hồ sơ để tập trung vào việc viết bài luận. Đây là phần quan trọng nhất khiến hồ sơ xin học bổng trở nên khác biệt, nhưng lại chỉ có thể bắt đầu khi cổng ứng tuyển mở.

Không chuẩn bị tốt kĩ năng ngôn ngữ

Để có thể viết được một hồ sơ xin học bổng tốt tốt, và học tập tốt ở nước ngoài, ứng viên cần khả năng sử dụng tiếng Anh ở mức độ C1 trong khung tham chiếu CEFR. Vì vậy, hãy đọc can-do statement của trình độ C1 trong khung tham chiếu CEFR và đối chiếu xem mình đã đạt C1 chưa. Nếu chưa đạt thì nhất quyết phải cố học thật sự cho đạt.

Hiểu sai về yêu cầu ngôn ngữ

  • Coi điểm IELTS là thang đánh giá chính xác khả năng sử dụng tiếng Anh của mình. Rất tiếc, điều này không chính xác. Điểm IELTS sẽ phản ánh đúng khả năng sử dụng tiếng Anh chỉ trong điều kiện người đi thi chỉ cần làm thử vài bài để quen với quy cách và dạng bài của IELTS. Bài thi này sẽ không phản ánh đúng khả năng sử dụng tiếng Anh nếu như ứng viên dành vài tháng luyện thi, ứng viên phải dùng các mẹo làm bài, hoặc ứng viên chỉ cố gắng dùng các từ ngữ hoặc cách diễn đạt học thuật để ăn điểm mà không thực sự hiểu chúng. Tôi sẽ nói kĩ hơn về vấn đề này ở một bài khác với các chứng cứ khoa học phù hợp.
  • Coi ngôn ngữ như điều kiện cần chứ không quan trọng. Nhiều ứng viên chỉ cố mau mau chóng chóng thi được IELTS 6.5, đạt điều kiện cần là xong. Đáng ra các ứng viên phải hiểu rõ mình làm sẽ làm được gì với trình độ ngôn ngữ đang có, chứ không nên dựa vào điểm số. Thực tế là đầy người đã xin được học bổng rồi vẫn còn chật vật với giao tiếp hàng ngày và viết luận ở các nước nói tiếng Anh, cho nên đừng tưởng bở.

Không chuẩn bị kĩ năng tư duy và diễn đạt

Việc không rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện và kĩ năng diễn đạt (nói và viết) sẽ dẫn đến 3 vấn đề:

  • Bài luận xin học bổng có chất lượng rất thấp.
  • Khi đi phỏng vấn không hiểu câu hỏi và không diễn đạt sao cho thuyết phục. Ban phỏng vấn luôn là những người rất sắc sảo. Họ sẽ hỏi những câu ứng viên không bao giờ nghĩ ra nổi. Chỉ có tư duy tốt và khả năng làm chủ diễn đạt mới có thể giúp ứng viên tự quyết định được số phận.
  • Được học bổng nhưng khi đi học kết quả không tốt. Đơn giản là: không có tư duy phản biện tốt và khả năng viết thật tốt thì làm sao viết nổi những bài luận 3000 – 5000 từ. Chuyện ứng viên được học bổng chính phủ hẳn hoi mà vẫn diễn đạt kì cục không phải chuyện hiếm (tôi không tiện nói ra, ai đọc được thì tự biết mà sửa).

3.   Kĩ năng thu nhập thông tin kém

Có 3 kĩ năng thu thập thông tin quan trọng gồm: literacy, computer literacy, và Internet literacy.

Khi ứng viên đọc không kĩ và hiểu không trong sáng, thì sẽ suy diễn ra thông tin không có thật. Ví dụ như rất nhiều người cho rằng Chevening luôn ưu tiên người đang làm cho khối nhà nước và cũng không thèm đọc quy định của Chevening để kiểm tra lại. Hoặc một số người đến giờ vẫn cho rằng Chevening có các ngành ưu tiên, trong khi quy định này đã bị gỡ bỏ từ năm 2015.

Bên cạnh đó, sự thụ động trong việc tìm kiếm thông tin sẽ giới hạn nhận thức và hiểu biết của ứng viên về các loại học bổng. Thực ra thông tin về học bổng hiện nay rất nhiều và rất kỹ (Ví dụ như blog này). Các ứng viên chỉ cần đọc các blog và đọc kỹ các thông tin trên trang chính thức của học bổng là đã đủ thông tin về điều kiện cần và đủ của học bổng rồi.

Còn sự yếu kém trong sử dụng máy tính và Internet để thu thập thông tin sẽ dẫn đến việc thông tin ứng viên tìm được chẳng có gì khác biệt cả. Mà nếu thế thì làm sao thuyết phục được ban xét duyệt rằng lý do lựa chọn khóa học của mình chân thật và thật sự khác biệt?

Đi đánh trận, không hiểu rõ về đối phương mà cứ xông lên, thì dù thắng hay thua cũng đều dở cả. Thắng cũng không biết tại sao mà thua cũng không biết vì sao.

4.   Chọn trường một cách hời hợt

Một lỗi cơ bản của các ứng viên khi nói lý do chọn trường: chọn trường vì thành tích của trường. Ví dụ: tôi chọn trường này vì trường có ranking cao, có mấy giải Nobel, có bao nhiêu công trình nghiên cứu trên Nature hoặc Science.

Những thành tích đó không hề đảm bảo việc khóa học sẽ đem lại những kiến thức hay kĩ năng có ích. Và “có ích” hay không, nó phải liên quan chặt chẽ tới lý do đi học và kế hoạch sau khi học. Rất nhiều hồ sơ không thể hiện được các mối liên quan chặt chẽ và riêng biệt này. Hoặc hồ sơ sẽ chỉ giải thích tại sao muốn đi học, hoặc sẽ chỉ giải thích tại sao chọn trường học đó với các lý do hời hợt.

5.   Viết bài luận kém

Lỗi cơ bản của người Việt Nam là dài dòng. Trích một phần Long đã nói về lỗi này trong Phần 2:

Ví dụ: Yêu cầu là “Outline why you have selected your chosen three university courses, and explain how this relates to your previous academic or professional experience and your plans for the future”

Rất thường xuyên, người viết kể lể ra một lô một lốc tình hình Việt Nam đang ra sao, mất tầm 150 từ. Sau đó các ứng viên kể lể cái ngành chung chung mình học là cái chung chung gì, mất thêm 150 từ. Sau đó kể nốt tôi học ngành đó để rồi tôi làm ra cái gì, mất nốt 150 từ. Mà bài luận giới hạn 500 từ. Cuối cùng còn chả nhắc nổi cái tên khóa học với tên trường cho ra hồn.

Lỗi thứ 2 là thích dùng từ “đao to búa lớn” và học thuật. Đây thực ra là điều tối kỵ trong viết, thậm chí với viết học thuật. Mục tiêu quan trọng nhất của việc viết là khiến người đọc hiểu đúng điều mình muốn họ hiểu. Và để đạt được mục tiêu đó, từ ngữ CÀNG THÔNG DỤNG VÀ GIẢN DỊ CÀNG TỐT.

Lỗi thứ ba là hay sử dụng tính từ để nói về mình hoặc sản phẩm của mình. Đây cũng là điều tối kỵ trong viết hồ sơ xin học bổng. Bởi vì đó là cách viết khoe khoang, dùng cảm giác chủ quan của mình để “nhét chữ vào mồm người đọc”. Một bài viết tốt và khách quan sẽ sử dụng nhiều động từ để mô tả những gì mình đã làm, còn người đọc sẽ tự đánh giá tố chất của ứng viên.

6. Không biết cách tham khảo ý kiến

Về mặt này, ứng viên thường hay mắc 2 lỗi: không tham khảo ý kiến, hoặc tham khảo ý kiến không đúng người đúng việc.

Không tham khảo ý kiến (sớm)

Lỗi này thì … chả còn gì để nói. Bây giờ thông tin rất dễ tìm. Ứng viên có thể liên lạc với các alumni dễ dàng thông qua mạng facebook. Vậy thì tại sao không tham khảo ý kiến của họ trước khi apply học bổng một vài tháng? Tôi ước tính 50 – 80% học giả mới của các học bổng chính phủ đều tham khảo ý kiến của alumni đấy.

Tham khảo ý kiến không đúng người, đúng việc

Thứ nhất, đa số alumni chỉ giải đáp được thông tin về điều kiện cần để duyệt học bổng và thông tin phụ khác như học tập, sinh hoạt, ăn ở. Còn các tiêu chí đủ thì … nói thật chứ nhiều khi chính họ còn chả biết tại sao họ đạt thì ai mà dám nói chắc cho ứng viên được. Nếu muốn biết tiêu chí học bổng ra sao, phải xem alumni là người thế nào, chứ đừng nghe những cái alumni tự nói.

Thữ nữa, đừng mặc định là alumni nào cũng sắc sảo trong tư duy và viết luận xin học bổng (hai kĩ năng này liên quan chặt chẽ với nhau). Thậm chí rất ít người giỏi kĩ năng này. Cho nên đừng trông mong rằng họ sẽ cho ứng viên thông tin đặc biệt giá trị nào về cách viết luận hay phản biện được bài luận cho bạn. Hãy tham khảo thông tin từ chỉ 1, cùng lắm là 2 người mà ứng viên thấy thực sự có tư duy phản biện tốt. Tôi đã có những trải nghiệm với những người tự xưng mình vừa là thầy, vừa là alumni nhưng kĩ năng viết và tư duy rất kém, tư cách lại còn … (mời đọc post trước để biết thêm chi tiết)

7.   Không nghiêm khắc với bản thân

Thái độ này mới chính là nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề kể trên.

Không khiêm tốn

Bệnh chung của rất nhiều người chưa hoặc đã đạt học bổng là “bệnh tưởng”.

Tưởng mình đã dùng tiếng Anh tốt lắm, tỉ mỉ cẩn thận trong câu từ lắm. Nói thật, xưa nay tôi chỉ thấy nhóm các bạn học ngành luật mới thật sự đáng được gọi là chính xác tỉ mỉ về câu từ tiếng Anh. Còn lại, hiếm vô cùng.

Tưởng mình đã điều tra được nhiều thông tin tốt lắm. Thực ra, phàm cái gì có sẵn trên mạng, mình tìm ra thì người ta cũng tìm ra.

Tưởng mình đã có động lực và kế hoạch đủ tỉ mỉ. Kiểm tra cái kế hoạch này thực ra khá dễ, cứ dùng tiêu chuẩn SMART mà xét.

Bonus: Một số người tưởng học bổng là cái chứng nhận tài năng cá nhân. Rồi được học bổng xong không thèm cảm ơn người đã tận tình hướng dẫn mình (cái này bạn tôi đã bị chứ tôi thì chưa, may quá). Thực tế là: cái học bổng phần nhiều chứng nhận mình may mắn hơn vài trăm người khác, chứ không chứng nhận cho những gì mình đóng góp được cho cộng đồng. Còn người hướng dẫn mình dù sao cũng là senior fellow của mình, còn gặp nhau dài dài thì nên khiêm tốn biết cách cư xử với nhau.

Liều ăn nhiều

Cứ nộp hồ sơ, thậm chí nộp hồ sơ nhiều lần trong khi biết rõ rằng kinh nghiệm mình chưa đủ. Hoặc biết trình độ ngôn ngữ của mình tầm thường, kĩ năng tư duy, động lực và kế hoạch của mình cũng chẳng có gì vượt trội mà vẫn tặc lưỡi “thôi kệ cứ nộp, liều ăn nhiều”.

Vấn đề là, với thái độ và cách chuẩn bị như vậy, việc đạt được học bổng hoàn toàn dựa vào may mắn. Ngay cả khi được học bổng, việc “cố đấm ăn xôi” như vậy không thể gọi là “hard work pays off” hay “resilience” được. Về lâu dài, thái độ như vậy cũng không thể khiến một người đi xa được, và anh ta sẽ nhanh chóng phí phạm cơ hội mà thôi.

Lười và thụ động

Lỗi này là bệnh chung của người Việt Nam rồi. Biết bao nhiêu thứ cần chuẩn bị như ở trên kia tôi đã nói, nhưng không đủ quyết tâm để làm.

Ban xét duyệt đủ sắc sảo để phát hiện ra tất cả những thái độ trên. Hiển nhiên là bất đắc dĩ lắm họ mới phải trao học bổng cho các trường hợp như vậy.

 8.  Hậu quả

Tự tạo cho ban xét duyệt cơ hội từ chối mình

  • Đã xin học ngành không liên quan chút nào đến ngành học ở bậc đại học, mà lại không có kinh nghiệm phù hợp thì tại sao chúng tôi (ban xét duyệt) không chọn người có kinh nghiệm phù hợp hơn?
  • Kinh nghiệm làm việc của bạn không đủ chất và lượng thì tại sao chúng tôi không chọn người có kinh nghiệm tốt hơn?
  • Tiếng Anh của bạn còn non kém, tại sao chúng tôi không chọn người cùng ngành, cùng kế hoạch và động lực làm việc, nhưng tiếng Anh tốt hơn bạn? Với tiếng Anh tốt hơn, họ rõ ràng dễ thành công trong khóa học sắp tới hơn bạn mà.
  • Bài luận của bạn còn hời hợt, tại sao chúng tôi không chọn người có tư duy và chuẩn bị kĩ càng hơn bạn?
  • Đam mê và động lực của bạn cũng chân thật đấy, nhưng người khác cũng chả kém hơn bạn đâu. Sao tôi phải chọn bạn?
  • Bạn không nói được rằng mình sẽ đem lại lợi ích gì cho chúng tôi, vậy tại sao chúng tôi không chọn người đem lại nhiều lợi ích cho chúng tôi hơn bạn.

Những thứ trên không thể bù trừ cho nhau. Bởi vì, làm sao có thể nói một người có kinh nghiệm tốt đáng được học bổng hơn một người có đam mê lớn? Hơn nữa, trong hàng trăm hàng nghìn hồ sơ ứng tuyển, sẽ chẳng thiếu gì những hồ sơ tốt trên tất cả các mặt: bằng cấp, kinh nghiệm, tư duy, động lực, kế hoạch. Hiển nhiên, bằng cấp không bằng người, kinh nghiệm cũng ngắn ngủi không chất lượng bằng người, chỉ có đam mê nhưng lại là thứ chả so sánh hơn kém được, thì chỉ có trông vào may mắn mới được học bổng chứ sao nữa.

Tự giới hạn khả năng phát triển kiến thức và kĩ năng

Nhìn thẳng vào vấn đề: với kĩ năng tiếng Anh chỉ ở dạng vừa đủ, tư duy phản biện kém, khả năng viết luận kém, thì liệu ứng viên (ngay cả khi đã có học bổng) tận dụng được các tài nguyên con người, vật chất và phi vật chất ở khóa học thạc sỹ sắp tới như thế nào? Chuyện ứng viên học hành lớt phớt không phải chuyện hiếm. Những ai đã từng đi Úc theo học bổng AAS đều biết cộng đồng sinh viên ở Úc (bao gồm cả học giả AAS) phân chia rất rõ ràng. Một nhóm những sinh viên chăm chỉ và chuẩn bị tốt sẽ dành nhiều thời gian cho việc học và đạt được kết quả rất tốt (hầu như High Distinction). Nhóm còn lại là những người trình độ tự học và nghiên cứu thấp, tiếng Anh yếu, dù có học bổng cũng chỉ đi học để lấy điểm Pass rồi dành thời gian còn lại đi … làm thêm. Tôi không nói đâu là sai hay đúng, nhưng con đường nào tạo được lợi ích dài hạn hơn cho họ thì hẳn mọi người thấy rõ.

9. Làm sao để nổi bật giữa hàng trăm hàng nghìn bộ hồ sơ?

Dễ lắm. Làm sao để ban xét duyệt không có cơ hội từ chối mình. Là loại bỏ tất cả những lỗi trên

Một bộ hồ sơ tốt cần phải hội tụ tất cả mọi yếu tố thì người ta mới không có cơ hội từ chối mình. Năm ngoái tôi có hướng dẫn cho 12 bộ hồ sơ khác nhau cho nhiều học bổng hỗ trợ phát triển dành cho Việt Nam, trong đó có 7 bộ hồ sơ thành công. Trong những hồ sơ thành công đó, những bộ nào không cực kì may mắn thì lại có sự chuẩn bị rất kĩ lưỡng và đầy đủ, từ kinh nghiệm, kĩ năng cho đến thái độ.

Dĩ nhiên, chọn chuẩn bị hay trông vào may mắn thì tùy từng người. Nhưng sự “ngây thơ” và thái độ hời hợt không giúp ai tiến xa được đâu, chứ đừng nói làm ra được sản phẩm gì giúp đỡ người khác.

Quy trình tuyển sinh và xét học bổng của chương trình Erasmus Mundus

Học bổng Erasmus Mundus (EM) là một chương trình khá đặc biệt. Tưởng tượng Ủy ban Châu Âu (EC) có một cái quỹ tiền to đùng, kêu gọi các trường khắp châu Âu: Đây tôi có tiền đây. Các ông kết hợp với nhau lập chương trình đào tạo liên kết theo tiêu chuẩn thế này thế này, rồi đưa lên cho tôi duyệt. Tôi thấy hợp lý thì tôi cho tiền để chạy, rồi trao cả học bổng cho học viên luôn.

Và thế là các chương trình đào tạo liên kết nộp đơn xin ầm ầm vào EM. EM hiện tại có 100 chương trình (theo danh sách chính thức cho năm học 2017-2018)

Mục tiêu của EM là gì?

  • Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo bậc đại học và sau đại học ở Châu Âu.
  • Quảng bá EU như một trung tâm của thế giới về chất lượng giáo dục.
  • Tăng cường sự hiểu biết văn hóa thông qua việc hợp tác với các nước Thế giới thứ 3, hỗ trợ và đẩy mạnh sự phát triển giáo dục của các nước này.

Tuyển sinh

Với mục tiêu như vậy, việc tuyển sinh được giao hoàn toàn vào tay các chương trình đào tạo. Các chương trình thường có các tiêu chí tuyển sinh sau:

  • Trình độ học tập và nghiên cứu => Thể hiện qua điểm GPA, xếp hạng, và các bài nghiên cứu khoa học đã được công bố.
  • Điều kiện cần: Khả năng ngôn ngữ => thể hiện IELTS 6.5 trở lên, có DELF, Goethe càng tốt.
  • Động lực học tập => thể hiện thư xin học bổng (Letter of Motivation)
  • Sự đa dạng văn hóa, quốc tịch => không có quy chuẩn cụ thể, phụ thuộc rất nhiều vào đánh giá cảm tính của ban xét duyệt.
  • Các tố chất riêng biệt của từng chương trình (kĩ năng tư duy mở, kĩ năng toán lượng, nhiệt huyết đóng góp cho cộng đồng, v.v) => thể hiện qua tất cả các thông tin trên cùng với thư giới thiệu.

Các chương trình sẽ lọc khoảng 25 – 30, thậm chí 80 ứng viên (tùy vào khả năng đào tạo của chương trình) từ hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ. Các ứng viên này sẽ được trao thư mời nhập học (admission offer).

Danh sách học bổng chính

Sau khi chọn được ứng viên theo học, người ta mới xét xem ai đáng được học bổng Erasmus Mundus. Trong các ứng viên đã có thư mời nhập học, sẽ có 10 – 14 ứng viên được vào danh sách chính (Main List) để trao học bổng EM. Các ứng viên còn lại sẽ nằm trong Danh sách dự bị (Reserved List).

Để lựa chọn danh sách chính, người ta chia ứng viên thành 2 nhóm:

Category A: Sinh viên ngoài EU là sinh viên không có quốc tịch EU đồng thời trong vòng 5 năm trở lại không làm việc tại EU nhiều hơn 12 tháng. Thường thì số ứng viên Cat. A trong danh sách chính là 4-5 người.

Category B: sinh viên có quốc tịch EU; hoặc không có quốc tịch EU nhưng trong vòng 5 năm trở lại (tính đến thời điểm nộp hồ sơ) đã làm việc, sinh sống tại EU trong nhiều hơn 12 tháng. Số ứng viên Cat. B trong danh sách chính là 9 – 10 người.

Các ứng viên trong danh sách chính đều sẽ nhận được học bổng học phí và phí tham gia chương trình. Tuy nhiên, ứng viên Cat. A sẽ được nhận trợ cấp hàng tháng cao hơn nhiều (và đủ để chi trả sinh hoạt phí) so với ứng viên Cat. B.

Cơ hội học bổng theo vùng

Sau khi 12 ứng viên kia đã yên vị trong Main List, người ta mới tiến hành lựa chọn thêm từ các ứng viên dự bị (Reserved List – đủ trình độ để học nhưng không phù hợp với chương trình bằng 12 người trong Main List) một số ứng viên nhất định để đề xuất trao học bổng EM, nhưng được gọi là Geographical Windows. Lúc này, các tiêu chí nhân văn, đa dạng hay ưu tiên vùng miền các kiểu mới được tham gia vào.

Để tiện cho việc lựa chọn này, EM chia các nước ngoài EU ra thành 14 khu vực địa lý. Mỗi chương trình chỉ được phép chọn 1 ứng viên từ mỗi khu vực. Ví dụ, Reserved List của 4CITIES năm nào đó có 23 ứng viên đến từ 8 khu vực, thì 4CITIES chỉ được chọn ra 8 ứng viên.

Các ứng viên trong Geographical Windows, nếu sau đó được EC lựa chọn để trao học bổng, thì cũng được nhận học bổng với giá trị giống Main List – Cat. A

*Các ứng viên đã nhận admission offer nhưng không được học bổng của EM vẫn có thể theo học bằng cách tự chi trả (self-fund) hoặc tìm các cơ hội học bổng khác để trang trải chi phí.

Quyết định chính thức

Sau khi đã chọn ra ứng viên từ danh sách dự bị, các chương trình mới đệ trình Main List lẫn Geographical Windows lên Ủy ban Châu Âu (EC) để xin học bổng cho họ. Thường thì ứng viên trong Main List sẽ chắc chắn được học bổng Erasmus Mundus. Còn ứng viên trong Geographical Windows sẽ được chọn dựa trên:

  • Ngân sách hàng năm của EC cho EM. Năm 2017, trung bình mỗi chương trình nhận được 5 học bổng cho Geographical Windows.
  • Số lượng sinh viên cho mỗi khu vực.
  • Ưu tiên cho những quốc tịch chiếm tỉ lệ nhỏ (less represented nationalities)
  • Trình độ tương đối giữa các ứng viên trong Geographical Windows.

Kết luận

Có thể thấy quy trình tuyển sinh và xét học bổng của EM ưu tiên những người thật sự có đam mê và khả năng nghiên cứu tốt, thể hiện qua các bằng chứng cụ thể như GPA, xếp hạng, bài báo nghiên cứu khoa học. Những người học giỏi sẽ có nhiều cơ hội được học bổng EM.

Tuy nhiên, EM cũng không loại bỏ cơ hội của những ứng viên chưa thật sự xuất sắc nhưng có hoàn cảnh đặc biệt: quốc tịch chiếm tỉ lệ ít, đến từ vùng được ưu tiên. Có nghĩa là không phải cứ được học bổng EM là giỏi hơn người khác đâu nhé 😉

Lợi ích của việc du học bậc cao học – Long D Hoang

Du học bậc cao học không giống như bậc đại học. Đại học là một bước nền tảng mà đa số mọi người (ít nhất là ở Việt Nam) sẽ trải qua. Hoặc nếu không học đại học mà đi làm, đa số người ta cũng sẽ … quay lại học đại học sau một thời gian.

Còn cao học không như thế. Bước tiếp thêm 1-2 năm nữa là một ván cược lớn hơn, bởi vì người ta phải chấp nhận bỏ dở những gì đã xây dựng được trong những năm làm việc trước đó. Hoặc nếu đi du học khi chưa có kinh nghiệm làm việc, xác suất chọn ngành không phù hợp là rất cao.

Tréo ngoe thay là rất nhiều người khi được hỏi tại sao lại chọn khóa học đó lại đưa lại rất nhiều câu trả lời hồn nhiên.

Thực ra chọn học cao học (hay bất cứ khóa học nào cũng thế thôi), người ta sẽ phải trải qua mấy bước:

  1. Biết mục đích và nguyện vọng của mình.
  2. Biết khóa học đem lại lợi ích gì.
  3. So sánh xem mục đích và lợi ích có khớp nhau không.
  4. Đánh giá mình có đủ khả năng để thu nhận và phát huy hết những lợi ích đó không. Nếu chưa đủ thì cần làm gì, bỏ ra bao nhiêu nữa để có đủ khả năng.
  5. Dựa trên phân tích chi phí – lợi ích rồi mới quyết định đi học.

Phần 5 của loạt bài về du học này sẽ được viết thành 3 phần nhỏ (hoặc có thể mình sẽ viết 2 phần tiếp theo thành phần 6 và phần 7): lợi ích của việc du học bậc cao học, một số mục đích phổ biến khi du học và so sánh chúng với lợi ích, và một số việc cần chuẩn bị để đảm bảo tận dụng được khóa học tốt.

Chú ý: Bài viết này chỉ dành cho những bạn đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam.

Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu

Một môn cực kì phổ biến mà gần như ai học cao học ở Anh cũng phải động vào đó là (Advanced) Research Methods. Nếu như ở Việt Nam, môn này được nhiều bạn học cho qua, thì ở Anh đó là môn phải học nếu muốn tốt nghiệp. Hồi học kì 1 ở University of Nottingham, mình được một giáo sư “cứng” về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội đứng lớp (sau cùng thì người ta vẫn xếp kiến trúc vào khoa học xã hội). Phương pháp của bà là 50% bài giảng, 50% workshop. Sau 10 tuần, sinh viên sẽ từng bước thực hành xây dựng đề cương nghiên cứu. Bài tập hết môn là viết một cái đề cương nghiên cứu dài 3,500 từ (hơi ít).

Đến kì 2, sinh viên sẽ ngay lập tức được áp dụng phương pháp lẫn kiến thức nguyên lý, chỉ số, chỉ báo vào môn Case Study. Tức là sẽ chủ động tự làm tất tần tật các công đoạn của một nghiên cứu nhỏ: lập đề cương và kế hoạch, đem dụng cụ và bảng hỏi ra thực địa để khảo sát, tổng hợp và phân tích thông tin, báo cáo định kì. Kết thúc là một cái báo cáo nghiên cứu viết theo format của một bài báo nghiên cứu khoa học.

Sang kì 3, sinh viên sẽ được tống vào mặt nhiệm vụ: nghiên cứu và viết một luận văn (ở Anh gọi là dissertation) dài 20,000 từ trong vòng hơn 3 tháng. Mục đích cuối cùng của Case Study và Dissertation không phải là để cho có, mà còn nhắm đến việc công bố ở dạng các bài báo nghiên cứu khoa học.

Cần chú ý một chút: các khóa thạc sỹ ở Anh thường xuyên hướng tới các môn dạy tư duy-phương pháp nghiên cứu và các môn khai phóng hàn lâm. Còn các khóa học thạc sỹ ở Mỹ lại hướng tới các kiến thức và kĩ năng để giữ các vị trí công việc chuyên nghiệp hơn.

Xây dựng mối quan hệ

Việc xây dựng mối quan hệ tốt với các giáo sư thông qua công việc trong chính chuyên ngành của họ thường ít được sinh viên đại học ở Việt Nam chú ý. Các bạn sinh viên học khoa học tự nhiên có vẻ khá hơn chút, chịu khó làm trợ lý nghiên cứu cho các thầy. Còn lại nhìn chung việc này không quá phổ biến.

Học cao học ở nước ngoài là cơ hội để các bạn … sửa sai, nhất là những bạn muốn làm nghiên cứu. Chỉ cần các bạn nhiệt tình, giáo sư sẽ hỗ trợ tận răng cho việc nghiên cứu của bạn. Sinh viên ở khóa mình thường xuyên được giáo sư hỗ trợ chuyển luận văn và case study thành các bài báo nghiên cứu. Hồi mình mới về Việt Nam, thầy chủ động nhắn mình gửi abstract cho hội nghị khoa học PLEA 2017. Sau đó suốt mấy tháng, trò viết, thầy duyệt, đi đi lại lại nhiều lần. Thầy sửa từ ý tưởng đến cả câu từ. Ai đã quen Long đủ lâu sẽ biết trình tiếng Anh và độ kĩ tính của Long gớm ghiếc thế nào. Thế mà thầy còn sửa cho đỏ toẹt cả bài. Lại có thêm một bài học nữa về chuyện “Know your audience”.

Xong nhiều lúc làm việc với bên hội đồng khoa học của hội thảo mà chỉ muốn … bóp cổ cái đứa đang viết email trả lời mình. Nhưng do thầy nhiệt tình quá nên mình lại bấm bụng. Cuối cùng cũng đăng được bài báo khoa học trên Kỷ yếu hội nghị.

Trường hợp như mình không hề hiếm. Tính đến nay đã có tầm 20 người được thầy cô mình hướng dẫn như vậy rồi. Có người tốt nghiệp xong 1 năm đã có bài nghiên cứu đăng trên Springer. Học trò đều là first author hẳn hoi, các thầy cô chỉ là second & third authors thôi.

Không chỉ trong nghiên cứu, các thầy cô còn sẵn sàng giới thiệu mình với các đơn vị hành nghề hay các cơ hội học tập khác. Việc các sinh viên đứng đầu khóa được các công ty kiến trúc tuyển dụng và bảo lãnh visa cho ở lại Anh là việc thường xuyên, gần như năm nào cũng có ở khóa mình. Còn sinh viên đi học PhD cũng không phải khó (nói thật, trong mắt mình là dễ) khi đã có mối quan hệ và các công bố khoa học như trên.

Thử sức trong phạm vi trường học

Các cơ hội để thử sức có thể đến từ bất cứ đâu. Bạn có thể tham gia các cuộc thi chuyên ngành, tham gia các câu lạc bộ (club hoặc society) của sinh viên, hoặc thử sức ở các vị trí làm việc cho trường. Nhiều bạn bè của mình trong lẫn ngoài cộng đồng Chevening đã làm trưởng khóa, tình nguyện viên, hoặc đại sứ sinh viên quốc tế cho trường.

