Những cú sốc khi du học Mỹ

Trong cuốn sách “Du học không khó” của mình, tôi cũng đã dành hẳn một chương cuối của cuốn sách để chia sẻ về những khó khăn mà các bạn du học sinh cần phải lường trước khi quyết định đi du học. Bài viết dưới đây là  một chia sẻ của một bạn du học sinh, hy vọng nó sẽ cho các bạn một cái nhìn đa chiều về sự thật du học.

—-

Không đơn giản chỉ là xách ba lô lên và đi, bên cạnh nhiều bạn trẻ “vinh quy bái tổ” thì không ít bạn sớm bị “nốc ao” khi du học Mỹ.

Nhiều bậc phụ huynh lẫn các bạn học sinh, sinh viên Việt Nam rất quan tâm đến cuộc sống du học sinh tại Mỹ. “Giấc mơ Mỹ” đã sớm trở thành mục tiêu của nhiều người, với nền giáo dục tiên tiến bậc nhất thế giới và môi trường làm việc rất tiềm năng. Nhưng nếu không tỉnh táo, những “cú sốc” có thể khiến bạn gục ngã hoặc sống và học tập một cách lay lắt.

Không học nổi vì yếu ngoại ngữ

 

Một cựu du học sinh từng học tại Mỹ từ THPT đến hết ĐH ngành giáo dục chia sẻ: “Chuyện học hành là thứ khiến sinh viên Việt Nam sốc nhất. Có sinh viên, như tôi, phải mất hết một học kỳ mới bắt được nhịp điệu chung với mọi người. Có bạn mất nhiều thời gian hơn, thậm chí gãy gánh giữa đường, không cán đích tốt nghiệp”.

Nguyên nhân chính là không thể hòa nhập được môi trường học thuật. Cụ thể, nhiều bạn thiếu ngoại ngữ mà vội vàng đăng ký đi học. Đừng nghĩ rằng cứ qua Mỹ thì giỏi ngôn ngữ. Chuyện nghe nói, giao tiếp bình thường đã không rành thì đừng nói gì chuyện học. Trong khi đó, việc đầu tư cho môn học tại Mỹ như nhiều quốc gia phát triển khác cũng khá đặc thù. Học viên phải xem bài rất nhiều trước khi đến lớp, đến thư viện thường xuyên… Do ngoại ngữ yếu học sinh Việt “đụng đâu cũng khó hiểu”, đặc biệt là các môn có tính chuyên ngành, việc tiếp thu bài sẽ khó khăn.

Hình thức đánh giá sinh viên tại Mỹ chú trọng đến khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tế thông qua viết luận, thuyết trình, làm dự án.Công việc này yêu cầu khả năng tự học, tự nghiên cứu, tương tác xã hội, trình bày độc lập rất cao. Phương pháp giáo dục, đào tạo ở Mỹ đòi hỏi sinh viên phải phát huy tối đa tính tự giác.

Thầy chỉ đóng vai phụ

 

Lớp học tại Mỹ như một quán cà phê học thuật, các giáo viên chỉ “đóng vai phụ”. Họ đưa ra câu hỏi hay vấn đề, còn nhiệm vụ của học viên là thay phiên nhau đưa ra quan điểm, phản biện, tranh biện. Học viên không cần giơ tay mà tự giác phát biểu đóng góp cho bài học một cách tự nhiên. Giáo viên chỉ điều phối, đưa ra kết luận chung cho bài học hay giải đáp thắc mắc.

Trong khi đó tại Việt Nam, hình thức “thầy giảng-trò chép” vẫn còn phổ biến suốt thời gian dài. Ý thức tự giác, khả năng tự tin, tính chủ động của học viên còn thiếu. Nhiều bạn Việt Nam sang Mỹ co rụt lại vì sợ nếu phát biểu sẽ khiến người khác xem thường.

Phải có người đỡ đầu và bạn thân

 

Đa phần các học viên tại Mỹ đều có “người đỡ đầu” đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn học tập và nghiên cứu. Những “người đỡ đầu” thường là các giáo sư, giảng viên trực tiếp giảng dạy. Một sinh viên chủ động và cầu tiến sẽ tìm đến sự hỗ trợ từ nhiều “người đỡ đầu” khác nhau, theo nhu cầu của chương trình học. Cũng có người chọn và thuyết phục được những “người đỡ đầu” hỗ trợ, tư vấn họ suốt quá trình nghiên cứu chuyên ngành. Thậm chí nếu làm việc tốt và có tiềm năng, có người còn được các giáo sư tạo điều kiện cho làm việc có thù lao.

“Người đỡ đầu” cũng giúp bạn hiểu được “người dạy cần gì từ học viên”. Mỗi người dạy học sẽ có một cách tiếp cận khác nhau trong khoa học và đánh giá kết quả bằng nhiều cách khác nhau. Nếu hiểu được điều này, bạn có thể tập trung đạt các kết quả quan trọng và cốt yếu. Thực tế là nhiều học sinh rất e ngại, rụt rè. Nhưng nếu không chủ động và tự tin thì đừng nghĩ các giáo sư sẽ tìm đến hỗ trợ mình.

Bạn thân cũng là yếu tố quan trọng giúp hòa nhập, đạt kết quả tốt. Làm việc nhóm là hình thức phổ biến trong môi trường giáo dục. Để thích nghi nhanh, tiếp cận nhiều nguồn tài liệu phù hợp, hiểu văn hóa học tập, được hỗ trợ khi khó khăn… bạn cần chủ động tạo ra các mối quan hệ đồng môn, có được những người bạn thân dù là người bản xứ hay sinh viên nước khác.

Tam giác bản thân – thầy cô – bạn bè sẽ tạo ra “kiềng ba chân” giúp bạn cân bằng, thích nghi, phát triển.

Theo Pháp luật TPHCM

Nước Mỹ trong tôi – Tung Kelvin

Just wanna share with you some of my experiences in the US. I hope it will somehow inspire you to make your US dream come true.

Nhanh quá, vậy là tôi đã đi gần hết nửa quãng thời gian thực tập ở Mỹ rồi. Ngày đầu tiên đặt chân tới nơi đây, tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác gió thổi mát lạnh lăn dọc sống lưng khi mới bước chân ra khỏi ga tàu điện ngầm Midtown để bắt taxi về nhà anh bạn. Thời tiết mát dịu ở Atlanta lúc này sao mà giống Hà Nội quá, làm tôi nhớ lại hồi cấp 2 vẫn hay cùng đám bạn tối tối cứ ngồi trên bờ tường khu bể nước hóng gió, rôm rả với nhau những câu chuyện tận đâu đâu, rồi cùng nhau đi hái trộm nào bàng, nào sấu, nào chuối xanh… Trước khi sang đây, tôi dự định là sẽ đi kết hợp tàu điện ngầm và bus về cho tiết kiệm, nhưng lúc tới Midtown thì cũng đã gần 9h tối, mà hệ thống giao thông công cộng ở đây không được tiện như ở châu Âu, cộng với cả đống hành lý cồng kềnh nên tôi tặc lưỡi bắt taxi làm tư bản một hôm, coi như thưởng cho mình ngày đầu tiên đến Mỹ. Anh chàng lái xe taxi gốc Nepal là người đầu tiên nói với tôi: “Welcome to the United States!” trước khi chở tôi về địa chỉ mà tôi đã ghi sẵn ra giấy. Tôi không ngờ là đường xá Atlanta lại nhiều dốc gập ghềnh như thế, ngồi xe mà có cảm giác như đang phi xe máy ở Sapa vậy. Quyết định đi taxi đúng là chuẩn quá đi!

Qua sự giới thiệu của một chị bạn bên Hà Lan, tôi liên lạc với anh T. đang học bên này để xin ngủ nhờ vài hôm trước khi đi tìm nhà. Tính tôi thường hay tìm hiểu thông tin về một người mới quen, không phải là tính hiếu kỳ mà đơn giản là tôi muốn biết người mà tôi sẽ gặp là ai, đối với tôi đó là một sự tôn trọng người bạn mới đó. Sau khi gõ fullname vào Google, ngoài mấy kết quả trả về là trộm cắp bị đánh chết hay tốt nghiệp trung cấp ngành tin học lol, tôi mắt chữ A mồm chữ O tay chân thì xoắn quẩy khi biết anh T. đã từng tham gia kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế, còn em trai anh học dưới tôi mấy khóa đã từng được HCV Olympic Toán quốc tế. Tôi bắt đầu vã mồ hôi và lo sợ, từ khi lên đại học tới giờ tôi ham chơi hơn ham học, sợ không bắt chuyện được với những đối tượng như thế này. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi hóa ra anh T. đã bị tha hóa biến chất theo thời gian cũng ham chơi hơn ham học như tôi, tôi đến trước cửa nhà rồi mà anh còn đang bận luyện game, bảo chờ anh tý anh xuống mở cửa. Và bữa ăn đầu tiên của tôi trên đất Mỹ là…mỳ tôm anh T. nấu.

Cùng nhà còn có thằng em T., ở cùng hai anh em được mấy hôm, tôi quyết định ở lại đây luôn vì thấy khá thoải mái, lại có một dàn karaoke và PS3 nữa chứ. Nhà cửa đã xong xuôi, chuẩn bị lên trường thôi tôi ơi. Campus của trường Gatech khá rộng, có cả một hệ thống xe Trolley và Stinger Bus đưa đón sinh viên trong trường, hôm đầu tiên lên trường tôi đã nhảy lên đi xung quanh trường tham quan một vòng rồi, lại hoài niệm ngày xưa hồi còn bên Thượng Hải vẫn thường hay dậy sớm bắt bus từ khu Yanchang campus xuống Baoshan campus mất gần một tiếng, xe chạy từ phía cổng nam rồi vòng ra sân vận động phía lầu Z, rồi đi qua cổng Bắc, không biết anh chị em Shangda có còn nhớ không. Hoài niệm mãi, tôi già thật rồi.

Tôi thích nhất ở Gatech là khu Student Center và những dãy hàng lang trong các tòa nhà. Ngay phía trước Student Center là một đài phun nước bao quanh bởi những vòng tròn bậc thang xếp chồng lên nhau cho đến khi chạm tới mặt đất. Tôi thi thoảng hay ra đây ngồi đọc sách hoặc mang laptop ra ngồi xem phim, vừa hưởng thụ những tia nắng dìu dịu, thi thoảng lại ngoái nhìn người qua lại, gái đẹp lọt vào mắt là chính, còn zai xinh thì bị filter mất rồi. Tầng 1 của Student Center có khu vui chơi giải trí gọi là Tech Rec, nào billard, nào bowling, PS và bóng bàn nữa. Anh em chúng tôi cứ chiều thứ 5 hàng tuần là lại tụ tập nhau cùng chơi billard, xong xuôi lại kéo nhau lên các quán Việt Nam ăn tối.
Tầng 2 của Student Center có một phòng gọi là “Under the Couch”, ở đó họ có một sân khấu nhỏ, có đủ đèn chiếu và các loại nhạc cụ, phía dưới là các dãy bàn ghế cho mọi người ngồi, có một quầy DJ ngay phía cửa ra vào chuyên phụ trách mục lựa chọn nhạc, tôi hay vào đây sau mỗi lần ăn trưa, nằm nghe nhạc và thậm chí là ngủ một giấc, có hôm tới 6h chiều họ đóng cửa tôi mới ra về. Tôi bắt đầu thấy thích giáo dục Mỹ vì cơ sở vật chất của họ tốt quá, lại có nhiều hoạt động phục vụ sinh viên trong trường nữa, những điều mà tôi chưa từng được thấy ở các nơi khác.

Chuyến roadtrip đầu tiên. Hai anh em chúng tôi lên đường xuất phát từ Atlanta, dự định sẽ đi về phía bang Alabama rồi đi dọc vùng Gulf Coast nơi có cơn bão Katrina cách đây gần 7 năm. Tối hôm đó trên đường tới Alabama, chúng tôi đi qua một bìa rừng mà không hề có sóng điện thoại, 3G không lên nên không thể Google Maps được, trên đường không thấy một bóng xe nào khác ngoài xe của chúng tôi, đi mãi đi mãi cuối cùng cũng ra khỏi được khu vực đó, đúng là một kỷ niệm hết hồn mà. Sáng hôm sau, chúng tôi đã có mặt ở Mississippi, ở đây tôi gặp chị L. là bạn của a T. hồi đại học. Chị L. tinh tế và chu đáo đúng chất người con gái Hà Nội, chỉ khổ cho những ai đang thầm thương trộm nhớ chị L. mà thôi, he he. Chúng tôi chạy xe dọc bờ biển, bảy năm sau cơn bão lịch sử, nơi đây trông giống như một khu nghỉ dưỡng mới được khám phá, vẫn còn đâu đó đôi nét hoang sơ, cát biển trắng xóa với thùng rác là những chiếc thùng phi nằm ưỡn bụng phơi mình trên cát. Tối tối chúng tôi cùng nhau nấu đồ ăn Việt Nam, đi bar và chơi billard. Sáng hôm sau trước khi ra về, tôi không quên ôm hôn hai chú chó của Mike, một trong những người bạn ở cùng nhà với chị L.

Có người không khỏi bồi hồi lúc ra đi…

Newyork xa hoa. Kỳ nghỉ Spring Break vừa rồi tôi đi Newyork, Washington DC và Boston. Ngồi xe bus 18 tiếng từ Atlanta lên New York, tôi đi qua gần hết miền Đông nước Mỹ. Chuyến đi chơi này tôi đi một mình, cũng hay vì tự do thoải mái không theo một lịch trình sẵn có nào cả. Trước khi tới New York, xe bus dừng tại Maryland, tôi thấy hơi đói và lạnh vì tối qua mới ăn một chiếc bánh croissant, tôi chạy vào tiệm Starbucks làm một tách cà phê cho ấm bụng. Bình minh Maryland đẹp quá, mặt trời đỏ rực như lòng đỏ trứng gà rưới thêm một lớp mỡ trong đang tan chảy, thi thoảng lại dập dìu chiếu xuống thảm cỏ qua những kẽ lá đang đu đưa theo gió sớm.

11h trưa, tôi đặt chân tới New York. Tôi ở nhờ nhà cô C. qua sự giới thiệu của cô bạn L. bên Thụy Sĩ. Cô C. bằng tuổi mẹ tôi, cái tuổi mà tôi hay đùa là “trâu cày đường nhựa” nên khổ quá. Cô cũng hiền và dễ tính như mẹ tôi vậy, tôi có cảm giác như mình đang ở nhà, được ăn bún riêu cua, kim chi, thịt luộc…Anh con trai cô bằng tuổi chị gái tôi, công việc kiểm toán của anh khá bận rộn nên hai anh em chỉ kịp ngồi nhậu với nhau một lúc đêm trước khi tôi rời New York.

New York xa hoa quá, nhiều tòa nhà cao trọc trời ở khắp mọi nơi, khu quảng trường nổi tiếng Time Squares có nhiều đèn led, màn hình chiếu ở trên cao, hôm tôi tới lại đúng St Patrick Day nên mọi người đổ hết ra đường trong trang phục blue xanh, nhộn nhịp tấp nập quá. Tôi gặp lại H., người bạn học cùng cấp 3 đã sang Mỹ gần 7 năm. Chúng tôi cùng nhau đi tới khu Wall Street, ấn tượng nhất đối với tôi là Trump Building tại 40th Wall Street, nơi trước đây được coi là Bank of Manhattan. Tôi mới chỉ đọc các sách về bất động sản và marketing của Trump, trong đó có đề cập về những thành công của những tòa nhà chọc trời của ông ở New York, một cái ở Wall Street, một cái ở Fifth Avenue, đến giờ mới có cơ hội tận mắt nhìn thấy, hoành tráng quá.

Newyork xa hoa hơn tôi tưởng tượng, nhưng hơi xô bồ…

Boston thanh bình. Rời New York, tôi háo hức tới Boston, nơi có hai trường đại học nổi tiếng Harvard và MIT, ước mơ được học tập tại nơi đây không chỉ là của riêng tôi mà còn là của sinh viên trên toàn thế giới. Tôi đến Boston vào đúng những ngày nắng đẹp, không hiểu sao khi đến nơi đây tôi có cảm giác như mình được sống lại những năm tháng thời đại học, cái nhựa sống của tuổi trẻ hừng hực khí thế. Tôi dành 1 ngày để tham quan MIT và 2 ngày để dạo quanh Harvard, hay chỉ đơn giản là ngồi dưới những hàng cây trong campus của Harvard hàng giờ như những sinh viên nơi đây để có cảm giác mình được sống trong không khí này.

Hôm tới MIT, may mắn cho tôi là đúng hôm diễn ra undergraduate admission session, tôi cứ thế nhảy vào đăng ký, tôi ghi mình sinh năm 94 và năm sau apply MIT =)), thế là có cơ hội vào trong student hall và được nghe một cô Admission Officer nói chuyện. Có những vị phụ huynh băn khoăn những câu hỏi rất thực tế như nếu con họ học MIT thì liệu có người yêu không, hay như thi trượt thì điểm thi trượt có bị ghi vào bảng điểm không. Ở MIT năm học đầu tiên bạn chưa phải vào một chuyên ngành cụ thể nào, năm thứ hai mới phải đăng ký chuyên ngành, và ngoài chuyên ngành chính bạn có thể đăng ký thêm các chuyên ngành phụ để học song song. Mặc dù MIT chuyên về science and engineering nhưng để đủ điều kiện tốt nghiệp, sinh viên phải tham gia đủ các khóa học về nghệ thuật, xã hội, lịch sử và thậm chí là thể dục nữa, toàn diện như thế thì lo gì không có người yêu nhỉ.

Quay trở lại Harvard ngày hôm sau, tôi đi một cái free tour do sinh viên Harvard tổ chức, có khá nhiều fun fact mà cô bạn dễ thương tour guide đề cập tới, nhưng tôi chỉ nhớ duy nhất 1 cái là nếu như bạn học trên thư viện tới sau 2h sáng thì bạn sẽ được ăn bánh ở cafeteria miễn phí. Ôi motivation học hành của các sinh viên:)). Tôi lang thang ra Harvard Square, có một ông già chạc 60 đang biểu diễn âm nhạc đường phố. Ông ăn mặc khá kỳ quái đủ các loại quần áo chắp vá nhiều màu sắc, còn nhạc cụ thì cũng kỳ quái không kém, kết hợp từ xong nồi bát đĩa đến tất cả những thứ gì có thể phát ra âm thanh. Bỗng dưng tôi nhìn thấy cái biển đề motto của ông: “Only those who attempt the absurd will achieve the impossible”. Tôi nghĩ đó không chỉ là điều ông nghĩ mà còn là Harvard’s spirit nữa.

Tôi dành cả buổi chiều cuối cùng tại Boston để ngồi lì trong tiệm sách The Coop của Harvard. Trong đó họ có kê những chiếc ghế gỗ nhỏ ngay bên cạnh những giá sách để mọi người có thể ngồi đọc tại chỗ. Tôi thì thích thoải mái nên ngồi bệt luôn xuống đất, ngồi đọc say sưa mấy quyển sách của The Economist hay Harvard Business Review. Cuối cùng tôi mua tổng cộng 5 quyển, đúng là hơi điên một tý vì cả 2 năm học Master tôi chưa hề mua quyển sách nào lol. Nhưng kệ, thi thoảng điên 1 tý cũng hay.

Ở Boston tôi ở nhờ nhà anh bạn Chris, fiancé của một chị bạn tôi. Anh hiền thật, cứ đi làm về là ở nhà để chờ chat với chị bạn tôi ở Việt Nam, chúng tôi cùng nhau chia sẻ cái sự nhọc nhằn của distance love và cùng thông cảm cho nhau, hay thi thoảng cùng cười phá lên khi cả hai đã cùng ở trong một tình cảnh khó xử, ví dụ như phải present trước bố mẹ vợ tương lai chẳng hạn:)).

Sáng hôm sau tôi phải dậy sớm ra sân bay, lúc này Chris vẫn đang ngủ, tôi không muốn đánh thức anh dậy, tôi ra khỏi nhà sau khi gửi lại anh tấm postcard cảm ơn anh hình con mèo tôi mua ở Atlanta. Tôi rời Boston trong lòng đầy lưu luyến.

…Harvard ơi có ngày rồi tôi sẽ trở lại…

-TungKelvin-

Học bổng du học Mỹ

Học bổng du học Mỹ – Ngày nay, du học ở các quốc gia tiên tiến, nhất là du học Mỹ hầu như là con đường tất yếu. Đặc biệt là như với một số sinh viên có hoài bão phát triển bản thân một cách toàn diện. Dù mức phí du học Mỹ đắt đỏ đối với thanh niên du học theo kiểu tự túc. Nhưng du học Mỹ đưa đến nhiều tiềm năng hứa hẹn trong tương lai.

Bởi vậy, nếu bạn có một nền tảng tài chính mạnh mẽ thì rất tuyệt vời. Trường hợp ngược lại, nếu bạn không thể đảm bảo được điều này thì cũng không nên vội thất vọng. Chỉ cần bạn có kết quả học tập vượt trội kèm theo có một nền tảng kỹ năng tốt. Cơ hội du học Mỹ vẫn còn nguyên đó. Bài viết này nhằm cung cấp những thông tin học bổng cần thiết nhất. Du học Minh Nguyệt hi vọng mang đến một cái nhìn đầy đủ và chi tiết về điều kiện và cách thức xin học bổng du học Mỹ.
Chuẩn bị profile xin học bổng du học Mỹ thật nổi bật

Điều phải nhắc đến đầu tiên khi xin học bổng du học Mỹ là bước chuẩn bị profile xin học bổng. Ai cũng hiểu rằng để thành công trong việc xin học bổng du học thì profile phải ấn tượng như thế nào. Số lượng các suất học bổng dù nhiều thế nào cũng sẽ sớm trở nên hiếm hoi. Vì ai cũng biết những học bổng du học có tiếng chính là khao khát của hàng trăm, hàng nghìn sinh viên ưu tú. Không ai biết được có bao nhiêu ứng cử viên ưu tú ngang hoặc hơn bạn. Nên điều cần nhất là bạn phải chuẩn bị bộ file dự tuyển sao cho hình ảnh bản thân trở nên thật đặc biệt, nổi bật.

Đặc biệt, bạn phải sở hữu những yếu tố chỉ riêng bạn có. Qua đó bạn mới thuyết phục được đơn vị cấp học bổng rằng bạn phù hợp, xứng đáng với nó hơn những ứng cử viên khác.

Một cách để trở nên nổi bật chính là hoàn thiện bản thân qua những trải nghiệm hằng ngày trong cuộc sống ở các lĩnh vực khác nhau. Các hoạt động học thuật, ngoại khóa, du lịch, lễ hội, thậm chí là giải trí. Tất cả góp phần hoàn thiện vốn sống của một cá nhân. Một khi bạn đã xác định được động cơ, mục đích du học, bạn có thể làm nổi bật điều đó bằng cách liên kết mục đích với những điểm mạnh từ kinh nghiệm vốn sống để mang lại tính thuyết phục cao. Nếu làm được điều này, khả năng thành công là khá cao và cơ hội du học Mỹ chỉ cách bạn 2 bước nữa mà thôi.

Trình độ học thuật và khả năng ngoại ngữ

Vấn đề tiếp theo bạn cần cân nhắc chính là sự phù hợp giữa bản thân ứng viên và học bổng. Mỗi loại học bổng tùy vào đơn vị cấp, số lượng và mức ưu đãi mà sẽ có những điều kiện khác nhau. Càng cẩn thận tìm hiểu, cân nhắc các yêu cầu của học bổng để chọn được học bổng phù hợp, khả năng đậu cao.

Tùy vào học lực của bản thân mà bạn chọn lựa học bổng đòi hỏi khả năng tương đương. Bên cạnh những đòi hỏi cơ bản về trình độ học thuật và khả năng ngoại ngữ như GPA >3.2, IELTS >6.0 thì những điều kiện “nhỏ” khác cũng cần cân nhắc như kinh nghiệm làm việc, chứng nhận kỹ năng, hoạt động xã hội.

Hãy nói về những thành tựu của bạn

Việc còn lại cần làm chính là bổ sung những thông tin khách quan về bản thân bạn. Những thành tựu bạn đạt được. những thông tin khách quan này được hiểu là những đánh giá từ một người có chức vụ. Vị thế cao của một tổ chức giáo dục. Sự giới thiệu trực tiếp từ thầy cô các khoa hay ban giám hiệu là một điểm cộng lớn cho giấy tờ của bạn. Để nội dung thư giới thiệu đạt được giá trị, ý nghĩa và có tính thuyết phục. Người viết thư cần thực sự hiểu bạn. Sẽ có sự xác minh từ phía đơn vị cấp học bổng, qua điện thoại hoặc mail. Nên việc người giới thiệu không cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin sẽ dẫn đến nguy cơ bị từ chối.