Cái hay ở chỗ: các thầy cô hết sức hỗ trợ. Cô giáo môn Project 2 của mình thậm chí còn lấy chính đề bài của một cuộc thi kiến trúc quốc tế làm 1 trong 3 đề bài của môn học. Sinh viên nào chọn đề bài đó sẽ được hỗ trợ để chuyển đồ án thành một poster gửi đi dự thi luôn.

Hồi đó đội mình giành được giải nhất toàn UK (thực ra là vì chả có đứa nào thèm gửi bài dự thi thôi, mình đoán thế). Đội mình, cùng đội giải nhì được đi tham gia vòng chung kết ở Belarus. Không phải chuyện đi thi được giải hay không, mà là lần đầu tiên mình được đến khu vực các nước Liên Xô Cũ.

Mình được nói chuyện với những người mà cái gì cũng chỉ quy ra được Ruble hoặc US Dollar, thậm chí ít người trong số họ nói tiếng Anh giỏi. Họ không hề nghèo, thậm chí rất giàu. Nhưng họ nghèo cái khác.

Rồi mình được học hỏi những cách làm đồ án rất giàu cảm hứng. Họ thể hiện đồ án tốt đến nỗi mà thầy dẫn đoàn phải bảo “Tao tưởng như mình ngửi được không gian chúng nó vẽ ra”. Đó là cái mà mấy đứa học ở UK thiếu.

Cuối cùng là nhận ra tại sao hình như chả sinh viên kiến trúc nào ở mấy trường tốt ở Anh đi thi. Mà rộng hơn ra thì, có vẻ như chỉ có sinh viên Việt Nam hay các nước còn ở vùng trũng về học thuật mới vui vầy với nhau trong các cuộc thi quốc tế.

… và ngoài trường học

Đến Belarus là lần đầu tiên mình biết được dân Kazakhstan toàn người lai Á-Âu. Có những trường hợp đặc biệt như kiểu bố người Hàn Quốc, mẹ người Nga, và giờ cả nhà ở Kazakhstan :)) Và vì là con lai nên họ rất đẹp. Chỉ kì cục là riêng đám con trai Kazakh lại hơi bị … khiêm tốn về ngoại hình.

Đó cũng là lần đầu tiên được ờ trong khách sạn Marriott ở Minsk trong 3 ngày, ăn uống party bằng voucher của khách sạn hoặc được ban tổ chức chiêu đãi. Ai muốn đi chơi sẽ có xe đón rước đến tận trung tâm thành phố.

Hay ho hơn, một số bạn may mắn có cơ hội thực tập hay làm việc bán thời gian ở các vị trí phù hợp với ngành học. Một người bạn của mình đã từng thực tập marketing ở International Students House tại London. Các sinh viên ngành Environmental Design của mình cũng được giới thiệu cho nhiều công việc cộng tác với các công ty trong ngành trong các dự án rất thú vị, như tái sinh một khu ở đã bị bỏ hoang chẳng hạn. Sau các kinh nghiệm như vậy, khả năng được các công ty tuyển dụng đương nhiên rất cao.

Quan trọng hơn cả: những cơ hội này rất phù hợp với mục tiêu học hỏi chuyên ngành, và nó sẽ đến với những người chịu bỏ công sức làm việc nghiêm túc.

Chuẩn hóa kiến thức và bằng cấp

Nói gì thì nói, một lợi ích hết sức thực tế của việc đi học nước ngoài là lấy một bằng cấp được thế giới công nhận.

Ở Anh, có 24 trường nằm trong một nhóm gọi là Russell Group, gồm các trường đại học dẫn đầu UK luôn đảm bảo duy trì chất lượng nghiên cứu tốt nhất và dạy-học vượt trội, cùng với các mối liên kết mạnh với khu vực công và hành nghề tư nhân. Hầu hết các trường này nằm trong top 100 hoặc 150 của các bảng xếp hạng QS và THE. Rất nhiều học giả Chevening đã chọn học tại các trường này. Đặc biệt UCL và LSE – các trường hàng đầu về khoa học xã hội, kinh tế học, luật, đều có tới cả trăm Chevener theo học mỗi năm.

Từ chỗ tốt nghiệp ở các trường thậm chí còn chả được xếp hạng, đến chỗ được vào top 100 hoặc thậm chí top 10, là một bước nhảy vọt rõ ràng.

Hơn nữa, một bộ kiến thức vững vàng là hành trang … xóa mù dài hạn. Điểm mạnh của kiến thức này không phải là nó có tính thực dụng cao, học xong là áp dụng được ngay. Điểm mạnh của nó là những người thực sự hiểu và biết cách tư duy sẽ vận dụng nó vào được mọi vấn đề. Phương pháp tư duy nghiên cứu khoa học xã hội mà tôi được học là một trong những thứ như vậy.

Tự do để học, học để tự do

Việt Nam chưa có đủ tài nguyên để sinh viên được có tự do học thuật. Cách tổ chức và quy định chương trình không cho phép sinh viên khám phá nhiều môn tự chọn. Và ngay cả khi có cơ hội, sinh viên cũng không được chọn những môn có tính khai phá tư duy như nhân quyền hay nhân chủng học. Chưa kể là cơ sở vật chất và con người còn hạn chế.

Còn ở Anh, nhiều chương trình thạc sỹ có các môn tự chọn để sinh viên thoải mái chọn theo hướng nghiên cứu hoặc phát triển nghề nghiệp của họ. Ví dụ như một người học về Educational Leadership & Management ở UCL hoàn toàn có thể chọn môn “vĩ mô” như Values, Vision and Moral Purpose hoặc môn “vi mô” như Developing Personal Leadership Skills.

Sinh viên cũng có quyền hẹn gặp với bất cứ giáo sư nào trong các khung giờ giáo sư tiếp sinh viên. Chỉ cần đến phòng của giáo sư và điền tên mình vào khung giờ đó. Việc tiếp và giải đáp thắc mắc của sinh viên là trách nhiệm của các giáo sư.

Trường cũng cung cấp một loạt khóa học ngắn hạn miễn phí gọi là in-sessional courses. Rất nhiều khóa học trong đó hỗ trợ phát triển các kĩ năng mềm thực dụng như: tiếng Anh (yeah, lại tiếng Anh), viết luận văn, viết luận. Mình cũng đã tham gia hai khóa học về presentation và dissertation writing như vậy.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu ở các đại học tốt thì phong phú khỏi phải nói. Sinh viên có thể sử dụng tài khoản sinh viên để truy cập vào hầu hết các kho bài nghiên cứu khoa học trên thế giới, đọc và download hoàn toàn miễn phí. Thư viện có hàng chục nghìn đầu sách với đủ kiểu vị trí ngồi học. Bạn được quyền ồn ào ở chỗ học nhóm. Còn ở khu đọc chuyên ngành hoặc phòng đọc riêng, người ta giữ yên lặng đến mức nghe thấy tiếng thẻ rơi trên thảm.

Và nếu bạn chọn một trường thuộc “nhóm tốt”, bạn sẽ thấy chương trình của họ tập trung nhiều vào việc phát triển con người có tư duy độc lập và phản biện, để nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và tự do hơn. Họ không muốn tạo ra các nô lệ cho công việc chỉ đi học để lấy công cụ thực dụng làm việc. Cái gọi là môi trường học thuật mà người ta ca ngợi ở các nền giáo dục tiên tiến, thực chất là từ mục tiêu tạo ra con người biết cách suy nghĩ, khám phá, phát triển và thuần thục chính bản thân.

Tóm lại, các lợi ích của việc du học bậc cao học ở Anh (và có thể ở các nước phát triển khác) là:

  • Nâng cao tư duy và phương pháp nghiên cứu.
  • Xây dựng các mối quan hệ.
  • Thử sức để học hỏi trong và ngoài trường học.
  • Nâng cao và chuẩn hóa kiến thức lẫn bằng cấp.
  • Học để tự do.

Hi vọng các bạn cảm thấy phần này bổ ích mặc dù nó hơi dài. Hẹn gặp lại ở phần tiếp theo, liên quan chặt chẽ tới phần này 😀

Tính toán cơ hội khi xin học bổng – Reckoning the odds – Long D Hoang

Bài này sẽ chỉ ra các nguyên tắc cơ bản cần xem xét trước khi xây dựng chiến lược săn học bổng.

*Chú ý: Đây là những phân tích để cung cấp góc nhìn rất thực tế về việc săn học bổng, chứ không phải để ngăn cản hay làm nhụt chí các bạn. Ngôn từ và quan điểm tôi viết ra sẽ đi ngược lại ý thích hay quan điểm của nhiều người. Nhưng mọi câu chuyện tôi nói đều là có thực.

Người chưa được học bổng nên đọc để hiểu hơn về cơ hội và khả năng của mình.

Người vừa mới được học bổng cũng nên đọc để hiểu hơn tại sao mình đạt học bổng, tránh việc đưa ra những thông tin hay quan điểm thiếu cơ sở khiến cho nhiều người khác tốn công sức vô ích.

*Các học bổng được nhắc đến ở đây là học bổng bậc thạc sỹ do các chính phủ hoặc quỹ đa chính phủ cấp.

Nguyên tắc 1: Mỗi học bổng có một bộ tiêu chí riêng

Các tiêu chí năng lực bên trong: là các yếu tố bên trong mà ứng viên hoàn toàn có thể trau dồi và thay đổi để đạt các tiêu chí này

  • Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn
  • Nền tảng kiến thức và khả năng nghiên cứu (ở ngành ứng tuyển)
  • Khả năng tư duy và giao tiếp
  • Các kĩ năng, phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu. Ví dụ: động lực cá nhân, khả năng lãnh đạo, kĩ năng tạo mối quan hệ, khả năng làm đại sứ văn hóa.

Trong đó, 3 yếu tố chuyên môn, học thuật, và tư duy là có thể so sánh được tương đối rõ ràng giữa ứng viên này với ứng viên khác dựa trên số năm kinh nghiệm, thành tích học và ngành học, và các bài luận xin học bổng. Tuy nhiên, nếu các ứng viên có ngành ứng tuyển khác nhau, việc so sánh cũng tương đối khó.

2 yếu tố động lực và phẩm chất cá nhân rất khó có thể so sánh và hoàn toàn dựa trên đánh giá cảm tính.

Các tiêu chí bên ngoài: là các yếu tố bên ngoài được mặc định từ khi sinh ra hoặc ứng viên ít có khả năng thay đổi.

  • Đa dạng quốc tịch, đa dạng văn hóa, đa dạng miền địa lý (3 tiêu chí): nhiều chương trình học bổng không công khai điều này, nhưng chắc chắn họ luôn hướng tới sự đa dạng quốc tịch, đa dạng văn hóa, và đa dạng về miền địa lý. Erasmus Mundus là một trong những chương trình hiếm công khai việc họ sắp xếp các geographical windows (các suất học bổng cố định cho các vùng địa lý ngay cả khi ứng viên không hoàn toàn đạt yêu cầu về học thuật)
  • Quan hệ ngoại giao giữa các nước: các học bổng cho phép ứng viên quốc tế, bất kể quốc tịch, ứng tuyển đều có tính chất ngoại giao nhất định. Ví dụ: trong suốt 10 năm từ 2006 đến 2015, người Việt Nam luôn nằm trong nhóm 2 nước được nhiều học bổng Endeavour nhất, thậm chí còn thường xuyên giành nhiều nhất. Nếu chỉ xét các yếu tố chủ quan, thì không thể nào người Việt Nam có nhiều suất như vậy. Chúng ta chắc chắn không thể giỏi tiếng Anh hay có trình độ học thuật tốt hơn ứng viên Ấn Độ được.
  • Ưu tiên cho các vùng khó khăn. Ví dụ: Việt Nam là một “vùng trũng” của thế giới về học thuật. Vì thế các sinh viên Việt Nam chắc chắn luôn được ưu tiên một số suất nhất định trong học bổng Erasmus Mundus (tôn chỉ của Erasmus Mundus là trao đổi học thuật, đặc biệt là đào tạo học giả cho các vùng còn đang kém phát triển).
  • Ưu tiên ngành. Ví dụ: học bổng BBS ưu tiên ứng viên học ngành quản lý và xử lý nước. Ứng viên có thể không hẳn giỏi chuyên môn hay tư duy tốt hơn ứng viên ngành khác, nhưng anh ta là ứng viên khá nhất dự định học ngành xử lý nước, vậy thì anh ta phải được học bổng thôi.
  • Các tiêu chí ưu tiên khác về profile: là người khuyết tật, đang làm việc cho cơ quan nhà nước cấp Bộ, đang hoặc sẽ làm việc cho NGO, người thân làm chính trị – ngoại giao.
  • May mắn.

Mỗi học bổng có một cách quy định riêng biệt về trọng số của các tiêu chí trên. Ví dụ: Chevening coi trọng tiêu chí lãnh đạo, Fulbright coi trọng tiêu chí đại sứ văn hóa, AAS coi trọng profile và triển vọng đóng góp cho nhà nước, Erasmus Mundus coi trọng khả năng học thuật, Endeavour lại có tính ngoại giao cực mạnh. Đặc biệt, không phải lúc nào tiêu chí năng lực cũng là tiêu chí quan trọng nhất.

Muốn xin học bổng, trước hết phải tìm hiểu được chính xác bộ tiêu chí của học bổng.

Nguyên tắc 2: Người được học bổng là người phù hợp nhất, chứ không phải người giỏi nhất

Chính xác hơn, người được học bổng là người thể hiện được rằng họ là lựa chọn phù hợp nhất với học bổng.

Phù hợp nhất tức là sao? Ví dụ nhé:

  • Là ứng viên giỏi lãnh đạo nhất cho học bổng ưu tiên lãnh đạo tương lai.
  • Là ứng viên “naïve” nhất cho học bổng ưu tiên các đại sứ văn hóa.
  • Là ứng viên khá khẩm nhất đến từ vùng Đông Nam Á.
  • Là ứng viên DUY NHẤT ứng tuyển một chương trình thuộc Erasmus Mundus mà đến từ Châu Á.

Có nghĩa là họ KHÔNG NHẤT THIẾT phải người giỏi nhất về chuyên môn, hay học giỏi nhất, hay có động lực lớn nhất, hay giỏi lãnh đạo nhất.

Ví dụ:

  • Đỗ Hữu Chí được học bổng Fulbright với GPA vừa đủ điểm tốt nghiệp.
  • Một số học giả Chevening năm 2015 được học bổng với điểm loanh quanh 7.0 – 7.6
  • Một bạn được học bổng Erasmus Mundus ngành lâm nghiệp, mặc dù ngành học và kinh nghiệm làm việc chẳng liên quan gì đến lâm nghiệp.

Chúng ta thường tìm hiểu học bổng thông qua profile, hoặc may mắn hơn là bài luận của những người đã dành được học bổng. Nhưng những việc đó sẽ không giúp ích được nhiều cho việc chuẩn bị hồ sơ, nếu như chúng ta không biết được TẠI SAO họ giành được học bổng (hay họ được chọn do đáp ứng được tiêu chí nào), và NHỮNG ỨNG VIÊN CẠNH TRANH là ai để so sánh hồ sơ dựa trên hệ quy chiếu của học bổng.

Tóm lại, mục đích của việc tìm hiểu hồ sơ thành công là xem người ta có gì phù hợp với tiêu chí, có gì vượt trội so với những người cạnh tranh, chứ không phải xem người ta giỏi như thế nào. Nói cách khác, “giỏi” là phải được so sánh với đúng hệ quy chiếu của học bổng, chứ không phải “giỏi” vì anh ta được học bổng.

Nguyên tắc 3: Muốn thành công cần cả năng lực và rất nhiều may mắn

3 yếu tố năng lực, tiêu chí học bổng, và may mắn có vai trò rất khác nhau trong mỗi trường hợp săn học bổng thành công (hoặc không thành công). Sẽ rất hàm hồ khi dựa vào việc một người được học bổng mà khái quát ra quy luật, kiểu như: Anh ta được học bổng toàn phần vì anh ta năng lực và phẩm chất cá nhân tốt, hay coi nhẹ vai trò của may mắn trong học bổng.

Để hiểu hơn về vai trò của các yếu tố này, hãy xét các trường hợp sau.

Giả sử phổ năng lực của các ứng viên cho một học bổng tuân theo đúng quy luật phân bố 5% thực sự kém – 90% năng lực trung bình sàn sàn như nhau – 5% vượt trội hẳn, xuất sắc.

Trường hợp 1: số suất học bổng vừa đúng bằng số lượng 5% ứng viên. Nếu tiêu chí chủ yếu của học bổng là năng lực, công việc lựa chọn sẽ rất đơn giản: trao học bổng cho đúng 5% xuất sắc. Ví dụ: có 200 hồ sơ và sau 3 vòng xét tuyển người ta lọc ra được 10 người thực sự vượt trội hơn hẳn 190 người còn lại về nền tảng kiến thức, kinh nghiệm, tư duy, và phẩm chất cá nhân. Số học bổng là 10 suất => lấy đúng 10 người đó.

Trường hợp 2: số suất học bổng nhiều hơn 5% ứng viên. Ngay cả khi tiêu chí chủ yếu là năng lực, ban xét duyệt vẫn không thể chọn ra đủ số người để trao học bổng. Khi đó họ chỉ có lựa chọn: chọn thêm từ những người không thực sự đạt yêu cầu dựa trên các yếu tố ưu tiên bên ngoài hoặc bốc thăm ngẫu nhiên. Ví dụ, có 300 hồ sơ ứng tuyển, 15 người thực sự xuất sắc đạt yêu cầu, còn hơn 200 người còn lại chỉ sàn sàn như nhau. Số suất học bổng là 30. Vậy 15 người còn lại sẽ được chọn do may mắn chứ không hẳn do năng lực tốt.

Trường hợp 3: Số suất học bổng ít hơn nhiều so với 5% ứng viên. Khi đó họ buộc phải lựa chọn trên yêu tố ưu tiên bên ngoài hoặc bốc thăm ngẫu nhiên trong số 5% đó để chọn ra người được học bổng. Ví dụ, có 10,000 hồ sơ ứng tuyển mà chỉ có 10 suất học bổng. Vậy thì trong 500 người ổn nhất, vẫn phải bốc thăm ra 10 người may mắn. Hoặc, người ta phải dùng một tiêu chí không liên quan đến năng lực để lọc ứng viên ngay từ những vòng đầu tiên.

Các trường hợp trên mới chỉ xét các học bổng coi tiêu chí năng lực là quan trọng nhất. Thực tế, không phải khi nào học bổng nào cũng coi tiêu chí năng lực là quan trọng nhất, như trường hợp dưới đây.

Trường hợp 4:

Một ứng viên không học và làm gì liên quan đến lâm nghiệp được học bổng EM ngành lâm nghiệp.

Bất kể bạn này có động lực hay tầm nhìn đến mấy, chắc chắn trong hàng nghìn hồ sơ phải có hàng chục người khác có kiến thức, có kinh nghiệm nhiều hơn và cũng có động lực và tầm nhìn tốt. Vậy câu trả lời ở đây chỉ có thể là: không phải lúc nào năng lực cũng là yếu tố quyết định. Chuyện này xảy ra không chỉ với EM đâu, mà còn với nhiều học bổng quốc tế khác với số lượng hồ sơ lên tới hàng chục nghìn.

Nguyên tắc 4: Biết ưu tiên học bổng dựa trên điều kiện thực tế

Có một sai lầm rất kì cục và phổ biến: săn học bổng mà không có sự ưu tiên.

  • Viết một bộ hồ sơ chung để ứng tuyển cho tất cả các học bổng, không quan tâm mấy đến sự khác nhau về tiêu chí => không biết ưu tiên công sức và thời gian cho đúng học bổng phù hợp với mình, cũng không biết ưu tiên thể hiện tố chất nào cho học bổng nào.
  • Dành nhiều hi vọng cho các học bổng như nhau => không biết ưu tiên tâm trí cho đúng học bổng, để đến khi trượt cái học bổng không phù hợp với mình thì lại thất vọng tràn trề.

Việc ưu tiên phải dựa trên (1) sự phù hợp của tiêu chí học bổng đối với năng lực cá nhân, và (2) tỉ lệ giữa số suất học bổng và số lượng hồ sơ.

Ưu tiên thế nào?

  • Ưu tiên số 1: học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp với năng lực cá nhân, số suất học bổng nhiều hơn 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: với những học bổng này, khi có năng lực thực sự vượt trội (thuộc nhóm 5%), bạn chắc chắn sẽ được học bổng.

Nhược điểm: phải nằm trong số 5% mới tự quyết định được số phận, không thì hoàn toàn chỉ cầu may.

  • Ưu tiên số 2: học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp năng lực cá nhân, số suất học bổng xấp xỉ 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: với những học bổng này, khi có năng lực thực sự vượt trội (thuộc nhóm 5%), bạn chắc chắn sẽ được học bổng.

Nhược điểm: phải nằm trong số 5% mới được học bổng.

  • Ưu tiên số 3: các học bổng có nhiều tiêu chí phù hợp năng lực cá nhân, số suất học bổng nhiều hơn 5% tổng số hồ sơ.

Ưu điểm: không cần quá giỏi, may mắn hơn người khác một chút nữa là được học bổng.

Nhược điểm: không tự quyết định được số phận, đỗ cũng chẳng biết tại sao mình đỗ.

  • Không ưu tiên: các học bổng có số suất học bổng ít hơn nhiều so với 5% tổng số hồ sơ, các học bổng không đặt tiêu chí năng lực lên hàng đầu. Lý do không ưu tiên: giỏi đến mấy cũng chỉ kiểm soát được 30% cơ hội (thông qua viết hồ sơ và bài luận), phần còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào sự may mắn (ứng viên cạnh tranh có xuất sắc không, ban xét duyệt bốc trúng mình không, có ai cạnh tranh cùng vùng miền không)

Kết luận: Săn học bổng đòi hỏi những tìm hiểu và tính toán chiến lược, cơ hội kĩ lưỡng dựa trên thông tin thật chứ không phải quan điểm kiểu: “Tôi cho rằng/Tôi nghĩ rằng…”. Tức là phải tìm hiểu rất nhiều trường hợp khác nhau, nhất là những trường hợp trượt học bổng, chứ không phải cứ nhìn vào những trường hợp thành công. Không kém phần quan trọng: cần liên tục nâng cao năng lực của bản thân để vào nhóm 5%, thậm chí 2%. Càng có kiến thức nền tảng tốt, kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu dày dạn, tư duy và khả năng đặc biệt tốt, càng có nhiều khả năng quyết định số phận hồ sơ. Ngược lại, thiếu đi một thứ trong những thứ trên, phần trăm may mắn cần thiết sẽ lại phải tăng lên một phần.

Trước khi ứng tuyển, hãy tự hỏi mình có kiến thức chuyên ngành phù hợp không (không nhất thiết phải có bằng cấp)? Có kinh nghiệm phù hợp không? Tư duy đã ở trong nhóm 5% chưa hay vẫn mù mờ cảm tính, thiếu phản biện như hàng triệu người Việt Nam khác?

Trả lời được các câu trên, các bạn sẽ có cái nhìn thực tế hơn về bản thân và cơ hội của bản thân, bất kể đã được học bổng hay chưa.

Bonus: hồi tôi làm hồ sơ ứng tuyển Chevening, tôi tính toán thế này:

  • Background: bằng đại học về kiến trúc, phù hợp với ngành Environmental Design định ứng tuyển.
  • Kinh nghiệm và năng lực công việc: 3 năm, đã có kinh nghiệm thiết kế công trình nhỏ lẫn thi công công trình siêu cao tầng.
  • Tư duy và khả năng trình bày bằng tiếng Anh (viết và nói): ổn, tự tin không mấy người cùng ngành có thể cạnh tranh.
  • Khả năng lãnh đạo: lãnh đạo được cái đời mình *kidding* suốt 2 năm làm giám sát liên tục phải “huých” các đội nhà thầu đảm bảo chất lượng, giữ tinh thần trách nhiệm trong công việc.
  • Số lượng hồ sơ và số suất học bổng Chevening: vô tình tìm được ở đâu đó số lượng hồ sơ xấp xỉ 200, mà số lượng suất học bổng sẽ khoảng 30.

Kết luận: hoàn toàn có quyền tự quyết định số phận :v

Đôi điều chia sẻ về học bổng Chevening – Trương Thanh Vân

Học bổng chính phủ Chevening vẫn luôn có 1 sức hút lạ kì bởi tầm ảnh hưởng của học bổng này hay bởi những Chevening scholars luôn là những bạn tâm huyết và lấy cộng đồng làm trung tâm.