Điều cuối cùng, mọi công việc đều cần một chút may mắn để thành công trọn vẹn. Ngay cả nhũng giấy tờ xin học bổng du học Mỹ “đẹp” nhất cũng có thể bị loại vào ngày xấu trời. Vậy nên bạn chỉ tập trung hết sức hoàn thành nhiệm vụ của mình. Dù kết quả thế nào thì cũng hãy giữ một tinh thần tích cực và bước tiếp đến những cơ hội đang chờ đợi bạn phía trước.

Chúc bạn thành công trên con đường học vấn đã chọn!

Hỏi đáp về Master of Laws in USA

Tôi hiện nay đang học năm 4 Học Viện Quan Hệ Quốc Tế, ngành Luật Quốc Tế. Tôi biết 3 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nhật. Điểm học tập ở trường thì chỉ là bằng khá thôi. Nhưng tôi rất tự tin vào kiến thức mà mình có được. Tôi muốn hỏi bạn một số câu hỏi sau:
1. Bằng khá có phải là trở ngại để xin học bổng tại Mỹ không?
2.Tôi muốn kiếm một học bổng để học Master Luật quốc tế ở Mỹ, có phải là quá khó không? Tôi muốn ra trường là đi học ngay có được không? Tôi phải làm gì từ bây giờ?

Rất mong nhận được hồi âm của các bạn!

Hi em,
Chị là Ngọc, khoa luật K30, em chắc học K31 phải ko. Chị hiện đang học LLM (Master of Law) ở Mỹ. Chị trả lời các câu hỏi của em dưới đây nhé

1. Bằng khá có phải là trở ngại để xin học bổng tại Mỹ không?

Không hề có trở ngại gì! Điều quan trọng là điểm luật của em tốt và mình chuẩn bị cẩn thận cho việc apply là okie em ah.

2. Tôi muốn kiếm một học bổng để học Master Luật quốc tế ở Mỹ, có phải là quá khó không?

Học bổng học luật nói chung hiếm hơn các ngành khác nhưng không có nghĩa là không có. Về các nguồn học bổng chị biết và tổng hợp qua bạn bè, chị đã post lên website này. Em vào tham khảo nhé

http://usadmission.org/usadmission/index.php/Apply_to_Law

Tôi muốn ra trường là đi học ngay có được không?

– chị chưa hỏi lại với trường chị xem sinh viên trường mình ra trường muốn đi học luôn có okie ko nên chị ko trả lời được chính xác câu này cho em.

– Em nói em muốn học luật quốc tế là luật thế nào em? LÀ Int’l public law hay int’l private law hay học dưới dạng comparative tức là mình sẽ học hoàn toàn luật Mỹ để thấy luật Mỹ khác so với luật VN thế nào. Em cần xác định sau này sẽ hành nghề luật trong sector nào, public (government, int’l organizations) or private (Law firms or business corporations). Câu trả lời của chị dưới đây chủ yếu dựa trên assumption là em muốn focus vào mảng private nhé vì chị thấy xu hướng này ngày càng prevail trong sinh viên khoa mình.

– Chị thấy có 2 khó khăn rất lớn nếu em tốt nghiệp xong ko đi làm mà đi học ngay:

(i) KHách quan: Sinh viên trường mình tính đến K34 là đếu chưa có bằng luật mà chỉ là major in Int’l Law. Trong khi đó yêu cầu đầu tiên của các trường ở Mỹ để được nhận học cao học luật là có bằng ở nước ngoài tương đương với bằng JD của Mỹ tức là degree của mình phải đủ qualified để mình thi vào đoàn luật sư (take bar exam) và có được chứng chỉ hành nghề luật sư. Bằng của trường mình ko làm được điều đó theo luật luật sư của VN em ạ. Như thế là ko đủ tiêu chuẩn rồi. Tuy nhiên các trường có thể cho phép ngoại lệ là mình có substantial experience in legal field. Cái ngoại lệ này không được post officially trên website các trường nên em nên liên hệ trước với trường để hỏi rồi hãy chuẩn bị và nộp hồ sơ. Việc em đi làm trước khi đi học sẽ giúp em được nhận nhờ ngoại lệ này. Nhưng vì không phải trường nào cũng chấp nhận ngoại lệ đó nên mình cần liên hệ trước để hỏi cho đỡ mất công nộp hồ sơ em ạ.

(ii) Chủ quan: Đây là khó khăn lớn nhất vì sẽ quyết định xem em sẽ thu lượm được bao nhiêu sau 1 năm học LLM ở Mỹ. Do việc đào tạo luật ở trường mình CỰC KỲ SƠ SÀI nên các kiến thức em có được (mà em nói là rất tự tin) rất khó có thể cung cấp cho em môt background đủ để theo học các lớp ở đây. Nếu em tiếp tục theo đuổi public law thì có thể okie (và có một số trường về int’l public law và int’l affairs chị tin là sẵn sàng nhận em học int’l public law ngay cả khi em chưa có kinh nghiệm làm việc) nhưng nếu em định sẽ làm trong private sector (tức là các law firms hoặc các business corporations) thì khi sang đây chị assume là em sẽ chọn các classes về business law. Vấn đề là các classes này được tailored cho sinh viên JD Mỹ năm 2 và năm 3 tức là những sviên đã qua một năm học ở trường luật và có background cơ bản về law nói chung và luật Mỹ nói riêng (chưa kể đến việc sinh viên học JD của Mỹ đều đã có một bằng bachelor rồi và đầu vào của tụi nó cực tốt, Như trong khoa chị thì chúng nó khủng lắm rất nhiều bọn đi ra từ các trường top 5 của Mỹ kiểu Havard, NYU, Berkerly,etc. với những ngành cực lợi thế như là political science hay economics). Việc đi làm sẽ giúp em lấp lỗ hổng kiến thức, thực sự được challenge mình trong lĩnh vực pháp lý và giúp em hiểu em còn thiếu gì để phải học thêm cho công việc của mình sau này. Theo kinh nghiệm của chị thì việc đi làm đã giúp chị rất nhiều trong việc chọn môn học, hiểu và tiếp thu bài trên lớp.

Nếu em hỏi, chị strongly recommend em nên đi làm một thời gian trước khi đi học. Ko nhất thiết làm 2 năm đâu (chị chỉ làm từ khi ra trường năm ngoái đến hết tháng 4 năm nay thôi), hơn nữa học LLM cực kỳ intensive có 10 tháng thôi em nên kể cả thời gian em đi làm lẫn đi học thì cũng chỉ như các bạn học các ngành khác mà ko đi làm thôi em a:>

Tôi phải làm gì từ bây giờ?

EM nên chuẩn bị từ bây giờ vì sẽ mất khá nhiều công sức và thời gian đó. Kinh nghiệm của chị là từ khi bắt đầu thi lấy chứng chỉ tiếng Anh đến khi nộp xong hồ sơ cũng cả năm em ạ. Em có thể tham khảo các bước cần thiết trong link chị gửi.

Hi vọng là chị giúp giải đáp được phần nào các câu hỏi của em. Nếu có thêm thắc mắc gì thì cứ thoải mái viết email cho chị: bichngoc.nguyen86@gmail.com

Cố gắng lên em nhé:-bd, mình xây dựng một cộng đồng sinh viên VN học luật ở Mỹ để cạnh tranh với các ngành khác nữa vì nói chung hiện nay số lượng này còn it ỏi lắm em ạ. Năm nay chị tìm mỏi mắt mới có 3 người thôi thì trong đó có 2 là trường mình rồi:p. Nếu có bạn nào ở khoa có thắc mắc gì về việc đi học thì cứ bảo bạn ý email cho chị nhé.

Chúc em thành công nhé
Ngọc

Tìm hiểu về ngành Economics – Learn more about Ecocomics study

ECONOMICS

I/ Giới thiệu ngành Kinh Tế học 

Nghiên cứu kinh tế ở bậc nghiên cứu sinh (PhD hay doctorate) là sự giao thoa giữa các phương pháp nghiên cứu các chuyên ngành tự nhiên, kỹ thuật và xã hội. Bạn có thể tìm thấy trên các top journal về kinh tế các bài báo có phong cách giống như các bài nghiên cứu về math, CS/EE hoặc law và sociology. Để theo học PhD kinh tế, bạn không cần có background về kinh tế. Dù học đại học ở bất kỳ chuyên ngành nào, bạn đều có thể nộp hồ sơ xin học PhD về kinh tế học. Tuy nhiên, bạn cần có khả năng học toán ở mức độ tối thiểu nào đó (tuỳ theo yêu cầu của từng trường), để có thể sống sót qua các kỳ thi prelim và QE, trước khi muốn theo đuổi hướng nghiên cứu ưa thích của mình.

Các chuyên ngành :

Economic History & Thought
Econometrics
Microeconomic Theory
Labor & Consumer Economics
IO / Business Economics
Public Economics
Macroeconomics
Trade & Development
Financial Economics
Resource & Agricultural Econ

1. Phân biệt kinh tế học với các ngành khoa học khác 

Kinh tế và Quản lý ở Việt nam thường bị hiểu lẫn lộn, trong khi người Mỹ phân biệt rõ ràng hai nhóm ngành này. Khoa Kinh tế ( bao gồm các ngành Macro Economics, Micro Economics, International Economics, Development, Game Theory, Econometrics.v.v…) thường nằm trong School of Art & Science. Trong khi đó các ngành quản lý, kinh doanh (finance, accounting, marketing, insurance… và các ngành management) thường nằm trong School of Business, hay còn gọi là B-school.
Nghiên cứu Economics đỉnh cao thường chú trọng vào theoretical. Cụ thể là các trường hàng đầu có nhiều công trình nghiên cứu về theoretical hơn là empirical. Đa số các công trình nghiên cứu được giải Nobel cũng là về theoretical economics. Trong khi đấy, nghiên cứu ở B-school thường chú trọng vào empirical nhiều hơn. Tiêu chí tuyển chọn của các khoa Economics và B-school cũng khác nhau. Nộp hồ sơ vào Economics cần thi GRE, còn B-school cần thi GMAT.
Thậm chí, người Mỹ còn phân biệt Economics và Agricultural & Resource Economics là hai khoa khác nhau, với các tiêu chí tuyển chọn khác nhau.
Một lẫn lộn khác thường thấy là giữa các nghiên cứu về economics policies của khoa Economics và của khoa Public policies/management. Các bài báo ở trên các tạp chí kinh tế của Việt nam, các báo cáo của World bank, IMF, báo cáo Lựa chọn thành công của nhóm Harvard Fulbright Việt nam đều không phải là các paper chuẩn mực về kinh tế. Đấy chỉ là các bản tóm tắt các kết quả nghiên cứu kinh tế, các đề xuất chính sách dựa trên kinh nghiệm và dự báo, đã lược bỏ rất nhiều các công cụ/kỹ thuật định lượng, bởi không cần thiết đối với các độc giả không chuyên.
2. Vai trò của định lượng trong nghiên cứu kinh tế. 

Kinh tế thường được xếp vào nhóm ngành social sciences, do đặc thù nghiên cứu về xã hội. Tuy nhiên, các tiêu chí tuyển chọn ở bậc sau đại học, phương pháp học và nghiên cứu kinh tế, có lẽ thiên về nhóm Engineering nhiều hơn.
Kinh tế không phải là ngành chú trọng ngôn ngữ mà thiên về toán và định lượng. Điểm ngôn ngữ admission vào các khoa kinh tế thường khá thấp, tối thiểu chỉ cần TOEFL 550PBT/213CBT, hoặc GRE verbal 300 trở lên (mặc dù để được nhận financial aid, bạn cần TOEFL 600/250 trở lên giống như mọi ngành khác). Trong 3 năm đầu tiên học coursework, phần định lượng, bao gồm các kỹ thuật toán và định lượng, mô hình hóa, lập và giải các hệ phương trình, chứng minh các định lý, bổ đề, chiếm khoảng 90% thời gian. Phần phân tích, bình luận định tính chỉ chiếm khoảng 10% thôi.
Số lượng paper bắt buộc phải đọc ở mỗi courses cũng khá ít, chỉ khoảng 8-10 paper cho mỗi học kỳ, (mặc dù danh sách paper đọc thêm cũng khá nhiều). Tuy nhiên, khối lượng các công cụ và kỹ thuật định lượng cần học để hiểu hết các paper rất lớn, cho nên các khoa kinh tế thường không đủ thời gian để chú trọng vào phần đọc và viết bình luận như nhiều ngành xã hội khác. Các nghiên cứu sinh thường phải tự hoàn thiện các kỹ năng này khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
Cũng chính vì tuyển chọn Phder thiên về khả năng định lượng, không cần kinh nghiệm làm việc, cho nên sinh viên trẻ, đầu 2x, chiếm đại đa số ở bậc Phd. Các khoa kinh tế cũng rất khuyến khích các sinh viên có background về math, physics và engineering chuyển sang học Phd, bởi họ cho rằng những người này có background vững về định lượng. Thông thường, số sinh viên này chiếm khoảng 50-70% ở bậc Phd về kinh tế ở mỗi khoa.
Có thể nói không ngoa rằng, độ khó và độ nặng về mặt định lượng của khoa kinh tế không hề thua kém bất kỳ ngành Engineering nào.
Đến đây một số người sẽ thắc mắc, tại sao nhiều người có background ở các ngành ít định lượng, (ví dụ như văn học, ngôn ngữ, lịch sử, hay âm nhạc, hội họa…) cũng có thể chuyển sang học Phd về kinh tế? Điều này có một số nguyên nhân:
+ Một số người có chỉ số IQ cao, có thể học tốt ở nhiều ngành hoàn toàn khác nhau. Vì lý do nào đó, họ chọn các ngành ít thiên về định lượng ở bậc đại học. Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ vào bậc Phd, hồ sơ của nhóm người này sẽ bị săm soi rất kỹ về năng lực toán học. Nếu thiếu nhiều các credit về toán hoặc các điểm đó không cao thì sẽ chắc chắn không thể có admission. Thông thường, những người có background ít các môn toán đều phải lấy thêm 1 số các credit về toán ở bậc đại học và/hoặc sau đại học, và phải chứng minh được năng lực toán của mình trên bảng điểm khi nộp hồ sơ Phd.
Một ví dụ thành công điển hình trong nhóm này là Robert Lucas. Ông này học đại học về lịch sử. Sau đó lấy thêm 1 số credit bậc under và grad về math ở Berkeley rồi vào học Phd Chicago. Cuối cùng, ông đoạt giải Nobel kinh tế năm 1995.
+ Tuy nhiên, admission mới chỉ là một nửa câu chuyện. Bậc Phd kinh tế thậm chí rất khác so với hình dung của những người có background đại học về kinh tế. Chính vì vậy, các khoa kinh tế còn có thêm 1 kỳ thi gọi là thi Prelim ở cuối năm thứ 1 để loại ra những người không phù hợp, bên cạnh kỳ thi Qualifying Exam (cuối năm 2, 3 hoặc 4 tùy theo quy định của từng trường). Kỳ thi prelim này thậm chí còn quan trọng hơn kỳ thi Q.E nhiều, do tính chất khốc liệt của nó (có thể loại từ 30-60% sinh viên Phd của khoa, tùy theo từng năm và từng trường). Năm đầu tiên, Phder về kinh tế thường học 7 courses. Các course này đều chú trọng bổ túc kiến thức về math và định lượng. Những người không có năng khiếu hoặc chưa chuẩn bị tốt các course về math sẽ khó có thể vượt qua được kỳ thi này.
+ Sau khi vượt qua năm thứ nhất, hai năm học coursework tiếp theo, sinh viên vẫn tiếp tục được bổ xung các phương pháp/kỹ thuật định lượng. Mặc dù tên các môn học là macro, micro, financial economics…nhưng nội dung chủ yếu được giảng dạy vẫn là các kỹ thuật định lượng và mô hình hóa. Sinh viên chỉ được giải thích về các khái niệm/thuật ngữ cơ bản để sử dụng trong quá trình mô hình hóa. (Nhiều khi, giáo sư cũng chẳng giải thích mà chỉ viết hệ phương trình lên bảng rồi giải ào ào. Sinh viên phải có nghĩa vụ tự tìm hiểu các khái niệm ấy). Các kiến thức thực tế về kinh tế vỹ mô, vi mô, tài chính, phát triển…hầu như không được giảng, hoặc chỉ được giảng rất ít, trong quá trình học. Sinh viên Phd phải tự đọc khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
+ Cuối cùng là khác với các ngành Engineering, có thể bắt tay vào research ngay từ năm thứ 1, sinh viên Phd Economics hầu như chỉ bắt đầu research từ năm thứ 3, sau khi đã học gần xong các công cụ/kỹ thuật định lượng. Ngoài ra, số courses bắt buộc đối với 1 Phd về kinh tế thường cũng nhiều hơn các ngành Engineering. Đấy là lý do vì sao các sinh viên có background yếu về định lượng vẫn có thể theo học Phd về kinh tế.
Các bạn có thể xem các G.S Athey và G.S Mankiw nói về lý do cần chú trọng math trong kinh tế:http://kuznets.harvard.edu/~athey/imagineart.html hoặc http://gregmankiw.blogspot.com/2006/…need-math.html
Các môn toán ở bậc đại học mà sinh viên VN cần nắm vững trước khi nộp hồ sơ Phd kinh tế là: đại số tuyến tính, quy hoạch tuyến tích, phương trình vi phân/phương trình đạo hàm riêng, giải tích số & hàm, hình giải tích, xác xuất & thống kê, giải tích lồi, và ở bậc sau đại học là giải tích thực, giới thiệu nhập môn về topo và lý thuyết trò chơi (nếu có thể).
Ngoài ra, hai cuốn sách có thể tham khảo là Fundamental Methods of Mathematical Economics, của Alpha Chang và Mathematics for Economists của Carl P. Simon and Lawrence Blume.
Yêu cầu tối thiểu về năng lực toán của mỗi trường mỗi khác, (Yêu cầu của Harvard hẳn là khác với trường rank 50 và càng khác với trường rank 100). Tuy nhiên, khối lượng chương trình học Phd khá nặng, nếu các bạn có thể chuẩn bị trước được các courses này trước khi vào học Phd thì sẽ tốt hơn nhiều. Ngay cả các giáo sư hàng đầu của Mỹ thời đi học cũng thường chuẩn bị như vậy.
Năng lực toán chỉ là điều kiện cần, không đủ để đảm bảo thành công trong nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhấn mạnh việc chuẩn bị tốt các kiến thức toán bởi tôi từng biết nhiều sinh viên VN đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học Phd Econ.
Ngoài ra, không phải vô lý mà đa số các giải Nobel kinh tế được trao cho những người đã từng có background về toán (BA/MA/PHD). Ở bài trước tôi đã từng viết, những paper nghèo về mặt định lượng cũng có thể xuất hiện trên các top journal về kinh tế. Tuy nhiên, đó phải là các paper mang tính đột phá, đặt nền móng cho một nhánh nghiên cứu hoàn toàn mới hoặc cho một ngành kinh tế mới. Có nghĩa là yêu cầu cao hơn đối với các paper thiên về định lượng.
II/ Xếp hạng các chương trình Kinh Tế học 

Có rất nhiều bảng xếp hạng khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tựu chung thường có hai cách đánh giá. Cách thứ nhất là xếp hạng dựa vào các bài báo mà mỗi khoa/viện kinh tế đăng báo (ranking based on publication capacity). Cách thứ hai là dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào được những khoa/viện kinh tế hàng đầu (ranking based on PhD placements).
Cả hai phương pháp này đều có những thiếu sót.
Đối với phương pháp dựa vào số bài báo đăng, có những khoa kinh tế không có nhiều giáo sư thật sự xuất sắc nhưng nhờ có số lượng giáo sư nhiều nên dẫn đến số lượng bài báo đăng nhiều, xếp hạng cao hơn một số khoa khác mặc dù có ít giáo sư hơn nhưng chất lượng giáo sư cao hơn hẳn. Một ví dụ khác đó là khi mà các trường nằm cạnh nhau và các khoa kinh tế của các trường cùng hợp tác để hướng dẫn chương trình nghiên cứu sinh thì xếp hạng này càng khập khiễng vì nó chỉ xếp hạng từng trường riêng rẽ. Ví dụ như Stockholm Doctoral Program in Economics do hai trường Stockholm University và Stockholm School of Economics hợp tác hoặc Berlin Doctoral Program in Economics and Management Science do một nhóm trường đại học ở Berlin hợp tác.
Tương tự, đối với phương pháp xếp hạng dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào những khoa/viện kinh tế hàng đầu, có những khoa kinh tế thật sự xuất sắc ở một lĩnh vực nhỏ và do đó có một vị trí tốt trên bảng xếp hạng. Ví dụ trong bài báo “Ranking Economics Departments Worldwide based on the basis of PhD Placement” của Rabah Amir và Malgorzata Knauff năm 2005, Pennsylvania State University có một ví trí khá cao, hơn hẳn Columbia University và New York University, nhưng lĩnh vực kinh tế vĩ mô của khoa kinh tế Pennsylvania State University rất yếu (vào thời điểm năm 2009) so với Columbia University và New York University.
Ngoài ra, môi trường học thuật của một trường đại học rất quan trọng. Những trường có những khoa kinh tế nhỏ nhưng chất lượng có giá trị hơn là những trường có số lượng giáo sư đồ sộ nhưng không ai thật sự xuất sắc.
Những bảng xếp hạng đáng tin cậy và nên tham khảo đó là:
– Economics của US News & World Reports.
– Rankings at IDEAS.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với một nghiên cứu sinh đó là người hướng dẫn. Do đó, sau khi xem xét sơ các bảng xếp hạng, bạn hãy chọn một danh sách các trường nhắm vào, sau đó vào từng trang web của trường để xem CV của từng giáo sư, nếu có thời gian xem luôn vị trí mà các sinh viên sau khi tốt nghiệp từ trường nhận được là gì (placement). Khả năng đăng được các bài báo ở các tạp chí hàng đầu nói lên trình độ của giáo sư. Vị trí mà các giáo sư đã từng nắm giữ cũng rất quan trọng; một giáo sư từng giữ vị trí cố vấn chính phủ hay các định chế quốc tế như IMF hay World Bank thường có kinh nghiệm dồi dào, và quen biết rộng (rất có ích khi bạn ra trường và cần một thư giới thiệu).
Khi nộp đơn bạn nên chọn ra một danh sách các trường gồm 3 loại:
– Trường trong tầm tay.
– Trường xa tầm tay một chút.
– Trường chắc chắn vào được.
III/ Một số vấn đề cần lưu ý khi nộp hồ sơ

Ngoài quy trình nộp hồ sơ hệ sau đại học dành chung đối với sinh viên Việt Nam nộp hồ sơ tới các trường đại học Mỹ theo chương trình Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ, một số vấn đề khác trong quá trình nộp hồ sơ ngành kinh tế học cũng cần lưu ý.
1. Các môn học cần chú trọng ở hệ đại học 

Các trường quan tâm nhiều hơn đến việc bạn đã học và vượt trội trong các môn học khó như thế nào hơn là điểm GPA nói chung. Bạn nên đề cập tới trong SOP của mình vì các trường sẽ không thể biết được các lớp toán như thế nào, và lớp nào là lớp nâng cao vv. Môn phân tích cũng là một điểm quan trọng mà bạn nên đề cập trong hồ sơ, vì nó đòi hỏi bạn cần có những chứng minh logic và có tính quy chuẩn. Thông thường các ứng viên nặng kí là những người có điểm mạnh gì đó, ví dụ như giỏi toán hoặc có luận văn xuất sắc, có bài nghiên cứu nổi bật. Một số điểm thấp trong năm đầu sẽ không làm hồ sơ của bạn kém đi nếu như bạn học tốt trong các lớp nâng cao trong các năm sau đó.
2. Thư giới thiệu 

Một lá thư giới thiệu tốt nhất là từ các nhà kinh tế học có liên hệ với trường mà bạn đang nộp hồ sơ. Tuy nhiên, một lá thư giới thiệu từ người mà bạn đã làm việc cùng sau khi tốt nghiệp đại học cũng rất hữu ích để đề cập đến sự trưởng thành và thái độ làm việc của bạn vv. Nếu bạn không có mối quan hệ nào với các giáo sư kinh tế (ví dụ bạn là sinh viên ngành toán) hoặc nếu bạn học ở một trường đại học mà không có người nào trong khoa của bạn có mối liên hệ với các chương trình PhD hàng đầu, bạn vẫn có cơ hội được nhận (admission) nếu như các phần khác trong hồ sơ của bạn thực sự nổi trội. Điểm GRE, điểm học các môn nặng về toán, và essay được chú trọng nhiều hơn và nên cố gắng để hội đồng tuyển sinh đánh giá đúng các yếu tố đó của bạn. Một lá thư giới thiệu tốt nên có sự so sánh giữa bạn với các sinh viên khác trong các chương trình cao học hàng đầu, ví dụ để xin học được ở Harvard hay MIT, lá thư giới thiệu cần phải chỉ rõ bạn khác biệt như thế nào so với các sinh viên đã học và thành công trong các chương trình này. Đối với sinh viên quốc tế, việc đánh giá bảng điểm trở nên khó khăn hơn, vì vậy các so sánh này càng phải chú trọng. Các câu nhận xét cần đề cập một cách cụ thể như là so sánh khả năng phân tích, học các môn học, chất lượng luận văn …
3. Bài luận

Trong hồ sơ xin học, việc đề cập đến lĩnh vực kinh tế mà bạn quan tâm, và các bài báo mà bạn đã đọc rất quan trọng. Cố gắng càng chi tiết càng tốt. Bạn cũng có thể đề cập đến luận văn hoặc là kinh nghiệm nghiên cứu của mình. Không cần thiết phải có một đề xuất nghiên cứu cụ thể nào đó, đặc biệt khi bạn cũng không thực sự có ý tưởng gì cụ thể nhưng lại thể hiện trong hồ sơ một cách ngây ngô. Phần lớn các trường chỉ đọc những phần này để xem bạn quan tâm đến lĩnh vực nào và có ý niệm liệu bạn thực sự muốn đi sâu vào lĩnh vực nào. Vì vậy bạn cần đề cập một cách thông minh về đề tài mình quan tâm để tỏ ra là bạn hiểu biết một chút gì đó về lĩnh vực nghiên cứu sắp tới.

4. GRE 

Điểm phần qualitative của GRE khá quan trọng vì vậy bạn cần chú trọng khi ôn thi hơn, đặc biệt đối với những bạn không phải chuyên ngành kinh tế ở hệ đại học.
5. Liên hệ giáo sư 

Bạn không nên liên hệ giáo sư tại trường mà bạn nộp hồ sơ tới trước khi có chấp nhận học (admission). Việc tìm hiểu về advisor cũng rất quan trọng vì đây là người ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình nghiên cứu học tập và tương lai công việc của bạn sau này.

IV/ Học bổng và các nguồn hỗ trợ tài chính 

Chương trình học bổng Fulbright: vietnam.usembassy.gov/fulbright.html
Học bổng assistantship cho chương trình Master’s:

  1. University of Cincinnati.
  2. University of New Hampshire
  3. Northeastern University.
  4. Northern Illinois Univ
  5. Portland State University
  6. Wright State University

V/ Một số điều cần lưu ý trong quá trình học tập 

1. Tìm chủ đề nghiên cứu 

Thông thường, một sinh viên PhD Econ cần có 3 working papers, trước khi có thể bắt tay vào viết dissertation. Dưới đây là hướng dẫn của G.S Don Davis về tìm chủ đề cho paper và dissertation (cho cả theoretical và empirical research).
www.columbia.edu/~drd28/Thesis%20Research.pdf
2. Phương pháp học và chuẩn bị cho các kì thi 

Chương trình Phd kinh tế của các trường ở Mỹ khá khắc nghiệt, không chỉ do khối lượng chương trình học mà còn do các kỳ thi Prelim (năm thứ 1) và Q.E năm (thứ 2 hoặc 3 tùy theo quy định của từng trường). Tất cả các sinh viên trong khoa đều phải tham dự kỳ thi prelim cùng một lúc và với nội dung giống nhau, bất kể mỗi người trong số họ dự định theo đuổi hướng nghiên cứu nào sau đó.
Matthew Pearson nêu một số kinh nghiệm để tồn tại ở bậc PhD và hướng dẫn chuẩn bị cho các kỳ thi lớn. Ngoài ra G.S Hal Varian và Jonathan Shewchuk nêu các kinh nghiệm xây dựng các mô hình kinh tế và chuẩn bị academic talks.
www.econphd.net/downloads/mp_surv.pdf
people.ischool.berkeley.edu/~hal/Papers/how.pdf
3. Viết paper 

G.S Cochrane hướng dẫn rất tỉ mỉ cách viết paper trong khi G.S Kremer bổ xung một danh sách những điều cần lưu ý trong quá trình viết.
http://faculty.chicagobooth.edu/john…er_writing.pdf
http://www.economics.harvard.edu/fac…/checklist.pdf
4. Đăng bài trên các tạp chí chuyên ngành 

Paper đăng trên Top Journal có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xin việc làm và xét duyệt tenure. Thời hạn trung bình để được đăng một bài báo thuộc ngành kinh tế trên Top Journal cũng khá dài so với nhiều ngành khác. (Trung bình từ khi nộp đến khi bài được đăng là 3 năm. Trong khi mỗi assistant prof phải đăng tối thiểu 1-4 bài, tùy theo quy định của từng trường. Và thời gian cho phép họ đăng đủ số bài để được nhận tenure là khoảng 6 năm). Bởi vậy sức ép lên các assistant prof khá nặng nề. Các sinh viên PhD còn đang ngồi trên ghế nhà trường cũng phải chuẩn bị đăng bài từ rất sớm, nếu như họ muốn theo đuổi nghiệp nghiên cứu sau khi tốt nghiệp.
Prof Kwan Choi hướng dẫn đăng bài trên Top Journal.
http://www.roie.org/howi.htm

VI/ Chuẩn bị tốt nghiệp và tìm việc làm 

G.S Cawley và Laibson hướng dẫn về quảng cáo thông tin tìm việc, phỏng vấn tìm việc làm ở Mỹ cho các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp PhD:
http://www.economics.harvard.edu/files/LaibsonNotes.pdf
http://www.aeaweb.org/joe/articles/2003/cawley_2003.pdf
Các bạn cũng có thể tìm thấy trên trang của NBER, hồ sơ của rất nhiều các PhD candidate đang là đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường việc làm.
http://www.nber.org/candidates/
VII/ Một số lời khuyên dành cho các bạn khi xin học ngành Kinh tế học tại Mỹ 

FAQ?
General Advice From Current Economics PhD Students To Eager Undergrads
How do you set yourself apart from the pack when applying to grad schools.
Some answers to the “set yourself apart” question from current PhD students
How many grad schools should you apply to and how do you choose which schools.
Some answers to the “How Many” question from current PhD students.http://dinhvutrangngan.com/advice.htmlhttp://dinhvutrangngan.com/teaching… for Applying to Grad School in Economics.pdf Website:
http://www.urch.com/forums/phd-economics/
[1]www.econphd.net/
The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 1969-2006
nobelprize.org/nobel_prizes/economics/articles/lindbeck/index.html
Prof Dan Hamermesh cũng cho một số lời khuyên chung về các vấn đề đã nêu ở các mục trên.
http://www.eco.utexas.edu/faculty/Ha…conomists.html

Tìm hiểu về học Luật tại Mỹ – Master of Law in the USA

LAW – NGÀNH LUẬT

I/ Giới thiệu ngành luật tại Mỹ 

Khác với ở Việt Nam, học luật tại Mỹ là ngành học sau đại học tức là bạn cần có một bằng đại học thuộc bất kỳ ngành học nào trước khi được nhận vào học luật tại các trường ở Mỹ.
Cấp học cơ bản nhất của ngành luật tại Mỹ là Juris Doctor hay JD kéo dài trong 3 năm học. JD là chương trình học dành cho những người muốn hành nghề luật tại Mỹ nên nội dung chương trình học về luật Mỹ. Sau khi tốt nghiệp JD, để hành nghề luật tại Mỹ bạn sẽ thi vào một đoàn luật sư nào đó và có được chứng chỉ hành nghề. (Chỉ có các sinh viên tốt nghiệp JD từ các trường luật được Hiệp Hội Đoàn Luật Sư Mỹ (American Bar Association: http://www.abanet.org/legaled/approvedlawschools/alpha.html) công nhận mới được thi vào đoàn luật sư). Như vậy thời gian học luật ở Mỹ từ sau tốt nghiệp cấp 3 đến khi có thể được phép hành nghề tối thiểu là 7 năm.
Sau khi hoàn thành JD, nếu muốn học chuyên sâu về một lĩnh vực luật nhất định, bạn có thể xin học khóa Master of Law hay LL.M trong 1 năm tương đương với bằng thạc sĩ luật ở Việt Nam. Vì bằng JD đã đủ để hành nghề luật tại Mỹ nên thường sinh viên luật của Mỹ rất ít người theo học tiếp LL.M. Các khóa LL.M của các trường thường được xây dựng cho các sinh viên quốc tế mà sau khi tốt nghiệp sẽ về nước hành nghề nhưng muốn có những kiến thức chuyên sâu nhất định về luật Mỹ và luật quốc tế. Bằng luật ở Việt Nam hay Bachelor of Law được các trường luật tại Mỹ chấp nhận để học chương trình LL.M. Ngoài ra trường hợp bạn không có bằng cử nhân luật nhưng học chuyên ngành luật trong trường đại học và có kinh nghiệm làm việc về lĩnh vực này tại Việt Nam thì nhiều trường ở Mỹ cũng đồng ý cho bạn học LL.M.
Đối với những người muốn học sâu hơn để làm công tác nghiên cứu và giảng dạy thì có các khóa Doctor of Juridical Science hay S.J.D(hoặc J.S.D.). Để được nhận vào học S.J.D bạn cần hoàn thành xong JD và LL.M.
II/ Xếp hạng các trường đại học luật ở Mỹ năm 2008 

Đây là xếp hạng các trường luật tại Mỹ do trang web xếp hạng uy tín Usnews thực hiện
http://www.top-law-schools.com/rankings.html
III/ Hồ sơ xin học và một số gợi ý làm hồ sơ 

1. Tài liệu cơ bản:

Để xin học luật tại các trường đại học của Mỹ ở bất kỳ bậc học nào bạn đều cần các tài liệu sau:

  • Chứng chỉ tiếng Anh: Đa số các trường đại học của Mỹ chỉ chấp nhận chứng chỉ TOEFL nhưng có một số trường chấp nhận chứng chỉ IELTS. Bạn có thể viết thư hoặc liên hệ trước với trường để hỏi về việc chấp nhận chứng chỉ IELTS. Điểm TOEFL tối thiểu cần có để học luật là 600 paper-based hoặc 100 Internet – based. Điểm IELTS tối thiểu cần đạt được là 7.0.
  • Application form: Bạn vào website của trường và download trực tiếp từ các website đó.
  • Resume: Một bản lý lịch bản thân ngắn gọn nêu quá trình học tập và làm việc của bạn.
  • Personal statement/Statement of purpose: Một bài viết dưới dạng tự luận trong đó bạn cần nêu được các thông tin chưa có trong Resume nhưng bạn muốn trường biết để hiểu thêm về bạn. Bạn nên tìm hiểu các yêu cầu và văn hóa của từng trường cũng như các yêu cầu cần có của một sinh viên luật và một luật sư để bài viết của mình thể hiện được rằng bạn đáp ứng được các yêu cầu đó và có thể đóng góp cho trường trong quá trình học tập. Ngoài ra, bạn cũng cần tập trung vào cấu trúc, ngôn ngữ và cách thể hiện của bài viết vì với một sinh viên luật, kỹ năng viết và lập luận là hết sức quan trọng. Bạn có thể tham khảo các hướng dẫn về cách viết Personal Statements tại đây:http://www.top-law-schools.com/statement.htm. Tuy nhiên cũng có một số trường yêu cầu bạn viết tự thuật về bản thân theo một form với các nội dung nhất định do trường đưa ra.
  • Letters of Recommendation: Thư giới thiệu của các giáo sư đã từng dạy bạn tại các trường đại học hoặc những người làm việc gần gũi với bạn tại cơ quan. Bạn sẽ cần tối thiểu 2 thư giới thiệu và các trường đều khuyến khích các thư giới thiệu của các giáo sư đã từng giảng dạy bạn. Trường hợp bạn đã ra trường nhiều năm thì có thể có thư giới thiệu của cơ quan. Khi yêu cầu người viết thư giới thiệu cho mình, bạn cần quan tâm đến hai vấn đề: 1 – Uy tín của người giới thiệu (thày cô giáo hiệu trưởng, hiệu phó, trưởng khoa của bạn hoặc những thày cô đã từng có kinh nghiệm học tập, làm việc hoặc am hiểu về các truờng tại Mỹ, hoặc những người senior trong cơ quan) và 2 – Khả năng những người đó hiểu được bạn, đánh giá đúng bạn và tạo điều kiện cho bạn. Bạn có thể tham khảo các hướng dẫn về letters of recommendation tại đây: http://www.top-law-schools.com/letters-of-recommendation.html.
  • Các tài liệu bổ trợ như: Bảng điểm (transcript) đã được dịch ra tiếng Anh, được công chứng hoặc có dấu của trường đại học của bạn…
  • Financial guarantee: Nếu sau khi được nhận vào học tại trường và không có học bổng toàn phần (bao gồm cả học phí và chi phí ăn ở) để có được giấy nhận học chính thức bạn sẽ cần nộp thêm một bản chứng minh tài chính trong đó thể hiện bạn có đủ khả năng tài chính cho suốt quá trình học của mình.

2. Đối với học JD.

Để xin học JD, bạn cần trải qua kỳ thi LSAT, là kỳ thi bắt buộc đối với các sinh viên muốn học JD tại các trường đại học luật của Mỹ do Law School Admission Council (LSAC: http://www.lsac.org/index.asp) của Mỹ tổ chức. LSAT được xây dựng để đánh giá khả năng đọc hiểu và lập luận của bạn. Các thông tin chi tiết về LSAT và bài thi mẫu các bạn tham khảo tại website chính thức của LSAC:http://www.lsac.org/LSAT/about-the-lsat.asp.
3. Đối với học LLM.

Để xin học LLM, bạn không cần phải thi LSAT nhưng ngoài các tài liệu cơ bản nêu ở phần 3.1, một số trường còn yêu cầu bạn viết các bài luận với các chủ đề nhất định để gửi kèm hồ sơ. Một số trường có thể yêu cầu bạn chuẩn bị một nghiên cứu nhỏ (Research proposal) thể hiện dưới dạng tóm tắt về một vấn đề luật nhất định do bạn tự lựa chọn.
4. Đối với học SJD

Để xin học SJD, bạn cần có bằng JD của Mỹ (hoặc bằng Luật tương đương ở nước ngoài) và bằng LLM (với kết quả học tập tốt nhất có thể) từ các trường Luật đã được công nhận tại Mỹ. Một số trường như Harvard, Yale, Stanford, Cornell … về căn bản chỉ xét duyệt hồ sơ của các ứng viên tốt nghiệp LLM từ chính trường của họ. Một số trường khác (University of Pennsylvania) chấp nhận xét duyệt hồ sơ của các ứng cử viên tốt nghiệp LLM từ các trường khác, với điều kiện các trường ấy phải là những trường luật hàng đầu tại Mỹ. Nên chú ý rằng chương trình SJD chỉ có ở một số trường luật hàng đầu và không phải trường luật hàng đầu nào cũng tuyển sinh viên SJD (Georgetown, Northwestern, Virginia, Texas Austin, Boston… đều là những trường luật có tiếng nhưng không có chương trình SJD). Trong số ít những trường có SJD, một số chỉ tuyển ứng viên cho vài lĩnh vực nghiên cứu cụ thể.
Một trong những nội dung quan trọng nhất của hồ sơ dự tuyển là bản đề cương luận án (Dissertation Proposal) dài khoảng từ 5,000 đến 10,000 từ tùy theo quy định của từng trường. Về cơ bản, đề cương này phải giới thiệu được vấn đề bạn sẽ nghiên cứu trong quá trình học SJD, các luận điểm chính trong nghiên cứu của bạn, phương pháp nghiên cứu, dự đoán các khó khăn sẽ gặp phải trong quá trình nghiên cứu, tổng kết và đánh giá toàn bộ các công trình nghiên cứu và xuất bản khác từng viết về đề tài liên quan và nêu bật nghiên cứu của bạn sẽ khác với các công trình ấy như thế nào; quan trọng nhất là bạn chỉ ra được kết quả của luận án của bạn sẽ là những đóng góp độc đáo (original contribution) đối với lĩnh vực cụ thể mà bạn đang nghiên cứu. Một số trường đòi hỏi bạn phải nộp cả một bản thảo của một chương nhất định trong nghiên cứu của bạn. Các chương trình SJD thông thường chỉ nhận từ 1-2 ứng cứ viên mỗi năm, vì vậy hãy chứng tỏ tính độc đáo trong nghiên cứu của bạn và chỉ rõ những đóng góp của bạn qua công trình nghiên cứu của mình.
Một số trường yêu cầu bạn nộp một bài viết mẫu (writing sample) mà bạn thấy ưng ý. Đa số các trường đều yêu cầu bạn phải tự liên hệ với giáo sư của trường và nhận được sự chấp thuận của giáo sư sẽ hướng dẫn bạn trong thời gian bạn theo học chương trình SJD trước khi nộp đơn để trường xem xét.
IV/ Cách thức nộp hồ sơ 

1. Đối với học JD.

Khi bạn nộp hồ sơ xin học JD hầu hết các trường đều yêu cầu bạn nộp hồ sơ qua Law School Data Assembly Service (LSDAS:http://www.lsac.org/Applying/lsdas-general-information.asp) của LSAC. LSDAS sẽ nhận toàn bộ hồ sơ của bạn, tập hợp, xử lý thông tin và gửi các thông tin cần thiết về trường mà bạn xin học.
2. Đối với học LL.M và S.J.D

Các sinh viên xin học hai khóa học này sẽ nộp trực tiếp hồ sơ cho trường theo hình thức gửi qua bưu điện hoặc gửi bằng hệ thống online tùy từng trường.
V/ Nội dung chương trình học 

1. Chương trình JD

Chương trình học JD kéo dài trong 3 năm full-time hoặc 4 năm part-time. Trong năm đầu tiên, sinh viên sẽ học các lớp về các kỹ năng nghiên cứu, viết và lập luận cũng như các môn luật bắt buộc về các ngành luật cơ bản nhất của hệ thống luật Mỹ như dân sự, hình sự, hiến pháp, hợp đồng, tài sản và quyền sở hữu và bồi thường trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trong các năm thứ 2 và thứ 3 sinh viên có thể lựa chọn những môn học về các ngành luật khác nhau mà mình quan tâm.
Trong các năm thứ 2 và thứ 3, sinh viên sẽ có cơ hội để tham gia thực hành các kiến thức của mình thông qua các hoạt động như diễn án, soạn thảo luật, tham gia vào các phiên tòa v.v…
Sự khác biệt lớn trong việc dạy và học luật ở Mỹ và ở Việt Nam thể hiện ở hai điểm:

  • Phương pháp học Case-method: Thay vì học các văn bản luật thành văn như ở Việt Nam, các sinh viên trong các trường của Mỹ sẽ tìm hiểu các quy tắc của luật thông qua rất nhiều các vụ việc và phán quyết đã có của tòa án với mục đích giúp cho sinh viên hiểu được sâu sắc cách thức áp dụng các quy tắc này trong các vụ việc khác nhau và từ đó có thể biết được cách xử lý với các trường hợp khác sẽ gặp trong thực tế. Cách học này đòi hỏi ở sinh viên nỗ lực tự học và tự nghiên cứu và các giờ học thường là các buổi thảo luận rất thú vị trong đó các giáo sư thường chỉ đóng vai trò là người điều khiển và khuyến khích sự tranh luận của sinh viên.
  • Yêu cầu rất cao về khả năng tư duy: Khả năng tư duy logic được đặt lên hàng đầu trong việc đánh giá sinh viên tại các trường luật của Mỹ. Mục đích cuối cùng của việc dạy và học luật không phải là nhớ và thuộc các điều luật mà nhằm dạy cách “tư duy như một luật sư” (thinking like a lawyer) với yêu cầu cao về khả năng phân tích và lập luận của sinh viên.

2. Chương trình LLM

Chương trình LL.M kéo dài trong một năm với hai kỳ. Tùy trường, nội dung chương trình có thể có những môn bắt buộc như lớp dạy kỹ năng luật sư (legal writing & legal research), lớp giới thiệu hệ thống luật pháp của Mỹ, v.v. Ngoài ra có những chương trình thạc sỹ chuyên sâu về một ngành thường yêu cầu học một số lớp trong lĩnh vực chuyên môn hay những lĩnh vực liên quan. Mỗi trường có yêu cầu khác nhau về số tín chỉ (credit hours) cần thiết để tốt nghiệp, thường 20-30 tín chỉ (mỗi môn tương đương từ 3-5 tín chỉ).
Một số trường cũng yêu cầu sinh viên viết luận văn tốt nghiệp.
3. Chương trình SJD

Chương trình SJD thường không quy định quá chặt chẽ về thời gian tốt nghiệp, điều này phụ thuộc vào tiến độ học tập và nghiên cứu của bạn, mặc dù đa số các trường đều yêu cầu bạn hoàn thành luận án trước năm năm. Một số ít trường xem ba năm là con số chuẩn và khuyến khích (nhưng không bắt buộc). Thông thường, năm đầu tiên sẽ là thời gian dành cho việc lên lớp (coursework). Năm thứ hai là thời gian bạn bắt đầu nghiên cứu và tham gia vào các hội thảo để bắt đầu giới thiệu nghiên cứu của mình. Năm thứ ba thường là thời gian hoàn thành bản thảo luận án, và nếu được thông qua, bảo vệ luận án trước Hội đồng luận án SJD. Một số trường yêu cầu bạn phải trải qua một kỳ thi sau khi kết thúc năm đầu tiên để chính thức xem xét chấp thuận bạn là một nghiên cứu sinh và cho phép bạn tiến hành nghiên cứu luận án. Một số khác không có quy định này, nhưng yêu cầu bạn phải nộp các bài viết nghiên cứu và báo cáo cụ thể ở mỗi giai đoạn để trường xét duyệt và thông qua.
VI/ Học phí và các nguồn hỗ trợ tài chính 

Học phí của một năm học từ 35.000$ – 50.000$.
Việc xin được học bổng toàn phần để học luật ở Mỹ là tương đối khó so với các ngành khác đặc biệt là bậc học J.D. Để trang trải cho việc học tập và sinh hoạt trong quá trình học bạn có thể có các nguồn tài chính sau:

  • Tự túc: bố mẹ, gia đình, bản thân, vay ngân hàng…
  • Trường luật: Các trường luật ở Mỹ thường có các quỹ hỗ trợ tài chính cho sinh viên hoặc trao các học bổng (một phần hoặc đôi khi toàn phần) cho sinh viên dựa trên thành tích học tập và nhu cầu tài chính của từng sinh viên. Các trường cũng có chương trình Teaching Assistantship hoặc Research Assistantship cho sinh viên theo đó sinh viên quốc tế được nhận vào các chương trình này sẽ được đóng học phí như sinh viên Mỹ (tức là tiền học phí sẽ giảm đi một nửa) và nhận một khoản tiền làm việc theo giờ nhất định). Ngoài ra, các trường đều có chính sách cho sinh viên vay tiền để học. Bạn nên nghiên cứu các thông tin về hỗ trợ tài chính trên các website của trường.
  • Một số học bổng LLM của các trường:
  • Freeman Foundation (UHawaii):

http://www.hawaii.edu/law/fileadmin/page_file_mounts/llm_international/Freeman_Foundation-flyer.pdf

  • American University’s Washington College of Law (WCL):

http://www.wcl.american.edu/ilsp/llm_scholarships.cfm

VII/ Một số lời khuyên cho bạn khi xin học luật tại Mỹ 

  • Bạn nên tìm cách liên hệ trước với các giáo sư trong các trường đại học luật để có được sự hỗ trợ từ các giáo sư trong quá trình nộp hồ sơ xin học vì hầu hết các giáo sư luật này đều là những người trong các ban tuyển sinh của trường. Để có được các contacts với các giáo sư bạn có thể thông qua các cách thức sau: Tham gia các hội thảo của khoa hay của trường có các giáo sư nước ngoài tham dự, tham gia các công việc hoặc hoạt động trong lĩnh vực luật có các giáo sư hoặc luật sư nước ngoài có thể giới thiệu các contacts cho bạn, tham khảo từ thày cô, bạn bè đã từng học luật ở Mỹ hoặc thậm chí có thể viết thư trực tiếp đến các địa chỉ email của các giáo sư để trên website của trường.
  • Bạn nên có các liên hệ với những người có uy tín đã từng học trong các trường luật của Mỹ hoặc tốt hơn là những người từng học tại trường mà bạn đang xin học (alumni của trường) vì như vậy bạn có thể có cơ hội xin được thư giới thiệu uy tín cũng như các hỗ trợ về mặt kinh nghiệm xin học cũng như học tập tại trường.