Bên dưới là 1 bài chia sẻ vô cùng chân thành và thực tế không chỉ dành riêng cho HB Chevening mà còn là học bổng chính phủ nói chung.
Ghi chú trước khi đọc: Bài viết này được mình tâm huyết viết ra từ tối hôm qua nhưng do mạng dạo này quá yếu kém (chắc do cá mập lại cắn cáp quang), mình không thể post được và đã rất ức chế. Hôm nay mình ăn trộm một ít mạng của cơ quan để post lên nhưng chẳng hiểu sao lại lỗi font chữ nên mình phải để cái font chữ trông quê mùa này.
Nhân dịp mới nhận VISA UK và nhân dịp học bổng Chevening mở đơn vào ngày 8/8 và sẽ hết hạn vào 8/11, mình xin trả lời một số câu hỏi mà nhiều bạn và anh/ chị inbox mình hỏi về học bổng Chevening (học bổng của Chính Phủ Anh), mình nghĩ đây cũng là thắc mắc của nhiều bạn và anh/ chị khác nữa, nên mình trả lời luôn trên đây.
Mình đã rất may mắn khi được học bổng này nên mình cũng hi vọng giúp đỡ được các bạn phần nào trong quá trình xin học bổng.
1. Nhân tố đóng vai trò quan trọng để Chevening lựa chọn bạn vào vòng phỏng vấn? (CV, bài luận, ielts)
Mình nhận thấy bài luận và CV là hai điểm quan trọng nhất để bạn được lựa chọn vào vòng phỏng vấn.
Với bài luận: bạn phải nói rõ về lí do chọn khóa học, thể hiện được bằng chứng về kinh nghiệm lãnh đạo và tiềm năng lãnh đạo, networking và kế hoạch tương lai cụ thể nhưng không viển vông (đừng đưa ra một kế hoạch nghe quá to tát và không có khả năng thực hiện được – ví dụ như một kế hoạch chung chung và vĩ mô như kế hoạch của tôi là đưa Việt Nam thành nước phát triển hàng đầu thế giới, hay cải thiện nền giáo dục VN…Nên cụ thể hóa và thực tế hơn).
Về hồ sơ: học bổng Chevening và rất nhiều các học bổng chính phủ khác như Úc, Bỉ, New Zealand Asean yêu cầu tối thiểu 2 năm kinh nghiệm làm việc. Nhiều bạn hỏi mình là “em mới ra trường nhưng em có 2 năm kinh nghiệm làm việc volunteer khi còn đi học thì có được không?”.
Mình nhận thấy 2 năm kinh nghiệm ở đây cần phải nhấn mạnh là kinh nghiệm mạnh. Đại đa số những người được lựa chọn có nhiều hơn 2 năm kinh nghiệm. Bạn đương nhiên sẽ khó cạnh tranh hơn với những người này.
Không phải ngẫu nhiên mà các học bổng và các trường đưa ra tiêu chí 2 năm kinh nghiệm làm việc. Có thể lí giải như sau.
Thứ nhất:  khi bạn đã đi làm được hai năm, bạn sẽ hiểu rõ được con đường bạn muốn theo đuổi và công việc bạn đang làm, các bạn mới ra trường sẽ khó xác định rõ được điều này.
Thứ hai:  học thạc sĩ ngay sau khi ra trường sẽ khiến bạn vất vả hơn vì bạn chưa đủ tích lũy kiến thức để học được trong môi trường học thuật. Trường mình đã gửi cho mình một danh sách các sách cần đọc trước khóa học và mình nhận thấy nếu mình đi học ngay sau khi ra trường thì mình sẽ chẳng hiểu sách viết cái gì, vấn đề không phải là ngôn ngữ tiếng Anh, mà vấn đề là mình đã phần nào tích lũy được kiến thức nền để tiêu hóa các sách học thuật này.
Có quá nhiều bạn hỏi mình về việc Ielts có phải là nhân tố quyết định không?
Bạn ấy được 7 ielts thì có cạnh tranh được với các bạn 8 ielts không? Ielts là điều kiện bắt buộc phải có nhưng không phải nhân tố cạnh tranh. Chevening chỉ yêu cầu ielts sau khi bạn đã vượt qua vòng phỏng vấn. Nếu bạn đã vượt qua vòng phỏng vấn, bạn sẽ nhận được thư có điều kiện, và khi đó bất cứ ai được trên 6.5 ielts không có điểm nào dưới 6 – mức điểm học bổng yêu cầu – thì sẽ nhận được Final award letter. Tuy nhiên, bạn cần phải kiểm tra xem trường của bạn yêu cầu mức Ielts nào nữa nhé, có trường yêu cầu hơn mức yêu cầu của học bổng.
Vậy nếu bạn đã đạt được mức Ielts mà học bổng và trường yêu cầu thì bạn không cần phải thi nữa. Và nếu bạn chưa có Ielts thì bạn cứ nộp hồ sơ, đầu tư thời gian viết bài luận và khi bạn qua vòng phỏng vấn rồi thi cũng được (Đây là cách tiết kiệm tiền đó ).
Tuy nhiên, các bạn nên dành nhiều thời gian củng cố vốn tiếng Anh bằng cách đọc các báo chí tiếng Anh, các sách bằng tiếng Anh về xã hội và chuyên ngành bạn đang làm, nghe các chương trình tiếng Anh. Các cách này sẽ giúp bạn rất nhiều trong buổi phỏng vấn cam go và khi sang Anh học. Trên forum Trái Tim Việt Nam online có bạn chia sẻ là kĩ năng nói tiếng Anh của bạn ấy không tốt nên khi đi phỏng vấn bạn ấy không thể nói được nhiều mặc dù người phỏng vấn cũng đã tạo điều kiện hỏi thêm để bạn ấy có cơ hội nói thêm. Rào cản ngôn ngữ làm bạn ấy không thể hiện được bản thân.
2. Vòng phỏng vấn:
Cứ tự tin, thoải mái và là chính mình. Nói vậy thội chứ lúc mới bước vào phòng phỏng vấn, mình run lắm :D:D Nhiều bạn hỏi mình đi phỏng vấn được hỏi gì? Thực ra các câu hỏi trong vòng phỏng vấn có thể tìm được trên rất nhiều trang web. Tuy nhiên vì hồ sơ của mỗi người khác nhau, bài luận khác nhau nên nhiều câu hỏi sẽ khác nhau…Nên các bạn cần hiểu rõ những gì mình đã viết trong bài luận, những gì mình nói trong buổi phỏng vấn, và công việc mình làm vì các bạn sẽ bị xoáy vào những chỗ bất ngờ, không đoán trước được.
Kinh nghiệm và tiềm năng lãnh đạo – Leadership
Nhiều bạn nói rằng không dám nộp học bổng này vì không có kinh nghiệm gì về leadership? Trong buổi phỏng vấn anh Graham cũng nói rõ khi đặt câu hỏi về leadership rằng “we are not looking for a Prime Minister, we are looking for people with leadership potential”. Tiềm năng lãnh đạo thể hiện ở trong nhiều việc bạn làm có thể trong công việc, có thể trong cuộc sống. Bạn có thể kể về một lần bạn lead một nhóm thực hiện một hoạt động trong công việc hay không bắt buộc phải trong công việc, bạn có thể kể về một lần bạn lead một nhóm bạn đi leo núi hay bạn tổ chức một chuyến picnic cho một nhóm bạn. Điều quan trọng là ví dụ bạn kể cần nói rõ được bạn đã thể hiện được leadership như thế nào?
Kinh nghiệm mình kể là về lần tham gia chương trình về Biến đổi khí hậu và mình được lead một nhóm các bạn đến từ nhiều quốc gia đi thu thập dữ liệu cho dự án. Mình đề cập đến cách mình lead là gì và lí do vì sao mình chọn cách lead đó. Các khó khăn trong khi lead hoạt động này, cách vượt qua khó khăn và kết quả đạt được cuối cùng như thế nào.
Điều mọi người cần chú ý là tránh liệt kê, tránh nói quá chung chung hoặc nói quá tủn mủn. Ví dụ: Không nên nói trong thời gian qua tôi đã lead nhóm A làm cái này, tôi lead cả nhóm B làm cái kia. Cái người ta cần nghe là bạn lead các hoạt động đó như thế nào? Không phải là bạn lead được bao nhiêu hoạt động…Tránh nói quá tủn mủn, ví dụ: Tôi đã lead hoạt động A, và tôi giao cho thằng X việc này, giao cho thằng Y việc kia…..(Sau khi được học bổng, mình có nói chuyện với một số bạn được chevening năm nay và một số anh chị Alumni, và mình rút ra được chú ý này.)
Networking
Networking là kĩ năng liên kết và tạo dựng mối quan hệ. Nghe có vẻ hơi trừu tượng nhưng thực tế là các bạn tìm đến những cơ hội để gặp gỡ những người cùng mối quan tâm để chia sẻ, đồng thời bạn phải phát triển bản thân tốt hơn để người ta muốn tham gia vào network với mình và duy trì network này. Ví dụ như này cho dễ hiểu, bạn chủ động tìm kiếm cơ hội tham gia một khóa học/ hội thảo… và bạn quen được nhiều người trong các chương trình này, bạn giữ được mối quan hệ với những người này. Họ thấy bạn tốt, tài năng và ham học hỏi nên họ cứ muốn network với bạn, và bạn và họ luôn hợp tác, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau. Network bạn xây dựng được đã mang lại điều gì cho bạn?
Câu hỏi về nước Anh và học bổng Chevening
Cũng giống như khi bạn đi nộp đơn xin việc, ban phỏng vấn sẽ không thể chọn bạn nếu bạn không rõ về công ty/ tổ chức bạn xin ứng tuyển hoặc sản phẩm của công ty đó là gì? Chắc chắc các bạn sẽ được hỏi các câu hỏi về nước Anh và học bổng Chevening, bạn cần thuyết phục ban phỏng vấn bằng những lí do vì sao bạn chọn nước Anh mà không phải Mỹ hay Úc hay…và học bổng Chevening mà không phải Fulbright hay ADS..etc…
Mình được hỏi các câu hỏi trừu tượng như các giá trị của Anh rồi đến những câu hỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng lại chính là điểm để bạn thể hiện sự hiểu biết về nước Anh như ‘’khi đến Anh, bạn muốn đi đâu?” Thoạt đầu nghe chữ ‘’giá trị’’ mình cũng hơi lúng túng, nhưng sau vài giây suy nghĩ mình đã nhận ra rằng giá trị chính là những thứ mà người ta thường nhắc đến khi nói tới nước Anh, và lúc đó mình như vào đà, mình nói về nền dân chủ lâu đời ( có dẫn chứng năm 2015 kỉ niệm 750 năm nền dân chủ của Anh), mình nói về luật phúc lợi động vật lần đầu tiên trên thế giới ở Anh, tình yêu và ý thức bảo vệ thiên nhiên và động vật của người Anh, về nước Anh là quê hương của các học thuyết kinh tế và phát triển ( có dẫn chứng vài nhà kinh tế học nổi tiếng), rồi sức ảnh hưởng của nước Anh lên âm nhạc, kịch, phim ảnh etc…Đối với câu hỏi thứ hai mình đã trả lời rằng ‘’tất nhiên đầu tiên tôi muốn đến London vì London từ lâu đã được coi là thủ đô văn hoá của thế giới, và năm 2016 kỉ niệm 400 năm ngày mất của Shakespeare và tôi tin đây là một cơ hội có một không hai để đến thăm quê hương ông ở Stratford-upon-Avon in Warwickshire.
Mỗi người phỏng vấn sẽ có cách đặt câu hỏi và kiểm tra sự hiểu biết thật sự của bạn về nước Anh và học bổng Chevening nên mọi người nên dành thời gian thực sự tìm hiều :). Một chị Alumni chia sẻ rằng, sau khi chị ấy nói là mê nước Anh vì có the Beattle rồi là Shakespeare, thì ngay lập tức người phỏng vấn hỏi lại là vậy bạn yêu tác phẩm nào và có câu nói nào trong các tác phẩm của Shakespeare mà bạn yêu thích. Vì vậy chìa khóa là chỉ nên nói những gì mình thực sự hiểu và quan tâm.
Vấn đề xã hội
Mình được hỏi các câu hỏi về các vấn đề mà đất nước đang phải đối mặt và dựa vào câu trả lời của mình mà ban phỏng vấn trao đổi thêm. Mình nghĩ tất cả các câu hỏi của ban phỏng vấn đều sẽ có sức nặng như nhau khi đánh giá bạn, nên hãy chuẩn bị thật kĩ cho buổi phỏng vấn vì “Fail to prepare, prepare to fail” mà, khi trả lời thì đối với mọi câu hỏi các bạn nên suy nghĩ một vài giây, sắp xếp ý trước khi bắt đầu nói :).
Cuối cùng,  mình thấy Chevening cũng muốn tìm đến những người có mối quan tâm đến các vấn đề rộng lớn hơn.
Nói tóm lại, mình thấy xin học bổng là một quá trình gian nan vì trong cùng một khoảng thời gian mình phải vừa đi làm, vừa đi dạy, vừa phải chuẩn bị hồ sơ, viết bài luận cho học bổng và viết bài luận cho trường, lại vừa dành thời gian đi chơi với gia đình nữa.
Nhưng giây phút nhận được email trúng học bổng là giây phút chắc mình chẳng bao giờ quên được trong đời, cảm giác vô cùng khó tả.
Mình hi vọng chia sẻ của mình giúp được phần nào cho các bạn trong quá trình xin học bổng, và nếu bạn có thêm câu hỏi nào nữa các bạn hoàn toàn có thể inbox hoặc để lại dưới phần comment dưới đây :). Trong note này mình chỉ để cập đến kinh nghiệm nộp học bổng Chevening, còn rất nhiều các học bổng khác cho các bạn lựa chọn. Mọi người nên nộp một vài học bổng để có nhiều cơ hội hơn. Năm nay mình chỉ nộp mỗi học bổng Chevening nên thực sự là mình đã rất lo lắng.
Trương Thanh Vân- Chevening Scholar 2017

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (Phần 3)

Phần 3: Fallacy Busted – Những quan niệm sai lầm về học bổng chính phủ

Như tên của bài viết, mình sẽ nói về những nhầm lẫn hoặc sai lầm mà mọi người hay mắc phải khi nghĩ đến hoặc ứng tuyển học bổng chính phủ.

1. Điểm IELTS/TOEFL là một tiêu chí quan trọng khi xét duyệt hồ sơ, cho nên điểm này càng cao thì hồ sơ càng dễ được chọn.
=> Thực tế là điểm bài thi chuẩn hóa Tiếng Anh của các bạn chả có ý nghĩa gì hết ngoài chuyện nó chứng minh được bạn đủ khả năng để đi học ở nước nói tiếng Anh. Chẳng thiếu gì những người đã được nhận học bổng chính phủ mà điểm IELTS chỉ đạt mức tối thiểu. Một số chương trình thuộc Erasmus Mundus khẳng định rằng mức điểm số IELTS hay TOEFL không bao giờ là tiêu chuẩn xét duyệt hồ sơ của họ và ứng viên chỉ cần qua mức sàn là được. Ban xét duyệt hồ sơ của đại học Nottingham đã khẳng định với mình là điểm IELTS của bạn chỉ cần đạt 6.5, còn lại thì 8.0 hay 8.5 cũng chẳng khác gì 6.5 cả, tức là hồ sơ của bạn sẽ không “đẹp” lên vì cái điểm IELTS. Học bổng AAS cũng khẳng định tiếng Anh của ứng viên có tốt hay trung bình thì ban giám khảo cũng chẳng dựa vào trình độ tiếng Anh để đánh giá chất lượng hồ sơ.
Tóm lại, ngoại trừ một số rất ít chương trình nêu rõ rằng điểm bài thi tiếng Anh cao là lợi thế (thường là các chương trình học về báo chí hay học bổng Fulbright), điểm bài thi IELTS của bạn chỉ cần 6.5, không cần cao hơn.
2. – Các học bổng phát triển như Chevening, Fulbright, AAS, v.v không chào đón, không cấp học bổng cho ứng viên đến từ khối tư nhân.
– Ứng viên từ các công ty tư nhân có rất ít cơ hội với học bổng phát triển.

=> Cái này sai hoàn toàn. Bà Karen Maddocks, làm việc trong Văn phòng Khối Thịnh vượng chung của Anh quốc năm 2007, cho biết:

Học bổng này (học bổng Chevening) không chỉ dành cho viên chức nhà nước hoặc những ai làm việc tại Hà Nội. Chúng tôi rất khuyến khích tất cả những ai làm việc cho mọi lĩnh vực, ở mọi nơi trên cả nước VN nộp hồ sơ thi. Tất cả ứng cử viên đều được đánh giá hoàn toàn dựa trên khả năng, theo tiêu chuẩn của chương trình Chevening. <careerbuilder.vn, URL: http://careerbuilder.vn/en/talentcommunity/hoc-bong-chevening-khuyen-khich-moi-ung-vien-xuat-sac.35A50171.html>

Nếu bạn nào vào Chevening alumni directory để tra cứu về ứng viên Việt Nam thì sẽ thấy một đống ứng viên đã được học bổng khi làm ở các công ty tư nhân. Mình biết một anh được giành được học bổng Chevening lúc đang self-employed. Anh này cũng được học bổng AAS khi làm cho một công ty tư nhân của Úc.
Tóm lại là bỏ ngay cái ý nghĩ học bổng phát triển không “chơi” với khối tư nhân đi nhé.

3. GPA cao là một tiêu chí quan trọng khi xét tuyển hồ sơ, cho nên điểm này càng cao càng dễ được chọn
=> Cái này chỉ đúng với học bổng tài năng (merit-based) thôi nhé. Còn với học bổng hỗ trợ phát triển, điểm GPA thực ra không mấy quan trọng. Nó chỉ chứng minh ứng viên đủ khả năng để hoàn thành khóa học tương lai thôi. Ban xét duyệt học bổng phát triển không tìm người học giỏi, mà họ tìm kiếm những người có thể tận dụng những gì thu được sau thời gian du học để làm lợi cho nước nhà và mối quan hệ song phương. Thực tế, điểm của người viết bài này có mỗi 7,6 so với một đống hồ sơ của các bạn nộp ngành kinh tế, truyền thông, xã hội, toàn bằng giỏi với điểm trên 8,0. Nếu điểm GPA quan trọng thì tác giả chắc “tách tành tạch” từ vòng hồ sơ của Chevening rồi chứ đâu có ngồi đây mà chém gió được. Anh Đỗ Hữu Chí, được học bổng Fulbright năm 2010 có điểm tốt nghiệp đại học thấp đến mức mà theo anh nói thì: “Điểm ra trường của tôi đâu như được nhỉnh hơn 5 phẩy một chút (lạy Phật, vừa đủ)…”

4. Cần phải có một bộ CV “đẹp”, tức là nhiều dự án và các hoạt động xã hội sẽ thì hồ sơ mới có tính cạnh tranh cao. Cho nên cứ tham gia nhiều hoạt động vào để hồ sơ “đẹp”.
=> Cái này cũng chỉ đúng với học bổng merit-based. Với học bổng hỗ trợ phát triển thì chưa chắc. Như đã nói ở trên, học bổng phát triển tìm kiếm người có khả năng làm lợi cho mối quan hệ song phương. Khả năng này do tố chất con người quyết định. Cái thể hiện rõ nhất và nhiều nhất những tố chất đó là bài luận cá nhân chứ không phải bảng thành tích hoạt động. Hơn nữa, ban xét duyệt hồ sơ muốn biết bạn học được gì từ những kinh nghiệm và hoạt động xã hội chứ không phải những bảng liệt kê thành tích khô khan.
Bản thân mình cũng chẳng tham gia hoạt động xã hội nào. Kinh nghiệm làm việc thì cũng như các bạn là tốt nghiệp rồi đi làm 3 năm thôi. ^^ Nhưng vẫn lấy được học bổng.
Thế nên là bây giờ thay vì dành thời gian đi hoạt động xã hội với mục đích làm đẹp hồ sơ, thì hãy chuyên tâm vào làm việc và phát triển khả năng nghề nghiệp và các kĩ năng mềm cho tốt đi. Có được học bổng hay không thì về lâu về dài bạn cũng được lợi.

5. – Nếu định học lên bậc cao hơn ở một ngành không phù hợp với ngành đã tốt nghiệp ở bậc đại học thì không xin được học bổng?=> Không đúng. Đỗ Hữu Chí tốt nghiệp Kiến trúc mà sang Mỹ học về Comic Arts đấy thôi. Hoặc, anh Đinh Quang Anh học Kiến trúc rồi sang Úc học về Sustainable Development vẫn được học bổng AAS.

6 – Những người được nhận các học bổng toàn phần của chính phủ đều (cần phải) là những người xuất sắc? (xuất sắc trong học tập, trong công việc, trong hoạt động xã hội)
=> Không đúng. Ban xét học bổng tìm người phù hợp với học bổng nhất chứ không phải tìm người xuất sắc nhất về học tập hay công việc. Việc phù hợp hay không phù hợp dựa trên tiêu chí tuyển chọn của học bổng đó. Với học bổng dạng merit-based như EM hay Endeavour thì ban xét duyệt đúng là tìm những người có thành tích học tập và làm việc xuất sắc, có khả năng nghiên cứu khoa học tốt, nhưng đơn giản chỉ vì tiêu chí của họ là tìm người như vậy. Với học bổng Chevening, người ta tìm người có tố chất lãnh đạo và tiềm năng gây ảnh hưởng khi trở về nước. Với học bổng Fulbright, người ta tìm kiếm người có khả năng làm đại sứ văn hóa cho Việt Nam tại Mỹ, có tiềm năng lãnh đạo và khả năng thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa hai nước. Với học bổng AAS, người ta tìm kiếm những cá nhân từ ngành và vùng nhất định có khả năng thay đổi ngành và vùng đó (thường xuyên ưu tiên cho vùng sâu vùng xa và nông thôn). Cho nên nếu một ngày đẹp trời, bạn vô tình được gặp một người từng được hb AAS và thấy người này nửa câu tiếng Anh cũng không nói được cho ra hồn mặc dù đã được học ở Úc, thì cũng đừng lấy làm lạ. (Chuyện này là có thật, và có không ít khi mà quota dành cho Nhóm 1 và 2 của AAS rất nhiều). Cho nên, không phải cứ xuất sắc là được chọn, không phải cứ xuất sắc mới nên ứng tuyển học bổng, và không phải được chọn là xuất sắc. Họ chỉ xuất sắc ở mảng mà học bổng đó muốn họ xuất sắc thôi ^^.

Các bạn thấy đó, con đường đến với học bổng chính phủ thực ra rất rộng mở. Mỗi người đều có lựa chọn phù hợp với khả năng của bản thân.
Có thể bạn sẽ cho rằng những trường hợp được học bổng mà tôi kể trên là những trường hợp đặc biệt (outlying cases). Có thể họ là những người đặc biệt, xuất sắc về tư duy hay phẩm chất. Nhưng điều mình muốn nhấn mạnh ở đây là chỉ cần bạn có thế mạnh về 1 trong các mặt: thành tích, tư duy, networking, tính cách. Những ví dụ mình kể đều là những người chỉ dùng một thế mạnh mà đã thành công.
Bản thân mình là một người coi trọng tư duy và kinh nghiệm hơn thành tích học tập ở Việt Nam. Bởi vì, thử làm một so sánh nho nhỏ, một bên là cái bảng điểm đại học không thể nào thay đổi được, bên kia là kĩ năng tư duy và học hỏi từ trải nghiệm mà bạn có thể tích lũy mỗi ngày sau khi tốt nghiệp. Bạn nghĩ đầu tư vào cái nào cho hiệu quả lâu dài và bền vững hơn?
Hy vọng các bạn đã tìm được những thông tin có ích.

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (phần 2)

Phần 2: Các bước xin học bổng chính phủ
Bài viết này sẽ không bao gồm thông tin về các thủ tục. Bạn sẽ phải tự tìm hiểu về các thủ tục cần thiết liên quan đến một bộ hồ sơ học bổng.

Mình không đảm bảo những ai tuân theo quy trình này sẽ được học bổng, nhưng mình chắc chắn những người đó sẽ tận dụng được tối đa 4 yếu tố (ngoại trừ sự may mắn) mà mình đã nêu ở bài trước. Hiển nhiên, tận dụng được càng nhiều thì khả năng hồ sơ tốt và được chọn càng cao.

Từ khi có ý tưởng du học đến khi chính thức nhận được học bổng, một quy trình xin học bổng bài bản và hoàn chỉnh cần có 3 bước: (1) chuẩn bị trước khi làm hồ sơ, (2) làm hồ sơ, và (3) chuẩn bị phỏng vấn.

Thời gian cần thiết cho các bước này lần lượt là: tối thiểu 3 năm cho bước chuẩn bị, khoảng 2 tháng cho bước làm hồ sơ và 1 tuần cho bước chuẩn bị phỏng vấn.

1. Chuẩn bị

Một hồ sơ tốt đều cần có bước chuẩn bị được đầu tư tối thiểu 3 năm, 3 năm của nỗ lực làm việc và chất xám. Để hiểu được lý do, hãy điểm qua những tiêu chí cơ bản mà các ban xét duyệt hồ sơ thường sử dụng để đánh giá ứng viên:

  • Thành tích học tập và nghiên cứu (nếu có) được thể hiện qua bảng điểm (hoặc GPA) và giấy chứng nhận (đối với một số học bổng như Erasmus Mundus hay Endeavour, thành tích học tập chưa tốt có thể được hỗ trợ bởi một quá trình làm việc giàu thành tích ở ngành liên quan)
  • Bài luận cá nhân (personal statement, letter of motivation, statement of purpose, study objectives)
  • Thư giới thiệu (letter of recommendation, reference, reference letter)
  • Tiêu chí đặc thù của học bổng hoặc của khóa học (có thể là phẩm chất cá nhân, thành tích hoạt động xã hội, khả năng sử dụng ngôn ngữ, v.v…)

Những tiêu chí trên được mình tổng hợp dựa trên các thông báo chính thức và kinh nghiệm ứng tuyển 5 học bổng: Erasmus Mundus (EM), Học bổng Song phương Việt-Bỉ (BBS), Học bổng Chevening, Học bổng Australia Awards (AAS), và Học bổng Fulbright.

Đối với học bổng tài năng (merit-based), sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về mức độ quan trọng):
1. Thành tích học tập (hoặc làm việc)

2. Thư giới thiệu

3. Tiêu chí đặc thù của học bổng

4. Bài luận cá nhân

Thực tế, thành tích học tập luôn là “ngôi sao” của những hồ sơ học bổng tài năng. Trong nhiều chương trình thuộc EM, ban xét duyệt công khai với ứng viên là thành tích học tập chiếm tới 40% “weighting”. Điều tương tự xảy ra đối với Endeavour 2016:

<Nguồn trích dẫn: 2016 Round Endeavour Applicant Guidelines>

The selection criteria for all categories of the Endeavour Scholarships and Fellowships are the same. The following are the selection criteria and their relative weighting:

1. record of high-level academic achievement and/or relevant work experience in the applicant’s chosen field of study (40%)

2. well-defined study, research and/or professional programme (20%)

3. statement on how the international study, research or professional development opportunity would further the applicant’s academic and/or professional career (20%)

4. statement on how the international study, research or professional development opportunity will benefit Australia and the applicant’s potential to foster ongoing collaboration and cooperation with their home and host country (10%)

5. statement in support of the applicant’s service to the community. Unpaid service within the applicant’s field of expertise or community service (10%).

Ngược lại so với thành tích học tập, bài luận cá nhân thường ít có sức nặng (đôi khi gần như không có chút giá trị nào) ở các học bổng tài năng. Thực tế, thư xin học bổng mà các ứng viên Việt Nam viết để gửi cho học bổng EM thường có chất lượng không cao nếu không muốn nói là horse crap! Có thể nhiều bạn được EM đọc đến dòng này sẽ tự ái, nhưng nếu các bạn được đọc những bài luận của những người đã từng được những học bổng có tính cạnh tranh cao về tư duy và phẩm chất cá nhân như Fulbright hay Chevening, hoặc các học bổng trường thuộc Ivy League thì tôi tin các bạn sẽ … tắt đài :))

Một ví dụ khác chứng minh sự chênh lệch về mức độ quan trọng của thành tích học tập và bài luận: một bạn được học bổng Endeavour có thành tích học tập vô cùng xuất sắc nhưng bài luận được viết qua loa đến mức còn chả buồn kiểm tra ngữ pháp.
Nói đến như vậy, chắc mọi người cũng đã hiểu tối thiểu 3 năm để chuẩn bị cho học bổng tài năng sẽ được dùng cho việc gì rồi phải không? Rõ ràng, các bạn nên dành thời gian cho công việc học tập và nghiên cứu để có một bảng điểm thật xuất sắc cùng những bài báo cáo khoa học được công bố trên các báo hay tạp chí càng có uy tín cao càng tốt. Bên cạnh đó, nếu học bổng yêu cầu những hoạt động xã hội hay trình độ ngoại ngữ tốt thì các bạn cũng nên dành nhiều thời gian cho những việc đó.
Vậy những bạn đã không để ý đến thời gian học đại học và không còn cơ hội thay đổi bảng điểm thì sao?

Các bạn có thể chuẩn bị cho học bổng tiềm năng hoặc học bổng tài năng-tiềm năng. Đối với học bổng tiềm năng, sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về sức nặng):

1. Bài luận cá nhân.

2. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

3. Thành tích học tập

4. Thư giới thiệu

Đối với học bổng tiềm năng, thành tích học tập của bạn thường chỉ cần đạt một điều kiện cần và không cần cao. Ví dụ, học bổng Chevening yêu cầu ứng viên phải có bằng tốt nghiệp đại học tương đương Second Class Honour ở Vương quốc Anh (tức là GPA trên 7.0), bạn đạt và bạn được xét duyệt công bằng với một người có GPA cao hơn. Giữa 2 người, một người có GPA cao và bài luận khá, một người có GPA thấp và bài luận xuất sắc, Chevening sẽ đánh giá cao người thứ hai hơn. Ví dụ: người viết có điểm GPA 7.6/10 – có lẽ là thấp đến mức bất cứ ứng viên nào thuộc ngành kinh tế hoặc xã hội cũng có điểm cao hơn. Nhưng mà mình vẫn được Chevening chọn 😉 Lý do chỉ có thể là mình có một bài luận tốt vì học bổng Chevening không yêu cầu nộp CV và cũng chẳng có chỗ nào cho các bạn thể hiện thành tích (ngoại trừ bảng điểm) đâu.
Đối với học bổng tài năng-tiềm năng, yếu tố sức nặng (weighting) phụ thuộc vào từng quy trình xét duyệt của học bổng cụ thể. Ví dụ, học bổng Fulbright và AAS đều là dạng tài năng-tiềm năng. Tuy nhiên, nếu vòng hồ sơ đầu tiên của Fulbright xét tính cạnh tranh của toàn bộ hồ sơ bao gồm cả bài luận, phẩm chất đặc thù, thành tích học tập và khả năng ngôn ngữ, thư giới thiệu thì vòng screening (vòng duyệt hồ sơ đầu tiên do người Việt Nam thực hiện) của AAS coi thành tích học tập, cụ thể là điểm GPA là yếu tố tiên quyết. Có nghĩa là rất có thể một bộ hồ sơ có SOP viết cực tốt nhưng GPA dưới 8.0 sẽ bị loại, trong khi một bộ hồ sơ SOP kém hơn nhiều nhưng tốt nghiệp Giỏi với GPA 8.4 sẽ được chọn. (Gì chứ về SOP thì tác giả rất tự tin rằng mình viết hay hơn nhiều người trong target group 3 của AAS, cơ mà tác giả vẫn bị loại từ vòng gửi xe)
Vậy thì 3 năm chuẩn bị cho học bổng tiềm năng được dùng để làm gì?

Các bạn hãy dùng 3 năm đó để vừa nỗ lực làm việc, vừa suy nghĩ về ngành mà bạn đang làm. Hãy dành ít nhất 1 năm cuối ở trường đại học để nghiền ngẫm và hệ thống lại những lý thuyết mà bạn đã có được để xác định con đường lâu dài mà bạn định phát triển. 2 năm tiếp theo là thời gian để bạn tích lũy kinh nghiệm, phát hiện những hiện tượng, những vấn đề cần được giải quyết trong ngành và thử sử dụng những lý thuyết học được để giải quyết nó. Khi những lý thuyết và kinh nghiệm làm việc của bạn không thể nào giải quyết những vấn đề mà bạn phát hiện, đó là lúc bạn cần đi học thêm. Nếu đi học thêm mãi ở Việt Nam mà chưa có được cái bạn cần, đó là lúc bạn cần xin học bổng để du học.