Tìm hiểu về Master of Public Affairs

Khi mọi người hỏi tôi học ngành gì, tôi trả lời là tôi học “Public Affairs”. Có rất nhiều người không hiểu học Public Affairs là học cái gì và sau này làm gì? Bài viết này nhằm giải đáp câu hỏi trên. Mục đích của bài viết để tránh mọi người hiểu lầm là học “Public Affairs” là về làm nhà nước, làm công tác tiếp dân. Đồng thời, bài viết cũng cung cấp thông tin cho các bạn dự định đăng ký học Master in Public Affairs có một cái hiểu đầy đủ về ngành học để có thể lựa chọn phân ngành dựa vào năng lực, kinh nghiệm và sở thích của mình.
Master in Public Affairs được chia thành 3 phân ngành chính:

  • Public Administration/Management
  • Public Policy
  • Nonprofit Management

Ở một số trường đại học của Mỹ, ba phân ngành này được phân tách khá rõ. Một số trường thì chuyên đào tạo về 1 trong 3 phân ngành. Một số trường khác thì đạo tạo cả ba phân ngành, sinh viên sẽ được lựa chọn phân ngành mà họ muốn. Như vậy, khi đăng ký vào một trường nào đó, điều quan trọng là bạn phải nghiên cứu chương trình giảng dạy của trường để xem các môn học có thực sự là những cái bạn muốn học không. Vì cùng ngành học Public Policy, có trường dạy môn này, có trường dạy môn khác. Do đó, đừng có nhìn vào cái tên mà lựa chọn vội vàng, tránh tình trạng “treo đầu dê, bán thịt chó”.

Vậy đâu là sự khác biệt của 3 phân ngành trên:

  • Public Administration/Management: được dịch ra là “Quản trị công hay Quản lý công”. Ngành học này sẽ đào tạo ra những người làm công tác quản lý tại các cơ quan của nhà nước. Làm quản lý là làm cái gì? Tức là làm quản lý về nhân sự, về tài chính, về kế hoạch của một cơ quan nhà nước. Làm quản lý xét ở khía cạnh nào đó thì là làm sếp, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn sẽ là lãnh đạo, vì để trở thành lãnh đạo, bạn cần phải có một số yếu tố khác nữa. Chính vì lẽ đó mà ở một số trường dạy Public Administration có dạy một môn gọi là Leadership. Các môn học bắt buộc với ngành Public Administration là quản trị nhân sự, quản lý tài chính, quản lý dự án. Như vậy, thì nếu MBA đào tạo nhà quản lý ở các doanh nghiệp, thì MPA đào tạo nhà quản lý ở các cơ quan của chính phủ.

 

  • Public Policy: được dịch ra là “Chính sách công”. Ngành này đào tạo ra những cán bộ làm chính sách. Bao gồm thiết kế chính sách, phân tích chính sách và đánh giá chính sách. Công việc thiết kế chính sách là công việc của lập pháp, giống như hoạt động của Quốc hội. Họ sử dụng các công cụ nghiên cứu để thiết kế một chính sách cụ thể nào đó. Còn công việc phân tích chính sách là công việc sử dụng các công cụ nghiên cứu để phân tích xem chính sách đó sẽ có tác động đến xã hội như thế nào? Cần bao nhiêu kinh phí? Bao nhiêu năm để thực hiện? Còn đánh giá chính sách, là một công việc sử dụng công cụ phân tích như thống kê, xác suất để đánh giá hiệu quả của một dự án, tác động của nó đối với xã hội về mặt kinh tế, văn hóa, chính trị….vv Như bạn có thể thấy, ngành Public Policy sử dụng rất nhiều các công cụ phân tích, do đó các môn học bắt buộc của phân ngành này là kinh tế vi mô, vĩ mô, xác suất, thống kê, các công cụ đánh giá khác.

 

  • Nonprofit Management: được dịch ra là “Quản lý Phi chính phủ”. Ngành học này sẽ đào tạo ra những người làm công tác quản lý tại các tổ chức phi chính phủ. Để hiểu tổ chức phi chính phủ là tổ chức như thế nào? hoạt động ở những lĩnh vực gì? nguồn vốn ở đâu? vv…xin các bạn đọc bài viết của mình ở địa chỉ http://tranngocthinh.wordpress.com/2009/07/17/pcp-ngo-august-30-2007/.<span> </span>

Ở các nước phát triển, thì tổ chức phi chính phủ rất phổ biến, còn ở Việt Nam thì tổ chức phi chính phủ còn bị hạn chế do xã hội dân sự ở Việt Nam mới bắt đầu manh nha. Các tổ chức phi chính phủ là một loại hình tổ chức có những đặc điểm riêng biệt, do đó khâu quản lý cũng có những đặc thù riêng. Tuy là ngành mới có, nhưng đang phát triển mạnh mẽ với nhiều lợi thế cạnh tranh. Xem thêm ở bài viết trên.

Hiện nay, ba trụ cột chính trong xã hội hiện đại là Chính Phủ – Doanh Nghiệp – Xã Hội Dân Sự, do đó ngành học Public Affairs có tính áp dụng rất cao ở cả ba trụ cột này. Thêm vào đó, ba trụ cột này có mối quan hệ, gắn chặt với nhau nên tính tương tác rất lớn. Vì vậy học Public Affairs, bạn có thể làm việc được ở Nhà nước, doanh nghiệp hay ở Phi chính phủ. Điều này hoàn toàn vào năng lực và sự thích nghi môi trường của bạn. Điều đó để thấy rằng ngành Public Affairs có sự linh hoạt rất cao, hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân bạn. Public Affairs là một ngành học rất rộng, do đó không thể nào tham vọng học hết được, và chương trình thạc sỹ 2 năm cũng không thể nào dạy hết. Do đó khi lựa chọn ngành học cụ thể, phải căn cứ vào năng lực, trình độ và niềm đam mê sau này. Hiện tại tại Việt Nam, ngành Public Affairs đang rất thiếu người vì Việt Nam mới bắt đầu đào tạo ngành này một cách bài bản một vài năm trở lại đây. Là một nước đang phát triển, chập chững xây dựng nên ngành Public Affairs đòi hỏi một lượng lớn nguồn nhân lực.

Đối với mỗi người học, câu hỏi thường trực là học xong sẽ làm cái gì. Xin minh chứng một số cá nhân học Public Affairs đã thành danh. Xin lưu ý, ví dụ không có nghĩa là ai học Public Affairs cũng sẽ thành công như những cá nhân trong ví dụ này.

Đây là danh sách những cá nhân kiệt xuất đã từng học Public Affairs http://www.naspaa.org/alumni/distinguished.asp. Trong danh sách này bạn có thể dễ dàng nhận ra Ban Ki Moon – Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Felipe Calderon – Tổng thống Mexico, Robert Zoellick – Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, các vị bộ trưởng, thủ tướng, quan chức hàng đầu chính phủ khác.

Còn ở Việt Nam, người học MPA mà nổi tiếng nhất phải nói tới Nguyễn Thiện Nhân. Ông Nhân học Public Affairs tại University of Oregon theo học bổng Fulbright. Ông Nhân hiện tại là Phó thủ tướng Chính phủ Việt Nam.

Thay cho lời kết, hy vọng bài viết này sẽ giúp ai chưa hiểu về Public Affairs sẽ có cái nhìn rõ hơn về ngành này. Đối với những ai dự định theo học Public Affairs, sẽ định hướng rõ hơn về sự nghiệp của mình. Chúc các bạn thành công với sự nghiệp sau khi tốt nghiệp ngành Public Affairs.

Trần Ngọc Thịnh
September 05, 2010
Columbia, MO

Du học Hoa Kỳ – đọc hết trước khi đi

Track session presentations

Below are the presentations materials for previous track sessions at AAEA General Meetings. Presentations are generally available as powerpoint files (.ppt and .pptx) and handouts (in pdf format) are available for some of the presentations. Some presentations have been stripped of images in order to make them sufficiently small for download.
2010 Presentations

2009 Presentations

2008 Presentations

2007 Presentations

2006 Presentations

2005 Presentations

2004 Presentations

13 Steps to apply for PhD in USA

Follow the 13 step guide on how to apply for PhD in USA.

  1. Give GRE and TOEFL exam. (side by side prepare LORs and SOP).
  2. Contact to the professor tell them “You are interested in their work and tell about your GRE and TOEFL score, write some line about the work which make you interested about his/her work.”
  3. Apply online/ fill the online application of Universities.
  4. Check the requirements of Universities.
  5. IF you have any kind of doubt contact to the graduate office.
  6. University you choose one should be your dream University (I mean high level according to your score, where chances are very less) two University according to your score.
  7. And for the safer side apply to one University which accepts score below of your GRE and TOEFL score.
  8. When you completed your application , tell the prof. about your application he/she will keep the track of your application.
  9. Now check the status of your application.
  10. When they confirm your admission for PhD before that they can take your interview on skype.
    • Sometimes it just a talk between you and director of your department.
    • And sometimes core interview, prepare according to that.
  11. Now if they accept you they will intimate you abut your admission.
    • Sometimes will send offer letter to you. You need to sign it and sent it back to UNIV via mail/email.

Now you have received the admission for PhD. Typical timeline to complete 11 steps in how to apply for doctorate degree in USA is about 1 to 2 years.
F1 Visa Preparation for PhD

  1. Now they will issue you I20 [Sample I-20 Form]. For that they will provide you tracking no.
  2. When they proceed your I20 or want to send it you tell them to send a scanned copy of I20 also. so that you can start your processing for Visa interview.
  • Fill the DS 160 form with utmost patience.
  • Pay SEVIS fee, need to pay only 200$, you can use print out for your visa interview.
  • Pay HDFC fee for visa interview. It will be activated in 2 business days.
  • After 2 days book visa interview date according toy our convenience. when your documents can be completed book according to that.
  • Side by side read the posts of F1 visa interview experiences given at HSB it will help you to frame your answer.
  • Prepare your answer and practice them in front of mirror.

Now Documents for VISA interview

  1. CA statement (bank statement of your sponsors, PPF, GPF and show all types of fund, movable and immovable (land/property/house))
  2. Affidavit by parents
  3. If taking loan show it in CA statement.

F1 VISA interview

  1. Maintain eye contact with the VO and smile.
  2. Give your answer with confidence.
  3. F1 Visa Tips (not Tricks)

Học Y tại Mỹ

Không giống Châu Âu, học y tại Mỹ yêu cầu bạn đã phải kết thúc chương trình học cử nhân 4 năm của các ngành liên quan như: sinh học, hóa học đại cương, hóa hữu cơ, hay các ngành khoa học khác; cũng như bạn có được chứng chỉ của các trường dự bị ngành y hay các khóa học liên quan khác. Một số trường còn yêu cầu bạn phải có thêm chứng chỉ nhân học, toán học, anh ngữ, khoa học,…..
Các trường đại hoc y tại Mỹ thường chia 4 năm Đại học thành 2 giai đoạn: giai đoạn dự bị lâm sàng (chủ yếu là các bài học thực tế của các môn đại cương) và lâm sàng (giai đoạn thực hành liên tục, luân phiên giữa nhiều bệnh viện hay các trung tâm y tế). Thông thường, chương trình học y tại Mỹ hướng sinh viên trở thành Bác sỹ gia đình (D.O) hoặc Bác sỹ Đa khoa (M.D) tùy theo trường. Cả hai chứng chỉ này đều có thể khám chữa bệnh tại bất kỳ đâu hoặc đều có thể học lên cao hơn sau đó sau khi được chính quyền địa phương công chứng.
Có rất ít trường y tại Mỹ có các khóa học dành cho học sinh vừa tốt nghiệp Trung học, bắt buộc bạn phải có các chứng chỉ học các ngành liên quan đến ngành y trước đó và có giấy giới thiệu của trường. Nếu như sau khi xem xét, ban đủ tiêu chuẩn, bạn sẽ được nhận theo học tại trường Đại học đó. Chương trình học này thường kéo dài 6 năm đến 7 năm và điều kiện xét tuyển này sẽ còn khó hơn đối với sinh viên nước ngoài.
Ngoài ra, muốn trở thành một sinh viên khoa y còn phải làm thêm bài kiểm tra MCAT (Medical College Admission Test) đầu vào để kiểm tra kỹ năng suy nghĩ phản biện, giải quyết vấn đề, kỹ năng trình bày rõ ràng, cũng như để xác định chuyên ngành phù hợp nhất. Điểm kỳ thi MCAT càng cao thì khả năng đỗ các trường y danh tiếng càng cao.
Có rất ít cơ hội dành cho sinh viên nước ngoài học tập ngành y. Hàng năm, các trường Y tại Mỹ nhận được rất nhiều đơn xin nhập học từ khắp mọi nơi. Số lượng này thậm chí còn gấp đôi dân số của Mỹ nhưng trong đó một số trường chỉ nhận đơn nhập học trong địa phận tiểu bang của mình.
Khi được nhận vào học thì các sinh viên quốc tế nên chuẩn bị sẵn tâm lý khi mình sẽ gặp nhiều bất lợi hơn sinh viên Mỹ bởi vì chính sách của nước này yêu cầu dồn ngân sách cho sinh viên địa phương để đảm bảo lượng y-bác sỹ địa phương tại Mỹ. Các bạn sinh viên quốc tế cũng có thể nộp đơn cho các trường y tư nhân nhưng chắc chắn học phí sẽ rất “chát”. Vì vậy cần phải xác định rõ bạn đang có những gì để chọn cho mình trường học phù hợp với ngành y khắc nghiệt này tại Mỹ.
Một số điều kiện chuẩn xét tuyển ngành Y tại Mỹ

Bạn phải có được:

  • Giấy xác nhận hoàn thành chương trình học Cử nhân
  • Bảng điểm MCAT
  • Thư giới thiệu
  • Bảng thành tích cá nhân
  • Giấy chứng nhận các chương trình ngoại khóa
  • Giấy cam kết
  • ….

*** Đa số các trường Y tại Mỹ cho phép sinh viên quốc tế nộp hồ sơ qua American Medical College Application Service (AMCAS) nếu như họ muốn học chương trình D.O hoặc American Association of Colleges of Osteopathic Medicine Application Service (AACOMAS) nếu như họ định hướng học chương trình M.O .
Học phí ngành Y tại Mỹ

Ngành Y của Mỹ là một trong những ngành có học phí đắc nhất trên Thế giới và sẽ không có một khoản viên trợ nào dành cho du học sinh quốc tế. Do đó, bạn phải chứng minh được mình có thể chi khoản $25,000 USD đến $35,000 USD một năm. Đa số các trường y tại Mỹ nhân sinh viên quốc tế là trường tư và học phí thường niên cao hơn gấp đôi trường công, khoản $40,000 USD đến $50,000 USD.
Ngoài học phí thì sinh viên quốc tế cũng phải chuẩn bị thêm một khoản tiền kha khá trang trải cho cuộc sống trong suốt quá trình học tại Mỹ.
Nếu như bạn thấy mình có đủ các điều kiện trên đây thì bạn hoàn toàn có thể bắt đầu chuyến du học của mình. Mặc dù quá trình này cũng sẽ rất gian nan và khó khăn nhưng sau khi tốt nghiệp, bằng y của bạn sẽ được chấp nhận tại mọi nơi với mức lương đáng ngưỡng mộ (hơn $130,000 USD một năm)
Nếu như còn băn khoăn về bất kỳ vấn đề gì về ngành y tại Mỹ, hãy liên hệ ngay cho Easyuni để được tư vấn và hỗ trợ miễn phí.
Nguồn: EasyUni.vn

Lợi ích của du học Mỹ từ bậc trung học phổ thông

Học sinh trung học phổ thông (THPT) nằm ở độ tuổi từ 15 đến 17 tuổi- giai đoạn tiếp thu nhanh, phản ứng nhạy, khả năng ghi nhớ tốt nhất của con người và có những “biến động” tuổi dậy thì vẫn diễn ra mạnh mẽ. Thay vì, để học sinh vùi đầu vào sách vở nhằm đỗ vào các trường Đại học có tiếng tại Việt nam trong giai đoạn này, thì nhiều bậc phụ huynh đã hướng đến du học Mỹ. Đây là thời điểm đầu tư tài chính hợp lý cho việc du học Mỹ từ xin visa du học cho đến tương lai định cư tại “đất nước cờ hoa” này.

 

1. Giáo dục phù hợp với độ tuổi

 

Chương trình học ở Mỹ tập trung để phát triển toàn diện cả trí lực cũng như tinh thần cho học sinh THPT. Học sinh được học cách phát triển kiến thức một cách tự nhiên phù hợp với năng lực bản thân, xây dựng ước mơ và định hướng ngành nghề tương lai. Chính vì vậy, việc cấp Visa đối với chương trình du học bậc THPT tại Mỹ dễ dàng hơn, rộng rãi hơn so với Visa dành cho các chương trình Cao đẳng và Đại học.

 

2. Điều kiện nhập học đơn giản

 

– Các trường THPT (High School) ở Mỹ cần điểm trung bình 8.0 và khả năng tiếng anh khá trở lên.

 

– Hệ trung học từ 15-17 tuổi (lớp 9 đến lớp 11 ở Việt Nam) GPA>6.0, SLEP (Secondary Level English Proficiency)>45 điểm.

 

3. Lộ trình học không nhiều thay đổi.

 

Tùy vào từng trường mà yêu cầu kế hoạch tổ chức khác nhau. thông thường học sinh phải học lại lớp vừa mới tốt nghiệp. Sau đây là thông tin dành cho du học sinh từ lớp 10-12

VIỆT NAM MỸ
Lớp 10 (đang học hoặc đã học xong) Học lại lớp 10 lên lớp 11,12→ nhận bằng High school diploma→ Cao đẳng, Đại học
Lớp 11 (đang học hoặc đã học xong) Học lại lớp 11→ lớp 12→ nhận bằng High school diploma→ Cao đẳng, Đại học

Học song song chương trình kép THPT+ Cao đẳng→ Đại học
Lớp 12 (đang học) Học lại lớp 11→ lớp 12→ nhận bằng High school diploma→ Cao đẳng, Đại học

Học lại lớp 12→ dự bị đại học (sẽ không được nhận bằng tốt nghiệp THPT) mà chỉ được cấp chứng nhận đã hoàn thành chương trình THPT
Lớp 12 (đã học xong) Cao đẳng→đại học

Dự bị đại học
Đại học

4. Tiết kiệm học phí khi tiến vào Đại học, Cao đẳng tại Mỹ

 

Tốt nghiệp phổ thông tại Mỹ, ở một số bang, học sinh sẽ được hưởng mức học phí ưu đãi chỉ bằng 30% học phí dành cho sinh viên quốc tế. Cụ thể là học sinh sau khi theo học ít nhất 2 năm tại các trường THPT Mỹ sẽ chỉ phải trả mức học phí như công dân Mỹ (tương đương một phần ba số tiền học phí thông thường sinh viên quốc tế phải trả) khi nhập học tại các trường đại học công lập cùng bang. Ngoài ra, học sinh còn có thể xin được học bổng hoặc vay hỗ trợ học phí từ quỹ khuyến học của chính phủ. Do đó, học sinh chỉ phải tốn $3.000/ năm học đại học thay vì phải tốn $40.000/năm.

 

5. Nền tảng kiến thức vững chắc trước đặt chân vào Đại học ở Mỹ

 

Khi du học bậc THPT học sinh có nhiều thời gian để trau dồi kỹ năng tiếng anh, với chương trình tăng cường tiếng Anh do trường cung cấp hay tham gia các khóa luyện thi TOEFL/ SAT. Nhờ vậy, học sinh khả năng tiếng Anh tốt để xin học bổng và không bị “sốc ngôn ngữ” khi học ở các trường Đại học ở Mỹ. Sau khi hoàn thành chương trình trung học ở Mỹ, học sinh tiến vào kỳ thi toàn quốc, kỳ thi này vừa là bài tốt nghiệp trung học vừa là kỳ thi đại học, điểm thi càng cao thì có nhiều cơ hội vào các trường Đại học danh giá như Massachusetts, Harvard, Cornell, Yale, Princeton…

 

6. Nắm chắc cơ hội định cư Mỹ

 

Thời gian học ở Mỹ càng lâu cơ hội định cư càng cao. Du học bậc Đại học chỉ có 4 năm không lâu bằng 3 năm trung học phổ thông + 4 năm đại học. Vậy du học bậc THPT tại Mỹ, học sinh sẽ có 7 năm học tập tại đất nước này, không có điều gì ngạc nhiên khi nhiều du học sinh được nước Mỹ chào đón.

 

Du học Mỹ bậc THPT giúp học sinh vững chắc trong ngôn ngữ, hiểu về văn hóa xã hội và xây dựng “nền móng” tương lai. Hiện nay, chính phủ Mỹ áp dụng Chương trình kép hỗ trợ du học sinh quốc tế , nhằm tiết kiệm chi phí du học và đơn giản trong thủ nhập học.

Tản mạn về mảnh bằng Ph.D

Đây là bài chia sẻ của anh Ngô Quang Hưng trên blog Khoa học máy tính.

USGuide Handbook 2012 & 2013

Chào cả nhà,

Usguide Handbook 2012 là một tài liệu tổng hợp về apply du học rất công phu do một nhóm các bạn tình nguyện viên thực hiện vào năm 2012 do bạn Hường làm trưởng nhóm.

Đọc tài liệu này các bạn sẽ có khá đủ kiến thức về apply du học. Đây là tài liệu đầu tiên các bạn nên đọc.

Địa chỉ download: http://www.slideshare.net/usguide/usguide-handbook-just-do-it

Địa chỉ download khác:
https://www.dropbox.com/s/n1oaf7ylrjzenyf/handbook2012.pdf
https://app.box.com/s/2r3kupsnh5u0xr84h5eg

Nếu các bạn phát hiện ra các lỗi chính tả, thông tin (chưa chính xác) và gợi ý sửa chữa, xin hãy điền vào đây:
https://docs.google.com/spreadsheets/d/1QsNFOfQUj2xSnYQUqrQQb0Cej2d56euurO8UJzSp50Y/edit?usp=sharing

Cảm ơn các bạn đã đóng góp để hoàn thiện cuốn số tay du học này :)

—————————

Chào các bạn,

Đây là Handbook hướng dẫn du học sau đại học ở Mỹ được thực hiện vào đợt hè năm 2013 nhân dịp sự kiện you can do it.

Một bạn trong nhóm biên soạn Handbook mởi gửi bản pdf cho mình. FREE FOR ALL, mặc dù lúc đầu hình như định để xuất bản.

Mình nghĩ có lẽ có những kinh nghiệm và cách nhìn khác của những người chia sẻ trong đợt 2013. Chứ sườn nội dung cơ bản tương tự. Nhưng những câu chuyện cá nhân quan trọng phải không? :)

Download link:
Usguide Handbook 2013

 

The Joint Japan/World Bank Graduate Scholarship Program (JJ/WBGSP)

The Joint Japan/World Bank Graduate Scholarship Program (JJ/WBGSP) is open to women and men from developing countries with relevant professional experience and a history of supporting their countries’ development efforts who are applying to a master degree program in a development-related topic.

JJWBGSP offers scholarships for over 200 Preferred Programs (.xlsx 49 KB) spanning a wide array of development topics and for 14 Partner Programs (.xlsx 15 KB)  at universities in U.S., Africa and Japan in key areas of development, including economic policy management, tax policy, and infrastructure management.  JJWBGSP scholarships for developing country nationals are not available for any other master degree program.

A JJWBGSP scholarship provides tuition, a monthly living stipend, round-trip airfare, health insurance, and travel allowance.

View a detailed list of benefits. After earning their degree, developing country scholars commit to return to home to use their new skills to contribute to their countries’ social and economic development.

What can an applicant do before the call?
Who is Eligible to Apply?
How to Apply
Selection Process
Scholarship Benefits

What can an applicant do before the call?

  • Read information posted on this website and review eligibility criteria carefully.
  • Apply to one or more of the JJWBGSP preferred (.xlsx 49 KB) and partnership (.xlsx 15 KB) master degree programs.
  • Begin gathering required documentation for the scholarship application, including: your current curriculum vitae (c.v.), proof of employment for each record of employment since earning a Bachelor’s degree, and certified copy of the certificate of your most advanced university degree earned.
  • Identify two professional recommenders.

Please note that application guidelines that provide detailed application instructions will be posted on this website during the open call.

Who is Eligible to Apply?

Details on Eligibility Criteria for each call for applications are provided in that call’s Application Guidelines, and these detailed eligibility criteria are strictly adhered to. No exceptions are made.

Broadly speaking, Developing Country nationals must:

  • Be a national of a World Bank member developing country;
  • Not hold dual citizenship of a developed country;
  • Be in good health;
  • Hold a Bachelor (or equivalent) degree earned at least 3 years prior to the Application Deadline date;
  • Have 3 years or more of recent development-related experience after earning a Bachelor (or equivalent) degree;
  • Be accepted unconditionally to enroll in the upcoming academic year in at least one of the JJWBGSP Preferred or Partner masters degree Programs;
  • Not be an Executive Director, his/her alternate, and/or staff of all types of appointments of the World Bank Group or a close relative of the aforementioned by blood or adoption with the term “close relative” defined as: Mother, Father, Sister, Half-sister, Brother, Half-brother, Son, Daughter, Aunt, Uncle, Niece, or Nephew;

*Please note: All eligibility criteria are strictly adhered to. No exceptions are made. Eligibility criteria WILL NOT change during an open call for applications. However, this information is subject to change between the close of one application process and the opening of the next.