Nói nghe có vẻ ngắn gọn và đơn giản, nhưng để có thể tìm ra vấn đề và nhận ra khoảng cách không thể bù đắp giữa kiến thức và vấn đề còn tồn tại trong ngành, bạn sẽ phải luôn luôn quan sát, luôn luôn động não và trăn trở về những gì đang xảy ra xung quanh mình. Quá trình này cũng sẽ giúp bạn khẳng định niềm đam mê đối với một công việc mà bạn đã chọn. Và, chắc chắn các ban xét duyệt học bổng tiềm năng muốn tìm kiếm những con người có động cơ và đam mê như vậy để trao học bổng.
Một điều cuối cùng rất quan trọng trước khi làm hồ sơ xin học bổng: các bạn cần giỏi tiếng Anh. Thực ra, không cần xin học bổng các bạn cũng nhất thiết phải giỏi tiếng Anh. Giỏi cả nghe, nói, đọc, viết chứ không phải chỉ có nói và nghe. Trên quan điểm dài hạn mà nói, bạn nên luôn tích lũy kiến thức tiếng Anh ngay từ khi còn học đại học để khi tốt nghiệp đại học đã có một vốn liếng kha khá đủ để thi được IELTS 6.5 bất cứ khi nào mà không cần ngồi luyện thi. Đừng để đến khi làm hồ sơ mới cuống lên cày cuốc để thi IELTS. Bạn nào bảo tự học tiếng Anh để có thể thi được 6.5 mà không cần luyện thi là việc khó khăn thì mời gặp bạn Hoàng Đức Long :))
(Mình cực kì ghét lũ lười)
2. Lập hồ sơ xin học bổng
Lập hồ sơ xin học bổng bao gồm 2 việc chính là viết bài luận và viết thư giới thiệu. Việc viết bài luận cho hồ sơ xin học bổng là một quá trình rất hại não, nhất là khi bạn ứng tuyển học bổng tiềm năng. Mình bỏ ra 8 tuần để hoàn thiện toàn bộ các bài luận cần thiết cho hồ sơ học bổng Chevening. Ứng viên của học bổng Fulbright bỏ ra 3 tháng cho 2 bài luận Personal Statement và Study Objectives là chuyện bình thường. Tuy nhiên, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu bạn có bước chuẩn bị tốt (như mình đã nói ở trên), vì khi đó bạn đã có hết những ý tưởng cần thiết trong đầu rồi. Vấn đề bây giờ là viết nó ra như thế nào.
Để viết tốt, các bạn cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

  1. Họ hỏi gì thì ta trả lời đó: hãy đọc kĩ đề bài mà ban xét duyệt yêu cầu đối với bài luận. Họ hỏi về academic achievements thì viết về cái đó, đừng viết về professional skills hay extracurricular activities. Theo kinh nghiệm của mình, có 4 dạng bài luận với yêu cầu khác nhau:
    Personal Statement (PS): viết về sự phát triển của cá nhân bạn, bao gồm những sự kiện quan trọng đã ảnh hưởng đến nhân cách, nguyện vọng, đam mê, kĩ năng của bạn. Một số học bổng hoặc khóa học yêu cầu bạn nêu cả những dự định học tập và sự nghiệp tương lai.
    Study Objectives (SO): viết về những mục tiêu nghiên cứu và học tập trong tương lai, nguồn gốc của những mục tiêu này và sự liên quan giữa kinh nghiệm học tập và lao động của bạn với những mục tiêu tương lai.
    Letter of Motivation: tổng hợp cả Personal Statement và Study Objectives. Tùy từng học bổng mà Letter of Motivation sẽ thiên về PS hơn SO, hoặc ngược lại.
    Bài luận dạng câu trả lời: một số học bổng như AAS và Chevening yêu cầu ứng viên trả lời 4 câu hỏi mà họ cho sẵn. Các câu hỏi có thể về: động cơ xin học bổng, khả năng học tập, phẩm chất lãnh đạo, dự định tương lai, v.v…
  2. K.I.S.S: Keep It Short and Simple. Từ ngữ súc tích và càng đơn giản, càng phổ biến càng tốt. Cần súc tích vì những điều bạn muốn nói bao giờ cũng rất nhiều trong khi lượng từ được phép dùng luôn khá ít. Chevening cho phép mỗi câu trả lời không quá 300 từ. Fulbright cho phép mỗi bài luận không quá 1000 từ. AAS yêu cầu mỗi câu trả lời không quá 2000 kí tự kể cả dấu cách và xuống dòng.
  3. Hãy viết những suy nghĩ chân thành và có cơ sở của bạn. Có nghĩa là bạn phải thật sự tin tưởng vào điều bạn định viết thì mới viết. Đừng viết những gì bạn đoán, hãy viết những gì bạn suy luận có bằng chứng.
  4. Hãy viết những điều mà chỉ có bạn mới có thể viết. Đừng viết những điều mà ai trong cùng ngành với bạn cũng có thể nghĩ đến. Trước khi viết, hãy thử nghĩ: “Viết như thế này thì có thật sự khác biệt không, hay cũng chỉ giống như một vài bạn nào đó?” Để thật sự khác biệt, các bạn hãy nêu trải nghiệm và suy luận cá nhân của mình, bởi vì trải nghiệm của mọi người không bao giờ giống nhau. Hãy viết càng cụ thể, càng chi tiết càng tốt.
  5. Đừng biến bài luận thành một bài khoe thành tích. Thành tích của bạn đã được thể hiện rất rõ qua CV (nếu họ yêu cầu bạn nộp). Ngay cả khi không có CV, việc khoe thành tích cũng không tạo ấn tượng tốt với người duyệt vì chẳng ai thích một đứa chỉ nói về những cái “được” của bản thân. Thay vào đó, hãy cân bằng những cái “được” đó bằng những cái “mất”. Hãy kể những khó khăn bạn đã gặp và bạn vượt qua khó khăn như thế nào. Mọi thành tích đều có cái giá phải trả nhất định và người ta muốn biết về những cái giá đó trong bài luận của bạn. Việc nói về những khó khăn bạn đã vượt qua cũng chứng tỏ được đam mê, ý chí, và nguyện vọng cống hiến cho ngành hoặc cho xã hội của bạn.
  6. Mỗi sự việc bạn nêu trong bài luận đều phải liên kết với nhau theo cách: sự việc này là lý do cho sự việc kia. Ví dụ: bạn học trong trường thấy kiến thức về corporate social responsibility không đủ => bạn phải đi học thêm ở ngoài qua training hay workshop => nhưng lý thuyết suông không đủ => bạn đi thực tập hoặc đi làm bán thời gian/toàn thời gian để lấy kinh nghiệm.
  7. Rất rất cần có một người “cứng” về khả năng viết luận tiếng Anh để duyệt bài luận cho bạn. Tốt nhất, bạn hãy đi học những lớp học viết luận và tư duy phản biện để vừa biết cách viết, vừa có người sau này sẽ duyệt bài luận cho bạn.

Về cấu trúc bài luận, không thể có một cấu trúc hoàn hảo, áp dụng được với mọi bài luận vì yêu cầu nội dung của mỗi bài luận khác nhau. Nhưng thường xuyên chúng ta sẽ được yêu cầu viết một personal statement nói về những mốc quan trọng của cuộc đời và dự định tương lai. Dưới đây là cấu trúc và nội dung mà mình đã áp dụng với bài personal statement gửi cho học bổng Fulbright, Đại học KU Leuven và Đại học Nottingham.

  1. Mở đầu là một cái “hook”. Đây là điểm nhấn đầu tiên, nhất thiết phải gây ấn tượng với người đọc. Điểm nhấn này có thể là một trải nghiệm công việc hoặc một sự việc mà bạn vô tình phát hiện. Các sự việc này phải liên quan đến vấn đề cốt lõi mà bạn muốn giải quyết trong tương lai. Ví dụ về “hook” của mình:

    The building’s design was supposed to be environment-friendly and based on the curves of the Vietnamese “ao dai”. Yet Lotte Center Hanoi’s architecture actually results in pollution and hints at nothing of Vietnamese culture.

    Ai đã từng nhìn thấy cái Lotte Center Hanoi sẽ rất bất ngờ và thấy ngay cái sự việc này rất tréo ngoe :)) Thế là đủ cho một cái hook.
    Và sau đó mình diễn giải để liên kết sự việc này với vấn đề mình muốn giải quyết trong tương lai:

    As I had the chance to see Lotte’s initial concept proposals, its unexpected failure compounded my concern for architectural sustainability in Vietnam. Truth be told, Lotte Center is only one example among many buildings failing to follow environmentally and culturally sustainable schemes. The situation moved me to address its two causes: the lack of rational design approaches and the fact that investors are unaware of the long-term benefits of sustainable architecture.

  2. Thân bài 1: hãy kể một câu chuyện, có thể bắt đầu từ bất cứ thời điểm nào nhưng muộn nhất cũng phải là thời điểm bạn bắt đầu học đại học. Với mình, thân bài bao gồm các sự kiện từ thời gian học đại học cho đến khi đi làm và kết thúc ở dự định đi du học. Mạch câu chuyện của mình thế này:
    Học ở trong trường và phát hiện ra vấn đề: lý thuyết thiết kế kiến trúc dạy ở đại học chưa khoa học
    => ( – ) không thích tí nào nhưng phải cố để sau này còn có khả năng để đi học thêm
    => (+) đạt được thành tích học tập tốt, ít nhất là hơn bạn đồng môn
    => ( – ) nhưng lý thuyết trong trường hóa ra không áp dụng được nhiều trong thực tế, gây ra nhiều khó khăn trong công việc
    => (+) cố gắng hết sức và làm quen được với môi trường chuyên nghiệp, rèn luyện được nhiều kỹ năng như quản lý thời gian, làm việc trong áp lực
    => ( – ) tuy nhiên công việc thiết kế bàn giấy khiến mình ít kinh nghiệm thực tế thi công
    => (+) vào cơ quan nhà nước và được làm trong dự án Lotte Center Hanoi, học được nhiều kiến thức mới về thi công và rèn luyện được kĩ năng lãnh đạo
    => ( – ) nhưng vấn đề lý thuyết mà mình phát hiện ngay từ khi còn đi học đại học vẫn tồn tại và không cách nào dùng kinh nghiệm hay lý thuyết mới để bù đắp được
    => (*) muốn đi học thạc sỹ ở nước ngoài
    Bạn có thấy mọi thứ xảy ra đều có nguyên nhân của nó không? Ngoài ra, mình còn cân bằng bài luận bằng cách khó khăn và thành tích phù hợp để câu chuyện trở nên tự nhiên hơn nhiều.
    Thân bài 2: những dự định của bạn khi đi học và sau khi đi học. Hãy nói lý do bạn chọn trường đó và ngành học đó. Với mình, lý do đó là 3 lợi ích sau:
    – Học thuật: ngành đó và trường đó phù hợp với những vấn đề lý thuyết mà mình đã nói ở trên.
    – Kĩ năng tư duy: được làm quen với tư duy phản biện, tư duy mới trong kiến trúc.
    – Cơ hội network: có cơ hội xây dựng mối quan hệ với các ứng viên xuất sắc của Fulbright, những người sau này có khả năng giúp mình thực hiện những dự định tương lai.
    Cụ thể mình đã viết phần này như thế nào, các bạn có thể xem trong link này
    https://www.dropbox.com/s/gkerpd0a1iblcbo/Hoang%20Duc%20Long%20Personal%20Statement.doc?dl=0
    Còn đây là bài mình viết cho học bổng Chevening:
    https://www.dropbox.com/s/5g83lea6cdt6z34/Chevening%20application%20answers.docx?dl=0 (4 câu trả lời, mỗi câu đều 300 chữ không hơn không kém một từ)
  3. Kết luận: tóm lại một cách đơn giản bloh blah gì cũng được, vì nếu bạn viết tốt những phần trên thì phần này nên đơn giản để cho não người đọc còn kịp thư giãn.

Về thư giới thiệu, các bạn nên chọn những người có nhiều thời gian làm việc với mình nhất. Mình không muốn nói nhiều về phần này vì không phải ai cũng có khả năng tham gia ở mức độ nào đó vào nội dung thư giới thiệu. Chỉ khuyên các bạn nên chọn người có càng nhiều cơ hội và thời gian làm việc với bạn càng tốt. Không quan trọng địa vị, chỉ cần là giảng viên hoặc người quản lý trực tiếp cũng được. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn quen những người thực sự rất có uy tín đối với ban xét duyệt học bổng thì nên xin thư giới thiệu của những người đó. Về nội dung thư giới thiệu, hãy đảm bảo nguyên tắc: “nói có sách, mách có chứng.”

3. Chuẩn bị phỏng vấn

Nếu bạn đã vượt qua vòng hồ sơ và được phỏng vấn, cơ hội của bạn đã rất cao rồi vì thường thì số lượng người được phỏng vấn chỉ cao cấp 2 – 3 lần số ứng viên sẽ được chọn thôi. Với Chevening năm nay, họ đã dự tính có khoảng 20 trên tổng số trên dưới 70 người được chọn.
Mục đích của vòng phỏng vấn gồm có:

  1. Khẳng định ứng viên là người đã viết hồ sơ xin học bổng.
  2. Tìm hiểu những thông tin khác về ứng viên mà bài luận chưa thể hiện được.

Kết quả của học bổng sẽ phụ thuộc vào kết quả của vòng phỏng vấn lẫn chất lượng bài luận.
Đối với học bổng phát triển, các câu hỏi của vòng phỏng vấn sẽ xoay quanh các vấn đề sau:

  1. Tại sao lại là nước chúng tôi?
  2. Tại sao lại là ngành này?
  3. Tại sao lại là trường này?
  4. Tại sao lại là học bổng này?
  5. Những khó khăn bạn sẽ gặp phải khi đi du học?
  6. Dự định tương lai của bạn có ích gì cho Việt Nam và nước chúng tôi?
  7. Các câu hỏi liên quan đến tố chất đặc biệt của ứng viên, hoặc tố chất đặc thù mà học bổng yêu cầu ở ứng viên.

Trong trường hợp bạn trả lời ngắn gọn, tự tin, đầy đủ, logic các câu hỏi cơ bản (4 câu đầu tiên) thì ban phỏng vấn thường sẽ không hỏi nhiều câu hỏi khác vì nội dung họ cần biết đã được trả lời quá rõ rồi. Nếu bạn không quản lý câu trả lời tốt, bạn có thể sẽ được hỏi những câu nằm ngoài dự kiến của mình. Khi đó nội dung câu hỏi sẽ liên quan đến nội dung câu trả lời trước đó của bạn. Tuy nhiên, nếu ban phỏng vấn cảm thấy thú vị với bất cứ một vấn đề nào bạn đã nói thì họ vẫn có thể hứng lên và hỏi bất cứ câu nào. Nhưng thật ra, nếu bạn có thể trả lời tốt cả 4 câu đầu tiên thì mình tin bạn có đủ cơ sở để trả lời bất cứ câu hỏi nào liên quan đến những dự định của mình.
Khi phỏng vấn, hãy lắng nghe câu hỏi, dừng lại 10 – 30 giây để suy nghĩ và trả lời thật chậm rãi. Nói chậm và rõ ràng để dễ kiểm soát những gì bạn nói và giữ bình tĩnh cho bản thân.
Đây là bản câu trả lời mà mình đã chuẩn bị cho Chevening.
https://www.dropbox.com/s/m1gka958wcs513d/Interview%20preparation.docx?dl=0
Khi đi phỏng vấn, gần như các câu hỏi của họ đã được mình chuẩn bị câu trả lời, và mình đã nói được tất cả những gì mình muốn nói. Cũng nhờ sự chuẩn bị kĩ càng nên hôm đó mình rất tự tin. Chưa kể hôm đó một người trong ban phỏng vấn còn ấn tượng với “personalised British English accent” :”> (cái này là yếu tố phụ thôi chứ bạn nói Vietnamese English cũng chả có vấn đề gì đâu)
Cuối buổi phỏng vấn bạn sẽ được đặt câu hỏi cho ban phỏng vấn. Bạn có thể hỏi bất cứ vấn đề gì. Mình đã hỏi là năm nay liệu sẽ chọn bao nhiêu người :)) Khi được phỏng vấn xong, nhớ bắt tay, cảm ơn và chào từng người trong ban phỏng vấn.
Phần việc còn lại lúc này là chờ đợi. Thời gian chờ đợi có thể là vài tuần đến vài tháng tùy học bổng. Chevening đã bắt mình chờ 2 tháng rưỡi. Số lượng người được chọn thực tế là 33 😀 Theo lời của political officer của British Embassy, người đã tham gia quá trình xét duyệt của Chevening nhiều năm nay, năm 2015 chứng kiến một số lượng lớn nhất ứng viên được chọn để tham gia khóa đào tạo thạc sỹ tại Anh, và cũng là năm mà chất lượng ứng viên Việt nam cao nhất.

33 is the highest ever number of full-time students. And we have had the highest ever standard of scholars as well.

Điều này có nghĩa là với các học bổng phát triển (như Chevening và Fulbright), chất lượng ứng viên hoàn toàn có thể ảnh hưởng tới số lượng người được chọn và kinh phí chứ không nhất định phải tuân theo con số đã định sẵn. Đó cũng là lý do mà một số học bổng phát triển chỉ nêu con số dự định chứ không bao giờ khẳng định sẽ chọn số lượng đó.

Cho những ai muốn xin học bổng chính phủ (Phần 1)

Bản thân mình đã muốn viết về việc xin học bổng lâu rồi nhưng chưa có thời gian, thông tin cũng như “credit” để viết. Bây giờ, khi đã được chọn vào Main List của học bổng Chevening, mình quyết định sẽ viết một hướng dẫn đầy đủ nhất có thể cho những ai có ý định xin học bổng chính phủ. Điều này cũng phù hợp với nhu cầu của nhiều bạn mình quen hoặc đã từng giải đáp thắc mắc về học bổng. Mình nghĩ một số thông tin ở đây còn có ích đối với những người định xin các loại học bổng khác ở cấp độ thạc sĩ nữa.

Phần 1: Phân loại, những yếu tố cần thiết khi xin học bổng và cách lựa chọn học bổng chính phủ

Các cách phân loại dưới đây hoàn toàn do tác giả đề xuất mà không dựa trên một nguồn tham khảo nào. Ngoại trừ học bổng tài năng (merit-based) và học bổng hỗ trợ phát triển, các tên gọi loại học bổng khác đều do tác giả đề xuất.

1. Phân loại học bổng

1.1 Phân loại dựa trên điều kiện giới hạn ứng viên

  • Học bổng cạnh tranh quốc tế: Học bổng này cho phép mọi ứng viên quốc tế, không phân biệt quốc gia, ứng tuyển. Theo đó, những người ứng tuyển các học bổng dạng này sẽ phải cạnh tranh với ứng viên trên toàn thế giới. Một số học bổng cạnh tranh quốc tế: Erasmus Mundus của Ủy ban Châu Âu (EC), Endeavour của Chính phủ Australia, học bổng OFID, học bổng Eiffel của Pháp, học bổng MEXT của Nhật Bản.
  • Học bổng (hỗ trợ) phát triển: học bổng phát triển ở Việt Nam là học bổng do một quốc gia tài trợ, trao cho các cá nhân triển vọng ở Việt Nam dựa trên những bản kí kết hợp tác phát triển giữa quốc gia này với Việt Nam. Những người ứng tuyển các học bổng này chỉ phải cạnh tranh với các ứng viên Việt Nam. Một số học bổng phát triển có thể kể đến bao gồm: học bổng Fulbright của Mỹ, học bổng Chevening của Anh, học bổng AAS (tên gọi trước đây là ADS hay AusAID) của Úc, học bổng BBS (tên gọi trước đây là BTC) của Bỉ, học bổng Irish Aid của Ireland.

1.2 Phân loại dựa trên tiêu chí lựa chọn

  • Học bổng tài năng (merit-based): học bổng được trao dựa trên tài năng, học lực, khả năng nghiên cứu, và cả nguyện vọng cống hiến xã hội. Dĩ nhiên, để chứng minh bạn có học lực hay khả năng nghiên cứu xuất sắc, có tài năng đặc biệt, hay có nguyện vọng cống hiến cho cộng đồng, cho xã hội, bạn cần có nhiều thành tích tương ứng và có giấy chứng nhận để chứng minh những phẩm chất này. Học bổng tài năng của chính phủ thường xuyên là học bổng cạnh tranh quốc tế (Erasmus Mundus, Endeavour, Eiffel của Pháp, v.v)
  • Học bổng tiềm năng: học bổng được cấp cho những người có tiềm năng thực hiện những nhiệm vụ mà cơ quan, tổ chức cấp học bổng giao phó như: trở thành đại sứ văn hóa tại nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển của ngành, địa phương và đất nước, trở thành nhà lãnh đạo cơ quan quản lý hoặc ngành trong tương lai, xúc tiến mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và đất nước nơi ứng viên học. Các học bổng tiềm năng có thể kể đến: học bổng BBS, học bổng Chevening, học bổng Irish Aid.
  • Học bổng tiềm năng – tài năng: học bổng được trao cho những người có cả tài năng đã được chứng minh qua thành tích và tiềm năng được thể hiện qua các bài luận. Một số ví dụ về loại học bổng này: học bổng Fulbright, học bổng AAS.

2. Những yếu tố cần thiết khi xin học bổng

Sau 1 năm ứng tuyển cùng lúc cả 5 học bổng chính phủ (có cả merit-based và phát triển), mình đúc kết ra 5 yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình xin học bổng chính phủ bao gồm: sự may mắn, thành tích học tập và hoạt động, khả năng tư duy và viết luận, khả năng network, và phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu.

  • May mắn: Yếu tố này đôi khi mang tính quyết định, đặc biệt đối với những học bổng có giới hạn ngành học. Ví dụ: học bổng Erasmus Mundus có hơn 100 chương trình học dành cho nhiều ngành khác nhau và sự thành công của ứng viên từ Việt Nam có khi chỉ phụ thuộc vào việc người đó ngẫu nhiên chọn đúng chương trình có ít ứng viên. Mình đã từng apply 2 chương trình thuộc EM là STeDe và 4CITIES nhưng sau đó xin rút lui khỏi SteDe vì mình hoàn toàn không thấy hứng thú với nó nữa. Trớ trêu thay, SteDe năm đó ít ứng viên đến nỗi trong quá trình xét tuyển, giáo sư phải mail cho mình yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, mặc dù lúc đó mình đã hủy hồ sơ. Tất nhiên mình từ chối, và học bổng EM cho STeDe năm đó thuộc về một bạn ít tuổi hơn mình, cũng tốt nghiệp ĐH Kiến trúc HN. Nếu xét về các phẩm chất và sự phù hợp với chương trình, mình có nhiều lợi thế lúc đó vì đã có chứng nhận 2 năm làm việc trong một dự án nghiên cứu khoa học cấp quốc gia về quy hoạch đô thị bền vững (STeDe là chương trình học về quy hoạch vùng bền vững), ngoài ra còn có cả IELTS 8.0 và DELF B2, mà STeDe nói rất rõ là sẽ đánh giá cao ai có khả năng sử dụng tốt cùng lúc 2 ngôn ngữ Anh và Pháp 🙂 Nhưng mình đã không ứng tuyển STeDe, để rồi bị rejected trong chương trình 4CITIES (năm nay 4CITIES có hơn 900 hồ sơ ứng tuyển).
    Một trường hợp khác, một bạn (mình biết bạn này nhưng xin phép được giấu thông tin cá nhân) được nhận vào một chương trình cũng thuộc EM. Nhưng khả năng sử dụng tiếng Anh của bạn đó thì … thậm chí còn không đủ để tự phát biểu về công việc mình làm. Vậy đó, các bạn đừng nghĩ để được học bổng cần có những phẩm chất cao siêu gì. Đôi lúc, may mắn là tất cả những gì bạn cần.
  • Thành tích học tập và hoạt động: các thành tích này bao gồm điểm đại học, bài báo, báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu, và thành tích hoạt động xã hội. Dĩ nhiên, điểm đại học càng cao, càng nhiều bài báo và báo cáo khoa học phù hợp với ngành định học, thành tích hoạt động xã hội phong phú là những lợi thế khi ứng tuyển học bổng. Ví dụ về các bạn đã thành công trong việc tìm học bổng nhờ các thành tích tốt thì rất nhiều. Các bạn có thể xem trong cơ sở dữ liệu về ứng viên được học bổng EM mỗi năm ở trên trang facebook Erasmus Mundus Vietnam.
  • Khả năng tư duy và viết luận: khả năng tư duy sẽ được thể hiện qua những suy nghĩ về ngành chuyên môn và xã hội mà bạn tích lũy trong suốt quá trình từ khi bạn bắt đầu có ý thức (nói cách khác, từ lúc bạn đi nhà trẻ) cho đến khi bạn ứng tuyển học bổng. Tư duy này càng độc đáo, sâu sắc, dài hạn, thiết thực cho ngành và xã hội thì khả năng bạn được chọn càng cao. Tất nhiên, bạn phải có khả năng viết luận tốt để thể hiện những điều đó một cách thuyết phục trong những bài luận cá nhân khi xin học bổng. Một ví dụ điển hình cho việc tư duy và viết luận dẫn đến thành công là chính tác giả :)) GPA rất thấp (7.6) nếu so với các bạn học ngành kinh tế và xã hội (thường là 8.4, thậm chí trên 9.0), không có hoạt động xã hội, không có hoạt động nghiên cứu nào đáng kể, không có một giải thưởng nào. Chỉ bằng bài luận và mình đã thuyết phục được ban xét tuyển của Chevening 🙂
  • Khả năng network: là khả năng tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ có lợi, cụ thể ở đây là có lợi cho hoạt động xin học bổng. Những trường hợp thường thấy nhất là network với các giáo sư có uy tín trong ngành và trên thế giới để xin được những thư giới thiệu hoặc được trực tiếp giới thiệu cho các học bổng. Đối với học bổng dạng merit-based như Erasmus Mundus hay Eiffel, những sự giới thiệu này cực kì có giá trị. Có bạn chỉ có GPA rất thấp nhưng được sự giới thiệu của các giáo sư hàng đầu ở Châu Âu mà được học bổng EM rồi đấy. Thậm chí, có bạn ứng viên học bổng Đại sứ quán Pháp còn quen biết cả thành viên của ban phỏng vấn 😉
    Networking không phải là điều gì đó xấu. Ngược lại, nó giúp cho các bạn tiếp cận được nhiều cơ hội và thông tin hơn, đồng nghĩa với việc thúc đẩy sự công bằng về cơ hội và minh bạch thông tin. Theo điều tra của đài ABC năm 2013, 80% công việc được tìm thấy thông qua networking.
  • Phẩm chất đặc thù mà học bổng yêu cầu: các học bổng phát triển thường yêu cầu ở những ứng viên những phẩm chất đặc thù phù hợp với mục tiêu và tinh thần của học bổng đó. Ví dụ, học bổng Chevening muốn chọn những người có tố chất lãnh đạo, có tiềm năng trở thành người dẫn đầu ngành chuyên môn hoặc quản lý trong tương lai; học bổng Fulbright muốn tìm kiếm những người có khả năng thúc đẩy sự trao đổi văn hóa Việt-Mỹ; hoặc, học bổng AAS luôn có một quota nhất định cho những ứng viên đến từ các Ủy ban nhân dân, các bộ và cơ quan ngang bộ, các ứng viên người dân tộc thiểu số hoặc từ vùng khó khăn. Thực tế, có những người được học bổng AAS, được sang Úc rồi trở về Việt Nam mà vẫn không sử dụng được Tiếng Anh ở mức độ nghe, nói, đọc, viết cơ bản 😉

3. Lựa chọn học bổng

Viêc lựa chọn học bổng phụ thuộc vào việc bạn có yếu tố nào trong 5 yếu tố trên.

  • Bạn có thành tích học tập và hoạt động tốt: bạn phù hợp với học bổng merit-based.
  • Bạn có khả năng tư duy và viết luận tốt: bạn phù hợp với học bổng tiềm năng.
  • Bạn có khả năng network tốt: bạn phù hợp với mọi loại học bổng. Tuy nhiên theo kinh nghiệm và thông tin mình có được, bạn cần có thêm 1 trong 4 yếu tố còn lại thì khả năng được chọn mới cao ^ ^.
  • Bạn có cả thành tích học tập và hoạt động lẫn khả năng tư duy và viết luận: bạn phù hợp với tất cả mọi loại học bổng.
  • Bạn có may mắn: mình không còn gì để nói ngoài câu: “Biết được mình sẽ gặp may thì còn gọi gì là may mắn nữa.”
  • Bạn có phẩm chất đặc thù mà một học bổng nào đó yêu cầu: bạn đặc biệt phù hợp với học bổng đó. Cứ mạnh dạn ứng tuyển.

Nên nhớ, việc bạn sở hữu chỉ 1 trong 5 yếu tố trên cũng đủ để bạn ứng tuyển học bổng rồi.

Kinh nghiệm xin học bổng PhD

Kinh nghiệm nộp hồ sơ học bổng bậc tiến sĩ tại các đại học Úc (có bổ sung ý Ba: Chuẩn bị)

Định không chia sẻ bài viết này, nhưng vì thấy có ích cho một số bạn nên post lại đây. Có thể sẽ có ích nhiều cho các bạn có xuất phát điểm thấp và trung bình như mình. Phần chia sẻ này dựa vào kinh nghiệm cá nhân đúc rút từ quá trình nộp hồ sơ ở Úc và New Zealand. Các chiến lược mình áp dụng trong này đều học từ thầy Vũ Hồ (xem link ở dưới bài). Tổng kết: Năm 2016 mình apply hai học bổng chính phủ gồm học bổng Endeavour và học bổng chính phủ New Zealand (trượt cả hai), 6 học bổng trường (1 trường của New Zealand – Aukcland University và 5 trường ở Úc) thì được 4 trường Úc cho học bổng toàn phần gồm Flinders University, Latrobe University, University of Canberra và Monash University. Có mấy điểm mình thấy làm cho hồ sơ lột xác hoàn toàn so với trước đây là:

Một là sense of purpose (hiểu rõ mục đích bản thân): Mục đích đời bạn là gì? Các mục tiêu ngắn hạn của bạn? Bạn sẽ đi con đường nào để theo đuổi những mục đích và mục tiêu đó? Hình dung cuộc sống của bạn khi có học bổng sẽ thay đổi như thế nào? Học bổng sẽ giúp bạn đạt được điều gì?

Trước đó mình có ý muốn đi du học, nhưng chưa xác định được cụ thể tại sao mình cần đi học (mà chỉ có ý định trốn chạy vì công việc ngột ngạt thôi). Thấy “mông lung như một trò đùa” nên những câu hỏi kiểu như nên đi học về cái gì, sau này học xong thì làm gì, học bổng giúp thay đổi điều gì trong cuộc sống v.v. đều không có một định hướng gì để trả lời cả. Do chưa có xác định được rõ ràng nên toàn bộ những hồ sơ mình đã nộp trong năm 2014-đầu 2016, đặc biệt là phần phát biểu về mục đích (statement of purpose) và đề cương nghiên cứu (research proposal) đều phiên phiến, mơ hồ và thiếu dấu ấn cá nhân (personal touch). Bản thân mình còn thấy thế thì người ta chấm học bổng không thấy mới lạ!

Có bạn cứ bảo học xong thạc sĩ rồi mà còn mông lung. Mình thì thấy, mỗi giai đoạn cuộc đời đều rơi vào một số các mông lung đặc thù: lúc cuối cấp 3 thì không biết học đại học gì, lúc tốt nghiệp đại học thì không biết nên làm gì, đến lúc đi làm rồi không biết làm nghề này có đúng không hay chuyển nghề khác, lúc học xong thạc sĩ rồi thì không biết nên học tiến sĩ hay tiếp tục đi làm là đủ, v.v. Nói chung, cuộc sống mà thiếu mông lung thì có gì đó không đúng. Nếu có mông lung tức là phải nghiêm túc để tìm kiếm lối ra. Quá trình tìm kiếm mục đích của mình bắt đầu bằng việc suy nghĩ thật chín chắn cái gì mình thực sự đam mê – cái này rất quan trọng. Nếu không đam mê thì sau này khó mà theo đuổi được. Đối với mình, nghiên cứu là nghề nghiệp nền tảng nên phải học PhD. Mà học PhD phải cụ thể hóa bằng chủ đề nghiên cứu – thứ mình phải quan tâm và gắn với nghề nghiệp lâu dài. Sau khi đã trằn trọc suy nghĩ về định hướng nghề nghiệp của mình, thì việc tham khảo cả ý kiến của thầy cô và đồng nghiệp đi trước sẽ rất có ích. Họ là những người từng va chạm các vấn đề như mình nên chia sẻ của họ là cực kỳ giá trị. Mỗi lần trao đổi với họ giúp mình nhận ra mục đích của mình còn chưa phù hợp chỗ nào để mà điều chỉnh. Khi mục đích lớn dần dần lộ rõ thì các phần khác của bộ hồ sơ trở nên liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất do xoay quanh một định hướng. Chốt lại, không có sense of purpose thì viết cái gì cũng nhạt.

Hai là research proposal (đề xuất nghiên cứu).

Có lẽ cái này là phần khó nhất, và là điểm khởi đầu trong hồ sơ apply tiến sĩ. Trước đây đề tài nghiên cứu thạc sĩ của mình là về “nghi thức thể hiện sự tôn trọng trong đời sống người Việt”, dù mình khá hứng thú với nó, nhưng thực tế nó ít được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm và cũng khó khơi gợi được sự quan tâm của các giáo sư ở Úc. Do đó mình nghĩ phải tìm một chủ đề mới, thực tế hơn. Trước khi có bản cuối cùng mình có phải đến vài ba chủ đề khác nhau, mỗi chủ đề viết thành 4-5 bản khác nhau, cái về Internet và truyền thông xã hội, cái về mạng lưới tương tác ảo, cái về tổ chức xã hội tự nguyện, v.v. Khi đã chọn cho mình một chủ đề với ý tưởng thú vị, việc tiếp theo là xây dựng nó thành một đề xuất nghiên cứu (research proposal). Vì không thạo với tài liệu chuyên ngành liên quan đến chủ đề lựa chọn nên dù mình tự mày mò, tự xây dựng, tự sửa cho mình nhưng rốt cuộc vẫn rối như canh hẹ. Sau đó, mình quyết định tham khảo các anh chị tiền bối trong ngành bằng cách trao đổi với họ, gửi proposal cho họ góp ý, rồi từ đó tìm cách sửa chữa lại. Mình gửi đi khoảng 4-5 người. Qua đó mình thấy mình học hỏi được rất nhiều thứ. Đúng là phải soi mình vào một cái gương thì mới thấy mình thế nào. Qua đó, phải nói research proposal của mình tốt lên hẳn. Kết quả là khi mình gửi đi thì hầu hết giáo sư đều đồng ý nhận hướng dẫn ngay từ lần đầu tiên với comment đại ý là đề tài của mày promising (đáng mong đợi) và thú vị.

Tóm lại, tìm ra được ý tưởng nghiên cứu hấp dẫn, nằm trong một topic đúng mốt (không chỉ quan trọng đối với Việt Nam mà phù hợp với định hướng nghiên cứu của trường và được cả giáo sư họ quan tâm), xác định được được lỗ hổng của nghiên cứu hiện tại, đặt ra câu hỏi đích đáng , có một hình dung tốt về phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng, quyết định phần lớn thành bại của một hồ sơ học PhD.

Ba là chuẩn bị.

Quá trình chuẩn bị cho một hồ sơ PhD gồm nhiều phần. Ngoài đề cương nghiên cứu, có ba phần tối quan trọng mình muốn chia sẻ ở đây.

Đầu tiên là chuẩn bị các giấy tờ có công chứng như bằng cấp, bảng điểm, giấy chứng nhận, giấy khai sinh, hộ chiếu. Một trong những khó khăn nhất, tốn thời gian và mệt mỏi nhất (chắc là ở Việt Nam) chính là xin công chứng các giấy tờ. Cái thì phải về quê xin bản sao và công chứng ví dụ như giấy khai sinh; cái thì phải công chứng ở phường; cái thì phải lên thành phố (ví dụ các bản có tiếng Anh, phường không có năng lực công chứng); cái thì phải về trường (ví dụ bảng điểm). Đó là chưa kể việc dịch các văn bản sang tiếng Anh. Kinh nghiệm của mình là: (i) phải luôn có các túi clear bag để đựng và ghi tên các loại giấy tờ; (ii) khi rỗi thì công chứng luôn tất cả giấy tờ có thể; (iii) bắt đầu làm cái này càng sớm càng tốt (ví dụ từ trước mấy tháng khi xin học bổng); (iv) lưu trữ các giấy tờ cả bản cứng và cả bản scan (scan đẹp vào). Đừng chờ đến khi chuẩn bị học bổng rồi mới làm, đầu óc mình rất mệt mỏi phải lo các thứ khác trong hồ sơ, nhìn việc hành chính nhiêu khê mà thấy nản luôn. Liên quan đến công chứng, chắc không ai sang như mình, lên hẳn Đại sứ quán Úc công chứng. Mỗi loại giấy tờ ở đây (tất nhiên phải là giấy tờ tiếng Anh) được công chứng với giá 40 đô – nghĩa là giấy tờ gồm 1 hay nhiều trang thì đều 40 đô. Mình làm tới 7-8 loại luôn (máu thôi rồi!), tổng tiền Việt lên tới 6-7 triệu gì đó. Anh officer ở Đại sứ quán thấy thế nhìn mình với ánh mắt ái ngại. Nhưng nó thể hiện cho triết lý của mình: đã máu thì làm tới luôn. Được cái, công chứng bởi Đại sứ quán thì dùng được lâu dài, nhiều đại học, cơ quan Úc nó chấp nhận (kể cả khi mình đi xin việc).

Thứ hai là chuẩn bị thư giới thiệu (letter of recommendation/referee letter). Mỗi hồ sơ học bổng đại học Úc và cả New Zealand, yêu cầu từ 2-3 thư giới thiệu. Thường một thư giới thiệu (có trường bắt buộc ví dụ Auckland University) từ giáo sư hướng dẫn luận văn thạc sĩ, hoặc của một giáo sư viết nghiên cứu cùng mình; và một thư của người tuyển dụng mình, hoặc một người trong ngành làm việc cùng mình. Kinh nghiệm của mình là: luôn chú ý xây dựng các mối quan hệ – hay xây dựng vốn xã hội, sẽ đến lúc cần đến. Sau khi tốt nghiệp Flinders University, mình vẫn thỉnh thoảng gửi email chúc mừng, hỏi thăm các giáo sư từng quen biết và hướng dẫn từ hồi đi học (hồi đi học thì cố gắng thể hiện nổi bật một chút cho người ta nhớ ). Vậy nhưng các bạn cũng biết, mỗi trường hai lá thư, mà mình apply đến 6-7 học bổng, nên mỗi người mình phải xin 2-3 lá. Cái nhiêu khê nhất là mình phải nhờ họ tự vào hệ thống submit thư giới thiệu (ví dụ học bổng Endeavour), có cái họ phải tự gửi đi (mất thời gian viết thư, gửi đi, có nơi phải gửi post, rồi check xem đến chưa). Khi nhờ vả họ nhiều thế quả ái ngại vô cùng (nhưng kinh nghiệm cho thấy, mình phải đạp lên tất cả. Đùa thôi!). Cái mình có thể giúp họ được là: (i) phân loại các hồ sơ ra, phân bố người viết thư vào các loại học bổng khác nhau, đừng để có người phải viết nhiều thư quá. Thường thì mình cũng cân đối cả giáo sư trong nước và nước ngoài; (ii) chuẩn bị sẵn tất cả thông tin cần thiết (thông tin về mình, về trường, loại học bổng, v.v.) cho họ, để họ chỉ có mỗi việc viết và gửi đi. Hôm đầu tiên gặp giáo sư hướng dẫn PhD thầy có nhắc bảo tao có biết và ngưỡng mộ giáo sư hướng dẫn luận văn của mình và tin tưởng vào sinh viên cô ấy hướng dẫn. Thế mới thấy thư giới thiệu quan trọng ra sao.

Thứ ba và quan trọng là chuẩn bị xuất bản phẩm (academic publication). Rốt cuộc thì chấm học bổng PhD luôn dựa vào giá trị/chất lượng học thuật (academic merit). Tiêu chí này ngoài điểm GPA (thường sẽ yêu cầu bạn tốt nghiệp honours hoặc Masters hạng A – High Distinction), thì phải có xuất bản phẩm (liên quan đến đề tài đề xuất thì càng tốt). Việc chuẩn bị này dĩ nhiên phải lâu dài. Hồi học xong thạc sĩ, mình mới chỉ có khoảng chục bài báo trong nước và một chương sách (đều là tiếng Việt). Biết thiếu hụt của mình là các xuất bản bằng tiếng Anh và chất lượng quốc tế, thời gian về nước từ tháng 9/2014 ngoài việc xung phong viết báo cho viện nơi mình làm, mình cũng tập trung để xuất bản ba bài tiếng Anh, trong đó có hai bài trên tạp chí có peer-review, một bài trên tạp chí quốc tế (dù chỉ là open access journal). Bên cạnh đó mình cũng may mắn có một chương sách bằng tiếng Anh đang review xuất bản ở thời điểm nộp hồ sơ. Việc có bài tiếng Anh cực quan trọng, vì nó cho phép người xét duyệt có thể đọc và hiểu được trình của mình (đỡ phải dịch nữa!). Thế nên bằng mọi giá phải có bài báo tiếng Anh, và tốt hơn thì trên các tạp chí peer-review và có thứ hạng cao. Thực tế các học bổng đều có thang điểm dành cho từng loại xuất bản phẩm (cao nhất là bài báo, chương sách nhà xuất bản uy tín). Nhìn chung, hồ sơ của mình tại thời điểm sau tháng 3/2016 (gồm những xuất bản phẩm vừa kể) mạnh hơn rất nhiều so với năm trước do có xuất bản phẩm. Tóm lại, nếu các bạn định đi học PhD thì chuẩn bị xuất bản nghiên cứu là không thể tránh khỏi. Mà điều này phải chuẩn bị trong thời gian dài (ví dụ một bài báo peer-review mất ít nhất 1 năm để đi tới cùng, tính từ thời điểm nộp bài lên tạp chí). Đây cũng là điểm cần cân nhắc khi đi học PhD: có đáng không? Luôn và nên cần hỏi như vậy.

Bốn là chọn và liên lạc với giáo sư hướng dẫn (supervisor).

Có một số chiến thuật để tiếp cận với giáo sư hướng dẫn. Trước hết là tìm kiếm từ rộng đến hẹp. Xác định trình độ của mình ở mức trung bình thôi (mình nghĩ cái này nên trung thực với bản thân, biết mình đang ở đâu!), nên mình chọn các trường đại học rank thấp và trung bình thôi. Trong các trường đó, mình tìm về các khoa liên quan đến chủ đề nghiên cứu mình quan tâm, ví dụ mình quan tâm đến thảm họa tự nhiên từ góc độ xã hội học thì sẽ tìm khoa nhân học, xã hội học, nghiên cứu phát triển, v.v. Trong các khoa đó có các hồ sơ (profiles) của các giáo sư. Mình tìm tới từng profile, đọc, tham khảo một số các nghiên cứu của họ, tìm chỉ số trích dẫn của họ (chẳng hạn qua Google Scholar), suy nghĩ xem có liên hệ nào giữa họ và đề tài của mình hay không (cố tìm ra!). Sau đó, chọn “nạn nhân” để đầu tư thời gian. Lưu ý là mỗi khoa, mỗi thời điểm chỉ nên lựa chọn một giáo sư thôi vì họ có thể trao đổi với nhau. Mình gửi nhiều người họ cũng có thể biết, và như thế không hay. Ngoài ra, khi chọn giáo sư thì không nên chọn người có thâm niên quá cao, vì họ có thể không có nhiều thời gian để trả lời thư của mình, hoặc không có nhiều thời gian để hướng dẫn cho mình sau này (sau này sang bên Monash học mình mới biết, nhiều trường hợp giáo sư thâm niên rất ít khi gặp và trao đổi với sinh viên, làm sinh viên toàn tự bơi. Về lâu dài thì rất khổ!). Hơn nữa, giáo sư rank cao cũng sẽ chọn các sinh viên xuất sắc (outstanding), mình nên biết lượng sức mình mà lựa chọn người cho phù hợp. Mình thường chọn các associate professor hoặc các senior lecturer hoặc những người có citation thấp hơn một chút. Kết quả phản hồi rất tốt.

Một vấn đề quan trọng nữa là liên lạc email. Đầu tiên là tiêu đề thư, ngắn gọn, súc tích, và làm rõ ý định của người viết thư. Nội dung thư đầu tiên mình cũng không đặt quá nhiều vấn đề kiểu như lá thư trăn trối cuối cùng (nhét được bao nhiêu thông tin thì cố nhét) vì giáo sư họ sẽ khiếp, không có thời gian mà đọc thư quá dài. Mình chỉ giới thiệu đề tài nghiên cứu của mình, đặc biệt nhấn mạnh vào sự tương đồng giữa mình và các research interests hay topics mà họ đang theo đuổi, rồi cuối cùng chốt hỏi một câu xem họ có quan tâm đến đề tài của mình không. Trong phần tái bút, mình cũng chèn thêm tài khoản researchgate.com hoặc academia.edu để họ cần thì vào xem.

Thời điểm gửi thư thì mình dùng Boomerang để set thời gian đúng 8h sáng bên nước họ và thấy rất hiệu quả. Tất cả giáo sư mình gửi đều phản hồi (sớm hay muộn thôi) và hầu hết đều đồng ý. Sau đó mình mới hỏi họ cho phép mình đặt tên họ vào hồ sơ xin nhập học (admission) và học bổng (scholarship). Như vậy đến đây đã xong một bước quan trọng là xin được giáo sư đồng ý hướng dẫn, việc tiếp theo là hoàn thành hồ sơ xin nhập học và học bổng. Tóm lại, cách liên lạc với giáo sư phải thể hiện mình tôn trọng thời giờ vàng ngọc của người ta, và qua đó cho họ thấy mình là người chuyên nghiệp.

Liên quan đến liên hệ giáo sư, mình cũng chia sẻ thêm là chăm đi các events và workshops rất có ích. Thời điểm mình đang mơ hồ tìm kiếm thì có dự một event do Chính phủ Úc tổ chức ở Hà Nội. Ở đó mình có trao đổi với một chị người Úc rời đại sứ quán Úc về nước làm tiến sĩ. Ngay lập tức mình xin kết nối với nhóm nghiên cứu bên đó thì được ngay. Sau đó giáo sư chủ động gọi mình phỏng vấn qua Skype và qua đó mình được nhận. Đặc biệt là trong supervisory panel của mình có một leading scholar trong mảng environmental politics, và bác ý cũng đồng ý làm hướng dẫn hai cho mình vì thích đề tài của mình. Quả thực họ rất nhiệt tình ủng hộ mình trong quá trình nộp hồ sơ cho trường, thậm chí còn viết của thư support gửi cho trường và hứa cho thêm tiền để làm thực địa và đi dự conference nữa. Kinh nghiệm là cứ đi kết nối nhiều vào, mạnh dạn trình bày ý tưởng, và nắm bắt mọi cơ hội tới.

Năm là làm bài luận (essays).

Một trong những phần quan trọng của hồ sơ xin nhập học và hồ sơ học bổng là viết các bài luận theo các câu hỏi khác nhau. Việc viết này quả thực tương đối thách thức theo nghĩa mình vừa đang đi làm kiếm tiền, vừa phải lo viết bài xuất bản, nên việc viết bài luận phải tranh thủ và tập trung cao độ. Hơn nữa, việc hoàn thành các bài luận này thường không phải một lúc là xong, mà kéo dài rất mệt mỏi. Viết thế nào để thuyết phục hội đồng cho học bổng quả không dễ. Vậy viết thế nào?

Ý tưởng, nội dung của các bài cần phải có ‘personal touch’, tức là cần phải mang dấu ấn cá nhân, chứ không phải cứ copy các bài mẫu trên mạng, tạo ra các bản sao. Đã là bản sao thì không thể xuất sắc hơn bản chính được, dù nó được trau chuốt đến đâu. Dấu ấn cá nhân là hình ảnh, trải nghiệm, mục đích cá nhân được in đậm trong đó. Đó là cái phân biệt hồ sơ của bạn với hàng loạt hồ sơ khác.

Thứ hai là phải viết logic và mạch lạc. Mỗi bài luận thường có các câu đề bài, ví dụ hỏi: Tại sao mày là một ứng cử viên xuất sắc để nhận học bổng này? và được giới hạn trong một lượng tự nhất định (ví dụ 100-200 từ). Người chấm học bổng phải đọc rất nhiều hồ sơ, nên họ không có quá nhiều thời gian để thẩm thấu cái gì quá phức tạp, cao siêu. Mình cần phải viết cái gì rất rõ ràng, dễ hiểu. Để làm được điều đó, kinh nghiệm của mình là trước khi viết, vạch ý ra thật rõ ràng. Ví dụ một câu trả lời mình dự định có 3 ý, thì xây dựng 3 ý thật rõ ràng, đi kèm các lập luận và ví dụ cụ thể của bản thân (nhất thiết phải của bản thân). Hơn nữa, cần sắp xếp 3 ý này theo tuyến tính, hay theo một logic nào đó. Ví dụ, ý A, B và C được sắp xếp theo trật tự thời gian, từ quá khứ tới hiện tại. Như vậy, người đọc sẽ biết mạch văn của mình. Không chỉ mạch lạc, logic trong nội bộ một bài luận, mà các bài luận cũng nên liên kết với nhau, cùng làm toát lên mục đích nghề nghiệp của mình.

Thứ ba, tự sửa cho mình. Để hoàn thiện một bài luận, bản thân mình phải tự sửa rất nhiều lần. Đây là một quá trình phản thân (reflective process) rất cần thiết. Một bài luận của mình thường có rất nhiều bản thảo. Ví dụ mình hoàn thành một bản thảo, sau đó cách hai ba ngày bỏ đi không nghĩ tới, rồi quay lại đọc bản thảo đó. Cách này khiến mình nạp lại năng lượng, làm mới đầu óc mình, từ đó nhìn nhận bản thảo rõ ràng hơn, dễ tìm các điểm chưa được mà khắc phục. Ngoài cách trên, nếu nhờ được ai xem giúp cho mình thì rất tốt.

Sáu, sắp xếp một hồ sơ (điện tử) gửi đi.

Hình dung là người nhận và xét duyệt sẽ có hàng tá bộ hồ sơ gửi đến. Làm thế nào để bộ hồ sơ của mình nổi bật và dễ thiện cảm? Có mấy gợi ý.
Thứ nhất, ghi tên rõ ràng. Mỗi file trong hồ sơ cần ghi tên rõ để họ nhìn là biết file đó là gì.

Thứ hai, đối với các bằng cấp, bảng điểm, nên ghi thêm năm. Hình dung họ nhìn vào list các file bảng điểm là biết mình tốt nghiệp năm nào.

Thứ ba, đối với các files như passport, giấy khai sinh thì nên ghi thêm tên mình.

Thứ tư, các files trong một bộ hồ sơ nên đánh số thứ tự: 1, 1.1., 1.2. Thứ tự nên theo yêu cầu trong form hồ sơ học bổng/nhập học. Khi họ mở hồ sơ ra thì đã biết nên đọc file nào trước.

Thứ năm, nên bổ sung thêm một số files có tác dụng làm rõ thêm các tài liệu khác, dù không được yêu cầu. Ví dụ mình bổ sung thêm một bản báo cáo đánh giá luận văn thạc sĩ của mình từ các examiners, có dấu xác nhận của trường cũ.

Thứ sáu, đừng nên tiếc tiền mà không chuẩn bị các file đẹp nhất có thể. Ví dụ nếu scan các ấn phẩm xuất bản thì nên scan màu, cắt gọt các phần đen, thừa đi.

Thứ bảy, khi gửi hồ sơ tới một địa chỉ cụ thể, tiêu đề thư nên ghi rõ hồ sơ của ai, dành cho học bổng hay nhập học.

Thứ tám, nội dung thư nên nói rõ phần đính kèm gồm những files gì.

Thứ chín, nếu toàn bộ hồ sơ quá nặng để đính kèm thì chia thành hai thư, nhưng cần nói rõ là sẽ có 2 thư, mỗi thư gồm các tài liệu gì đính kèm. Lưu ý, số thứ tự của hai phần vẫn thống nhất với nhau.

Thứ mười, vẫn nên set thời gian gửi email vào đầu giờ làm việc buổi sáng của bên nước họ.

Cuối cùng, kiên nhẫn chờ đợi, thành công sẽ tới.

Năm nay, trước khi thành công đến thất bại viếng thăm liên tiếp. Bắt đầu với học bổng New Zealand sau khi đã vào vòng 3, sau đó đến trường Aucland cũng bị từ chối nốt dù đã chấp nhận nhập học, tiếp đó học bổng Endeavour cũng trượt (cái mình cực kỳ hy vọng), trường Western Sydney University cũng từ chối dù đã cho nhập học. Thời điểm đó cứ cách 1-2 tuần là một tin báo trượt. Chắc ai đã từng apply học bổng rồi mà trượt nhiều và liên tục thì mới thấy đau khổ và thất vọng thế nào. Thực sự thì tới thời điểm nhận được mấy tin báo thất bại liền, mình không còn tin ở khả năng mình nhận được học bổng nữa. Thực tế là đa số các trường ở Úc mỗi năm chỉ dành 1-2 suất học bổng cho sinh viên quốc tế làm PhD thôi (ví dụ University of Canberra họ báo ngay cho mình từ khi chuẩn bị hồ sơ kiểu như để mày nghĩ cho kỹ đỡ mất công làm). Khi mình so các tiêu chí chấm điểm học bổng thì thấy hồ sơ của mình chỉ ở mức trung bình thôi, đặc biệt là phần xuất bản phẩm (đòi hỏi các bài báo trên tạp chí peer-review).

Nhưng cuối cùng, may mắn cũng mỉm cười. Vào một buổi trưa của chuyến công tác, đang nằm võng ở Trà Vinh, mình nhận được email thông báo học bổng. Rồi có thêm 3 trường nữa gửi thư thông báo học bổng liên tiếp làm mình không tin nổi luôn. Việc này cho thấy một điều này: nhiều khi may mắn chiếm một phần rất quan trọng đối với việc apply học bổng. Nhiều khi mình trượt nhưng mình đến đến rất gần với thành công, chỉ thiếu một chút may mắn thôi (mà may mắn đó có thể do hội đồng chấm hắt hơi, đau đầu hay vừa cãi nhau với partner) và cần phải kiên trì chờ đợi. Ví dụ năm 2016, học bổng Endeavour dành cho PhD cho Việt Nam duy nhất 1 học bổng, trong khi đó Bangladesh tận 6-7 người. Năm trước đó Việt Nam còn được đến 5-6 giải thì phải. Có một anh tâm sự (không biết đúng không) bảo năm nay review hồ sơ học bổng có nhiều bạn nổi bật hơn cả những người năm trước đạt giải nhưng do chính sách cắt giảm của Úc nên không được chọn. Vậy đó, đôi lúc mình cố rồi mà hoàn cảnh khách quan thì phải chịu. Nhưng có lẽ, cứ cố gắng, đi đúng hướng, làm đúng cách thì rồi thành quả sẽ tới.

 

Tác giả https://www.facebook.com/trungkien.onfire/posts/10208833688094812

Kinh nghiệm xin học bổng New Zealand Asean Scholarship – Quỳnh Anh

Kinh nghiệm săn học bổng toàn phần chính phủ New Zealand

Nhiều bạn/em nhắn tin hỏi mình kinh nghiệm apply hồ sơ học bổng. Có nhiều tin nhắn vào mục chờ mà gần đây mình mới đọc được. Vì mình cũng đang trong giai đoạn chuẩn bị để sang nhập học mà vẫn đi làm nên không đủ time trả lời từng bạn một. Do đó mình viết chung bài này hi vọng những chia sẻ của mình phần nào giúp các bạn thực hiện được mục tiêu/ước mơ của mình. Đây là câu chuyện của mình nên cũng có thể có những điều chỉ đúng với cá nhân mình. Do đó, các bạn hãy xem như đây là 1 nguồn để tham khảo nhé.
Mình nghĩ điều đầu tiên là mỗi người cần trả lời câu hỏi vì sao mình lại muốn đi du học. Có thể ban đầu điều mong muốn này cũng chỉ mơ hồ nhưng hãy nuôi lớn dần ước mơ. Bản thân mình lúc đang học năm cuối Đại học thấy nhiều bạn đi du học, làm được nhiều điều, rồi đọc quyển “Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương” của 1 chị đạt học bổng Chevening thì mình đã nhen nhóm ước mơ du học để được trải nghiệm, mở mang kiến thức và tìm hiểu về văn hóa. Mình cũng tưởng tượng bản thân cầm theo cái máy ảnh, vai khoác balo đi khám phá nơi này nơi kia ở Châu Âu đầy lãng mạn. Những năm đó mình lên Internet tìm hiểu về học bổng Eramus Mundus, học bổng Chevening, học bổng Irish Aid, học bổng Fulbright…Nhưng thật ra chỉ có vậy.

Rồi mình đi làm, lập gia đình và sinh con. Cơ hội để đi du học khi đã có gia đình khó hơn nhiều. Mình cất ước mơ  du học vào 1 ngăn. Nhưng hành trình làm mẹ và giai đoạn đồng hành với con rất tuyệt vời. Đây là 1 chủ đề khác mình sẽ chia sẻ sau. Chính trong quá trình nuôi con, dạy con, mình thấy bản thân cần trau dồi thêm rất nhiều. Đọc sách về cách giáo dục của Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, Do Thái, Trung Quốc…mình cũng mong muốn con gái được tiếp xúc với những môi trường tuyệt vời. Cùng với mơ ước của bản thân, được học tập và trải nghiệm ở 1 nền giáo dục tiên tiến hơn, mình lại tìm hiểu. Trong số người quen của mình, có anh chị nào từng đi du học là mình lại hỏi han, tìm hiểu để được nói về chủ đề đó chứ chưa quyết tâm vì mình nghĩ đi du học không mang theo con được. Tình cờ khi làm việc cùng 1 chị ở Mc Kenzy, mình biết được thông tin là đi du học Mỹ bằng học bổng Fulbright có thể mang con theo. Đặc biệt nếu học Havard thì con được học ở Havard Square rất tuyệt vời. Túm lại là vẫn có cơ hội dù xác suất thành công rất nhỏ. 1 chị bạn thân khác của mình có nói với mình “Em đừng nghĩ là em đi du học chỉ vì minh, mà em đang đi để mang đến 1 tương lai tốt đẹp hơn cho con”. Câu nói đó khiến mình suy nghĩ rất nhiều. Mình thấy đúng là như thế! Mình muốn tìm hiểu về thế giới, muốn con có cơ hội học tập ở những nền giáo dục tiên tiến thì trước tiên mình phải làm gương. Sau 1 thời gian soát xét mọi khía cạnh thì mình hạ quyết tâm sẽ tìm kiếm học bổng toàn phần để đi du học và có mang con theo. Có nhiều lý do nhưng sau khi tìm hiểu thì mình chỉ lựa chọn học bổng Fulbright và học bổng New Zealand Asean (NZA). (Các học bổng khác trong list mình lập cũng đều rất hay nhưng phù hợp với những bạn độc thân, chưa có gia đình). Mình tìm hiểu về New Zealand từ đầu năm 2015 và càng tìm hiểu thì mình càng cảm thấy quá yêu đất nước New Zealand dù chỉ biết qua internet, báo chí… Khi mình chia sẻ ý định của mình thì mọi người cũng đều nói con người mình phù hợp với văn hóa và cuộc sống New Zealand. Và cuối cùng thì mình chỉ apply duy nhất học bổng New Zealand Asean(NZA).

 

Như đã nói ở trên và trong ảnh mình gửi thì mình lập plan từ tháng 3/2015. Lúc đấy mình mới nghiêm túc tìm hiểu lại về tất cả các học bổng, note ngắn gọn các điều kiện apply và deadline. Việc lập plan này với cá nhân mình thấy rất hữu ích. Tuy nhiên thời gian từ lúc quyết định đến lúc nộp hồ sơ là 1 năm là thời gian không dài, nếu không muốn nói là quá gấp, nhất là với người đã tốt nghiệp đại học được gần 8 năm như mình (mình tốt nghiệp cuối năm 2007, tháng 3/2015 bắt đầu lập plan). Vì tiếng Anh tuy trong công việc mình vẫn dùng nhưng rất ít. Khoảng nửa năm ôn luyện và thi IELTS cũng là rất thách thức. Lúc đó mình chỉ nghĩ, nếu mình không quyết tâm, không nỗ lực thì sẽ chẳng bao giờ thực hiện được ước mơ. Và cứ đặt mục tiêu cao nhất là học bổng toàn phần, nếu chưa được thì ít nhất mình đã có động lực để nghiêm túc ôn luyện lại tiếng Anh cũng như quá trình chuẩn bị hồ sơ sẽ giúp mình nhìn lại bản thân thấu đáo hơn.
Mình khuyên mọi người hãy tìm hiểu thật kỹ tiêu chí của học bổng, xem mình hợp với học bổng nào hay mình cần nâng cao gì để phù hợp với tiêu chí học bổng. Tự trả lời tại sao bạn lại muốn đi du học? Tại sao lại apply học bổng này mà không phải học bổng khác? Tại sao chọn ngành này lại không phải ngành khác? Hãy thật hiểu bản thân và biết cách trình bày để hội đồng xét duyệt học bổng hiểu được bạn. Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ như yêu cầu của học bổng.
Kinh nghiệm để có bộ hồ sơ mạnh hay đẹp thì mình không có vì mình mới chỉ apply duy nhất học bổng New Zealand Asean (NZA). Mọi người vào các trang web như hotcourses/nguonhocbong.com là được nhiều thông tin nhất và cập nhật nhất. Bạn sẽ có rất nhiều kinh nghiệm hay từ các bạn đi trước.