How to Apply

Applicants can apply for scholarships to both Preferred and Partner Programs. The process to apply to a Preferred Program and to a Partner Program differs:

Those seeking a JJ/WBGSP Partner Program scholarship (.xlsx 15 KB) must first apply for admission to one or more of the Partner Masters Degree Program(s). Inquiries on how to submit an admissions application to a partner program should be submitted to the respective university.

After reviewing submitted applications, each Partner Master Degree Program will identify a short list of eligible candidates who will then be invited by the JJWBGSP Secretariat to apply for a JJ/WBGSP scholarship. View the complete list of JJ/WBGSP Partner (.xlsx 15 KB) master degrees offered

Those seeking a JJ/WBGSP Preferred Program scholarship (.xlsx 49 KB) must, in parallel, apply for admissions to one or more of the Preferred Program(s) and apply for a JJWBGSP scholarship through an open call typically announced within the first two months of a calendar year. The next call for applications for a JJWBGSP Scholarship to one of our Preferred Programs is scheduled to open February 2018. View the complete list of JJ/WBGSPPreferred (.xlsx 49 KB) Master Degrees currently offered.  

When the scholarship applications for the Preferred Program is open, the finalized list of preferred programs, the application guidelines, online application, and a finalized list of eligibility criteria will be available on this site. The scholarship application must be completed online and include two professional references. The scholarship application must also include an unconditional (except for secured funding) letter of admission from the preferred master degree program that the applicant wants JJWBGSP funding. Note that if the applicant is admitted to several master degree programs, he/she must choose at the time of submitted the scholarship application which program to attend with JJWBGSP funding. We have requested our preferred master degree programs to issue all letters of admission prior to the closing deadline for our scholarship application.   Any documents an applicant provides by email, post or any means other than the online application form will not be reviewed. Applicants who submit more than one scholarship application are disqualified.

Selection Process

The JJ/WBGSP uses the following process to review eligible scholarship applications from developing country nationals, with the aim of identifying the candidates with the highest potential, after completion of their graduate studies, to impact the development of their countries.

Two qualified assessors independently review each eligible application and score the application on a scale of 1 to 10, taking into account four main factors and the degree of cohesion among them:

  1. Quality of Professional Experience (30% weight)
  2. Quality of Professional Recommendations (30% weight)
  3. Quality of Commitment to your Home Country (30% weight)
  4. Quality of Education Background (10% weight)

JJ/WBGSP awards scholarships to applicants who have had at least 3 years of full-time paid employment in the applicant’s home country or in other developing countries acquired after receiving the first Bachelors (or equivalent university) degree within the past 6 years; and are employed in a paid full time position at the time of application.  The only exception to this criteria is for developing country nationals from a country on the list of Fragile and Conflict States noted in the Application Guidelines that are posted during the call for applications.   In these exceptional cases, we do take into consideration the limited employment opportunities in those countries recently or currently in conflict.

For a scholarship to a JJWBGSP Preferred Program master degree, the JJ/WBGSP Secretariat uses the average score of the two assessors to identify the list of semi-finalists. The semi-finalists will be required during the review process to provide supplemental documentation, including a letter of acceptance from a JJWBGSP Preferred Masters Degree Program noted in the submitted application that is either unconditional, or conditional only upon the securing of financing.

The JJ/WBGSP Secretariat uses the average score of the two assessors and the following criteria to select the finalists:

  • Maintaining a reasonably wide geographical distribution of awards, that takes into account the geographic distribution of eligible applications;
  • Maintaining a reasonable distribution of awards across gender that takes into account the distribution of eligible applications across gender;
  • Giving scholarships to those applicants who, other things being equal, appear to have limited financial resources
  • Unusual circumstances / hardships, when assessing the employment experience and other aspects of an application.

The JJWBGSP Secretariat presents the  finalists for the preferred program scholarship to the JJ/WBG Steering Committee (composed of members of the World Bank Board of Directors and WB management) for final review and selection for a scholarship. The Secretariat informs the scholarship winners in July.

The JJWBGSP Secretariat presents the finalists for partnership scholarship to the World Bank’s Executive Director for Japan for approval on a rolling basis, matching the JJWBGSP Partner university’s admission cycle. The Secretariat informs the scholarship winners to a partner master degree program soon after approval.

Scholarship Benefits

The JJ/WBGSP scholarship provides the recipient with the following benefits:

  • Economy class air travel between your home country and the host university at the start of your study program and immediately following the end of the scholarship period. In addition to the two-way air travel, scholars will receive a US $500 travel allowance for each trip;
  • Tuition for your graduate program and the cost of basic medical insurance usually obtained through the university.
  • A monthly subsistence allowance to cover living expenses, including books. The amount of the allowance varies depending on the host country.

Please note all JJ/WBGSP scholarships cover the duration of the graduate program or two years, whichever is less.

The JJ/WBGSP scholarship does not cover:

  • VISA application(s) costs
  • Expenses to bring and/or support a scholar’s family members;
  • Extra-curricular courses or training;
  • Language training not provided by the graduate program;
  • Additional travel during the course of the study program;
  • Expenses related to research, supplementary educational materials, field trips, participation in workshops/seminars, or internships; or
  • Educational equipment such as computers.

Note: The JJ/WBGSP scholarship may only supplement, and does not duplicate, any other source of financial support/fellowship you might have. If selected as a finalist or if you are awarded a scholarship, you must inform the JJ/WBGSP if you have other sources of scholarship funds. The JJ/WBGSP stipend may be withdrawn completely or partially if during the scholarship period the Program has evidence of additional sources of support.

Chia sẻ kinh nghiệm tiếp cận giáo sư Mỹ để xin assistantship

Chào các bạn,

ANh Tùng bạn mình là cựu sinh viên VEF, hiện là giáo sư Đại Học ở Mỹ ngành computer Science.
Hiện tại anh đang nhận các bạn sinh viên và có cung cấp fellowship theo link mình đã đăng cách đây vài ngày.
http://usguide.org.vn/threads/cơ-hội-học-bổng-tiến-sĩ-ngành-computer-science-tại-mỹ.4779/#post-18407

Trong quá trình sàng lọc hồ sơ của ứng viên, giáo sư Tùng nhận thấy các bạn sinh viên Việt Nam chưa có kinh nghiệm tí nào trong cách tiếp cận giáo sư ỏ Mỹ để xin assistanship.
Mình trích dẫn bài viết của giáo sư Tùng dưới đây, mong rằng có thể giúp các bạn

“Trong quá trình đăng tuyển tìm sinh viên, mình có nhận được hồ sơ của nhiều bạn. Background của các bạn đa số đều rất tốt. Mình có một số góp ý sau giúp các bạn chuẩn bị hồ sơ tốt hơn trong quá trình apply của mình.

1. Hồ sơ tối thiểu nên có bảng điểm (transcript) và CV. Bảng điểm thực ra quan trọng hơn vì các giáo sư muốn biết về background của các bạn, ví dụ: GPA có đủ ngưỡng tối thiểu không, các môn học quan trọng liên quan đến hướng nghiên cứu của họ có tốt không… Nếu bạn đang học master thì nên gửi cả bảng điểm đại học nữa.

2. Tất cả các document nên lưu ở dạng pdf file (hoặc jpg file nếu là bản scanned). Không nên gửi Word file (doc, docx) vì một số giáo sư có thể sử dụng các máy tính không có sẵn Microsoft Word hoặc converter để mở (như trên Unix/Linux). Các bạn cũng không nên nén file (dạng zip, rar), vì có thể các giáo sư không có chương trình giải nén.

3. Nên viết CV ngắn gọn, tốt nhất là trong 1 trang. Chỉ nên đưa các thông tin quan trọng như:

a. Education: ngành gì, trường gì, GPA bao nhiêu, rank (nếu có)

b. Honors and Awards: nhận được những giải thưởng gì, mức độ competitive ra sao. Nếu có social impact hoặc financial value lớn thì càng tốt.

c. Experience: kinh nghiệm nghiên cứu, kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm làm việc ở industry

d. Publications

e. Skills: về Technical thì liệt kê bạn thành thạo những ngôn ngữ lập trình gì, các tool/framework nào, về English thì TOEFL + GRE score bao nhiêu. Không nên liệt kê tất cả các ngôn ngữ lập trình mà bạn từng biết, chỉ nên liệt kê 1-2 ngôn ngữ mà bạn thành thạo nhất. Các ngôn ngữ thường dùng trong nghiên cứu là Java, C/C++, C#, Python, Perl… Nếu lĩnh vực của các bạn dùng một số tool đặc dụng (như Matlab, R, Weka, SQL, OrCAD…) thì nên liệt kê. Không nên liệt kê các phần mềm văn phòng như MS Office, Photoshop… nếu không liên quan đến công việc nghiên cứu.

f. Contact information: email, phone, website, Skype ID… Các bạn nên tạo một email account nghe “professional”. Tên hiển thị trong account nên theo chuẩn tiếng Anh không dấu (kí tự đầu là chữ hoa, không nên toàn bộ là chữ thường hoặc chữ hoa). Ví dụ “Tung Nguyen” thì nhìn “professional” hơn “nguyễn tùng” vì các giáo sư người nước ngoài có thể không phát âm được “nguyễn tùng” và “nguyễn tùng” viết chưa đúng chuẩn.

Một số nghiên cứu cho thấy tên càng dễ đọc thì mức độ thiện cảm càng cao (ít nhất là giúp người ta dễ nhớ mình hơn). Vì vậy nhiều bạn người Tàu thường chủ động chọn cho mình một tên tiếng Anh như Harry, Kevin, Marry… cho tiện giao tiếp.

Các thông tin sau có thể không cần thiết:

a. Thông tin cá nhân, ví dụ: ảnh, ngày sinh, sở thích, tính cách…

b. Objectives: khi bạn contact, giáo sư biết chắc mục tiêu của bạn là muốn làm research rồi.

c. Research interest: nếu liệt kê chi tiết ra thì có thể không có lợi cho bạn vì research interest bạn liệt kê có thể vênh với research area của giáo sư. Khi bạn contact giáo sư, bạn đã thể hiện là bạn muốn làm research về lĩnh vực của của họ. Chúng ta thường dùng một CV chung để contact các giáo sư có các research area khác nhau, nếu chúng ta liệt kê rất nhiều area khác nhau thì các giáo sư có thể nghĩ là chúng ta chưa có định hướng nghiên cứu tốt, wishy-washy.

d. References: thường thì các bạn chưa tìm được người giới thiệu ngay trong quá trình apply và các giáo sư nước ngoài cũng ít khi biết các reference của các bạn. Tuy nhiên, các bạn có thể giới thiệu các reference này trong email contact nếu cần.

4. Nên tạo một trang web cá nhân và đưa link vào CV hoặc email signature. Trên trang web này, các bạn có thể upload các document của mình để các giáo sư có thể truy cập trực tiếp. Theo thói quen, mọi người thích mở hyperlink trong email hơn download attachment vì họ có thể không tìm được chỗ mình lưu file download khi cần, trong khi họ có thể search lại email và mở hyperlink.

Trên trang web cá nhân này các bạn có thể đưa các thông tin không có trong CV, ví dụ ảnh, sở thích, các phần mềm bạn đã viết, career objective, ongoing research projects… Nếu các bạn kèm theo một blog bằng tiếng Anh thì càng nổi bật, vì qua đó các giáo sư có thể biết kĩ năng viết của bạn có tốt không, tính cách của bạn ra sao…

Hy vọng các thông tin này hữu ích cho các bạn. Chúc các bạn may mắn.”

Tác giả: Nguyễn Thanh Tùng

10 Kinh Nghiệm Quí Giá Cho Các Ứng Viên Du Học Mỹ

Du học Mỹ là một trong những mục tiêu mơ ước của nhiều bạn sinh viên, tuy nhiên bên canh việc xin được học bổng du học Mỹ thì việc phỏng vấn visa du học Mỹ (hay còn được gọi Visa F1) từ lâu đã trở thành nỗi ám ảnh đối với sinh viên Châu Á nói chung, và sinh viên cũng như phụ huynh Việt Nam nói riêng. Trong quá trình tư vấn cho các bạn sinh viên đã từng có kinh nghiệm phỏng vấn du học Mỹ, chúng tôi thấy nhiều bạn vẫn còn shock vì bị từ chối cấp visa F1 nhiều lần mà không hiểu lí do tại sao.Trung tâm xúc tiến học bổng du học ALT xin chia sẻ với các bạn 10 điểm lưu ý khi phỏng vấn visa F1 được đúc kết từ kinh nghiệm của rất nhiều sinh viên đã và đang du học ở Mỹ.

1

Chuẩn bị và luyện tập trả lời các câu hỏi

Trước tiên, bạn cần tâm niêm rằng nhân viên Đại Sứ Quán chỉ cấp visa cho bạn khi thấy bạn trung thực, tự tin. Họ muốn biết rõ về bản thân bạn, mục tiêu của bạn và những dự định của bạn trong thời gian ở Mỹ. Do đó bạn cần tự chuẩn bị trả lời một số câu hỏi đại loại như:
• Tại sao bạn chọn Mỹ mà không phải là Australia, New Zealand hay Europe?
• Tại sao bạn lại chọn trường Đại học này mà không phải những trường khác?
• Tại sao bạn không chờ học hết phổ thông/đại học ở Việt Nam rồi mới đi?
• Bạn muốn làm gì sau khi học xong Đại học/Thạc sĩ?
• Từ đâu bạn có số tiền để thanh toán chi phí học tập của mình? (Bạn không cần đưa ra con số cụ thể trong tài khoản ngân hàng của mình. Chỉ cần cho họ thấy bạn đang có trong tay tiền để chi trả cho năm thứ nhất và kế hoạch tài chính cho những năm tiếp theo. Quan trọng nhất là thái độ tự tin của bạn. Đừng vội đưa ra giấy xác nhận của ngân hàng trừ khi được yêu cầu.
• Bạn có ý định trở về Viêt Nam sau khi học xong không? (Hãy trả lời “Yes, I would” là đủ. Đừng kể lể chuyện công ty A đầu tư cho bạn và sẽ nhận bạn về làm việc vv…Cũng đừng cố gắng thuyết phục người phỏng vấn bạn. Trả lời ngắn gọn, tự tin là đủ. Nên nhớ nhân viên lãnh sự quán có đủ kinh nghiệm và khả năng để đọc được bạn trong phút chốc.
Hãy lắng nghe các câu hỏi thật cẩn thận và suy nghĩ và giây trước khi trả lời. Đừng vội vã trả lời ngay khi được đưa ra câu hỏi. Nếu như bạn điềm tĩnh, bạn sẽ hiểu chính xác nội dung câu hỏi và từ đó có được câu trả lời phù hợp. Nếu không bạn sẽ đưa ra những câu trả lời sáo rỗng và không phù hợp với nội dung câu hỏi bạn nhận được. Và sau đây là 10 kinh nghiệm bạn cần lưu ý khi được mời phỏng vấn.

2

Đừng ngại vẻ lạnh lùng của nhân viên Đại sứ quán

Đừng tỏ vẻ lo lắng dù bạn có phỏng vấn ở Đại Sứ Quán hay Tổng Lãnh Sự vì nơi bạn phỏng vấn không quan trọng. Quan trọng nhất là bạn trả lời các câu hỏi như thế nào. Các nhân viên lãnh sự quán có thể đã từ chối cấp visa cho vài người trước bạn nhưng đừng để điều đó làm bạn sợ hãi. Hãy tự hỏi bản thân rằng “Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì?” Họ sẽ từ chối bạn là cùng. Trong khi bạn có thể nộp hồ sơ xin phỏng vấn lại.

[IMG]Đừng tỏ vẻ lo lắng dù bạn có phỏng vấn ở Đại Sứ Quán hay Tổng Lãnh Sự vì nơi bạn phỏng vấn không quan trọng.

Nếu như bạn tiếp tục bị từ chối, không sao cả. Bạn còn có nhiều cơ hội ở các quốc gia khác. Một khi việc bị từ chối visa không còn ám ảnh bạn, chẳng có gì khiến bạn phải lo lắng nữa, bạn từ đó sẽ bình tĩnh và tự tin trước khi bước vào cuộc phỏng vấn. May mắn là yếu tố không thể loại trừ, nhưng nó chỉ là một trong số 100 yếu tố còn lại. Bạn hoàn toàn có thể kiểm soát 99% các yếu tố còn lại, vì vậy đừng làm hỏng chuyện chỉ vì tâm lí không tốt trước khi phỏng vấn.

3

Giữ bình tĩnh

Hãy giữ bình tĩnh. Làm sao một người có thể đưa ra câu trả lời chuẩn xác khi mang tâm lí sợ hãi hay lo lắng? Hãy loại bỏ nỗi sợ hãi hay lo lắng đi. Điều đó không có nghĩa bạn xem thường tầm quan trọng của buổi phỏng vấn. Tâm lí ngạo mạn, bất cần chỉ làm nhân viên Sứ Quán ác cảm và tìm lí do từ chối cấp visa cho bạn. Bạn đã được trường đại học chấp nhận, bạn thực su muốn đi học, bạn có đủ tài chính, vì vậy chẳng có lí do gì người ta lại từ chối bạn trừ khi bạn tự làm mọi thứ trở nên lộn xộn vì trả lời lắp bắp, dài dòng quá mức.

4

“Bạn có trở về Việt Nam không?”

Liệu nhân viên Đại Sứ có tin tưởng khi bạn nói rằng mình sẽ trở về Việt Nam? Câu trả lời là “Không”.
Sự thực là bạn không có cách nào để chứng minh một cách tuyệt đối là mình sẽ trở về. Dù vậy, hãy trả lời một cách tự tin về kế hoạch du học của bạn khi được hỏi.
Nếu như một quốc gia có bài xích người nhập cư, người ta sẽ không tin tưởng vào lời nói của bạn dựa vào một vài phút phỏng vấn.
Tất cả chỉ là thủ tục hình thức để họ có một lí do để từ chối câp visa cho bạn. Nếu như thực sự muốn, họ hoàn toàn có thể trục xuất bạn ra khỏi nước Mỹ ngay khi bạn vừa tham dự lễ tốt nghiệp. Họ cũng sẽ không cho bạn cơ hội 12-24 tháng để tìm việc sau khi ra trường.
Về mặt lý thuyết, nước Mỹ cần du học sinh nhiều hơn du học sinh cần họ. Hãy thử nhìn sự việc từ một góc độ khác. Sau khi đào tạo một đội ngũ nhân tài, liệu họ có thực sự muốn bạn trở về nước làm việc và rồi trở thành đối thủ cạnh tranh với nhân lực của họ trong tương lai?

[IMG]Nếu như họ đã quyết định cho bạn trượt visa, chẳng có lời giải thích nào có thể thuyết phục được họ

Không. Chắc chắn là không. Nước Mỹ luôn tìm kiếm và thu hút tài năng từ khắp nơi trên thế giới. Chính sách này được thực thi ngay từ vòng phỏng vấn visa du học. Ai có thể trở thành những công dân Mỹ ưu tú, và ai không thể? Làm sao họ có thể quyết định chính xác trong vòng vài giây? Đừng cố sức thuyết phục nhân viên Đại sứ. Nếu như họ đã quyết định cho bạn trượt visa, chẳng có lời giải thích nào có thể thuyết phục được họ.

5

Những lí do từ chối cấp visa du học Mỹ phổ biến

Giờ đây bạn có thể hỏi những trường hợp nào nhân viên Đại sứ từ chối cấp visa.
Nhân viên Đại sứ dùng lí do này để loại bỏ những trường hợp họ cảm thấy không trung thực, những người hay nói dối, làm giả hồ sơ. Nhiều ứng viên du học bị từ chối chỉ vì nói lắp, bối rối do lo lắng, thiếu tự tin trong lúc phỏng vấn.
Nếu như bạn trả lời thiếu tự tin chỉ vì căng thẳng, nhân viên Đại sứ có thể thông cảm được phần nào. Nhưng điều đó chỉ trong một giới hạn tương đối. Có bạn thậm chí lo phải trả lời thế nào một khi nhân viên Đại sứ hỏi đến tên của mình! Bạn ấy lo là tên trên hồ sơ xin phỏng vấn hơi khác với tên được in trên hộ chiếu của mình. Có gì phải lo lắng khi người ta đọc tên mình là Hưng Đàm Vĩnh thay vì Đàm Vĩnh Hưng!
Lo lắng quá sẽ chẳng giúp bạn giải quyết được điều gì.

6

Đừng cố tỏ ra thông minh trong ba phút phỏng vấn ấy

Liệu bạn có thể thay đổi được điểm TOEFL, GMAT, hay học bạ của mình không?
Không.
Hãy hít thở thật sâu và là chính bạn. Hãy nhìn thẳng nhân viên Đại sứ phỏng vấn bạn và trả lời chứ đừng cố diễn giải ý của anh ta. Đừng bắt đầu nghĩ đến việc visa của bạn sẽ được chấp nhận hay từ chối lúc bắt đầu phỏng vấn. Nhân viên Đại sứ sẽ phân tích bạn, chứ không phải điều ngược lại. Hãy quên nghĩ đến chuyện kết quả và trả lời thật thoải mái.

7

Hãy trả lời thật rõ ràng và trực tiếp

Các bạn sinh viên nhân học bổng thạc sĩ, tiến sĩ thường có xu hướng đưa ra những câu trả lời mang tính hàn lâm và phức tạp.
Đừng trả lời lòng vòng.
Nếu như bạn được hỏi “tại sao lại chọn trường Đại học này?” đừng sa đà vào những câu trả lời với những cụm từ chuyên môn phức tạp. Nhân viên Đại sứ có thể tốt nghiệp ngành nghệ thuật, tâm lí học, khoa học chính trị. Hãy trả lời bằng những thuật ngữ mà người phỏng vấn bạn có thể hiểu được.

8

“Bạn học trường nào?”

Nhân viên Đại sứ chẳng bận tâm về chuyện bạn sắp vào học những trường đại học ít danh tiếng, thậm chí là đại học cộng đồng.
Họ chỉ phỏng vấn bạn để biết tối thiểu bạn cũng hiểu tại sao mình lại chọn vào học trường như vậy. Chẳng bao giờ có chuyện bạn phải trả lời các câu hỏi phức tạp hơn chỉ vì bạn vào học một trường bình thường.
Cách tốt nhất là tìm hiểu một số thông tin liên quan tới khóa học mà bạn đã đăng ký.

9

“Ai là người làm hồ sơ xin visa cho bạn?”

Nếu như được hỏi có phải công ty tư vấn du học điền đơn xin visa (DS160) cho bạn không, đơn giản hãy trả lời không. Đừng cố đưa ra bằng chứng thuyết phục nhân viên phỏng vấn bạn. Nhiều bạn hoang mang với tin đồn rằng bạn cần nhớ địa chỉ IP của mình để khi cần đưa ra cho nhân viên Đại sứ kiểm tra máy tính bạn đã dùng để nộp đơn xin visa (DS160).
Ai mà nhớ nằm lòng được địa chỉ IP kia chứ?
Đó không phài một phần của nội dung buổi phỏng vấn. Nếu có thì chỉ làm xuất hiện những tình huống “khó đỡ” khác cho bạn mà thôi.
Nếu như nhân viên Đại sứ lặp lại câu hỏi trên, bạn có thể nói rằng bạn không có gì để giấu diếm và họ có thể hỏi bạn bất kì câu hỏi nào liên quan đến đơn xin visa DS160.

10

Lấy số buồng phỏng vấn

Bạn không cần lo lắng về số buồng hay nhân viên Đại sứ nào đó phỏng vấn bạn. Ngay khi bạn bước đến cửa sổ buồng phỏng vấn, chẳng ai quyết định cấp hay từ chối visa ngay khi vừa nhìn thấy bạn. Dù vậy, ấn tượng ban đầu bạn mang lại cho nhân viên Đại sứ phỏng vấn bạn bao giờ cũng rất quan trọng. Vì vậy hãy nhìn thẳng một cách tự tin. Cách bạn bước tới buồng phỏng vấn và chào người đối diện sẽ quyết định ấn tượng ban đầu.

– Tóm lại –

Bạn muốn đi học, bạn một trường đại học chấp nhận, bạn có chứng minh tài chính. Chẳng có lí do gì phải lo lắng cả.
Nuốc Mỹ cần bạn hơn bạn cần nước Mỹ. Bạn ở “kèo trên”! Vì vậy đừng tỏ ra sợ hãi liệu nhân viên Đại sứ có thấy bạn hợp nhãn hay không. Đừng đánh giá thấp bản thân mình. Hãy tự tin như một người lính dũng cảm chứ không phải một thương phế binh hèn nhát.
Bạn đáng được cấp visa.
Lí do duy nhất khiến bạn căng thẳng, lo lắng là bạn cảm thấy bản thân thiếu một điều gì đó và vì vậy vô tình luôn cố găng thuyết phục nhân viên Đại sứ về những lời giải thích của mình. Đừng làm như vậy!
Đây không phải là một buổi phỏng vấn xin việc làm vốn thường kiểm tra năng lực thực sự của bạn. Những câu hỏi nhân viên Đại sứ đưa ra thực chất là những câu mà ai cũng trả lời được. Vì vậy đừng đánh mất chính mình do căng thẳng, hồi hộp.
Một khi bạn thông suốt được như vậy, những lo lắng, căng thẳng của bạn sẽ tự nhiên biến mất.
Ngoài ra nếu bạn vẫn còn nhiều băn khoăn, bạn có thể tìm đến các trung tâm tư vấn du học để được tư vấn đầy đủ hơn nhé.

Chúc bạn thành công.

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 4 – PhD in Chemical Engineering

Xin chào mọi người,

Đến hẹn lại lên, ban biên tập xin gửi đến các bạn bài phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ số 4 . Một bài chia sẻ đặc biệt đến từ anh Lê Sỹ Tùng – PhD student in Chemical Engineering ,College of Sicence and Engineering, University of Minnesota một trong những admin nhiệt huyết của Usguide.

Bên cạnh những kinh nghiệm quý báu và tinh thần chiến đấu hết mình “Do more than your best and Networking” trong quá trình apply cho nghành kĩ thuật nói riêng và các nghành khác nói chung. Anh cũng đưa đến các bạn lời khuyên rất bổ ích trong quá trình chọn trường + chọn khoa , những điều cần chuẩn bị trước khi sang Mỹ học tập cho đến những cảm nghĩ về các hoạt động xã hội mà anh đã và đang tham gia. Các bạn cùng khám phá trong file đính kèm nhé

 

Interview Series 4_Le Tung

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – Số 9 – Master of Public Health

Xin chào các bạn,
Tháng 11 này, nhóm biên tập xin gửi tới các bạn bài chia sẻ thứ 9 của chị Dương Cầm Master of Public Health, Department of Epidemiology, University of Michigan. Chị Dương Cầm tốt nghiệp đại học chuyên ngành Bioscience, nhưng sớm nhận ra Pucblic Health mới chính là ước mơ và đam mê mà chị thật sự muốn theo đuổi.
Với kế hoạch apply rõ ràng với các mục tiêu thời gian cụ thể cùng chiến lược hợp lý, chi Dương Cầm đã apply thành công với full funding PhD in University of Rochester và one-half tution fee waiver, MPH in Univresity of Michigan. Mặc dù chưa chắc chắn trong con đường trang trải số học phí còn lại, chị đã quyết định chọn UMich. Và rồi phép màu xảy ra, chị nhận được full tution fee waiver từ UMich :) . Để tìm hiểu thêm các bạn có thể đọc tại file đính kèm ở cuối bài. Hi vọng những chia sẻ của chị Dương Cầm sẽ giúp các bạn trang bị thêm những thông tin hữu ích trên con đường apply du học Mỹ của mình.

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – Số 7 – Undergraduate student in Economics

Xin chào các bạn,

Tháng 8 này, nhóm biên tập xin gửi tới các bạn bài chia sẻ thứ 7 của bạn Nguyễn Anh Tú – Undergraduate student at Randolph College, Major in Economics. Randolph College là 1 trường khá nhỏ quy mô khoảng 700 sinh viên, điểm đặc biêt là giáo sư trong trường được xếp Rank 1 về accessibility. Các giáo sư trong trường rất thân thiện, tập trung vào giảng dạy và quan tâm đến sinh viên thay vì tập trung vào nghiên cứu như ở các trường lớn khác. Thêm vào đó, Thành phố nơi bạn Tú sinh sống là Lynchburg được mệnh danh là City of Seven hills, cư dân trong thành phố rất tốt, cuộc sống yên bình và khí hậu đặc biệt giống Hà Nội. Để tìm hiểu rõ hơn về bạn Tú và trường Randolph College, các bạn có thể xem chi tiết tại file PDF đính kèm. Hi vọng những chia sẻ của bạn Tú sẽ giúp các bạn trang bị thêm những thông tin hữu ích trên con đường apply du học Mỹ của mình.

 

Interview Series 7_Anh Tu_01082013

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – Số 8 – Master in Industrial Engineering & Management

Xin chào các bạn,

Đến hẹn lại lên :), ở số thứ 8 này nhóm biện tập xin gửi tới các bạn bài chia sẻ của bạn Mai Thùy Dung. Một cô gái dũng cảm đã có 1 bước ngoặt rất lớn trong sự nghiệp, khi chuyển từ Business sang học Master in Industrial Engineering & Management thuộc ngôi trường Oklahoma State University. Bạn ý đã có những chiến lược và nỗ lực thế nào để apply thành công, học tập và sinh sống tại đất nươc Mỹ đầy cạnh tranh và đào thải cao. Những kinh nghiệm thực tế, tinh thần chiến đấu bền bỉ đó đã được bạn Dung chia sẻ rất cụ thể. Các bạn cùng khám phá trong file đính kèm nhé.

 

Interview Series 8_ Dung Mai

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 5 – PhD in Electrical and Computer Engineering

Xin chào các bạn,

Tháng 6 này, nhóm biên tập xin được gửi đến các bạn bài chia sẻ số 5 của anh Lê Vượng~PHD student in Electrical and Computer Engineering, University of Illinois at Urbana Champaign.
Với lòng khát khao đi sang Mỹ cháy bỏng cùng tinh thần luôn nhìn về phía trước, chủ động và có trách nhiệm, anh Vượng đã có những chiến lược và cách thức riêng để đạt được giấc mơ du học Mỹ của mình.Bên cạnh đó, những trải nghiệm thực tế đầy thú vị của anh về cuộc sống, học tập, làm việc cùng giáo sư và những công việc Internship :) . Tất cả những điều trên đều được anh chia sẻ tận tình trong buổi coffee-chat offline với các Usguider hồi tháng 5 vừa qua. Ban biên tập đã tổng hợp lại và xin gửi đến các bạn trong file đính kèm.Mong rằng các bạn sẽ có thêm những thông tin và kinh nghiêm hữu ích cho bản thân.

Interview Series 5_Vuong Le

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – Số 6 – Master in Global Environmental Policy

Xin chào các bạn,

Tiếp nối Series Interview, nhóm biên tập xin được gửi đến các bạn bài chia sẻ thứ 6 của chị Diệu Linh – Master in Global Environmental Policy, School of International Service – American Universiry, chị Linh tốt nghiệp trường đại học Ngoại Thương nhưng từ khi ra trường công việc chị làm đều trong lĩnh vực nghiên cứu, phi chính phủ. Kinh nghiệm làm việc của chị rất đa dạng từ phát triển nông thôn, chăm sóc y tế cho người nghèo đến biến đổi khí hậu … Chính nhờ thế mạnh này chị đã apply thành công với học bổng Dean’s Fellowship vào trường School of International Service (SIS), 1 trường nhỏ thuộc hệ thống AU được xếp hạng là một trong 10 trường tốt nhất về nghiên cứu quốc tế và quan hệ quốc tế. Để tìm hiểu rõ hơn về chị Linh và ngôi trường mà chị đang theo học, các bạn có thể xem và download tại file PDF đính kèm. Hi vọng những chia sẻ của chị sẽ giúp các bạn trang bị thêm những thông tin hữu ích trên con đường apply du học Mỹ của mình.

 

Interview Series 6_Dieu Linh_27062013 (1)

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 3 – MS in Marketing Research

Xin chào các bạn,

Tiếp nối sự đón nhận nồng hậu của các bạn sau 2 bài phỏng vấn đầu tiên, nhóm Interview Series hân hạnh cho ra mắt bài “Chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ số 3” của chị Hạnh Nguyên, Graduate Assistantship, Master in Marketing Research, Southern Illinois University-Edwardsville.
Trong bài phỏng vấn này chị Hạnh Nguyên, 1 thành viên kì cựu của UsGuide sẽ chia sẻ thêm với các bạn lợi ích của việc tham gia các hoạt động xã hội trong quá trình apply xin học và đạt học bổng cũng như lời khuyên để cân bằng thời gian học với thời gian tham gia hoạt động xã hội . Hơn nữa với mong muốn hỗ trợ tốt nhất cho các bạn đang ấp ủ giấc mơ du học đặc biệt là các bạn có ước mơ theo học về ngành Marketing, chị Hạnh Nguyên đã chia sẻ rất chi tiết kinh nghiệm chọn trường, hoàn thành hồ sơ đồng thời gửi kèm các tài liệu của chị trong bài phỏng vấn này.
http://www.slideshare.net/usguide/phng-vn-chia-s-kinh-nghim-du-hc-m-s-3-usguide

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 2 – MS in Public Affairs

Xin chào các bạn,

Sau bài phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ số đầu tiên vào tháng 1, được sự đón đọc nhiệt tình của các bạn , ban biên tập như được tiếp thêm lửa và càng có nhiệt huyết hơn đưa đến các bạn bài chia sẻ số 2 của chị Phượng Đoàn. Mong rằng với những chia sẻ bổ ích của chị Phượng, các bạn đã, đang và sẽ có ươc mơ du học Mỹ có thêm những thông tin và kinh nghiêm hữu ích cho bản thân. Với sự nỗ lực không ngừng và ước mơ cháy bỏng trở thành chuyên gia tư vấn cho chính phủ về các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, chị Phượng đã đạt được học bổng toàn phần MPA- Master of Public Affairs từ trường Indiana University Bloomington– ngôi trường đứng đầu Mỹ về lĩnh vực phân tích chính sách và quản lý các tổ chức phi lợi nhuận, người học được đào tạo về các kỹ năng phân tích và đánh giá, đồng thời, có cơ hội thực tập tại các cơ quan chính phủ Mỹ và các tổ chức xã hội liên quan đến chuyên ngành được đào tạo. Các bạn cùng khám phá những chia sẻ của chị Phượng theo file đình kèm nhé :) .

Nếu có câu hỏi thêm nào giành cho chị Phượng mong các bạn gửi hồi âm về ban biên tập theo email hoahoangtk@gmail.com hoặc chia sẻ follow topic này nhé. Nhóm biên tập sẽ tập trung và trao đổi thêm với chị Phượng hoặc gửi các bạn địa chỉ liên lạc của chị Phượng. Trong lúc biên tập không tránh khỏi những sơ xuất mong các bạn thông cảm và đóng góp thêm ý kiến để những bài chia sẻ tiếp theo thêm hoàn chỉnh:).

Xin chân thành cảm ơn

T/M Ban biên tập,
Minh Huyền

 

Interview Series 2_Phuong Doan

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 1 – MBA in Logistics

Hi cả nhà,

Sau một thời gian ấp ủ cho dự án Interview Series, với mục tiêu cung cấp kinh nghiệm apply và thông tin về các ngành học ở Mỹ, đặc biệt chú trọng vào các ngành học mới và các trường còn ít bạn biết tới. Nhóm Interview Series bao gồm Nguyễn Huyền, Lê Hoàng và Khánh Hòa rất vui được gửi tới các bạn số đầu tiên của series “Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ”.

Bài phỏng vấn gửi kèm là chia sẻ kinh nghiệm của chị Nguyễn Thùy Dương, apply thành công học bổng Graduate Assistantship và hiện đang theo học MBA-concentration in Logistics, Arkansas State University.

Nội dung bài phỏng vấn được chia làm 2 phần chính: Chia sẻ kinh nghiệm apply và Chia sẻ về cuộc sống và học tập tại Mỹ. Trong phần thứ nhất chị Dương chia sẻ kinh nghiệm hoàn thành các kì thi chuẩn hóa như TOEFL, GMAT, viết SOP và LOR cũng như lý do chị chọn Logistic cho khóa MBA. Còn ở phần thứ hai là cảm nhận của chị về môi trường học tập tại Arkansas State University và cuộc sống tại thành phố Jonesboro với kết thúc là lời khuyên của chị cho những bạn sinh viên có ý định sang sống và học tập tại Mỹ.

Do đây là số đầu tiên và nhóm biên tập còn thiếu kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi thiếu sót. Với dự định phát hành 2 số/tháng trong năm 2013, nhóm rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, gợi ý câu hỏi phỏng vấn và giới thiệu những bạn đã apply thành công. Mỗi một sự góp ý sẽ là động lực cho nhóm cải thiện tốt hơn ở những bài tiếp theo.

Trong thời gian đầu, mọi câu hỏi xin gửi tới chị Khánh Hoà theo địa chỉ hoahoangtk@gmail.com.

Xin cảm ơn sự quan tâm của các bạn.

Chúc các bạn apply thành công!

T/M Ban Biên Tập

Lê Hoàng

—-

Arkansas State University

 

Interview Series 1_Duong Nguyen_01282013

Phỏng vấn chia sẻ kinh nghiệm du học Mỹ – số 10 – PhD in Water Resources Management

Xin chào các bạn,

Tháng 12 này, nhóm biên tập xin gửi tới các bạn bài chia sẻ thứ 10 của anh Nguyễn Đình Phú, giảng viên khoa Quản lý nguồn nước Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang theo học PhD in Water Resources Management, at Center for Hydrometeorology and Remote Sensing (http://chrs.web.uci.edu), University of California, Irvine.

Với nền tảng kiến thức vững chắc, tích luỹ lúc học M.S in Water Resources Management at University of Melbourne, Australia, Anh Phú đạt được học bổng 322 của Chính phủ, học bổng nghiên cứu từ NASA, NOAA, NSF để theo học PhD tại University of California – Irvine. Được hướng dẫn bởi Giáo sư Soroosh Sorooshian, một Giáo sư đầu ngành trong lĩnh vực Tài nguyên nước, người vừa được trao giải thưởng danh giá Robert E. Horton Medal 2013 bởi Hội Địa lý Hoa Kỳ (AGU), anh Phú tập trung nghiên cứu 2 lĩnh vực chủ yếu là phát triển các thuật toán để tính mưa từ thông tin viễn thám, và xây dựng mô hình cảnh báo lũ, với mục đích áp dụng những kiến thức mới này trong điều kiện Việt Nam để giúp quản lý, sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên nước và giảm thiểu tác hại cho thiên tai, bảo vệ người dân. Bước đầu gặt hái thành công, năm 2012 anh Phú đã nhận được Giải thưởng Outstanding Student Paper Award của Hội Địa lý Hoa Kỳ (AGU). Để tìm hiểu thêm các bạn có thể đọc tại file đính kèm ở cuối bài. Hi vọng những chia sẻ của anh Phú sẽ giúp các bạn trang bị thêm những thông tin hữu ích trên con đường apply du học Mỹ của mình.

Nhóm biên tập rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, gợi ý câu hỏi phỏng vấn và giới thiệu ứng viên phỏng vấn của các bạn. Mọi ý kiến xin được gửi về địa chỉ email interviewseries_contact@us-guide.org. Mỗi một sự đóng góp sẽ là động lực rất lớn cho nhóm hoàn thiện tốt hơn ở những bài tiếp theo.

Xin cảm ơn sự quan tâm của các bạn.
Chúc các bạn apply thành công!

T/M Ban Biên Tập

Huy Hoàng
Interview Series 10_Dinh Phu (1)

Kinh nghiệm apply học bổng Tiến sỹ

Nguyễn Minh Hiển

Ngành học: PhD in Economics

Trường đang học: University of Missouri at Columbia Niên khóa: Nhập học Fall 2011

Dạng học bổng: Teaching Assistantship

TOEFL: 94 (Reading 25, Listening 24, Speaking 20, Writing 25)

GRE (computer-based): Verbal 590, Quantitative 800, Writing 4.5

Undergrad GPA: 8.1/10 (Hanoi University of Technology)

Số năm kinh nghiệm trước khi apply: 4.5 năm

 Chia sẻ kinh nghiệm apply

Đi du học là một trải nghiệm tuyệt vời. Trước hoàn cảnh giáo dục từ chương ở nhà thì đi du học có lẽ là con đường tốt để tự cứu mình mà may ra có thể cứu những bạn khác. Từ một người vô cùng bối rối và nhút nhát, sau khi qua Mỹ mình đã có thêm kiến thức, tự tin và biết mình đang đi đâu.

Bạn không cần phải giỏi hay đạt nhiều giải thưởng, phải học trường chuyên lớp chọn hay có nhiều tiền mới có thể du học được. Tất nhiên có một số yếu tố đó cũng tốt.

Điều bạn cần là kết quả học tập khá, tiếng Anh đạt khá trở lên, mày mò Internet về trường lớp. Thị trường về trường học ở Mỹ rất đa dạng với đủ loại trường lớp, những lời khuyên, những trường hợp bạn đã biết cũng tốt nhưng nhưng ẩn số chưa khám phá còn lớn hơn nhiều, tự bạn tìm kiếm bạn sẽ thấy có gì đó phù hợp với bạn.

Con đường vạn dặm bắt đầu bằng một bước chân. Hãy đi và bạn sẽ đến. Dù bạn thất bại hay thành công (cá nhân mình thấy những bạn cùng lứa với mình đều đi được hết), chỉ riêng chuyện bạn bỏ công sức tìm hiểu và chuẩn bị nghiên túc cũng đem đến cho bạn những kiến thức rất bổ ích.

 

Vì sao bạn muốn đi du học? Tại sao bạn chọn học ở Mỹ?

Mình có ý định đi du học từ khoảng năm 2002 và đi du học vào đầu năm 2005. Nghĩ lại thì lý do của mình lúc đó không chín chắn lắm, đơn giản là mình chán cuộc sống ở nhà và nghĩ đi du học sẽ thú vị và mở ra cho mình những cánh cửa mới. Mình lúc đó không có tầm nhìn xa.

Mình chọn học ở Mỹ bởi lúc đó mình thấy một số bạn cùng lứa hơn mình một khóa đi học ở Mỹ được với học bổng của trường. Mình nghĩ như vậy thật tuyệt và nghĩ mình cũng có thể đi học được như mọi người vì mình thấy mình cũng có khả năng như những anh chị đó. Họ làm được thì mình cũng làm được. Suy nghĩ đó có chút hiếu thắng một chútJ

Bạn cho rằng mình phù hợp với ngành học, chương trình học như thế nào?

Lúc đầu qua Mỹ mình học Thạc sĩ về Electrical Engineering, rồi đi làm một số năm và quay lại trường học PhD về Economics. Ngành này phù hợp với mình vì mình cần những công cụ kinh tế định lượng để đi sâu vào kinh tế xã hội, những kiến thức này chỉ trong trường mới dạy. Ngoài trường học thì mình có những kinh nghiệm sống, quan sát trải nghiệm xã hội Mỹ thực sự nên cũng thấy liên kết từ cái mình học tới cuộc sống ở ngoài.

Điều quan trọng là mình có có thể tự thích nghi để phù hợp với ngành học. Thú thật, học Kinh tế không đơn giản vì học toán định lượng nhiều chứ không chỉ là những ý tưởng mơ màng. Học tập đòi hỏi kỷ luật và dành rất nhiều công sức với môn học mặc dù lúc đầu chính mình cũng hơi “choáng”. Nhưng dần dần mình cũng quen. Hiện tại có thể cũng chịu đựng nhưng nghĩ tới tương lai mình thấy sự chịu đựng của hiện tại cũng tốt để mình thành người tốt hơn.

Theo bạn việc lên kế hoạch du học có quan trọng và cần thiết không, vì sao?

Mình nghĩ việc lên kế hoạch du học là rất cần thiết vì ai dậy sớm thì đi được xa. Có những thời điểm không đợi bạn như các deadline của trường, của học bổng, của điểm tiếng Anh. Nếu bạn không đặt kế hoạch thì có thể bị lỡ. Ngay cả nộp đơn cho trường, ai nộp sớm thì hồ sơ cũng được ưu ái hơn.

Khi nào nên bắt đầu lập kế hoạch du học?

Nếu tính thoải mái thì bạn nên lập kế hoạch trước khoảng hai năm vì bạn cần thời gian để hâm nóng trước khi chạy nước rút. Nếu bạn có thể bắt tốc độ luôn thì từ 1.5 tới 1 năm trước khi bạn nộp hồ sơ.

Nhưng để ý trau dồi tiếng Anh trước không bao giờ là thừa. Bạn chuẩn bị sớm nhất có thể.

Để có được bản kế hoạch du học hiệu quả và phù hợp nhất cần chú ý đến những yếu tố nào?

Mình nghĩ thường con người có sức ỳ lớn và có thể không theo được quỹ đạo. Vì vậy cần tạo áp lực để đi theo quỹ đạo. Ví dụ, để làm tốt các standardized tests, bạn cần dành ra 1 lượng thời gian nhất định để ôn luyện. Mình nghĩ trước tiên bạn nên xem luôn lịch đăng ký thi Toefl/GRE/GMAT và ước lượng bạn cần ôn bao lâu thì đăng ký luôn. Bạn sẽ có khí thể để chuẩn bị cho tốt.

Bạn có đưa ra những phương án dự phòng trong kế hoạch du học?

Khi mình apply thì mình chỉ quyết tâm đi Mỹ vì mình biết là hoàn toàn có thể. Sau khi mình apply trượt đợt một vì thiết kinh nghiệm, mình được một học bổng đi Hàn và đi Úc nhưng mình quyết định bỏ để đánh cuộc. May mắn thay mình đi được Mỹ ngay lần sau.

Cần làm gì để quản lý thông tin du học hiệu quả và khoa học?

Mình thường tạo thư mục trên máy tính thôi.

Deadlines nộp hồ sơ và deadlines cho các nguồn hỗ trợ tài chính thường vào khoảng thời gian nào?

Bạn cần tự nghiên cứu theo website của trường. Thường các trường bắt đầu nhận hồ sơ cho kỳ Fall vào khoảng đầu tháng 12. Bạn nộp được càng sớm càng tốt.Mình nghĩ áp lực và cam kết sẽ khiến bạn có động lực thực thi kế hoạch tốt. Cam kết và áp lực có thể đến từ đã trả tiền lệ phí thi, kế hoạch học nhóm bạn bè hối thúc nhau hay đi học thêm lớp tiếng Anh.

Làm thế nào bạn chọn được trường và chương trình học thích hợp (Ranking, Curriculum, Professor/Faculty, Class size, Location, Tuition fee, Living cost), nên cân nhắc những yếu tố gì? Nếu có nhiều lựa chọn nên bắt đầu từ đâu?

Về rank

Trường rank cao: nếu bạn xin vào được trường rank cao và ở trong một chương trình PhD thì bạn sẽ phải làm việc rất nhiều. Nhưng bù lại, nếu bạn sống sót được thì cơ hội việc làm của bạn ở Mỹ trong giới academia hay industry đều rất tốt.Bạn có thể ở trong một team có nhiều member và có không khí cạnh tranh lớn.

Trường rank vừa: bạn cũng vẫn phải làm việc chăm chỉ cho tương lai công việc. Nhưng cơ hội để làm cho academia không cao như trường rank cao. Bù lại xin việc ở industry cũng tốt. Ở industry có nhiều jobs nên có lẽ không thành vấn đề. Bạn có thể có thời gian để tìm hiểu về văn hóa xã hội Mỹ.

Trường rank thấp: bạn chỉ nên học Master thôi, có thể đó là bước đệm cho bạn khi mới sang Mỹ nếu họ cho bạn tiền. Đó có thể là cơ hội tốt cho bạn tìm hiểu tác phong làm việc và văn hóa xã hội Mỹ. Sau khi tốt nghiệp bạn có thể học tiếp PhD ở trường rank cao nếu bạn muốn.

Về Faculty/Professor

Trường rank cao thì tất nhiên là tốt rồi. Nhưng ở trường rank vừa và thấp cũng có thể có những giáo sư rất tốt làm trùm một vùng. Bạn cần nghiên cứu về giáo sư để biết. Nếu có giáo sư như vậy thì khả năng có thể có RA.

Vùng New England là nơi tương đối đắt đỏ nhưng đi lại thuận tiện. Do đó có những cơ hội đi seminar dễ dàng. Nếu bạn ở thị trấn nhỏ thì con người thuần chất thân thiện hơn, nếu bạn gần thành phố lớn hay ở thành phố lớn thì phức tạp hơn và vật chất.

Trường ở khu Midwest thì có vẻ tẻ nhạt đơn điệu quá cho các bạn mới sang Mỹ nhưng đó là bộ mặt thật của người Mỹ không màu mè. Giá cả sinh hoạt thấp và con người tốt với nhau. Cá nhân mình sau khi sống ở một thị trấn nhỏ thân ái giữa con người với nhau trong 3 năm rồi mới sống ở gần thành phố lớn thấy hiểu nước Mỹ hơn nhiều.