Kinh nghiệm xin học bổng du học hay nói đúng hơn bí quyết săn học bổng du học  của mình gói gọn như sau:
1. Lập plan cụ thể theo tháng, tuần, ngày.
2. Quyết tâm và đọc nhiều để được truyền thêm cảm hứng.
3. Hãy nghĩ rộng hơn, xa hơn: không phải đi du học là để có cv tốt hơn, thu nhập cao hơn mà hãy hướng đến những mục tiêu xa hơn như: để hiểu hơn về thế giới, để trực tiếp cảm nhận nền văn hóa. Để đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng…
4. Tìm đến nhiều người đã đạt học bổng vì mỗi người sẽ đều có những lời khuyên hữu ích cho mình.
5. Chia sẻ mục tiêu với những người thân/bạn bè để lỡ chẳng may lúc nào nản hoặc kết quả chưa như mong muốn thì được động viên kịp thời (Minh may mắn có nhiều bạn bè, đồng nghiệp, người thân như vậy lắm. Có khi còn tin vào mình hơn cả chính bản thân mình ấy)
6. Nghiêm túc nghĩ về các dự định cả về công việc & cuộc sống của bản thân và gia đình trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.

————————————————

Chân thành cảm ơn Quỳnh Anh 1 bài viết rất tâm huyết và nhiều lời khuyên bổ ích & giá trị cho các bạn trẻ Việt Nam.

NZ ASEAN CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC – Duy Cris Trần – Thạc sĩ Tài Chính, Đại học Massey, New Zealand.

Cám ơn Anh Cris D. Tran đã dành thời gian chia sẻ hành trình apply học bổng của Anh và những công việc hiện tại Anh đang làm để đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Anh Duy Cris là ứng viên thành công học bổng NZAid khi Anh đang làm cho khối tư nhân, ngành tài chính. Vậy bí quyết thành công của Anh là gì? profile của Anh ra sao? chúng ta cùng khám phá nhé!!!
****** PHẦN 1***** PROFILE CỦA ANH DUY CRIS KHI ANH APPLY NZAID –
Cấp 3: theo học Tại THPT ở Singapore – Đại học: Trường Southern Methodist- Khoa Quản trị kinh doanh chuyên ngành Tư vấn tài chính – Mỹ với học bổng toàn phần và GPA khủng: 3.8/4 – Nghề nghiệp: Cố vấn và phân tích chiến lược tài chính + Product Lead, Đông Á Bank. Trước đó, Anh cũng làm thực tập tại HSBC. – Hoạt động ngoại khoá: + National Intercollegiate Ethics Bowl and Texas Regional Ethics Bowl + National Wall Street Journal Biz Quiz
➤ Trích dẫn “Anh rất biết ơn học bổng chính phủ New Zealand đã tạo điều kiện hết sức cho Anh được đi học và thể hiện ước mơ của mình. Anh biết mình có rất nhiều “bất lợi” trong hồ sơ ví dụ: Anh là dân tài chính, lại không làm cho tập đoàn nhà nước, công ty nhà nước hay bất cứ trường đại học nào. Bản thân Anh lại tốt nghiệp đại học ở nước ngoài nữa. Vậy mà hội đồng xét duyệt vẫn cho Anh cơ hội được vào vòng phỏng vấn. Khi phỏng vấn, Anh cảm thấy rất tự tin vào ước mơ của mình. Có bao nhiêu tâm huyết, ấp ủ Anh đều chuẩn bị rất kĩ để trình bày. Các câu hỏi thường gặp dĩ nhiên vẫn là: học gì, ngành gì, trường gì, vì sao học ngành đó/ trường đó, và dự định quay trở về ra sao?
➤ Thế Anh trình bày thế nào?
Anh bảo rằng Anh rất tâm huyết đối với ngành tư vấn tài chính. Nếu như ở Việt Nam và thế giới đã có những tập đoàn nổi tiếng level 1, level 2 như McKinsey & Company với những dự án triệu $ đánh vào những tập đoàn lớn, vậy phân khúc thấp hơn thì ai làm? Thị trường ở Việt Nam vẫn đang rất tiềm năng và rất cần những bên tư vấn tài chính chuyên nghiệp. Anh muốn được đầu tư thời gian, công sức và tâm huyết để tackle mảng này, cố gắng cung cấp những dịch vụ tư vấn tài chính chuyên nghiệp cấp quốc tế nhưng ở phân khúc tầm trung. Anh hi vọng, đây sẽ là đóng góp quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế của các doanh nghiệp, ở Việt Nam nhưng tầm vĩ mô. Hẳn nhiên, Anh cũng có kế hoạch cụ thể để thực hiện nó và đó cũng là những gì Anh đang làm sau khi Anh quay trở về.
➤ Vậy Anh đã bắt đầu thực hiện hoá những dự định của Anh như thế nào?
Đầu tiên là ngay khi qua New Zealand mới 1, 2 tuần là Anh đã kiếm được việc làm trong trường để nắm bắt nhanh cuộc sống và cách người New Zealand làm viêc. Họ quá tuyệt vời. Sau một thời gian ngắn khác, ổn định việc học tập ở trường, Anh đã xin đi thực tập tại tập đoàn Frost & Sullivan, cũng là tập đoàn mà Anh đang làm việc hiện tại (khi quay về Việt Nam). Anh đã chứng minh cho họ thấy được năng lực của Anh cũng như định hướng phát triển thị trường Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là Việt Nam như thế nào. Dĩ nhiên, may mắn cũng không là ngoại lệ. Họ cũng đã có những hoạch định để phát triển thị trường Việt Nam rồi nên khi mình trình bày, họ rất ủng hộ. Với những nỗ lực không ngừng, dù chỉ là chàng intern nhưng Anh được họ coi trọng ngang ngửa với người đi làm full-time lâu năm. Anh rất tự hào. Khi quay về Việt Nam, Anh tiếp tục làm cho họ. Dù không có chi nhánh tại Việt Nam khiến Anh phải travel rất nhiều, nhưng Anh cố gắng quyết tâm đạt chỉ tiêu để mở được văn phòng tại Việt Nam trong thời gian tới. Tuy vậy, có được team quốc tế, Anh cùng mọi người đã và đang tư vấn cho rất nhiều doanh nghiệp trong nước nâng cao chất lượng và chiến lược cạnh tranh cho mặt hàng nông sản. Ngoài ra, Anh còn cover rất nhiều mảng khác. Như vậy, Anh lấy lợi thế của tập đoàn lớn với nhiều sư hậu thuẫn và nội lực quốc tế, team quốc tế để cùng Anh thực hiện các dự án nâng cao năng lực canh tranh cho Việt Nam, với Anh, đó cũng là cách để Anh đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam như Anh đã hứa với Hội đồng phỏng vấn”
***** PHẦN 2 ****** ANH CÓ LỜI KHUYÊN NÀO CHO CÁC BẠN APPLY HỌC BỔNG CHÍNH PHỦ NEW ZEALAND KHÔNG?
“Với Anh, không có bất cứ thành công nào đến chỉ từ may mắn! May mắn chỉ là 1 yếu tố trên hành trình chúng ta đi. Cái chính là chúng ta dám ước mơ, dám tạo sự khác biệt, dám dấn thân, ham học hỏi và tìm cơ hội thể hiện năng lực của mình…thì một ngày thành công sẽ đến với chúng ta. Hãy thể hiện cho Ban học bổng thấy rằng chúng ta có ước mơ, có chính kiến, có lộ trình thực hiện hoá ước mơ của chúng ta như thế nào. Chúng ta tin vào chúng ta, và mong rằng Ban học bổng cũng sẽ tin chúng ta và trao cho chúng ta cơ hội” “Tạo sự khác biệt đó chính là chìa khóa cho sự thành công. Ngay từ khi còn là sinh viên, Anh đã lựa chọn con đường đi cho mình khác với các bạn khác. Anh về Việt Nam thực tập trong mọi mùa hè, trong khi bạn bè Anh lại đi chơi. Bây giờ, dù được trả mức lương rất cao để làm chuyên viên cố vấn chiến lược cho Việt Nam, Anh vẫn chủ động làm những công việc vượt ngoài scope of work (phạm vi công việc) của mình ví dụ: chủ động đặt mục tiêu và tìm các dự án về cho tập đoàn. Anh mong muốn chứng minh năng lực của mình và khiến mọi người tự hào rằng mình là người Việt tâm huyết. Vì vậy, Anh cổ vũ các bạn trẻ hãy cố gắng tư duy khác biệt, và chủ động dấn thân tìm ra điểm mạnh riêng cho bản thân mình để khiến Ban học bổng không thể nào từ chối đam mê của mình.”
==> Vâng thưa các Anh Chị và các bạn, Anh Duy và OSLA Admin rất đồng tình và khuyến khích các bạn hãy cứ đam mê đi, cứ cố gắng và dấn thân đi, rồi một ngày đúng thời điểm, cơ hội sẽ đến. Học bổng chính phủ New Zealand đã thay đổi cuộc đời mình, đã chắp cánh ước mơ cho Anh Duy. Và chúng mình tin rằng, cơ hội đó cũng sẽ đến với các bạn. Chúc các bạn may mắn trong hành trình phía trước. Đây là một số bài báo mà Anh Duy viết, hoặc có trích dẫn ý kiến của Anh Duy. Các bạn có thể tham khảo hoặc Google Search: Cris Duy Trần nhé. http://www.thesaigontimes.vn/141060… http://www.computerweekly.com/news/…

Các bước xin học bổng chính phủ

Bài viết này không bao gồm thông tin về các thủ tục. Bạn sẽ phải tự tìm hiểu về thủ tục cần thiết liên quan một bộ hồ sơ học bổng.

Mình không đảm bảo những ai tuân theo quy trình này sẽ được học bổng, nhưng chắc chắn những người đó sẽ tận dụng được tối đa 4 yếu tố (ngoại trừ sự may mắn). Hiển nhiên, bạn tận dụng được càng nhiều thì khả năng hồ sơ tốt và được chọn càng cao.

Từ khi có ý tưởng du học đến khi chính thức nhận học bổng, một quy trình xin học bổng bài bản và hoàn chỉnh cần có 3 bước: (1) chuẩn bị trước khi làm hồ sơ, (2) làm hồ sơ, và (3) chuẩn bị phỏng vấn.

Thời gian cần thiết cho các bước này lần lượt là: tối thiểu 3 năm cho bước chuẩn bị, khoảng 2 tháng cho bước làm hồ sơ và 1 tuần cho bước chuẩn bị phỏng vấn.

Bí quyết săn học bổng toàn phần du học Mỹ

Để được nhận những suất học bổng giá trị tại Mỹ, bạn cần thường xuyên trau dồi kiến thức và có kế hoạch phát triển bản thân toàn diện, lâu dài.

Chuẩn bịMột hồ sơ tốt đều cần có bước chuẩn bị được đầu tư tối thiểu 3 năm – thời gian nỗ lực làm việc và chất xám. Để hiểu được lý do, hãy điểm qua những tiêu chí cơ bản mà các ban xét duyệt hồ sơ thường sử dụng để đánh giá ứng viên:

Thành tích học tập và nghiên cứu (nếu có) được thể hiện qua bảng điểm (hoặc GPA) và giấy chứng nhận (đối với một số học bổng như Erasmus Mundus hay Endeavour, thành tích học tập chưa tốt có thể được hỗ trợ bởi một quá trình làm việc giàu thành tích ở ngành liên quan).

Bài luận cá nhân (personal statement, letter of motivation, statement of purpose, study objectives).

Thư giới thiệu (letter of recommendation, reference, reference letter).

Tiêu chí đặc thù của học bổng hoặc của khóa học (có thể là phẩm chất cá nhân, thành tích hoạt động xã hội, khả năng sử dụng ngôn ngữ…).

Những tiêu chí trên được mình tổng hợp dựa trên các thông báo chính thức và kinh nghiệm ứng tuyển 5 học bổng: Erasmus Mundus (EM), Học bổng Song phương Việt – Bỉ (BBS), Học bổng Chevening, Học bổng Australia Awards (AAS), và Học bổng Fulbright.

Cac buoc xin hoc bong chinh phu hinh anh 1
Sinh viên trong giờ học trên giảng đường tại Đại họcLatrobe, Australia. Ảnh:Đoàn Toàn.

Đối với học bổng tài năng (merit-based), sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về mức độ quan trọng):

1. Thành tích học tập (hoặc làm việc).

2. Thư giới thiệu.

3. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

4. Bài luận cá nhân.

Thực tế, thành tích học tập luôn là “ngôi sao” của những hồ sơ học bổng tài năng. Trong nhiều chương trình thuộc EM, ban xét duyệt công khai với ứng viên là thành tích học tập chiếm tới 40% “weighting”. Điều tương tự xảy ra đối với Endeavour 2016:

Ngược lại so với thành tích học tập, bài luận cá nhân thường ít có sức nặng (đôi khi gần như không có chút giá trị nào) ở các học bổng tài năng.

Thực tế, thư xin học bổng mà các ứng viên Việt Nam viết để gửi cho học bổng EM thường có chất lượng không cao nếu không muốn nói là horse crap! Có thể nhiều bạn được EM đọc đến dòng này sẽ tự ái, nhưng nếu các bạn được đọc những bài luận của những người từng được những học bổng có tính cạnh tranh cao về tư duy và phẩm chất cá nhân như Fulbright hay Chevening, hoặc các học bổng trường thuộc Ivy League thì tôi tin các bạn sẽ… “tắt đài”.

Một ví dụ khác chứng minh sự chênh lệch về mức độ quan trọng của thành tích học tập và bài luận: Một bạn được học bổng Endeavour có thành tích học tập vô cùng xuất sắc nhưng bài luận được viết qua loa đến mức còn chả buồn kiểm tra ngữ pháp.

Nói đến như vậy, chắc mọi người cũng hiểu tối thiểu 3 năm để chuẩn bị cho học bổng tài năng sẽ được dùng cho việc gì rồi phải không? Rõ ràng, các bạn nên dành thời gian cho việc học tập và nghiên cứu để có một bảng điểm thật xuất sắc, cùng những bài báo cáo khoa học được công bố trên các báo hay tạp chí càng uy tín cao càng tốt.

Bên cạnh đó, nếu học bổng yêu cầu những hoạt động xã hội hay trình độ ngoại ngữ tốt, các bạn cũng nên dành nhiều thời gian cho những việc đó.

Vậy những bạn đã không để ý đến thời gian học đại học và không còn cơ hội thay đổi bảng điểm thì sao?

Các bạn có thể chuẩn bị cho học bổng tiềm năng hoặc học bổng tài năng – tiềm năng. Đối với học bổng tiềm năng, sức nặng của các tiêu chí lần lượt như sau (theo thứ tự giảm dần về sức nặng):

1. Bài luận cá nhân.

2. Tiêu chí đặc thù của học bổng.

3. Thành tích học tập

4. Thư giới thiệu

Đối với học bổng tiềm năng, thành tích học tập của bạn thường chỉ cần đạt một điều kiện cần và không cần cao. Ví dụ, học bổng Chevening yêu cầu ứng viên phải có bằng tốt nghiệp đại học tương đương Second Class Honour ở Vương quốc Anh (tức là GPA trên 7.0), bạn đạt và được xét duyệt công bằng với một người có GPA cao hơn.

Giữa 2 người, một người có GPA cao và bài luận khá, một người có GPA thấp và bài luận xuất sắc, Chevening sẽ đánh giá cao người thứ hai hơn.

Ví dụ, người viết có điểm GPA 7.6/10 – có lẽ là thấp đến mức bất cứ ứng viên nào thuộc ngành kinh tế hoặc xã hội cũng có điểm cao hơn. Nhưng mà mình vẫn được Chevening chọn.

Lý do chỉ có thể là mình có bài luận tốt vì học bổng Chevening không yêu cầu nộp CV và cũng chẳng có chỗ nào cho các bạn thể hiện thành tích (ngoại trừ bảng điểm) đâu.

Đối với học bổng tài năng – tiềm năng, yếu tố sức nặng (weighting) phụ thuộc từng quy trình xét duyệt của học bổng cụ thể. Ví dụ, học bổng Fulbright và AAS đều là dạng tài năng-tiềm năng. Tuy nhiên, nếu vòng hồ sơ đầu tiên của Fulbright xét tính cạnh tranh của toàn bộ hồ sơ bao gồm cả bài luận, phẩm chất đặc thù, thành tích học tập và khả năng ngôn ngữ, thư giới thiệu, thì vòng screening (vòng duyệt hồ sơ đầu tiên do người Việt Nam thực hiện) của AAS coi thành tích học tập, cụ thể là điểm GPA là yếu tố tiên quyết.

Có nghĩa là, rất có thể một bộ hồ sơ có SOP viết tốt nhưng GPA dưới 8.0 sẽ bị loại, trong khi một bộ hồ sơ SOP kém hơn nhiều nhưng tốt nghiệp giỏi với GPA 8.4 sẽ được chọn.

Vậy thì 3 năm chuẩn bị cho học bổng tiềm năng được dùng để làm gì?

Các bạn hãy dùng 3 năm đó để vừa nỗ lực làm việc, vừa suy nghĩ về ngành mà bạn đang làm. Hãy dành ít nhất 1 năm cuối ở trường đại học để nghiền ngẫm và hệ thống lại những lý thuyết mà bạn đã có để xác định con đường lâu dài mà bạn định phát triển.

Hai năm tiếp theo là thời gian để tích lũy kinh nghiệm, phát hiện những hiện tượng, những vấn đề cần được giải quyết trong ngành và thử sử dụng những lý thuyết học được để giải quyết nó.

Khi những lý thuyết và kinh nghiệm làm việc của bạn không thể nào giải quyết những vấn đề bạn phát hiện, đó là lúc cần đi học thêm. Nếu đi học thêm mãi ở Việt Nam mà chưa có được cái bạn cần, đó là lúc cần xin học bổng để du học.

Nói nghe có vẻ ngắn gọn và đơn giản, nhưng để có thể tìm ra vấn đề và nhận ra khoảng cách không thể bù đắp giữa kiến thức và vấn đề còn tồn tại trong ngành, bạn sẽ phải luôn quan sát, động não và trăn trở về những gì đang xảy ra quanh mình.

Quá trình này cũng sẽ giúp bạn khẳng định niềm đam mê đối với một công việc mà bạn đã chọn. Và, chắc chắn các bạn xét duyệt học bổng tiềm năng muốn tìm kiếm những con người có động cơ và đam mê như vậy để trao học bổng.

Một điều cuối cùng rất quan trọng trước khi làm hồ sơ xin học bổng: Các bạn cần giỏi tiếng Anh. Thực ra, không cần xin học bổng các bạn cũng nhất thiết phải giỏi tiếng Anh. Giỏi cả nghe, nói, đọc, viết chứ không phải chỉ có nói và nghe.

Dài hạn, bạn nên luôn tích lũy kiến thức tiếng Anh ngay từ khi còn học đại học để khi tốt nghiệp đã có một vốn liếng khá để thi được IELTS 6.5 mà không cần ngồi luyện thi. Đừng để đến khi làm hồ sơ mới cuống lên “cày cuốc” để thi IELTS.

Mọi điều bạn cần biết về học bổng ADS

Học bổng ADS là một trong những chương trình học bổng toàn phần được Chính phủ nước Úc cung cấp cho các sinh viên Việt Nam có thành tích học tập xuất sắc. Thông qua chương trình học bổng, nước Úc đồng thời muốn nâng cao mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và nước Úc, hỗ trợ Việt Nam đạt được mục tiêu nước Công nghiệp hóa vào năm 2020.

Nếu bạn cũng đang có những dự định tìm kiếm cho bản thân một chương trình học bổng Chính phủ toàn phần, thì cùng tìm hiểu về chương trình học bổng ADS nhé.

học bổng ADS

1. Chương trình học bổng ADS

Chương trình học bổng phát triển Úc (ADS – Australia Develop Schorlarships) là chương trình học bổng toàn phần, cung cấp cho các công dân Việt Nam đăng ký học chương trình Thạc Sỹ tại các trường Đại học uy tín của Úc. Được cung cấp bởi Chính phủ Úc hàng năm và được quản lsy bởi Chương trình phát triển nhân lực Việt Nam – Úc, học bổng được thực hiện với mong muốn hỗ trợ và phát triển nguồn nhân lực của ưu tiên để đạt được mục tiêu phát triển đất nước lâu dài.

Đối tượng của học bổng ADS là những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc, đã tốt nghiệp Đại học những chuyên ngành đặc biệt, sở hữu những yếu tố Việt Nam đang cần phát triển trong nhiều năm tới, đồng thời có đủ khả năng đóng góp cho đất nước về sau.

Từ khi được ra đời từ năm 1974 đến nay, đã có hơn 4,000 sinh viên Việt Nam nhận được học bổng ADS và học tập tại các trường Đại học danh tiếng của Úc. Sau khi tốt nghiệp, hầu hết các cựu du học sinh đều đạt được những thành tích sự nghiệp cao, không chỉ ở tại trong nước mà còn ở nước bạn, góp phần hỗ trợ Việt Nam phát triển nhiều hơn.

2. Điều kiện để nhận học bổng ADS

– Ứng viên là công dân quốc tịch Việt Nam, đang sinh sống tại Việt Nam và không định cư, học tập tại các quốc gia khác.

– Độ tuổi dưới 40, không hạn chế về tình trạng hôn nhân nhưng không kết hôn với bất kì cá nhân mang quốc tịch Úc hoặc New Zealand tại thời điểm xin học bổng và đi học.

– Không phục vụ trong quân đội ở thời điểm xin học bổng.

– Cam kết trở lại Việt Nam làm việc ít nhất 2 năm sau khi kết thúc chương trình học.

– Đã có kinh nghiệm làm việc ít nhất 2 năm, và đã được chứng minh kinh nghiệm trong hợp đồng lao động.

– Đáp ứng những yêu cầu cụ thể đối với chương trình tham gia làm nghiên cứu sinh bậc Thạc sỹ.

– Đối tượng ứng viên đã tốt nghiệp Đại học chính quy, điểm trung bình ít nhất là 7.0. Nếu ứng viên đã có bằng tốt nghiệp tại Đại học nước ngoài thì cần có 50% điểm số môn học đạt loại A (loại cao nhất).

– Chương trình ưu tiên những ứng viên đang là công chức, viên chức nhà nước, giảng viên Đại học… đang công tác ở những lĩnh vực liên quan đến Nhà nước, có những ý nghĩa thiết thực đến sự phát triển của quốc gia.

– Khuyến khích những đối tượng là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng sâu vùng xa, có hoàn cảnh khó khăn như là người khuyết tật, tài chính gia đình hạn hẹp…

Xem thêm: Giải đáp thắc mắc du học Úc cần điều kiện gì?

3. Yêu cầu để đăng ký tham gia nhận học bổng ADS

– Bảng điểm tổng kết của trường Đại học, với điểm trung bình từ 7.0.

– Bằng tốt nghiệp Đại học.

– Giấy chứng nhận kinh nghiệm làm việc, ít nhất trong thời hạn 2 năm.

– Chứng chỉ Tiếng Anh, với điểm số IELTS từ 7.0 hoặc TOEFL iBT 70/120 trở lên.

– Bản trình bày kế hoạch học tập, mong muốn và dự định công việc sau khi tốt nghiệp.

4. Những chuyên ngành được cung cấp học bổng ADS

Không phải ngành học nào ứng viên đăng ký cũng sẽ được duyệt xét học bổng ADS. Tùy theo mỗi năm mà những quy định về ngành sẽ được nhận học bổng cũng sẽ khác nhau. Chương trình học bổng ADS năm 2016 sẽ dành suất cho các ngành nghề sau:

  • Quản trị và cải cách kinh tế (chính sách cạnh tranh, quản lý tài chính công, thương mại/hội nhập khu vực và quản trị…).
  • Cơ sở hạ tầng (quy hoạch giao thông, quản lý tài sản, an toàn đường bộ, tài chính cơ sở hạ tầng…).
  • Phát triển nhân lực (quản lý chất lượng/phát triển kỹ năng lãnh đạo tương lai, đào tạo nghề, cải cách, quản lý giáo dục Đại học).

Chương trình học bổng ADS 2016 không cung cấp cho các ngành học:

  • MBA.
  • Công nghệ thông tin.
  • Y.
  • Dược.
  • Truyền thông, báo chí và tuyên truyền.

5. Giá trị của học bổng ADS

  • Toàn bộ học phí chương trình Thạc sỹ.
  • Hỗ trợ chi phí sinh hoạt, cấp 1 lần lúc mới sang.
  • Được tham gia chương trình học chuẩn bị.
  • Bảo hiểm y tế cho sinh viên.
  • Trợ cấp nghiên cứu thực địa.
  • Khoa học Tiếng Anh hỗ trợ nếu cần.
  • Vé máy bay khứ hồi.

Xem thêm: Bí quyết săn học bổng du học Úc

Chương trình học bổng ADS sẽ là một cơ hội tuyệt vời cho các bạn học sinh, sinh viên Việt Nam mong muốn phát triển bản thân trong những lĩnh vực quản lý, phát triển xã hội, công tác công, quản lý hành chính Nhà nước. Đặc biệt chương trình hỗ trợ hoàn toàn mọi chi phí khi du học, không đòi hỏi chứng minh tài chính, tạo điều kiện cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cũng có thể thực hiện ước mơ du học Úc. Hãy nhanh tay đăng ký để có cơ hội nhận được học bổng ADS nhé.

FAQ New Zealand Scholarship

Do you offer scholarships for citizens of my country?

The New Zealand Aid Programme offers scholarships to citizens of a number of developing countries for full-time tertiary level study in New Zealand.  A full list of eligible countries can be found here.

As a small country, we focus on providing educational opportunities to our neighbours in the Pacific, as well as to selected developing countries in Asia, Africa, Latin America, the Caribbean and other developing regions.

Where can I study?

For Tertiary education Scholarships, you can study at one of ten eligible New Zealand universities and institutes of technology. A full list of eligible institutions is available here.

For selected Pacific countries only, Tertiary Scholarships are available for study in the Pacific region; otherwise, study in another country is not supported.

It is important to find a tertiary institution that will meet your personal as well as academic needs.  Each institution specialises in different subjects.  There are a number of places you can find additional information:

  • Information on some relevant qualification options can be found on each of the country pages on our website.
  • The websites of New Zealand and Pacific universities have a variety of information on what you can study, and what it’s like to study there.
  • For more information on studying in New Zealand visit Study in New Zealand (external link)
  • For information on cost of living in New Zealand visit New Zealand Now (external link)
  • For Short Term Training Scholarships, study at diploma and certificate level are available at a range of New Zealand institutions (note, these Scholarships are only available in selected Pacific countries and Timor Leste). For more information about where you can do a Short Term Training Scholarship click here.

What subjects and qualifications can I study?

The types of qualifications available and priority subjects vary for each country and are listed on the information page for your country or region. For some countries, only postgraduate scholarships are available, and for other countries both undergraduate and postgraduate scholarships are available.

Scholarships are offered in priority sectors that are most relevant to the development needs of your country. This is so you can contribute to making a real and positive difference to your country on your return home at the end of your scholarship.

Preference will be given to candidates intending to study within the priority sectors for their country.  Applications outside these areas may be considered where they demonstrate a clear link between your intended area of study and the sustainable economic development of your home country.

What are ‘priority sectors’?

Priority sectors are areas in your country where a skill shortage has been identified by your government, which are a priority for investment in order to improve social and economic development of your country, and/or where New Zealand has particular expertise.

Study directly related to these priority sectors is preferred so that your country gets the most out of the investment made in training someone through a New Zealand Scholarship.

What types of scholarship are available?

The main types of scholarships available for full-time tertiary level study in New Zealand are:

Two other scholarship types are available:

Where can I get a scholarship application form?

We encourage online applications. Most eligible countries are able to apply online at this website from February 2018.

Read Application dates and method and How to apply for more details on the application process.

While we prefer you to apply online, we understand not all locations have access to the internet. Paper applications are available for certain countries.

You will need to contact the New Zealand High Commission or Embassy in your country to obtain a paper application form.  Contact information for each New Zealand High Commission or Embassy can be found here.

Do I need an offer of place at an institution before I apply?

For New Zealand Scholarships you do not require an offer of place at your selected institution before you apply.  If you are shortlisted for a scholarship we will seek a place at the institution you have requested in your application form on your behalf. However for PhD applicants and Masters by Thesis applicants, when you reach the shortlisting stage, you will need to have a Letter of Support from your proposed supervisor.

What does the scholarship cover?

The entitlements of the Scholarship include full tuition fees, a living allowance (paid fortnightly), an establishment allowance, medical and travel insurance, travel between your home country and New Zealand at the start and end of your scholarship, home leave or reunion travel for some eligible scholars, pastoral and academic support at your institution, and assistance with research and thesis costs for most postgraduate research students.

  • A top quality education at one of New Zealand’s world-class tertiary institutes or a major Pacific education institution.
  • Fully funded tuition
  • Financial support including a fortnightly living allowance, an establishment allowance, medical and travel insurance, travel to and from your home country at the start and end of your scholarship, home leave or reunion travel for some students, and assistance with research and thesis costs for most postgraduate research students.
  • Personal and academic support: We have international student advisors to help and support you with any issues with your scholarship, study or well-being.  When studying in New Zealand you will also have the assurance of the Code of Practice for the Pastoral Care of International Students which sets minimum standards to ensure international students in New Zealand are well informed, safe and properly cared for by their education provider.
  • Help getting prepared:  To help you get prepared for studying in New Zealand, you’ll have a pre departure briefing in your home country, and you’ll get support when you arrive in New Zealand.  We also offer a programme in New Zealand to help you prepare for academic studies here.

Can I bring my family with me to New Zealand?

The Scholarship does not provide any funding for you to bring your family with you to New Zealand or to support them while they are here.

The scholarship funding is not sufficient to cover the costs of supporting a family in New Zealand. You cannot bring any family members with you unless you have access to other funds. More information is available here.

If you decide to bring your family with you to New Zealand, Immigration New Zealand will require evidence of funds when your dependants apply for visas. For more information, visit Immigration New Zealand (external link).

What is the deadline for applications?

The deadline for application and the application process varies between countries/regions. Please check Application dates and method to confirm the deadline for your country/region. For most countries applications will close in March 2018.