Khu Northwest quá xinh đẹp.Mình không biết gì nhiều chỉ biết là thiên nhiên quá đẹp.

Mạn California nắng ấm quanh năm.Chi tiêu đắt đỏ và hơi xô bồ, hơi giống ở Việt Nam.Nếu bạn quan tâm tới business thì có vẻ cũng tốt.

Phía Nam nước Mỹ như Georgia, South Carolina… gắn với văn hóa miền Nam nước Mỹ rất thân thiện với những người Mỹ da màu. Giá cả sinh hoạt phải chăng.

Mạn Texas, New Mexico khá là nóng.

Tùy theo bạn muốn gì nhưng mình nghĩ bạn cần đặt các chỉ tiêu học tập, ranking của trường lên trên. Nếu bạn muốn khám phá thế giới sôi động thì có lẽ bạn chọn nơi thành phố. Nếu bạn có gia đình, thích tĩnh lặng và tìm nơi nuôi dạy con cái cho tốt thì có lẽ thị trấn nhỏ phù hợp vì chi phí thấp và an sinh xã hội tốt.

Có thể chọn và học ngành khác với ngành đã học ở đại học được không? Nếu chuyển ngành sẽ có lợi thế/khó khăn gì? Phải chuẩn bị những gì nếu muốn chuyển ngành?

Bạn có thể học thêm những ngành khác tùy nhu cầu của bạn nhưng đó không nhất thiết là bạn bỏ cái ngành cũ của bạn. Đó là chuyện rất bình thường ởMỹ. Ở Mỹ trừ bên kỹ thuật chuyên sâu, giáo dục đại học cho sinh viên kiến thức căn bản chung chung. Sau đó học gì thêm là tùy sở thích của sinh viên. Bằng Master như một major thứ hai thôi. Mình từng biết có ông người Mỹ có tới 3 cái bằng Master khác hẳn nhau.

Nếu học thêm ngành khác bạn cần trả lời câu hỏi bạn muốn giải quyết vấn đề gì và tại sao cần học thêm một cái mới. Sau đó bạn tìm kiếm Google, xem website của trường cho những câu hỏi của bạn

Bạn có thể chia sẻ kinh nghiệm, các bước để viết một bài luận tốt? Có nên đọc bài luận mẫu không? Tại sao? Nếu có thì nên đọc thế nào? Nên nhờ ai xem và sửa giúp bài luận?

Mình nghĩ khi bạn bắt đầu viết một bài luận bạn nên suy nghĩ ở thể tương lai. Hãy tạm bỏ qua quá khứ của bạn. Bạn hãy đặt ra câu hỏi: giấc mơ của bạn là gì? Bạn có vấn đề gì bạn muốn dành thời gian giải quyết. Đó có thể xuất phát từ những câu chuyện riêng tư như có người nhà bị bệnh, bạn muốn học ngành y để tìm thuốc chữa. Hay có thể xuất phát từ những bất cập của báo chí Việt Nam mà bạn muốn giúp giải quyết, bạn tìm kiếm mặc dù chưa có giải pháp. Rồi từ giấc mơ đó bạn kết nối với hiện tại và quá khứ thành một câu chuyện “tìm kiếm” của bạn với nhiều tình tiết cá nhân, thử nghiệm, thành công, thất bại. Câu chuyện muốn nộp đơn xin học sẽ được đưa vào trong hành trình theo đuổi giấc mơ của bạn.

Những điều nên tránh: những lời chung chung sáo rỗng không mang tính cá nhân, những lời dài dòng.

Về việc đọc bài luận mẫu, mình nghĩ không nên đọc nhiều vì mỗi người có những câu chuyện khác nhau nhưng bố cục vẫn là bạn đang đi đâu, bạn từ đâu tới và bây giờ bạn đang ở đâu. Sau đó là những tình tiết rất thật và cá nhân của bạn. Nếu bạn đọc nhiều bài mẫu bạn khó là chính mình và khó thành độc đáo được.

 

—————————————————————————

Chương trình rất mong nhận được góp ý của các bạn. Nếu bạn cảm thấy có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình hoặc biết ai đó có kinh nghiệm thú vị, hãy liên hệ với Interview Group ở địa chỉ: interview@nhomlua.org

Cảm ơn các bạn đã dành thời gian cho Nhóm Lửa

Biên tập: Thu Thủy và Bích Nguyễn 

Hướng dẫn apply vào trường đại học Mỹ từ A-Z

Tác giả: Lê Hoàng Nam
Cuộc sống đại học đầy súc vật khiến bây giờ mình mới có thời gian ngồi viết cái này. Có thể hơi muộn đối với 1518, nhưng với những khóa sau thì mình tin rằng những gì mình viết dưới đây sẽ rất có ích cho các em trước và trong quá trình apply. Trước khi đọc cái này, hãy đảm bảo bạn biết trong quá trình apply có những phần nào yếu tố nào, vì mình sẽ không liệt kê các bước với các loại bài thi các loại giấy tờ ra rồi giải trình quá trình app ở đây đâu ạ.

Mình cũng muốn nói luôn là nếu ai đó muốn hỏi mình cái gì về quá trình app thì hoàn toàn có thể ib, nhưng ít nhất hãy tìm hiểu trước xem trong quá trình này có những cái gì. Chứ ib rồi hỏi mình được “học bổng bao nhiêu %” là mình ghét đó.

Why study in the US?
Đầu tiên, mình muốn nói về mục đích của một bộ hồ sơ apply. Mục đích của nó là để phản ánh học sinh trên nhiều mặt (học tập, HĐNK, xã hội, cá nhân, sáng tạo,…) để qua đó xác định xem học sinh có phù hợp với trường hay không (Laura Clark, cựu nhân viên tuyển sinh tại Princeton, giám đốc tư vấn tuyển sinh tại Ethical Fieldston Culture School).
Trước khi mình đi vào nói về các phần trong quá trình app và bộ hồ sơ, mình muốn nhấn mạnh rằng đây là một quá trình đánh giá đa chiều. Nói cách khác, không một yếu tố nào có khả năng một mình quyết định bạn được nhận hay không. Nên là điểm SAT có kém thì cũng đừng có đến mức tuyệt vọng.
A. Thi chứng chỉ:
  1. IETLS/TOEFL:
Vai trò của IELTS và TOEFL được nói rất rõ trên gần như tất cả các websites trường mình lên: Proof of English Proficiency. Nói cách khác, nó chỉ có vai trò đảm bảo là sang đó bạn giao tiếp được với người ta và chấm hết. Điểm IELTS/TOEFL cao không thể gia tăng khả năng được nhận. Nó chỉ mang tính chất là điều kiện cần thôi. Ví dụ, nếu trên website trường nói là học sinh của họ thường được 100 TOEFL chẳng hạn, thì khi họ nhìn điểm TOEFL họ sẽ chỉ nhìn xem có mấy chữ số, và kết thúc ở đó. 101 và 111 chả khác gì nhau cả.
IELTS và TOEFL là English Proficiency Tests, tức là nó đánh giá khả năng sử dụng tiếng Anh của bạn. Mình rất không thích khái niệm “đi học TOEFL” hay “đi học IELTS” vì tất cả những thứ được đánh giá đều là kĩ năng. Học nghe là học cái mẹ gì? Vểnh tai lên mà nghe chứ có gì mà phải học. Thế nên, cách duy nhất và lí do duy nhất bạn có thể tiến bộ là do làm nhiều. Liên tục sử dụng tiếng Anh ở trong các ngữ cảnh khác nhau để làm quen với nó. Khi bạn đã thật sự thoải mái với cái ngôn ngữ rồi thì nói về thứ bạn thích trong vòng 45s chỉ như một cuộc nói chuyện thường ngày. Hơn nữa, khái niệm “đi học TOEFL” hay “đi học IELTS” còn khiến bạn học với tâm lý beat the test. Do đó, khả năng tiếng anh thật sự của bạn sẽ khó tiến bộ hơn vì bạn đã giới hạn sự tiến bộ của mình vào trong bài thi. Nói đơn giản là, nếu như bài đọc IELTS bạn đọc được mà bài đọc bình thường thì không, thì điều đó chả có ý nghĩa gì cả. Nói tóm lại, IELTS và TOEFL là cái tự học.
Vậy tự học như thế nào? Cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đều được xây dựng trên nền tảng ngữ pháp, nên điều quan trọng nhất là hãy đảm bảo ngữ pháp tiếng Anh của bạn chắc chắn. Nếu ngữ pháp chắc thì khi nghe bạn có thể nghe được cấu trúc câu và thì động từ được sử dụng, và như thế việc nghe hiểu sẽ dễ dàng hơn là đôi khi bắt được từ này từ kia mà không nghe được cấu trúc chung; khi đọc bạn có thể phân tích một câu rất phức tạp nhiều mệnh đề ra rõ ràng chủ vị chính ở đâu, mệnh đề nào bổ nghĩa cho cái gì, khiến việc đọc mượt hơn rất nhiều; khi viết thì rõ ràng là cần ngữ pháp rồi không phải giải thích; và khi nói thì bạn linh hoạt hơn rất nhiều trong cách sử dụng ngôn ngữ, và mình nghĩ rằng khi bạn có thể nói mà đúng ngữ pháp, bạn đã thật sự nắm rất chắc ngữ pháp rồi đó vì điều này yêu cầu xử lí ngữ pháp một cách tức thời và liên tục trong giao tiếp. Nói tóm lại, học ngữ pháp trước khi định đến TOEFL/IELTS hay bất kì loại chứng chỉ nào khác.
Có lẽ phần writing sẽ là cái mà mọi người lo nhất nếu như mọi người tự học như mình nói, và nỗi lo này hoàn toàn chính đáng. Với TOEFL, mình xin nói thẳng luôn writing TOEFL bạn chẳng cần cái gì ngoài việc đúng ngữ pháp cả. Template TOEFL rất đơn giản, đừng sai ngữ pháp và đừng dùng lặp từ/cấu trúc và 30/30 hoàn toàn trong tầm tay. IETLS writing thì khó hơn vì nó hàn lâm hơn và yêu cầu khả năng phân tích và phản biện ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, mọi thứ cũng sẽ rất dễ dàng khi bạn chắc ngữ pháp, và cá nhân mình thấy việc đi học viết IETLS cũng không cần thiết cho lắm vì ở nhiều nơi bạn sẽ dành tầm nửa khóa làm những tờ bài tập dạy bạn cách dùng however với therefore và những thứ tương tự. Template của IELTS hoàn toàn có thể tìm được trên mạng. Đọc vài bài mẫu và ghép chúng lại với nhau tự tạo template riêng của mình. Viết nhiều và nhờ ai đó đọc và sửa. Nếu bạn đã chắc ngữ pháp thì hoàn toàn có thể inbox mình, viết vài bài theo yêu cầu mình đưa ra, và mình có thể dạy bạn cách viết task 2 IELTS khá ổn chỉ trong một buổi tối (về lý thuyết là thế, nhưng thực ra sẽ là vài ngày vì mình cũng phải làm bài tập của mình huhu). Task 1 thì mechanical và analytical hơn, như kiểu đọc biểu đồ địa lý ý. Tập nhiều là ổn.
2. SAT (mình không thi ACT nên mình sẽ không đề cập đến nó):
Ở đây mình sẽ bàn đến reading là chính, vì mình không thi SAT mới nên mình không biết essay SAT mới như thế nào. Mình sẽ không bàn đến phần Toán vì là những Bsians chính hiệu tất cả chúng ta chỉ cần làm nhiều cho quen đề, chứ kiến thức thì không có gì quá tầm cả.
Vì một số lí do nhất định, hồi trước mình đã ngồi phân tích và giải thích key tầm gần 100 bài đọc SAT mới, nên mình nghĩ mình có thể bàn về nó. Điều đầu tiên là again, đây là đọc. Chúi mắt vào mà đọc chứ chả ai dạy được cả. Nên là làm nhiều vào nếu thấy mình kém.
Còn về cách làm bài đọc thì theo kinh nghiệm của mình thì thời gian đọc hiểu là chính trả lời câu hỏi là phụ. Hiểu rồi thì trả lời câu hỏi nhanh như bay. Lúc đọc thì xác định ý chính cả bài và ý chính từng đoạn là gì. Nhiều người không thích bị cái giọng đọc trong đầu nhưng mình nghĩ cái đó tốt vì khi làm thế có thể nhận ra tone và thái độ của tác giả luôn. Vừa đọc vừa phân tích trong đầu kiểu tác dụng của ví dụ này là gì thái độ câu này là gì. Lưu ý là mọi chi tiết đều dùng để làm rõ ý tác giả trong đoạn hoặc cả bài. Để ý những cái transitions. Một điều rất quan trọng mà mình để ý là reading SAT thì bất kể câu hỏi về ý chính hay về một chi tiết cụ thể thì đáp án cũng luôn hướng về main idea/main argument của cả bài hoặc đoạn. Nên là nghĩ rộng ra and look at the overall context.
Về cách học thì đương nhiên là làm hết đề thật trước. Tuy nhiên, vì đây là đọc, sát đề thật hay không cũng không quan trọng lắm trong quá trình luyện. Kiểu, lúc luyện bạn quen làm đề khó thì lúc làm đề thật dễ hơn thì mọi thứ sẽ suôn sẻ hơn rất nhiều. Cá nhân mình thấy reading SAT cũ khó hơn hẳn SAT mới, nên sau khi làm hết đề thật SAT mới có thể tìm đề SAT cũ làm để luyện. Và again, điều quan trọng nhất là: LÀM NHIỀU VÀO.
Mình định nói về SAT II nhưng mình thi mỗi Toán với Văn. Toán thì như đã nói chúng ta là Bsians chúng ta chỉ cần làm nhiều còn kiến thức hoàn toàn trong tầm. Văn thì về cơ bản chỉ là reading ở mức độ khó hơn rất nhiều và yêu cầu làm nhiều làm đi làm lại để tiến bộ.
B. “Học app”:
Học app là học cái mẹ gì? Quá trình app có gì cần học? GPA thì ở trên lớp, thi chứng chỉ đã nói ở trên, thông tin cá nhân về gia đình bản thân HĐNK trên CommonApp tự biết tự điền, thông tin tài chính chỉ quanh quẩn ISFAA, CSS, (2 cái y hệt nhau điền xong một cái chỉ việc ngồi chép sang cái còn lại), COF (1 phiên bản rút gọn của 2 cái kia). Nhờ bố mẹ đi lấy bank statements, employer’s statements hay bất kì giấy tờ gì chứng minh thu nhập và tài sản của gia đình và cứ thế điền vào ISFAA/CSS với scan rồi nộp cho trường. Ngồi một buổi tối với bố mẹ là xong hết. Vậy có gì cần giúp?
Essays.
Essays có 2 vai trò. 1 là để đánh giá khả năng viết của bạn. 2 là để tìm hiểu bạn trên những phương diện khác mà đống điểm chác hay cái list HĐNK không thể truyền tải. Thế nên, quyền hạn của 1 counselor đối với essays của học sinh là như sau (Do mình tổng hợp từ các email với các application counselors và admission officers ở Mỹ):
  1. Grammar check.
  2. Proofreading.
  3. Cutting (đây là mức độ edit trực tiếp lớn nhất mà một counselor được phép làm)
  4. Ngồi nói chuyện tìm hiểu và cãi nhau với học sinh để tìm hiểu và cùng nhau đưa ra những hướng tiếp cận và xử lí bài luận.
Vậy, một counselor tốt là một người không đi qua giới hạn trên, và làm được điều thứ 4 một cách kiên nhẫn, cầu tiến và năng suất. Cái này yêu cầu individual attention cực cao, thế nên mình không ủng hộ các trung tâm mà 1 counselor gánh quá nhiều học sinh (trên 10 là có vấn đề rồi).
Học app không hề rẻ, và trước khi nói gì tiếp thì mình nói thẳng luôn là mình chỉ ủng hộ duy nhất một trung tâm, và mình không khuyến khích việc học app. Đương nhiên mình sẽ không công khai nói đó là trung tâm nào ở đây. Nếu ai muốn biết có thể ib mình trực tiếp để hỏi. Các trung tâm còn lại thì hoặc là vì mình biết quá ít để có thể đưa ra nhận định, hoặc là mình thật sự phản đối.
Bản chất của trung tâm là một doanh nghiệp. Họ làm tiền từ việc giáo dục, và cân bằng giữa 2 cái này không phải dễ. Và rất nhiều khi, trung tâm đặt lợi nhuận lên trên lợi ích học sinh qua những hành động như ép học sinh app trường rank cao để PR, ép tăng mức contri, yêu cầu tài khoản và mật khẩu CommonApp để đôi khi vào nghịch, bẻ essays đi một tẹo hoặc nhiều tẹo,… Không chỉ vậy, rất nhiều trung tâm không dành thời gian tìm hiểu học sinh, thế nên những bài luận viết ra rất nông cạn. Mình nói thẳng luôn là trung tâm viết chưa chắc hay hơn học sinh. Mình đã đọc một essay có vẻ như là final draft của một người qua 1 trung tâm nhất định, và nó hoàn toàn nông cạn chẳng có một tí chất nào. Với tư cách người đọc, mình không thấy ấn tượng chút nào với người viết ra bài luận đó, và mình thấy bực với việc trung tâm có thể để cho người này submit bài này cho các trường. Mình sẽ nói sâu hơn về essays ở phần sau.
Vậy nên tìm kiếm thông tin và giúp đỡ ở đâu? Ôi mình thề mình đéo thể nào hiểu được tại sao ai cũng đến trung tâm với hội thảo các trung tâm để tìm hiểu, trong khi có con mẹ nó một cái TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO DỤC CỦA ĐẠI SỨ QUÁN MỸ được đặt trong Đại sứ quán Mỹ ở Ngọc Khánh, Giảng Võ. Cái nguồn khách quan và updated nhất thì không đến lại cứ đến cái chỗ con mẹ nào? Tên nó là EducationUSA: https://vn.usembassy.gov/education-… . Và trước khi ai đó thắc mắc gì thì mình hoàn toàn không được lợi gì từ việc PR cho EducationUSA, bởi vì đây là tổ chức phi lợi nhuận. Cũng chính vì là tổ chức phi lợi nhuận, mà họ giúp bạn app MIỄN PHÍ. Vâng miễn phí đó ạ! Họ tuân thủ đúng mọi quy tắc đạo đức hành nghề đặt ra bởi Bộ Ngoại giao Mỹ, và là nguồn thông tin khách quan, đầy đủ, updated nhất về các trường đại học Mỹ. Không chỉ vậy, cái thư viện của họ cũng cực kì nhiều tài liệu để bạn có thể ôn thi hay tìm hiểu các thứ.
C. Chọn trường:
Cho mình tầm 30p và mình có thể mổ xẻ và thuyết phục bạn tại sao US News’ College Rankings là một thứ chủ quan, thiên vị nhà giàu và nhiều khi rất vô lí với những tác động rất tiêu cực lên cách các trường đại học hoạt động. Tuy nhiên ở đây mình sẽ không làm điều đó, ai muốn nghe có thể ib mình.
Yếu tố phù hợp là rất quan trọng trong quá trình chọn trường. Mấy cái bạn có thể nghĩ là không quan trọng có khi lại có ảnh hưởng rất lớn. Ví dụ như bạn có thể nghĩ khí hậu không quan trọng lắm vì bạn có thể thích nghi, nhưng đến lúc bạn hắt hơi vì lạnh tụt l quanh năm suốt tháng thì bạn đéo có học hành gì nữa đâu mình thề luôn. Nên để chọn trường, đầu tiên hãy xác định những tiêu chí của bản thân, ví dụ như:
  1. NU hay LAC?
  2. Thành thị to to hay khỉ ho cò gáy?
  3. Nóng hay lạnh?
  4. Coed hay single-sex?
  5. Đông người Việt hay ít người Việt?
  6. Một số môn học hay ngành bạn muốn trường có?
  7. Double major không?
  8. Có cơ hội hay cơ sở vật chất cụ thể nào bạn muốn trường có (co-op, internship, study abroad,…)?
  9. Gần ai đó không?
…… Và rất nhiều thứ khác tùy theo nhu cầu cá nhân của mỗi người.
Điều quan trọng nhất là xác định cho bản thân một tư tưởng giáo dục. Bạn muốn nền giáo dục của mình tập trung vào cái gì? Vào việc học để đi làm kiếm tiền hay học vì học? Hãy xác định một tư tưởng giáo dục cho riêng mình, và đọc nghĩ kĩ về cái mission statement với vision trên website các trường. Điều này rất quan trọng vì cuộc sống đại học khá là vất, thế nên bạn cần phải yêu thích việc học của mình để có thể kéo bản thân qua những sự vất đó. Cho đến giờ mình thấy rất intellectually engaged với những gì mình đã và đang được học và đọc, dù mình ở đây mới được có một tuần.
Điều đó dẫn đến ý tiếp theo của mình: Mổ xẻ lật tung cày nát cái website trường ra, xem nó có thỏa mãn những cái nhu cầu của bạn hay không. Nói cách khác, lục tung cái website để xem bạn có phù hợp với chỗ đó hay không.
Again, “the fit” là một điều rất quan trọng, vì bạn sẽ rất khổ sở ở một nơi không phù hợp với mình. Không chỉ vậy, các trường khi chọn học sinh họ chọn những người họ thấy phù hợp nhất, những người mà có tiềm năng phát triển nhiều nhất ở trường của họ, thế nên việc bạn phù hợp với một trường và thể hiện được điều đó trong hồ sơ rất có lợi cho bạn trong quá trình app.
D. Phản đối US News Rankings hay PR cho Bennington College?
Ở đây mình sẽ không mổ xẻ US News như mình đã hứa ở trên, mà mình muốn nói về trường của mình, Bennington College, được xếp hạng 87 bởi US News trên bảng xếp hạng LACs. Từ khi đến đây, học ở đây 1 tuần, mình đã thấy được rất nhiều về giá trị của nơi này mà trước đây mình chưa hề biết đến.
Đầu tiên là những thứ mà có thể tìm hiểu được trên website. Hệ thống giáo dục của Bennington dựa trên 2 cột trụ chính: The Plan và Field Work Term.
  1. The Plan: Ở Bennington không có major. Trường mình có một đống areas of study, nhưng không có major. Học sinh không declare major của mình, mà nó là một quá trình. Khi ra trường sẽ nhận bằng Bachelor of Arts. The Plan Process là bạn sẽ tự chọn ra những gì mình muốn học, tự xây dựng quá trình học của mình trong suốt 4 năm để phù hợp nhất đối với những mong muốn và dự định của bản thân. Không có core curriculum, không có môn gi bắt buộc cả. Chẳng ai bắt bạn phải học hay làm gì cả, chỉ là bạn có dám học hay làm hay không thôi. Đây là điều rất quan trọng với mình khi đưa ra quyết định chọn Bennington: Tự do và tự chủ. Mức độ tự do của Bennington vượt lên trên mọi trường mình đã tìm hiểu, những nơi mà khoe về tự do trên websites nhưng vẫn giới hạn nó với những thứ như core curriculum hay một số khóa nhất định phải học để đạt major requirements. Sự tự do ở Bennington thể hiện dưới rất nhiều dạng, như việc reading room ở thư viện mở 24/7, hay việc học sinh có thể mượn chìa khóa vào các nơi như computer lab để có thể ngồi làm projects thâu đêm suốt sáng,… Mình cũng muốn nói là với mình tự do là điều rất quan trọng, thế nên mình thấy Bennington hợp với mình. Nếu bạn không muốn sự tự do mà, arguably, có thể hơi quá đà như vậy, thì Bennington có lẽ không dành cho bạn. Cách xây dựng The Plan đương nhiên không đơn giản như việc chỉ học mọi thứ bạn muốn. Xuyên suốt 4 năm bạn sẽ phải xây dựng và cải thiện Plan của mình liên tục, và phải thuyết trình và cãi nhau với 1 committee gồm 3 faculty advisors để bảo vệ/điều chỉnh Plan của mình. Như vậy, bạn có thể xây dựng được một kế hoạch thật sự fulfilling mà không thiếu phần challenging chút nào cả, và quan trọng hơn là bạn đảm bảo được là Plan của mình không như l và khi ra trường mình sẽ thật sự đã học được gì đó.
  2. Field Work Term (FWT): Tự do vãi l thế kia thì nhỡ đâu tốt nghiệp lại toàn học những cái ở đẩu ở đâu không dùng được trong thế giới đi làm thì sao? FWT là một điều duy nhất Bennington có. FWT không phải kì học, mà là kì làm. Học sinh bắt buộc apply đi làm ở bất kì đâu trên thế giới trong vòng 7 tuần trong năm học từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 2. Bất kì đâu, miễn là được nhận. Điều này cho phép học sinh có kinh nghiệm đi làm, học những kĩ năng trong thế giới đi làm, và đưa những kiến thức mình đã học vào thực tiễn. Nó còn giúp học sinh khám phá những lĩnh vực mới một cách thật và trực tiếp nhất. Không chỉ vậy, đây còn là cơ hội cực tốt để xây dựng mạng lưới quan hệ mà sẽ rất có lợi khi bạn tốt nghiệp và phải đi kiếm việc.
Sự kết hợp của The Plan và FWT cho học sinh một mức độ tự do cực lớn, nhưng cũng cho học sinh cơ hội để tự đánh giá những quyết định bản thân đưa ra với cái sự tự do đó. Họ trao cho bạn tự do và trao cho bạn khả năng để điều chỉnh mức độ tự do mình muốn thay vì bị cuốn đi. Họ không giới hạn tự do của bạn, mà để cho bạn tự làm điều đó nếu bạn thấy cần thiết. Đây là một sự kết hợp mà mình thấy rất tinh tế, vì việc trao quyền chủ động vào tay học sinh như vậy thật sự khiến học sinh phải có trách nhiệm với những quyết định của mình: Bạn có tự do quyết định, và bạn có trách nhiệm phải chịu những hậu quả do quyết định mình đưa ra. Đương nhiên, hậu quả ấy sẽ chỉ kéo dài 7 tuần, và trải nghiệm đó sẽ khiến bạn nghĩ lại về những quyết định của bản thân và điều chỉnh một cách hợp lí và cân bằng nhất. Những bài học ấy sẽ rất quan trọng sau khi tốt nghiệp, khi mà bạn thật sự tự chủ tự quyết và những quyết định của bạn có thể theo bạn cả đời.
Sự kết hợp này cũng là một sự đảm bảo rằng học sinh vừa học những gì mình muốn và vừa sẵn sàng cho thế giới sau tốt nghiệp (vì đôi khi những gì mình thích không phải là các ngành đang hot trong thị trường việc làm). Nó vừa tự do vừa đảm bảo, và điều tinh tế nhất đó là cả 2 mặt đó đều do bạn quyết định, chứ không ai khác.
Bây giờ đến những điều mà mình nhận thấy sau 1 tuần học. Từ khi thành lập, Bennington đã luôn là một trường rất progressive và rất đa dạng. Đọc commencement statement trên website là thấy. Phải tầm một nửa trường là LGBTQ+. Những nước mình chưa hề nghe tên đều có người ở đây. Tuy nhiên, trái với khái niệm diversity ở nhiều nơi, Bennington tiếp cận khái niệm này một cách rất khác.
Diversity agenda là cái mà các chiến binh công lý xã hội dựa vào để đưa mọi thứ lên một tầm cao mới. Khi mình mới gặp roommate, roommate (một người da đen) hỏi: “How’s your English?” Ở nhiều nơi, câu hỏi này sẽ được coi là microaggression, một khái niệm rất gây tranh cãi. Tuy nhiên, mình biết roommate không có ý xúc phạm mình hay phân biệt, mà đơn giản là nó không biết. Nó sống ở Mỹ còn mình ở Việt Nam. Làm sao nó biết được ở Việt Nam học sinh phải học tiếng Anh từ lớp 3? Diversity agenda là cái thứ mà các social justice warriors dựa vào để phê phán sự cultural ignorance như vậy và condemn nó as hatred, một điều mà thật sự rất vô lí và cực đoan.
Bài đọc đầu tiên của mình là một bài đọc cho First-year Forum với faculty advisor để hướng dẫn học sinh qua hệ thống giáo dục ở Bennington. Bài đọc đó về total institutions, những nơi mà có một tập thể gần như là cố định sinh hoạt cùng nhau cả ngày trong một thời gian dài. Những nơi như nhà tù, bệnh viện tâm thần, trại tập trung,… Lúc đầu, mình không hiểu mục đích cho lắm, nhưng rồi mình bật ra: “She probably wants us to compare a college campus, particularly Bennington, with a total institution.” Và đấy đúng là điều cô ý làm. Cô ý còn yêu cầu bọn mình phân loại các “wardens” trong “asylum” này và mối quan hệ của họ với “inmates”. Điều mình muốn nói là, cô ý đang khuyến khích bọn mình nhìn nơi này đa chiều hơn, như kiểu cô ý muốn nói “You chose this place, so I assume you must like it. But here, this place has its bad sides, and it may not be all that you think.”
Assignment thứ 2 của cô ý là muốn mình ngồi trong nhà ăn và ghi chú xem mọi người xung quanh làm gì, nói về cái gì, ngồi ở đâu với ai như thế nào. Điều này nói rất nhiều bởi nó cho thấy xã hội và cộng đồng ở đây được xây dựng và hoạt động như thế nào. Người như thế nào thì ngồi một mình? Khi ngồi một mình thì họ ngồi ở đâu? Người như thế nào thì ngồi theo nhóm? Và ở đâu? Lúc nào vắng lúc nào đông? Tóm lại, cô ý một lần nữa muốn bọn mình tìm hiểu thêm về cộng đồng này, về có thể thấy được những kiểu người nhất định, và có thể có một số kiểu có nhiều bạn bè hơn những kiểu khác.
Một lớp khác của mình cũng có một bài đọc mà trong đó tác giả ủng hộ việc miêu tả chân thực không giấu giếm không nói giảm nói tránh bạo lực để thật sự hiểu được nó, chứ không nên cấm kị điều đó. Vì có như thế thì mới giải quyết được bạo lực.
Cái điều mình muốn nói ở đây là trong 1 tuần qua, mình đã được khuyến khích đi tìm sự thật thông qua các bài đọc và bài tập. Mình hơi không muốn dùng từ “sự thật” vì sự thật và thực tại thay đổi liên tục và phụ thuộc vào góc nhìn, nhưng mình không tìm ra từ nào khác. Điều này liên quan mật thiết đến cái diversity agenda mình nói ở trên: They don’t play social justice here. Như việc mình với roommate: Mình khác nó và nó khác mình. Đó là sự thật. Không hiểu nhau là điều hoàn toàn dễ hiểu. Bennington hiểu rằng những sự thật đó cần được phơi bày và cần được hiểu trước khi công lý xã hội có thể trở nên hiệu quả. Thế nên ở đây, trong một bài báo mình đã đọc về Bennington, sự tự do được nâng lên một tầm mới: “Students can say whatever they want.” Và chính sự authentic freedom of expression đó khiến mọi người chọn từ ngữ cẩn thận hơn rất nhiều, vì nó khiến họ hiểu rằng có những sự khác biệt giữa mọi người với nhau, và tất cả đều hiểu rằng họ cần hiểu những những sự khác biệt đó trước bất cứ điều gì khác.
Sự tự do ở Bennington, dù có vẻ hơi quá đà, nhưng chính sự quá đà ấy lại giải quyết những vấn đề mà bản thân nó có thể gây ra. Chính vì những lí do này mà mình tin rằng Bennington thật sự là một hidden gem mà khó có thể thấy được trên bảng xếp hạng của US News, và mình chân thành khuyên và khuyến khích mọi người khi chọn trường hãy thật sự nghiên cứu và tìm hiểu trường, bởi lẽ một con số trên US News không thể nào phản ánh được tất cả các mặt của một ngôi trường.
E. Hoạt động ngoại khóa:
Hoạt động ngoại khóa có một số vai trò như sau. 1 là nó cho trường biết bạn thích gì, đam mê gì, quan tâm gì. 2 là nó cho trường biết bạn cống hiến bản thân đến đâu cho sở thích, đam mê, mối quan tâm đó. Thế nên, một danh sách hoạt động ngoại khóa có chất lượng là một danh sách thể hiện được những sở thích, đam mê, mối quan tâm và sự cống hiến của bạn dành cho chúng. Mình biết trên CommonApp có 10 dòng điền HĐNK, và điều này khiến học sinh cảm thấy áp lực phải điền hết, nhưng áp lực đó là một tưởng tượng.
Khi chọn học sinh, trường không muốn một học sinh toàn diện, mà họ muốn một khóa toàn diện, thế nên họ muốn mỗi học sinh có mặt mạnh khác nhau. Có người hát hay có người đá bóng giỏi, có người hoạt động xã hội có người bú mình trong phòng thí nghiệm,… Thế nên, một danh sách HĐNK mà bạn làm mọi thứ đi khắp nơi không phải là một danh sách tốt.
Thứ 1, HĐNK là tất cả những gì bạn làm ngoài phòng học. Viết blog, chơi guitar, đạp xe 10km chăm sóc cho người bà bị ốm hàng ngày,… Tất cả những cái đó là hoạt động ngoại khóa, chứ không chỉ những hoạt động hay sự kiện hay cuộc thi được tổ chức bởi một đơn vị nào đó. À đó, nhân tiện nói luôn là: Bỏ ngay cái tư tưởng tham gia HĐNK vì cert đi nhé. Mình không hô hào về sự nông cạn của việc này đâu, mà mình sẽ nói thẳng cho bạn về mặt thực tế là gửi cert cho trường là trường ghét cho đó nó đéo nhận đâu.
Thứ 2, chất lượng hơn số lượng. 3 năm gắn bó và cống hiến cho một tổ chức về môi trường tốt hơn là đi khắp một đống tổ chức về môi trường nhưng mỗi cái không quá được 1 năm.
Thứ 3, HĐNK ngoại khóa ấn tượng nhất khi bạn viết được hay về nó, và bạn chỉ có thể viết hay nếu như bạn thật sự yêu thích và thật sự đắm mình vào cái trải nghiệm đó để thật sự hiểu những bài học mình đã rút ra. Mình sẽ nói sâu hơn về việc viết ở phần sau. Ở đây, cái mình muốn nói là: Lãnh đạo hay không, có đi rừng núi hẻo lánh hay không quan trọng bằng việc có hiểu và trân trọng cái mình đang làm hay không.
F. Lãnh đạo:
Đây là một khái niệm rất được trọng vọng trong mắt nhiều học sinh khi apply. Mình thừa nhận, xã hội và giáo dục Mỹ rất coi trọng việc lãnh đạo, nhưng trong quá trình quyết định nhận hay loại thì khái niệm này hơi khác với cách hiểu thông thường của nhiều học sinh Việt Nam. Định nghĩa chính xác có 2 phần:
  • Lãnh đạo không phải là thành lập một tổ chức, làm (phó) tịch của một câu lạc bộ hay sáng lập một dự án.
  • Lãnh đạo là tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng xung quanh.
Điều quan trọng cần hiểu rằng, khi các trường nói rằng họ muốn tìm lãnh đạo, họ muốn tìm người khi tốt nghiệp có tố chất làm lãnh đạo, chứ không phải một người có một danh sách các chức danh. Vậy thì, để sau khi tốt nghiệp trở thành lãnh đạo cần có cái gì? 2 thứ: kĩ năng lãnh đạo – cái mà trường sẽ dạy bạn trong 4 năm, và một ước muốn thay đổi cộng đồng – cái mà trường muốn thấy trong hồ sơ.
Nói rộng ra, trường muốn thấy một đam mê từ phía bạn. Bạn có thể là một người chơi piano xuất sắc và về sau có thể bạn sẽ soạn ra những bản nhạc mang tính quyết định thời đại, nhưng ở tuổi 16 17 khi bạn vẫn đang hoàn thiện kĩ năng chơi piano của mình, việc bạn lãnh đạo một cái gì đó thật sự hơi không cần thiết.
G. Essays:
Mình sẽ copy lại cái vai trò của essays xuống đây. Essays có 2 vai trò. 1 là để đánh giá khả năng viết của bạn. 2 là để tìm hiểu bạn trên những phương diện khác mà đống điểm chác hay cái list HĐNK không thể truyền tải.
Một essay hay là một essay có chất. Một essay có chất là khi bạn thật sự hiểu mình đang viết cái gì, và vì bạn đang viết về bản thân, nó yêu cầu bạn hiểu bản thân và những trải nghiệm của bản thân. Thế nên mình mới nói một counselor thật sự kiên nhẫn và cố gắng tìm hiểu bạn là rất quan trọng, để từ đó bạn có thể đặt ra những câu hỏi từ từng bản draft bạn viết ra, qua đó cải thiện chiều sâu và cái chất của bài essay.
Sáng tạo? Đừng có cố phải viết ra cái gì mới lạ để wow người ta. Người ta đọc essays từ khắp nơi trên thế giới trong rất nhiều năm rồi, chả có gì người ta chưa đọc đâu, nên bạn không có cửa làm người ta bất ngờ đâu. Cố quá thành quá cố đó. Cái mình muốn nói về việc sáng tạo là ý tưởng nào cũng có thể viết được, miễn là bạn đủ hiểu nó, và tìm ra đúng cách để thể hiện nó. Hồi mình viết PS, mỗi lần viết mình thử đi thử lại những format những structure những phong cách viết khác nhau để xem cái nào phù hợp và hiệu quả nhất. Mình bị chị app dập liên tục trong khoảng 2 tháng, mỗi lần bị dập là mình xóa đi viết cái mới. Cho đến khi 2 tuần trước deadline 1/11 mình tìm ra được format hiệu quả (dù tận 1000 từ) và cũng là lần đầu chị ý nói đọc bài thấy thích. 1 tuần sau đó mình có PS chính thức hoàn chỉnh.
Một câu hỏi mình hay được nhận là có nên điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp với hình mẫu trường muốn không. Câu trả lời là không. Và mình sẽ không hô hào rằng bạn muốn được nhận vì chính con người mình hay blablabla,… mà mình sẽ trả lời một cách thực tế hơn. Mỗi trường đều có cái gọi là institutional need. Tức là họ muốn một khóa và một môi trường đa dạng, nên mỗi lúc họ muốn một kiểu học sinh. Hôm nay họ muốn thằng bú mình trong phòng nghiên cứu, ngày mai muốn con nhà thơ, ngày kia muốn thằng lập trình, ngày kìa muốn con hoạt động xã hội,… Cái institutional need này thay đổi liên tục và bạn không thể nào biết được lúc nào trường muốn học sinh kiểu gì. Thế nên cơ hội tốt nhất của bạn là phản ánh chân thực bản thân mình và mong rằng trường đang tìm kiếm một người như mình.
Không có công thức nào để viết essay hay đâu nha. Nếu bạn thật sự hiểu mình đang viết cái gì thì tự khắc nó sẽ hay thôi.
H. Những nguồn giúp đỡ:
EducationUSA là nguồn miễn phí và chính xác nhất bạn có thể kiếm được ở Việt Nam. Bên cạnh đó, hãy hỏi những người khóa trên đi trước, vì họ là một trong những người duy nhất không có động cơ cá nhân để trục lợi từ việc giúp đỡ bạn.
Và sau khi viết ra cái note dài vcl này, để thật sự take it all the way, thì mình muốn đưa bản thân ra giúp đỡ khóa sau. Trừ essay SAT mới với ACT ra nhé, còn lại essay IELTS, TOEFL, hay PS và supps, mình luôn sẵn sàng đọc và nhận xét (dù có thể không phải ngay lập tức). Nếu muốn và sẵn sàng chia sẻ bạn có thể ib mình và mình sẽ đọc và rep ngay khi có thể.
Không chỉ vậy, nếu cho đến bây giờ 1518 có ai không có ai giúp xuyên suốt cả quá trình thì có thể tìm đến mình. Cả các khóa sau 1518 nữa mình sẵn sàng giúp đỡ các khóa sau trong quá trình apply này. Đương nhiên là mình nghĩ các bạn nên đến EducationUSA trước, nhưng mình cũng lo là như vậy sẽ đặt gánh nặng lên vai những chuyên viên ở đó, nên nếu ai muốn mình giúp thì luôn có thể inbox và mình sẽ giúp hết sức có thể.
I. Vài lời cuối:
Quá trình apply đi Mỹ ở Việt Nam hiện giờ như một chiến trường và một cuộc đua, nhưng nó không cần thiết phải như vậy. Mọi người tập trung quá nhiều vào việc so đo mình với người khác trong khi quá trình này là về bản thân bạn, là về tìm được nơi phù hợp với bản thân bạn. Những quan niệm sai lầm về HĐNK, lãnh đạo, essays hay sự thần thánh hóa US News College Rankings khiến cho mọi người tự hại mình theo rất nhiều cách khác nhau. Và trên hết, nhiều người không có được nguồn giúp đỡ tử tế. Cho đến giờ mình đã dành tới 4h đồng hồ để viết ra cái note này với mục tiêu giải quyết phần nào những vấn đề đó. Nếu đọc được xin hãy share để cái note này có thể đến được với các khóa sau nữa mà mình không hề quen biết, nhưng có thể sẽ rất cần được đọc những gì mình viết ở đây.
Chúc 1518 một mùa app may mắn. Và từ 1619, mình mong là với cái note này, các em sẽ sẵn sàng hơn và vững tâm hơn cho những gì phía trước.