Where do I send my application form? Can I apply online?

You are able to apply online through this website from February 2018.

If you do not have internet access and can only apply using a paper application, and you are from a country which allows paper applications, you must submit this to your nearest New Zealand High Commission or Embassy to arrive no later than 15 March 2018.

Contact information for each New Zealand High Commission or Embassy can be found here.

  • All applications and supporting documents must be sent in hard copy to the address listed on the information page for your country
  • Applications sent by email will not be accepted
  • Ineligible applications will not be accepted
  • Incomplete applications will not be accepted.

I don’t have an IELTS or TOEFL score. Can I still apply for a scholarship?

Yes, you can still apply for a scholarship, however you will not be successful unless your English language ability is good enough to be able to study at an English speaking institution.

If you are shortlisted for a scholarship, you will be asked at that stage to sit the appropriate English language test.  However, if you already have IELTS or TOEFL test scores which are no more than two years old you can enter them on your application.  You will not be disadvantaged if you have not sat the test when you apply.

IELTS is the International English Language Testing System. TOEFL is the Test of English as a Foreign Language.   These are the two tests we use for assessing scholarship applicants.

As a general rule, for those wishing to complete a postgraduate qualification an overall IELTS score of 6.5 and no band less than 6.0 is the minimum required.  For those wishing to complete an undergraduate qualification an overall IELTS score of 6.0 and no band less than 5.5 is the minimum required.  For those wishing to complete short term vocational training an IELTS score of 5.5 is the likely minimum.  Similarly, a TOEFL score of 80 on the internet-based test is required for undergraduate study and 90 for post graduate study.

Do I have to return to my home country at the end of my study?

Scholarships are for people who want to make a difference at home. All New Zealand Scholarships recipients and their families must return to their home country for at least two years at the conclusion of their study.

The purpose of the scholarship is to provide academic training so that you can gain new skills and knowledge to assist in the social and economic development of your country on your return home at the end of the scholarship.

I want to begin study this year / I want to begin study late next year. When do I need to apply?

There is only one selection round per year for all tertiary scholarships, and applicants apply in one year for study beginning the following year. For example, all applications received in the 2018 selection round will be considered for study beginning in 2019.

The expectation is that you will commence study in semester 1 (usually February/March). However, some programmes only commence in semester 2 (June/July). The main academic year in New Zealand starts in February/March. The application deadline is the same for all applications, regardless of intended start date of study.

I don’t meet the criteria to apply. Are there other scholarships I can apply for?

There are a range of other scholarships available to international scholars for study in New Zealand.

Visit Study in New Zealand (external link) for more information.  You may also wish to check the Scholarships Office of the education institution at which you wish to study.

Who can I contact for more information?

Read the information on the website carefully, including the information page for your country and the scholarships home page. If there is a specific question not answered by our website, you can email us via our Enquiry Form (external link)

25 năm Fulbright Vietnam qua những con số

Năm 2017 đánh dấu lễ kỷ niệm 25 năm chương trình Fulbright tại Vietnam. Đại sứ quán Mỹ đã tổ chức một buổi lễ kỷ niệm hoành tráng tại Khách sạn Melia Hanoi vào ngày 19/12/2017 để nhìn lại những thành quả của 25 năm hoạt động của chương trình Fulbright đồng thời tôn vinh những đóng góp của các Fulbrighter người Việt trong suốt thời gian qua. Bài viết này, tôi viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm Fulbright Program in Vietnam, dựa trên phân tích dữ liệu của chương trình Vietnamese Student Program từ năm 1992 đến năm 2015.

Như các bạn biết, thì Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995, nhưng Fulbright đã bắt đầu trước đó 3 năm. Lứa Fulbrighter đầu tiên sang Mỹ là vào năm 1992. Trong suốt 23 năm từ 1992 đến 2015 đã có tổng cộng 527 người Việt được trao học bổng thạc sỹ tại các trường đại học của Mỹ. Trung bình mỗi năm có khoảng 22 người được trao học bổng tới các trường đại học của Mỹ. Số lượng người được trao học bổng mỗi năm thay đổi tùy theo chất lượng hồ sơ và ngân sách. Bảng dưới đây cho biết số lượng Fulbrighter mỗi năm.

Năm đông nhất là năm 1994 với tổng cộng 31 người được trao học bổng. Năm thấp nhất là năm 2013 với chỉ vỏn vẹn có 15 người. Năm tôi được học bổng là năm 2009 năm đó có 28 bạn được học bổng bao gồm cả 3 bạn ở waiting list. Dưới đây là bảng số liệu học bổng giai đoạn 2005-2011.

Một điều vô cùng thú vị là mặc dù là trường danh tiếng với tỷ lệ chọi rất cao, nhưng Harvard lại là trường Đại học tiếp nhận nhiều Fulbrighter Vietnam nhất trong các trường ở Mỹ trong 23 năm qua của Fulbright Vietnam. Đại học Harvard đã tiếp nhận tổng cộng 24 Fulbrighter từ Việt Nam theo học các ngành khác nhau như Economics, MBA, Public Policy. Đứng thứ hai trong danh sách là đại học Syracuse University với 23 sinh viên. Đứng thứ ba là trường Brandeis University và University of Arizona với 16 người.

Fulbright Vietnam và Ivy League

Trong những trường Ivy League, Harvard là trường “thân thiện” nhất với Fulbrighter từ Việt Nam. Harvard tiếp nhận tổng cộng 24 người. Columbia tiếp nhận 14 người, UPenn tiếp nhận 10 người. Các trường Ivy League không rộng cửa với Fulbrighter từ Vietnam bao gồm Brown (không có 1 người nào), hai Đại học Dartmouth và Yale trong 23 năm qua chỉ tiếp nhận duy nhất một người. Như vậy, thông qua thống kê này, các bạn nào đang xin học bổng Fulbright mà nhắm tới các trường thuộc nhóm Ivy League sẽ thấy mình khả năng được chấp nhận nhập học ở những trường nào cao hơn. Dễ dàng thấy rằng trong nhóm Ivy League thì việc giành được học bổng Fulbright sẽ biến giấc mơ được học Harvard của bạn dễ dàng trở thành hiện thực hơn cả.

Harvard University 24
Columbia University 14
University of Pennsylvania 10
Cornell University 8
Princeton University 5
Dartmouth College 1
Yale University 1
Brown University 0

Những trường danh tiếng khác của Mỹ như Princeton tiếp nhận 5 người, Stanford nhận 3 người, MIT nhận 4 người. Trong 23 năm từ 1992 tới 2015, danh sách các trường Đại học tiếp nhận Fulbrighter từ Việt Nam có tới 65 trường chỉ nhận duy nhất 1 người, 27 trường chỉ nhận 2 người, 11 trường chỉ nhận 3 người, 8 trường chỉ nhận 4 người. Những trường nhận 5 người trở lên các bạn có thể tham khảo ở bảng bên dưới

Học bổng Fulbright mặc dù cho rất nhiều ngành học KHXHNV khác nhau như business, báo chí, ngoại giao…vv và Fulbright cũng công bố là không có quota cho từng nhóm ngành mỗi năm nhưng theo con số thống kê trong 23 năm qua thì ngành Business Administration chiếm một tỷ lệ áp đảo những người được học bổng so với những ngành khác.

Như bảng trên đây thì trong số 527 người được học bổng từ 1992-2015 thì có tới tận 112 người theo học Business Administration ở nhiều chuyên ngành nhỏ khác nhau như Finance, Accounting hay Marketing. 112 người theo học MBA này được sắp xếp học ở những trường khác nhau. Chúng ta hãy cùng xem những trường nào tiếp nhận nhiều MBA Fulbrighter từ Việt Nam nhất nhé.

Như vậy có thể thấy Trường Vanderbilt University ở bang Tennesse là nơi tiếp nhận nhiều nhất số lượng MBA Fulbrighter Vietnam qua học. Tính đển 2015 có tổng cộng 8 người đã lấy bằng MBA ở đây. Những trường TOP đầu ngành MBA cũng tiếp nhận một số ít Fulbrighter từ Vietnam. Cụ thể như MIT nhận 3 người, Harvard nhận 5 người, UPenn nhận 7 người. Standford nhận duy nhất 1 bạn học MBA là Nguyễn Hải Vinh năm 2010. Như vậy nếu bạn apply MBA mà nhắm tới top đầu thì UPenn là lựa chọn có khả năng thành công cao hơn.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Một điều thú vị là ngành Public Administration khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng. Đây cũng là ngành mà tôi theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Vềphân bổ theo địa lý của người được học bổng, bảng số liệu giai đoạn 2005-2011 cho thấy Hà Nội chiếm hơn 50% số lượng Fulbrighter. Đứng thứ hai là Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi lẽ hai thành phố lớn tập trung nhiều nhất những người ở khắp mọi nơi về học tập và sinh sống. Và theo như mình hiểu thì Fulbright tính địa lý căn cứ theo nơi làm việc, chứ không phải nơi sinh (quê quán) của ứng viên. Ví dụ như mình, khi nộp Fulbright thì đang sống và làm việc tại Hà Nội, nhưng quê quán thì ở Hưng Yên.

 

Về phân bổ theo đơn vị công tác, thì biểu đồ ở trên cho thấy sự phân bổ khá đồng đều xấp xỉ 25% giữa 4 khối: Nhà nước, Tổ chức quốc tế, Đại học/ Trường và Khối phi nhà nước (bao gồm kh ối tư nhân và phi chính phủ). Như vậy có thể thấy là qua số liệu thống kê thì Fulbright không hề có sự ưu tiên cho khối Nhà nước như các học bổng chính phủ khác. Do vậy các bạn ở khối tư nhân hay phi chính phủ hoàn toàn có thể tự tin để nộp học bổng.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Master of Public Affairs

Fulbright 2009-2011

Cơ hội đi Mỹ MIỄN PHÍ 2 năm kèm trợ cấp ngàn USD/ tháng

Bạn muốn đi Mỹ MIỄN PHÍ cho bản thân bạn và cả gia đình??

Bạn muốn nhận được bằng Master của những trường đại học hàng đầu bên Mỹ

Không những thế còn được nhận trợ cấp từ 1500-2000 USD/ tháng để trang trải sinh hoạt phí

và cơ hội giáo dục miễn phí cho con bạn từ lớp 1 đến lớp 12, bạn còn chần chừ gì nữa mà không tìm hiểu học bổng Fulbright – học bổng danh giá của Chính phủ Hoa Kỳ cho người Việt Nam.

Điều kiện để nộp hồ sơ khá đơn giản có 4 yêu cầu chính 

1. Be a Vietnamese citizen (no dual citizenship) –> không có 2 quốc tịch

2. Have at least one undergraduate degree – đã có bằng đại học ở Việt Nam

3.  Có tối thiểu 2 năm kinh nghiệm tính từ ngày ghi trên bằng đại học tới ngày hết hạn nộp hồ sơ.

4. Có điểm tiếng Anh tối thiểu là TOEFL iBT 79 or IELTS 6.5.

Những đối tượng sau đây sẽ không được nộp hồ sơ 

  1. Người đã được nhận học bổng Fulbright

  2. Người đang sống và học tại Hoa Kỳ

  3. Người có bằng cử  nhân hay Thạc sỹ ở Đại học của Mỹ trong vòng 3 năm trở lại đây

  4. Nhân viên của phái đoàn ngoại giao Mỹ tại Việt Nam và những người thân thuộc bao gồm những người đang làm việc hoặc 1  năm sau khi kết thúc làm việc

  5. Người đã nhận học bổng cao học trong vòng 5 năm trở lại đây hoặc sắp nhận học bổng cao học khác.

Danh sách những ngành học được cho học bổng

Các bạn có thể tìm hiểu về các ngành học được cấp học bổng tại link này

Short introduction to Study Subjects in Vietnam Fulbright Student Program

Ngành nào có nhiều cơ hội dành học bổng hơn, các bạn đọc bài viết này 

Nộp ngành gì dễ được học bổng Fulbright???

Hồ sơ xin học bổng bao gồm 

  1. Hai bài essays (study objectives and personal statement)
  2. Ba thư giới thiệu
  3. Bằng đại học và bảng điểm (cho mỗi Đại học mà bạn theo học)
  4. Điểm TOEFL iBT and/or IELTS score reports
  5. Sơ yếu lý lịch

Nộp hồ sơ online tại địa chỉ https://iie.embark.com/apply. Hướng dẫn cách nộp hồ sơ tại địa chỉ https://vn.usembassy.gov/wp-content/uploads/sites/40/fvst2019-application-guidelines.pdf

Tiêu chí lựa chọn

Không phân biệt giới tính, màu da, ngành nghề, xuất thân, tổ chức mà hoàn toàn dựa vào năng lực và thành tích. Ưu tiên cho những ai chưa có kinh nghiệm trước đó với nước Mỹ. Một ứng viên thành công sẽ cần phải hội đủ các yêu cầu sau:

  • Mô tả rõ ràng và chi tiết mục tiêu học tập, thể hiện một sự kết nối rõ ràng giữa mục tiêu học tập với mục tiêu tương lai thông qua các bài luận
  • Có kinh nghiệm làm việc sâu rộng trong lĩnh vực dự định nộp hồ sơ và hiểu biết đầy đủ về ngành học
  • Thể hiện tiềm năng lãnh đạo dựa trên hoạt động ở trường, hoạt động ngoại khóa, cộng đồng và các hoạt động  nghề nghiệp khác
  • Thể hiện sự cống hiến cho Việt Nam và tiềm năng mang lại sự thay đổi tích cực khi quay về
  • Đóng góp thúc đẩy hiểu biết giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Mỹ thông qua các hoạt động trao đổi giáo dục và văn hóa
  • Sẵn lòng trở thành đại sứ văn hóa của Việt Nam
  • Thể hiện thành tích học tập xuất sắc và khả năng Anh ngữ tốt.

Khung thời gian 

  • Tháng 1/2018: Thông báo học bổng
  • Ngày 15/5/2018: Hết hạn nộp hồ sơ
  • Tháng 6 &7/ 2018: Xét duyệt hồ sơ và lựa chọn người vào vòng phỏng vấn
  • Tháng 9/ 2018: Phỏng vấn và lựa chọn người trao học bổng
  • Tháng 10 &11/2018: Người được học bổng thi lại GRE/GMAT/TOEFL iBT
  • Tháng 11/2018 – Tháng 3/ 2019: Nộp hồ sơ cho các trường bên Mỹ
  • Tháng 4 & 5/2019: Xác nhận việc sắp xếp trường
  • Tháng 5/2019: Hội thảo định hướng trước khi lên đường
  • Tháng 6 & 7/2019: Kiểm tra sức khỏe và xin Visa
  • Tháng 7&8/2019: Lên đường sang Mỹ nhập học.

Cơ hội mà học bổng Fulbright đem lại 

  • Được vào học những trường danh tiếng của Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được nhận trợ cấp từ 1200 -2000 USD/ tháng để trang trải chi phí ăn học
  • Được hỗ trợ xin visa rất dễ dàng
  • Được tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa bên Mỹ rất thú vị
  • Được được vợ/ chồng và con cái theo, visa diện J2 có thể đi làm
  • Được cơ hội cho con cái từ lớp 1 đến lớp 12 học tại Mỹ hoàn toàn miễn học phí
  • Được cho vé máy bay và bảo hiểm y tế trong suốt quá trình học
  • Được gia nhập mạng lưới Fulbrigther khắp toàn cầu một network rất giá trị
  • Và được rất nhiều thứ khác nữa vô giá

 

Vậy còn chần chừ gì nữa mà không nộp hồ sơ nào các bạn ơi. Đừng lo lắng, đừng sợ sệt. Hãy mạnh dạn thử sức mình, nếu được ta ăn mừng, nếu chưa được năm sau ta thử sức tiếp.

Nếu trong quá trình nộp hồ sơ, bạn có thắc mắc gì, các bạn có thể liên hệ với mình. Trong quá trình chuẩn bị làm hồ sơ, viết luận, xin thư giới thiệu, các bạn muốn mình tư vấn thì chủ động liên hệ với mình. Contact của mình ở dưới đây

Email: tranngocthinh@gmail.com

Facebook:  www.facebook.com/tranngocthinh

Fanpage: www.facebook.com/tranngocthinh287

 

Chúc các bạn may mắn có được suất đi Mỹ MIỄN PHÍ với trợ cấp hàng ngàn USD/ tháng nhé.

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter Public Administration

AY 2009-2011

Ngành nào từ trước đến nay được nhiều học bổng Fulbright nhất??

Mặc dù trong FAQ (Tài liệu hỏi đáp), Fulbright Vietnam trả lời rằng không có quota cho từng ngành học được tài trợ.

“Is there a certain number of scholarships for a certain fields of study?
No. There is no quota for each field of study. The competition is based on merits”

Thực tế là Fulbright không phân bổ quota cho từng ngành học. Nhưng nhìn qua số liệu thống kê của học bổng Fulbright Vietnamese Student Program từ năm 1992  đến 2015 thì có thể thấy một sự phân bổ không đồng đều số lượng người nhận học bổng theo ngành học như sau

Đứng đầu là ngành Business, đây chính là nhóm nộp ngành MBA gồm nhiều phân ngành nhỏ như Marketing, Finance, Accounting, MIS…vv. Nhóm này đứng đầu với 112 người được học bổng/ 527 người được học bổng Fulbright từ 1992 đến 2015. Chia bình quân cho 23 năm, thì mỗi năm có gần 5 người nộp MBA được học bổng trong sốtrung bình 20 người được học bổng Fulbright hàng năm.

Ngành có nhiều học bổng thứ hai là ngành Ngoại giao bao gồm các ngành nhỏ như International Relations, International Studies và Diplomacy. Ngành Ngoại giao có tới 41 người được học bổng trong 23 năm. Và phần lớn những người này đều xuất thân từ Bộ Ngoại Giao hoặc các đơn vị Ngoại giao. Rất nhiều lãnh đạo Bộ Ngoại Giao bao gồm Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Vụ trưởng là dân Fulbrighter. Nếu xét về mật độ Fulbrighter tập trung đông nhất ở một cơ quan nhà nước thì Bộ Ngoại Giao chắc đứng số một.

TESOL – giảng dạy tiếng Anh đứng thứ 3 về số lượng người đạt học bổng với 40 người. Hầu hết những bạn được học bổng ngành TESOL mà tôi biết đều là giảng viên dạy tiếng Anh ở những trường đại học công lập lớn của Việt Nam.

Ngành Economics bao gồm nhiều phân ngành nhỏ như Development Economics, Agricultural Economics, Health Economics… có tổng cộng 39 người. Ngành kinh tế cũng có nhiều người được vào những trường top như Williams College – số 1 nước Mỹ về Development Economics hay Harvard, Columbia..vv

Một điều thú vị là ngành Public Administration (quản trị công) khá xa lạ với Vietnam lại có tới 38 người được học bổng.  Những người theo học ngành này thì có người làm trong khối nhà nước, có người làm ở các tổ chức phi chính phủ. Tôi còn biết có bạn làm phóng viên của 1 đài truyền hình cũng được học bổng ngành này.

Đây cũng là ngành mà tôi đăng ký theo học. Hồi apply năm 2009, tôi cũng không có làm thống kê này, giờ mới thấy lựa chọn ngành Public Administration quả là phù hợp vì cơ hội thành công cao hơn các ngành khác ví dụ như Nonprofit Management chẳng hạn chỉ được 1 người được học bổng, hay như nếu apply ngành Political Science thì chắc trượt vì chưa người nào được ngành này. Bảng trên đây là các ngành có nhiều cơ hội học bổng Fulbright để các bạn chuẩn bị nộp hồ sơ Fulbright cân nhắc khi lựa chọn ngành học.

Field of Study No of Grantee
MBA 112
Diplomacy/ Int Relation/ Int Studies 41
TESOL 40
Economics 39
MPA 38
Communications/ Journalism 36
Law 33
Public Policy 26
Public Health 25
Education 24
American Studies 17
Environmental Studies 9
IT 8
Urban Planning 8
Women’s Studies 7
Social Work 6
Agricultural Development/ Sciences 5
Architecture 5
Rural Devevelopment 5

 

Ngành tiếp theo, có nhiều người được học bổng là ngành Truyền thông (Communications)/ Báo chí (Journalism) với 36 người được học bổng, đa phần đều là nhà báo, phóng viên.

Ngành Luật có 33 người được học bổng. Đối với  những ngành khác, bạn có thể nộp hồ sơ xin học bổng trái ngành so với ngành học ở bậc đại học. Ví dụ bạn tốt nghiệp đại học Ngoại giao, nhưng xin học bổng về Public Admin hay Public Policy thì được. Riêng ngành Luật thì nếu bạn không có bẳng cử nhân Luật, bạn sẽ không thể apply xin học bổng ngành Luật. Những người được học bổng ngành luật đa phần là Luật sư. Nổi tiếng nhất chắc là anh Lê Công Định, Trương Trọng Nghĩa.

Ngành chính sách công (Public Policy) và Y tếcông cộng (Public Health) đang là một ngành rất hot ở Việt Nam và rất mạnh của Mỹ. Trước đến giờ Việt Nam chưa có đào tạo chính sách công bài bản, bởi lẽ chính sách chủ yếu làm ra trong phòng lạnh nên Mỹ muốn giúp mình phát triển nhân lực trong mảng chính sách công.

Các ngành có ít người nhận được học bổng bao gồm các ngành như Tâm lý học, Thống kê, Thư viện. Trong danh sách dưới đây, các bạn cũng có thể thấy những ngành kỹ thuật mà chỉ những năm trước Fulbright mới cho như Computer Science, Engineering, Telecommunications. Những ngành này không còn được Fulbright cấp học bổng nữa.

Arts 4
Development Studies. 4
Engineering 3
Water Resource Management 3
Computer Science 2
Humanities 2
Psychology 2
Southeast Asian Studies 2
Advertising (Copywriting) 1
Design 1
Econometrics 1
Historic Preservation 1
International Tax Program 1
Library Science 1
Linguistics 1
NGO 1
Organizational Management 1
Population Studies 1
Project Management 1
Social Sciences 1
Supply Chain Management 1
Telecommunications 1

Như vậy qua một số con số thống kê trong vòng 23 năm qua, chúng ta đã có một bức tranh khá rõ về những ngành học nào có nhiều khả năng được học bổng Fulbright. Điều này không có nghĩa là những ngành khác không có cơ hội. Học bổng Fulbright khuyến khích tất cả các bạn theo đuổi đam mê của mình chứ không có một ưu tiên cho ngành nào cả. Chỉ cần bạn thật xuất sắc thì bạn vẫn có thể được học bổng, mặc dù số liệu cho thấy xác suất thành công của những ngành ưu tiên như MBA và TESOL vẫn cao hơn rất nhiều những ngành khác.

Xin chia sẻ một số thông tin để các bạn tham khảo khi lựa chọn nộp hồ sơ cho học bổng Fulbright.

 

Source of Data: Dữ liệu sử dụng trong bài viết này là từ thông tin được công bố công khai của chương trình Fulbright Vietnam.

Disclaimer: Tất cả những nội dung tôi viết trên đây là quan điểm của cá nhân tôi, không đại diện cho chương trình Fulbright tại Việt Nam.

 

 

Trần Ngọc Thịnh

Fulbrighter 2009-2011 – Public Administration

www.tranngocthinh.com

Phóng sự VTV về cuốn sách Du học không khó

Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ Trần Ngọc Thịnh ra mắt cuốn sách Du học không khó. Bài viết sau đây xin giới thiệu tới các bạn cuốn sách này với hi vọng nó sẽ là một cuốn cẩm nang tốt cho các bạn trẻ.

Du học từ lâu đã là điều mong ước của rất nhiều bạn trẻ Việt Nam. Tuy nhiên, con đường đi tới ước mơ cũng lắm chông gai, có rất nhiều rào cản phía trước như tài chính, ngôn ngữ và học thuật. Vậy làm thế nào để vượt qua những rào cản đó? Làm thế nào để có thể hiện thực hóa giấc mơ du học của mình? Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ có trong cuốn sách mang tựa đề Du học không khó.

Du học không khó là ấn phẩm đầu tay của tác giả trẻ Trần Ngọc Thịnh. Cuốn sách được viết bởi rất nhiều công sức và tâm huyết của một cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright để dành tặng cho tất cả những bạn trẻ Việt Nam có ước mơ du học nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu.

Bên cạnh những câu chuyện người thật, việc thật về những gương điển hình du học sinh vượt khó, cuốn sách cũng chia sẻ hết sức tỉ mỉ những kiến thức, kinh nghiệm để giúp các bạn trẻ có thể hiện thực hóa ước mơ du học của mình. Tác giả sẽ chia sẻ những cách thức để vượt qua các rào cản chính trên con đường du học. Cuốn sách cũng gợi ý những bí quyết trong việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn để dành được những suất học bổng du học.

Cuốn Du học không khó được tổ chức một cách chặt chẽ và mạch lạc, giúp người đọc dễ hình dung và học hỏi. Các chia sẻ được viết rất tỉ mỉ và cặn kẽ kèm theo sự phân tích và ví dụ minh họa để độc giả dễ dàng hình dung ra các yêu cầu khi du học.

Mục đích chính của cuốn sách là để động viên, khích lệ tinh thần các bạn trẻ Việt Nam hãy lên đường đi du học để lập thân, lập nghiệp và phụng sự Tổ quốc với mục đích đem kiến thức, kinh nghiệm học được từ nước ngoài đem về góp phần dựng xây đất nước thực hiện đúng lời dặn dò của thế hệ cha anh để xóa nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.

Mời các bạn theo dõi lại nội dung trên qua video sau đây:

Nguồn: http://vtv.vn/doi-song/du-hoc-khong-kho-cam-nang-cho-cac-ban-tre-144152.htm

Chàng trai 8X “gây bão” với sách “Du học không khó”

(Soha.vn) – Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ, Th.S Trần Ngọc Thịnh sẽ ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Là cựu du học sinh Mỹ theo chương trình học bổng Fulbright của Hoa Kỳ. Anh từng là giảng viên đại học và hiện đang làm tư vấn độc lập cho các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Thạc sỹ, tác giả cuốn sách
Thạc sỹ, tác giả cuốn sách “Du học không khó” Trần Ngọc Thịnh.

Du học để lập thân, lập nghiệp

– Xin chào Thịnh, lý do nào mà bạn lại viết sách về du học?

Trần Ngọc Thịnh: Sau khi được học bổng Fulbright, mình mới thấy được sự vất vả, khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, kinh nghiệm chuẩn bị cho con đường du học. Vì vậy, trước khi qua Mỹ, mình bắt đầu viết blog để chia sẻ những kinh nghiệm, bí quyết với hy vọng giúp các bạn đi sau.

Cho tới tháng 6/2013, mình mới quyết định chuyển sang dùng Facebook vì WordPress tương tác không cao. Và chính khi đó, mình đã được các bạn trên cộng đồng Facebook gợi ý viết một cuốn sách giúp các bạn quyết tâm theo đuổi giấc mơ du học với tựa đề “Du học không khó”.

– Điều gì là động lực thúc đẩy bạn trong suốt quá trình thực hiện nó?

Trần Ngọc Thịnh: Là một chuyên gia tư vấn phát triển, mình cho rằng con người là yếu tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Ví như Nhật Bản, dù nghèo tài nguyên nhưng con người chịu khó và sáng tạo đã giúp Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc trên thế giới. Cách đây 300 năm khi Nhật còn là một nước phong kiến, Fukuzawa Yukichi – một nhà tư tưởng người Nhật đã khuyến khích thanh niên Nhật sang các nước phương Tây học hỏi và đem kiến thức, thành tựu công nghệ, khoa học kỹ thuật về áp dụng cho Nhật Bản. Chính vì lẽ đó, nước Nhật đã đi lên và trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

Vậy thì Việt Nam có “rừng vàng biển bạc”, dân số đông, thanh niên thông minh, giỏi giang tại sao lại không thể? Mình cho rằng cách duy nhất để có thể đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu là học hỏi cái hay, cái mới để đem về vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam.

–  Với “Du học không khó”, thông điệp mà bạn muốn gửi đến các bạn trẻ Việt Nam là gì?

Trần Ngọc Thịnh: Thông điệp của cuốn sách cũng chính là tên cuốn sách. Du học đã trở nên đơn giản hơn đối với các bạn học sinh, sinh viên. Nếu bạn thực sự có quyết tâm, biết nỗ lực, có kế hoạch chuẩn bị và được định hướng đúng đắn thì giấc mơ du học sẽ không còn quá xa vời.

Cuốn sách
Cuốn sách “Du học không khó” của chàng trai 8X Trần Ngọc Thịnh.

– Điều gì đặc biệt ở cuốn sách “Du học không khó” khiến nó khác các trang mạng, diễn đàn, thông tin trên mạng?

Trần Ngọc Thịnh: Cuốn sách này ra đời xuất phát từ nhu cầu, mong đợi của độc giả – những người theo dõi Facebook Page của mình từ lâu. Mình viết cuốn sách này cũng từ gợi ý của họ nên mình cố gắng viết những gì mà các bạn hay hỏi nhất hay gặp khó khăn nhất.

Điểm đặc biệt của cuốn sách cũng chính là sự tương tác. Ngay từ bìa sách tới nội dung cuốn sách đều được độc giả chia sẻ, góp ý từ đầu.

Hơn nữa, cuốn sách này ngoài cung cấp thông tin, còn có những câu chuyện người thực, hiện thực mang tính khích lệ, động viên và truyền cảm hứng các bạn trẻ để quyết tâm thực hiện ước mơ du học.

Cuốn sách này đặc biệt là mình không bán sách ở những hiệu sách mà phân phối thông qua hệ thống cộng tác viên phân phối tại các trường đại học.

– Tại sao lại không bán ở hiệu sách?

Trần Ngọc Thịnh: Cuốn sách gắn với một dự án Quỹ học bổng mà mình phát động từ khi còn học đại học. Mình muốn trích một phần lợi nhuận để gây dựng một quỹ học bổng giúp cho những bạn có hoàn cảnh khó khăn nhưng học giỏi và có quyết tâm du học.

Mình muốn phát triển hệ thống phân phối riêng để giữ được phần lợi nhuận để làm học bổng. Nếu bán ở hiệu sách, thì lợi nhuận không còn nhiều để làm quỹ học bổng. Thông qua hệ thống phân phối là các bạn SV tại các trường đại học, mình sẽ mang sách đến tận tay các bạn sinh viên.

– Có người cho rằng, việc Thịnh kiến nghị cuốn sách “Xách ba lô lên và đi” của Huyền Chip là để PR cho sách của mình, Thịnh nghĩ sao?

Trần Ngọc Thịnh: PR giống như một con dao hai lưỡi vậy. Một cuốn sách được độc giả đón nhận hay không là do nội dung sách. Cuốn sách có giá trị, chứa đựng nhiều thông tin bổ ích, ý nghĩa thì không cần PR cũng sẽ được độc giả đón nhận. Còn nếu viết sách bậy bạ, lừa bịp độc giả mà lại PR thì sẽ bị độc giả phản ứng giống như cuốn sách kể trên. Mình không PR bản thân và cũng không cần PR sách của mình bằng một nhân vật tai tiếng, một vụ scandal. Việc mình làm, ai theo dõi vụ việc từ đầu sẽ hiểu mục đích và ý nghĩa của nó.

“Đời du học không như là mơ”

– Hiện nay, có một số bạn trẻ đang đi du học như là một trào lưu, là mốt để được bằng bạn, bằng bè, mà kết quả lại không được nhưng mong muốn. Thịnh đánh giá như thế nào và có lời khuyên gì cho các bạn đó?

Trần Ngọc Thịnh: Trong một bài viết gần đây trên Facebook Page của mình có tên “Đời du học không như là mơ”, mình có nói về khó khăn mà các bạn trẻ đi du học gặp phải. Mình nghĩ, các bạn cũng không nên quá mơ tưởng về đời sống du học.

Trong cuốn sách này của mình cũng đề cập đến việc cái lợi và bất lợi ở từng giai đoạn khi bạn du học cũng như đưa ra lời khuyên khi nào bạn nên đi du học, cụ thể như sự chuẩn bị kỹ về mặt tài chính, tâm lý, sức khỏe, học vấn…. Một phần trong cuốn sách, mình cũng có trao đổi với phụ huynh về những điều cần khi quyết định cho con đi học.

Trần Ngọc Thịnh (ngoài cùng bên phải) muốn chia sẻ kinh nghiệm du học với các bạn trẻ.
Trần Ngọc Thịnh (ngoài cùng bên phải) muốn chia sẻ kinh nghiệm du học với các bạn trẻ.

– Vậy theo Thịnh nhận định những bạn trẻ đang chuẩn bị du học thiếu điều gì?

Trần Ngọc Thịnh: Ba điều: thông tin về học bổng, hệ thống giáo dục ở nước ngoài, những chia sẻ của người đi trước, và định hướng trong chọn trường, chọn ngành học phù hợp. Theo mình, điều quan trọng nhất là các bạn chọn được trường, ngành, học bổng phù hợp nhất với năng lực, sở trường, chuyên môn của các bạn.

– Việt Nam thanh niên giỏi, du học sinh đông, nhưng tại sao vẫn chưa phát triển?

Trần Ngọc Thịnh: Mình nghĩ một trong những lý do mà Việt Nam hay những nước đang phát triển gặp phải chính là hiện tượng “chảy máu chất xám”. Rất nhiều thanh niên du học nước ngoài mà không quay trở về. Vấn đề đặt ra là làm sao chúng ta kêu gọi, thu hút những nhân tài này quay trở về đóng góp cho sự phát triển đất nước.

– Mình được biết cuốn “Du học không khó” là một cuốn trong dự án về series sách du học mà bạn đang viết, bạn có thể bật mí cho các bạn độc giả được không?

Trần Ngọc Thịnh: Series sách về du học được mình ấp ủ từ lâu, bởi hiện nay sách về chủ đề này còn khá ít. Cuốn sách “Du học không khó” là cuốn đầu tiên được xuất bản. Sắp tới sẽ cố một số cuốn chia sẻ về kinh nghiệm săn học bổng, trải nghiệm của du học sinh Việt Nam khắp mọi miền thế giới…

Mục đích của series sách về du học này là giúp các bạn trẻ Việt Nam có một cái nhìn khách quan, chân thực về du học. Từ đó gây dựng một phong trào thanh niên Việt Nam đi du học để dựng xây đất nước. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trên trang web của Hội thích du học www.thichduhoc.net.

Cảm ơn Thịnh vì những trao đổi thú vị!

Sách phát hành từ ngày 24/12/2013, tại các đại lý phân phối chính thức, chi tiết xem tại http://phanphoi.duhockhongkho.com

Lễ ra mắt tại Hà Nội: 13h30 – 17h30 ngày 28/12/2013 tại Tầng 2, Thư viện Hà Nội, số 47 Bà Triệu

Ngoài ra, còn có lễ ra mắt tại Đà Nẵng và TP HCM trong tháng 1/2014. Thông tin cập nhật tại website chính thức của cuốn sách: www.duhockhongkho.com

Capstone Vietnam (capstonevietnam.com), Kansas State University (k-state.edu),  Lane Community College ( http://www.lanecc.edu/ ) và Hotcourses Vietnam (hotcourses.vn) hân hạnh là nhà tài trợ cho lễ ra mắt của cuốn sách “Du học không khó”.

Nguồn: http://soha.vn/xa-hoi/chang-trai-8x-gay-bao-voi-sach-du-hoc-khong-kho-20131220235658048.htm

Fulbrighter Trần Ngọc Thịnh ra mắt sách ‘Du học không khó’

 Với mong muốn giúp đỡ bạn trẻ Việt dễ dàng hiện thực hóa ước mơ du học, chàng trai trẻ Trần Ngọc Thịnh ra mắt cuốn sách “Du học không khó”.

Du học không khó là cuốn sách đầu tay của tác giả trẻ Trần Ngọc Thịnh. Cuốn sách được viết bởi rất nhiều công sức và tâm huyết của một cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright để dành tặng cho tất cả những bạn trẻ Việt Nam có ước mơ du học nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu.

Tran Ngoc Thinh ra mat sach 'Du hoc khong kho' hinh anh 1
Sách được ra mắt vào ngày Giáng sinh 24/12.

Mục đích chính của cuốn sách là để động viên, khích lệ tinh thần các bạn trẻ Việt Nam hãy lên đường đi du học để lập thân, lập nghiệp và phụng sự tổ quốc để có thể đem kiến thức, kinh nghiệm học được từ nước ngoài đem về góp phần dựng xây đất nước thực hiện đúng lời dặn dò của thế hệ cha anh để xóa nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.Bên cạnh, những câu chuyện người thật, việc thật về những gương điển hình du học sinh vượt khó, cuốn sách cũng chia sẻ hết sức tỉ mỉ những kiến thức, kinh nghiệm để giúp các bạn trẻ có thể hiện thực hóa ước mơ du học của mình. Tác giả sẽ chia sẻ những cách thức để vượt qua các rào cản chính trên con đường du học. Cuốn sách cũng có những bí quyết trong việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn để dành được những suất học bổng du học.

Cuốn sách này cũng là một dự án thiện nguyện mà tác giả phát động nhằm gây quỹ học bổng nhằm hỗ trợ cho các bạn trẻ Việt Nam có thành tích học tập tốt , có ước mơ du học nhưng gặp phải những khó khăn, trở ngại trong quá trình theo đuổi giấc mơ du học của mình. Một phần lợi nhuận từ việc bán sách sẽ được dùng để gây quỹ học bổng. Ngoài ra, tác giả còn vận động thêm từ các nhà tài trợ khác.

Trần Ngọc Thịnh.
Sinh ngày 28/7/1984 tại Hải Dương
Anh là một blogger nổi tiếng với nhiều bài viết chia sẻ về du học và học bổng. Các bài viết chia sẻ về học bổng Fulbright của anh được nhiều người quan tâm tới học bổng danh giá này tham khảo khi nộp hồ sơ. Anh là cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright niên khóa 1999-2011. Anh có bằng Thạc sỹ về Quản trị hành chính công và Quản lý Phi chính phủ.
Công việc chính hiện nay của anh là là chuyên gia tư vấn độc lập cho các dự án phát triển của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như WB, IFC, ILO, IFAD, ADB…vv Ngoài ra, anh còn là một nhà báo tự do, các bài viết của anh về nhiều chủ đề khác nhau thường xuất hiện trên các báo.
Dự án phát triển và hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội Việt Nam.

Nguồn: https://news.zing.vn/tran-ngoc-thinh-ra-mat-sach-du-hoc-khong-kho-post379523.html

DU HỌC KHÔNG KHÓ – CHIA SẺ TỪ MỘT FULBRIGHTER TÂM HUYẾT

Du học, từ lâu đã là điều mong ước của rất nhiều bạn trẻ Việt Nam. Tuy nhiên, con đường đi tới ước mơ cũng lắm chông gai, có rất nhiều rào cản phía trước như tài chính, ngôn ngữ và học thuật. Vậy làm thế nào để vượt qua những rào cản đó? Làm thế nào để có thể hiện thực hóa giấc mơ du học của mình? Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ có trong cuốn sách sắp ra mắt vào cuối tháng 12/2013 mang tựa đềDu học không khócủa tác giả Trần Ngọc Thịnh, cựu du học sinh Mỹ theo học bổng Fulbright niên khóa 2009-2011. Hotcourses Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với tác giả về cuốn sách sắp ra mắt của anh.

 

tác giả Trần Ngọc Thịnh

Chào Trần Ngọc Thịnh, anh có thể cho biết ý tưởng về cuốn sách Du học không khó đã được anh nung nấu từ bao giờ?

Vào thời điểm năm 2009, khi đăng ký học bổng Fulbright mình đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin học bổng, kinh nghiệm chuẩn bị cho con đường du học. Vì thế, ngay sau khi được học bổng Fulbright, trước khi qua Mỹ mình bắt đầu viết blog để chia sẻ những trải nghiệm, khó khăn mình đã vượt qua để giúp các bạn đi sau. Và hy vọng thông qua những bài viết trên blog của mình, các bạn sinh viên có thể học và áp dụng điều gì đó hữu ích cho bản thân.

 

Khi học xong chương trình thạc sỹ và về nước vào năm 2011, mình vẫn duy trì blog và mời bạn bè cùng viết, cùng chia sẻ. Mãi cho tới tháng 6/2013, mình mới quyết định chuyển sang dùng Facebook vì WordPress tương tác không cao. Và chính khi đó, mình đã được các bạn trên cộng đồng Facebook gợi ý viết một cuốn sách giúp các bạn quyết tâm theo đuổi giấc mơ du học.

 

 

Điều gì đã truyền cảm hứng cho anh viết cuốn sách này?

Theo mình, con người là yếu tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Ví như Nhật Bản, dù nghèo tài nguyên nhưng con người chịu khó và sáng tạo đã giúp Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc trên thế giới. Vậy thì Việt Nam “rừng vàng biển bạc” tại sao lại không thể? Quan điểm của mình cho rằng, các duy nhất để có thể đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu là phải sang các cường quốc năm châu để học hỏi cái hay, cái mới để đem về vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam. Đó là con đường phát triển giáo dục và đầu tư vào con người hiệu quả nhất với một nước đi sau như Việt Nam.

 

Câu chuyện truyền cảm hứng cho mình chính là cuốn sách Khuyến học của Fukuzawa Yukichi, một nhà tư tưởng người Nhật. Cách đây 300 năm khi còn là một nước phong kiến, ông đã khuyến khích thanh niên Nhật sang các nước phương Tây học hỏi và đem kiến thức, thành tựu công nghệ, khoa học kỹ thuật về áp dụng cho Nhật Bản. Chính vì lẽ đó, nước Nhật đã đi lên và trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

 

 

Anh có thể bật mí cho độc giả một chút về nội dung xoay quanh cuốn sách được chứ?

Các bạn có thể tìm hiểu nội dung chi tiết của cuốn sách tại địa chỉhttp://noidung.duhockhongkho.com. Tuy nhiên, xin bật mí với cả bạn là cuốn sách này có nội dung chính là khích lệ, cổ vũ tinh thần đi du học trong các bạn trẻ. Với rất nhiều thông tin, câu chuyện truyền cảm hứng sẽ giúp các bạn trẻ định hình được đam mê và thêm quyết tâm. Ngoài ra, cuốn sách còn có những chia sẻ, hướng dẫn hết sức tỉ mỉ, cặn kẽ giúp các bạn có ước mơ du học biết cách để chuẩn bị cho việc giành được những học bổng để hiện thực hóa giấc mơ du học của mình.

 

 

Theo anh, cuốn sách Du học không khó có nét đặc sắc nào không thể lẫn so với các cuốn sách khác cũng viết về đề tài này?

Ảnh cuốn sách

Sách về đề tài du học hiện nay rất ít, chủ yếu là các diễn đàn (forum) trên mạng mang tính chất chia sẻ chung, tổng hợp kinh nghiệm. Điểm yếu của các diễn đàn là thông tin bị pha loãng, một thread vài trăm trang thì chỉ có vài trang có nội dung hữu ích, khiến việc tiếp cận thông tin bị hạn chế rất nhiều.

Cuốn Du học không khó được tổ chức một cách chặt chẽ và mạch lạc hơn, giúp người đọc dễ hình dung và học hỏi. Các chia sẻ được viết rất tỉ mỉ và cặn kẽ kèm theo sự phân tích và ví dụ minh họa để độc giả dễ dàng hình dung ra các yêu cầu khi du học.

Ngoài ra, cuốn sách với vai trò truyền cảm hứng sẽ giới thiệu những tấm gương người thật việc thật. Họ là những người thực sự nỗ lực trong hành trình theo đuổi giấc mơ du học để câu chuyện của họ sẽ trở nên gần gũi hơn với các bạn du học sinh tương lai.

Cuối cùng là những trải nghiệm du học, những chia sẻ của riêng mình với tư cách là một du học sinh tâm huyết với việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm với các bạn trẻ có ước mơ du học.

Du học là một con đường đầy chông gai và có rất nhiều rào cản như tài chính, ngôn ngữ, văn hóa, học thuật… Anh có lời khuyên nào cho các bạn du học sinh tương lai?

Đúng là con đường đi tới ước mơ du học có rất nhiều rào cản, nhưng như thông điệp của cuốn sách, du học sẽ không khó nếu bạn có quyết tâm, ý chí, nỗ lực để thực hiện ước mơ của mình. Không có cái gì dễ dàng cả. Một sự chuẩn bị chu đáo với một kế hoạch chi tiết và tỉ mỉ sẽ giúp các bạn lường trước được những khó khăn để dễ dàng vượt qua. Lời khuyên của những người đi trước là hết sức hữu ích. Mình hy vọng rằng cuốn sách của mình sẽ giúp các bạn vượt qua được những khó khăn và rào cản một cách dễ dàng để các bạn có thể thấy rằng, du học không hề khó như các bạn hay nghĩ.

Nhiều người rất băn khoăn ở bước chọn ngành học. Theo anh việc chọn ngành học cần lưu ý những gì?

Việc chọn ngành học là một bước trên con đường sự nghiệp sau này. Điều này được quyết định rất lớn bởi đam mê. Cuốn sách Du học không khó có hẳn một phần viết về đam mê: Tìm kiếm, xác định, theo đuổi đam mê. Nhiều bạn thắc mắc, học một ngành, nộp hồ sơ du học một ngành khác có được không? Câu trả lời là hoàn toàn được miễn là bạn chứng minh được đam mê của mình với ngành mà bạn dự định nộp hồ sơ du học. Theo mình, việc xác định đam mê là rất quan trọng và cần thiết, bởi chỉ có đam mê mới có thể giúp bạn có một kế hoạch du học thành công.

Anh có thể chia sẻ suy nghĩ của bản thân về việc ở hay về của du học sinh?

Đi du học và ở lại làm việc không phải là việc xấu. Ai cũng muốn vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn, thu nhập cao hơn. Nhưng mình cho rằng du học sinh nên cư xử đàng hoàng và sòng phẳng. Tức là, nếu khi xin học bổng và có ký cam kết học xong quay về thì bạn phải quay về, không thể viện lý do này nọ để tìm cách thoái thác cam kết trước đây.

Là một cựu du học sinh, mình cho rằng đóng góp được cho đất nước, không nhất thiết là cứ phải về đất nước. Nếu ở Việt Nam không có điều kiện để bạn phát huy những gì mình đã được học khi đi du học, thì bạn có thể ở lại nước ngoài để phát huy tài năng và làm rạng danh đất nước. Nhưng nếu về Việt Nam, thì những việc bạn làm sẽ có tác động trực tiếp hơn tới sự phát triển của quốc gia. Nếu không thu hút được du học sinh quay về, Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng “chảy máu chất xám”. Do đó làm thế nào để thu hút tri thức du học sinh là một vấn đề chính sách đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước.

Điều gì làm anh tâm đắc nhất và muốn gửi gắm đến người đọc nhất qua cuốn sách Du học không khó?

Là một chuyên gia tư vấn phát triển, mình có một trăn trở làm thế nào để tìm con đường cho đất nước thay đổi đi lên một cách bền vững. Mình tin rằng, chỉ có đầu tư vào giáo dục, đầu tư vào con người thì tương lai Việt Nam mới sáng lạn. Mình hy vọng rằng, cuốn sách đầu tiên trong series sách về chủ đề du học mà mình đang viết này sẽ truyền cảm hứng và tạo dựng nên một phong trào du học trong các bạn trẻ để có ngày càng nhiều hơn các bạn trẻ Việt Nam xách ba lô lên đường tới các nước tiên tiến học tập, trau dồi tri thức để khi quay trở về tạo nên sức mạnh tổng hợp của tri thức, kỹ năng, trình độ và tư duy hiện đại, xây dựng một đất nước Việt Nam to đẹp hơn, giàu mạnh hơn.

Anh có thể chia sẻ một chút về những tác phẩm sắp ra đời trong series sách về du học của mình?

Cuốn sách Du học không khó không phải là cuốn sách du học đầu tiên mình viết, nhưng lại là cuốn đầu tiên mình xuất bản. Cuốn sách đầu tiên mình viết là về những chia sẻ xung quanh cuộc sống của du học sinh ở bên Mỹ. Sắp tới, sẽ là một cuốn sách mang tên “Săn học bổng” với các bài phỏng vấn, chia sẻ của các chuyên gia, các bạn đã được nhận học bổng danh giá để giúp các bạn có ước mơ du học nhưng không biết bắt đầu từ đâu để dành được một suất học bổng.

Cảm ơn anh Thịnh về cuộc trò chuyện, chúc anh thành công trong sự nghiệp và cuộc sống.

P/S: Mọi người có thể đặt mua sách “Du học không khó” tại đại chỉ:https://www.vinabook.com/du-hoc-khong-kho-p59339.html

 

Các bạn cũng có thể đọc các bài viết khác của anh Thịnh tại www.tranngocthinh.com hoặc giao lưu trực tiếp với tác giả trên Fan Page Trần Ngọc Thịnh

2 Sample Letter of Recommedation

As many people asked me about the letter of recommendation or letter of reference, I would like to post some of mine as samples. Because LRs are really personal, I am sorry that some parts of them are hidden or changed. Anyway, the contents are kept intact. All what are said in the letter do not necessarily truly reflect my very self. And, as usual, all are just for your reference only. It is strictly forbidden to copy them under any form. I welcome comments on the letters’ contents, writing styles, formats, not on my very self. Thank for your cooperation.

 

The first is my employer’s letter (about one page and 400 words)

 

 

 

(Printed on the letterhead)

 

November 10, 2020

 

To Whom It May Concern:

 

This reference letter is provided at the written request of Do Thanh Hai, who has asked me to serve as a reference on his behalf. I have been acquainted with Hai for four years but came to know him well last year as he successfully passed the entry exam to the … and became the youngest researcher at the …

 

As I learnt from other colleagues, Hai was once one of our outstanding students at the …. Now, working at the …, Hai has proven to be a potentially high-caliber researcher in his specialized field of International Politics and European studies. He has fruitfully participated in a number of research projects, through which he has shown exceptional creativeness and a refreshing idealism tempered only enough to accomplish what needs to be done. Other colleagues often remark that Hai is blessed with considerable talent. However, what many of them overlook is how hard Hai works to cultivate his talent, whether it is the enrichment of the knowledge of his specialization, or the development of his English language proficiency, public speaking skills or his writing skills as he works through a research paper.

 

Interestingly, Hai’s amalgamation of talent, intellectual curiosity and hardworking comes “packaged” in a wonderfully friendly, humorous, sincere and caring human being. He has been the master of ceremonies in various community activities of our institute. His ballroom dancing performance is a kind of excitement and inspiration. He is now the youngest elected member of the … … Executive Board and an active member of the … Youth Union’s Executive Board. He is no doubt our asset and pride.

 

For all above-mentioned reasons, he tops the list of the promising researchers and faculty members that we need to cultivate for our future development. I highly recommend him for any position of work, leadership, education, or any other capacity in which he can spread his excitement and share his talents with others. At our institution, we are expecting big things from Hai in the way of educational and communal leadership in the years to come.

 

Once again, thank you for the opportunity to recommend such a special and impressive young man. If any inquiry is required, feel free to contact me at my email address: …………for the fast and reliable reply.

 

Yours sincerely,

 

(Signature,

Title or Position, Address and Telephone No of the Referee)

 

 

 

The second is the letter of the academic (one page and about 400 words).

 

(Printed on the letterhead)

 

November 10, 1980

 

To Whom It May Concern:

 

I am proud to recommend my one-time beloved student and currently the youngest researcher of the Institute for International Relations (IIR), Do Thanh Hai, for your scholarship program. Six years of acquaintance help me somewhat grasp his aptitude and personality.

 

As his professor, I had an opportunity to observe Hai’s participation and interaction in class and to evaluate his knowledge of the subject matter. At that time, he was primarily well-known for his intellectual curiosity and talent. He always tried to seek truth in each and every area of life, whether in learning, discussing philosophy, or relating to his fellow students or his teacher. His very excellent quantitative and analytical ability helped him find out intelligent and rational answers to even the most challenging questions raised in the class. Further, Hai was very helpful in creating an exhilarating learning atmosphere in the class by keenly giving ideas, discussing and asking motivating questions. He was a kind of open-minded individual who was always willing to share with his classmates his own opinion and ideas and enthusiastically contribute to discussions.

 

Now, he is a colleague of mine at the IIR. Always, in his work, Hai is consistent, dedicated and passionate, enthusiastic, cheerful and a pleasure to work with. He is an active member of the IIR Junior Researchers Club, which serves as a forum for young researchers and faculty members of the IIR to share knowledge, research and teaching skills and methods. Although being a researcher, he actively gets involved in teaching. He has also shared the burden of teaching activities with us. At present, due to lack of a Master’s degree, he has only worked as a very helpful assistant to other veteran lecturers in teaching American and European studies for full-time students. Therefore, I strongly encourage Hai to further his education so that he will be able to contribute more to the research and teaching of the IIR. I am willing to do everything within my range to help him and, I am sure, you will do it too.

 

I am deeply impressed by Hai and recommend him unhesitatingly. If you have any questions or wish to know further about Hai, please feel free to contact me at .

 

 

 

Sincerely,

 

(Signature,

Title or Position, Address and Telephone No of the Referee)

 

Note: This post is copied from Sailingtothesea’s blog. All rights reserved. This post is for reference only, do NOT copy and paste it.

Letter of Recommendation

Trong bộ hồ sơ xin học sau ĐH, đặc biệt là hồ sơ xin học bổng, có 2 loại giấy tờ rất quan trọng nhưng đa số SVVN đều chưa có kinh nghiệm khi chuẩn bị. Đó là Thư giới thiệu và Tuyên bố cá nhân. Theo một số chuyên gia tuyển sinh của các trường ĐH danh tiếng ở Anh, Mỹ, đây là 2 trong số những giấy tờ có tính chất quyết định nhất với một hồ sơ xin học.

 

Thư giới thiêu: Cụ thể và chân thật

 

Letter of Recommendation hay Letter of Referee (LOR) là thư giới thiệu của một người quen, không phải người nhà, để bày tỏ ấn tượng của họ về SV đó và khẳng định rằng SV đó xứng đáng được nhận vào học hoặc nhận học bổng này.

 

Thông thường, các trường yêu cầu ít nhất 2 LOR, 1 về học thuật (academic) và 1 về chuyên môn (professional). Tương ứng, SV sẽ phải nhờ 2 người, 1 là giảng viên tại trường ĐH và 1 “sếp” hoặc đồng nghiệp tại công ty.

 

Ông John Hartwright, Trưởng ban Tuyển sinh, Trường Kinh doanh Newcastle, ĐH Northumbria cho biết: “Chúng tôi luôn mong đợi trong LOR nêu bật được những tố chất đặc biệt trong học thuật cũng như những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết của SV.”

 

Trong những bức thư này, người giới thiệu không nên chỉ nói chung chung rằng anh A rất thông minh, chăm chỉ, có tinh thần học hỏi mà nên có những dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho nhận định này. Đôi khi, một số nhận xét mang màu sắc cá nhân về hiểu biết xã hội cũng như cách cư xử trong cuộc sống nếu được lồng ghép khéo léo vào LOR cũng mang lại lợi thế cho SV.

 

Theo quy định thì các thư giới thiệu phải do chính người giới thiệu viết và đảm bảo bí mật. Nhưng trong điều kiện ở VN, khi tiếng Anh chưa phải là ngôn ngữ được sử dụng phổ thông, nhiều người giới thiệu sẽ gặp khó khăn khi viết thư. Vì thế, thông thường SV sẽ phải dịch sang tiếng Anh và xin xác nhận của người giới thiệu.

 

SV nên đưa Sơ yếu lý lịch (CV) và Tuyên bố cá nhân cho người giới thiệu xem trước để họ biết những yêu cầu cơ bản của khóa học và nhấn mạnh vào những ưu điểm có liên quan.

 

“Tôi là người phù hợp nhất với khóa học”

 

Đó là điều rất quan trọng mà SV cần làm nổi bật trong tuyên bố cá nhân của mình.

 

Statement of Purpose (SOP) hay Personal Statement là những tuyên bố mang tính cá nhân của người xin học, thể hiện phẩm chất và khát vọng học tập và dự định sự nghiệp tương lai.

 

Bà Rachel Sunderland, Văn phòng Quan hệ quốc tế, ĐH Bournemouth, Vương quốc Anh khẳng định: “Các nhân viên tuyển sinh mong muốn ứng viên không chỉ có khả năng học thuật mà còn thể hiện cả sự nhiệt tình đối với khóa học cũng như mục tiêu rõ ràng với việc học tập và nghề nghiệp.”

 

Anh Lê Tiến Dũng, nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Nebraska-Lincoln, Hoa Kỳ chia sẻ kinh nghiệm bản thân: “Trong SOP, cần làm nổi bật 3 vấn đề. Đó là: nguyên nhân bạn theo đuổi ngành học này, mục tiêu sự nghiệp lâu dài và nếu nhận học bổng thì nó có vai trò và ý nghĩa như thế nào với sự phát triển nghề nghiệp của bạn.”

 

SV cần nhấn mạnh vào những điểm mạnh của mình phù hợp với yêu cầu khóa học, không cần đề cập đến những ưu điểm mà khóa học không hướng tới. Khi nói về lý do đưa bạn đến sự lựa chọn ngành này thì nên là sự đam mê chứ không phải “vì ngành này nhiều tiền, dễ xin việc, ngành thời thượng”. Cũng nên nói 1 chút về sự đóng góp cho cộng đồng xã hội khi mình làm việc trong ngành đó.

 

“Khi nói về mục tiêu sự nghiệp thì phải gắn với mục tiêu của khóa học, tức là có sự gắn kết giữa cái mình cần và cái trường cung cấp”, anh Dũng chia sẻ. Chẳng hạn như một số học bổng lựa chọn những cá nhân có khả năng cống hiến và phục vụ cộng đồng sau khi tốt nghiệp thì không nên nói là kế hoạch của mình là lập công ty riêng hay sau khi học xong tôi sẽ xin ở lại làm việc mà không quay về nước.

 

Một phần rất quan trọng nữa là phải làm nổi bật vấn đề khóa học này sẽ giúp bạn thực hiện mục tiêu nghề nghiệp trong tương lai như thế nào.

 

Ông John Hartwright nhấn mạnh: “SV phải phác thảo được những dự định tương lai sau khi kết thúc khóa học, họ sẽ dùng những kiến thức và kỹ năng mới học được vào việc gì.”

 

Vì thế, SV cần nghiên cứu thật kỹ khóa học, để xem nó cung cấp cho mình phương tiện, công cụ hay kiến thức gì, kết hợp với những tri thức và kỹ năng sẵn có, bạn sẽ làm thế nào để đạt được mục tiêu trong tương lai.

 

Thông thường, mỗi LOR và SOP được viết trong khoảng 1.000 từ, vì thế, SV phải cố gắng diễn đạt một cách mạch lạc, khúc triết nhất sao cho trình bày được càng nhiều, càng rõ ràng về ưu điểm của bản thân càng tốt. Quan trọng hơn cả là những thư này phải được trình bày bằng tiếng Anh theo phong cách hàn lâm (academic style). Sử dụng một thứ tiếng Anh kém học thuật trong LOR và SOP, đồng nghĩa với việc SV không có đủ khả năng tiếng Anh để theo học chương trình ở bậc ĐH và cao hơn.

 

Theo kinh nghiệm của nhiều SV và nghiên cứu sinh đã thành công, giai đoạn chuẩn bị các tài liệu này thường kéo dài vài tháng. Sau khi viết xong, nên đưa cho một số người bạn có kinh nghiệm để họ sửa chữa những lỗi về ngữ pháp và văn phạm.

 

Lan Hương

Nguồn: http://vietnamnet.vn/giaoduc/2007/10/751718/

error: Content is protected !!