Kinh nghiệm nộp hồ sơ MBA – Harvard Business School

Nguyễn Vũ Đức

Harvard Business School

Major: General Management

IELTS: 8.0

GMAT: 740 (Q50, V41)

Điều gì là quan trọng nhất khi học MBA?

MBA đào tạo về quản lý, nó hướng vào những người có tố chất lãnh đạo tức phải có leadership skill và hồ sơ gồm nhiều thứ như GPA, GMAT, kinh nghiệm làm việc, kinh nghiệm tham gia hoạt động ngoại khóa. Đối với người mới đi làm 1, 2 năm thì người ta chú trọng đến hoạt động ngoại khóa, còn với những người làm lâu năm như anh thì phải có vị trí nhất định nào đó trong công ty. Hồ sơ còn có essay để thể hiện tố chất bản thân và chứng minh năng lực, mô tả về con người mình cũng như leadership skill. Anh nghĩ khi nhìn nhận về hồ sơ MBA, đừng nghĩ cái gì là quan trọng nhất mà phải nhìn một cách tổng thể. Năm vừa rồi ông hiệu trưởng trường Harvard có nói: “Chúng tôi muốn chọn hồ sơ của thí sinh qua cái nhìn tổng thể toàn bộ hồ sơ chứ không phải qua 1 bài luận. Tôi không muốn đây trở thành cuộc thi viết luận”.

Đối với các trường top thì GPA, GMAT cao là yêu cầu tối thiểu mình cần có. Ví dụ vào trường Harvard, trong 9000 hồ sơ nộp thì có quá nửa những người điểm GMAT cao. Các anh chị còn lại muốn cạnh tranh được phải dựa vào kinh nghiệm và essay của họ.

Đối với người Việt Nam đã đi làm lâu năm và có vị trí nhất định trong công ty thì có thể gặp khó khăn trong vấn đề điểm GMAT và tiếng Anh. Vì vậy, khi định hướng du học, nên có kế hoạch ôn luyện để cân bằng rào cản này. Ngoài ra, có lưu ý là trường xét hồ sơ theo khu vực ví dụ khu vực Đông Nam Á, khi đó trường sẽ so sánh hồ sơ của mình với những người trong khuôn đó chứ không so với người ở khu vực khác như Âu Mỹ.

Tiêu chí chọn trường

Có rất nhiều tiêu chí khác nhau như ranking, chương trình học, tỷ lệ có việc làm, location, … Ngoài ra có thể tìm hiểu thêm chỉ tiêu tuyển sinh, profile trung bình của các sinh viên được nhận để đánh giá profile của mình. Với những người đi sau có kinh nghiệm ít hơn thì phải chọn những trường phù hợp, thấy được cái view của mình khác gì so với người khác.

Anh thấy cái fit của mình với trường cũng không phải do trường mà đó là việc tìm câu trả lời cho bản thân mình. Ví dụ trong quá trình nộp thì anh tìm hiểu kỹ về trường Standford và Harvard thì thấy Standford chú trọng đến những đối tượng muốn mở công ty riêng và ít tuyển sinh viên quốc tế còn Harvard chú trọng đến những CEO của công ty lớn và tuyển nhiều sinh viên quốc tế hơn. Vì MBA chỉ có thể học 1 lần trong đời nên chọn trường tốt và phù hợp nhất với mình để học.

Đợt anh apply cũng không có safety schools vì anh xác định nếu không được thì sẽ apply lại. Như vậy sẽ phải đánh đổi thêm 1 năm nữa. Đây cũng là vấn đề cần phải cân nhắc, vì apply ít mình sẽ có thời gian tập trung vào các trường mình thích, còn apply nhiều hơn thì có thể có safety zone nhưng độ tập trung phải phân bổ ra.

Động lực nào thúc đẩy anh sang Mỹ học MBA?

Mong muốn đi du học có trong anh từ lâu rồi. Hồi sinh viên, anh được sang Anh 2 tháng và rất thích văn hóa của họ. Trong đầu anh hình thành ý tưởng muốn sang đó để học Master. Khiý tưởng nhen nhóm, anh chuyển sang học tiếng Anh và định sẽ đi làm 2-3 năm rồi xin đi học ở Úc chứ hoàn toàn không nghĩ mình có thể học ở Mỹ. Nhưng sau đó anh bị công việc cuốn đi do công việc của anh phát triển cũng tốt và cưới vợ rồi có con nên mọi việc bị chìm xuống. Tuy nhiên, anh vẫn thích học tiếng anh, mỗi năm anh học khoảng 2-3 khóa và duy trì như vậy. Thời điểm đó cơ quan anh có chương trình học bổng 165 dành cho đào tạo lãnh đạo, học bổng này không phải là lớn nhưng giúp mình quay lại suy nghĩ đi học. Hơn nữa, đi học theo hình thức được cơ quan cử đi thì rất an tâm và 9 năm đi làm cống hiến không bị lãng phí. Vì vậy, anh bắt đầu tìm hiểu để apply.

Tháng 8 năm ngoái anh mới biết đến GMAT và thấy rất khó khăn, nhưng anh nghĩ cứ cố gắng hết mình và apply. Khi đó anh chuẩn bị hồ sơ cùng 2 anh khác cùng cơ quan, 1 anh là Phó giám đốc, 1 anh là Trưởng phòng. Hai anh này chức cao hơn anh nhiều nhưng lại quá bận nên không sắp xếp để cố hoàn thành hồ sơ đi Mỹ. Mặc dù hiện tại 2 anh này đang học Monash tại Úc là trường tốt nhưng vẫn luôn tiếc vì ít nhất đã không thử apply như anh. Anh thích câu nói rất hay như sau: “Trong một trận chung kết, người thắng sát nút có thể chỉ hơn một chút thôi nhưng người ta sẽ nhớ mãi mãi, còn người thua sát nút có thể chỉ thua sát sao 1 chút thôi nhưng sẽ không ai nhớ người đó cả”. Nhiều khi mình chỉ cố gắng một chút thôi thì kết quả sẽ khác, đó là sự đầu tư của mình để đạt được mục tiêu. Năm vừa rồi anh giành rất nhiều thời gian vào IELTS, GMAT,… và các thứ khác mình phải giảm bớt đi như công việc của mình sẽ không còn được xuất sắc, không được promotion nhanh nhưng mình phải xác định rõ mục tiêu của mình là gì để tập trung.

Cụ thể, trong môt năm vừa qua anh đầu tư rất nhiều thời gian vào GMAT, có thể là thức khuya, xin không đi công tác. Lúc đầu anh học ở Equest 3 tháng, đến tháng 12 anh thi được 550 và đến cuối tháng 1 anh thi được 740. Lúc này anh mới thật sự có tự tin để nộp đơn và được anh Tường ở USGuide khuyến khích tinh thần “You can do it” và cố gắng hết mình xin vào Harvard, Standford. Khi mình có sự nỗ lực và quyết tâm anh nghĩ rằng mọi thứ hoàn toàn là có thể và đặc biệt là với Mỹ. Có người bạn nói với anh rằng: “Anh, Úc, Mỹ khác nhau ở chỗ: Ở Anh và Úc, nếu anh có tiền, anh chỉ cần có IELTS là có thể đi học. Còn ở Mỹ, anh có tiền cũng chưa chắc đã được đi học. Nếu anh được nhận vào trường, thì trường Mỹ sẽ có nguồn cho anh đi học”. Trên đề án học bổng, anh được cho tối đa là 20,000USD và sinh hoạt phí hơn 1000USD/tháng. Với anh nếu được đi Mỹ sẽ phải chi ra rất nhiều tiền, đây cũng là rào cản lớn. Nhưng khi anh apply thành công và trình bày được hoàn cảnh tài chính của mình thì trường cho anh full tuition, anh không phải lo thêm về tài chính nữa.

Anh thấy anh phù hợp với chương trình MBA như thế nào?

Anh thấy trong một xã hội nếu ai cũng là nhà quản lý thì không ai sẽ là môn. Ví dụ, trong nền kinh tế rất cần master về finance. Hay trong doanh nghiệp lớn bao giờ cũng cần CFO về tài chính, CIO về công nghệ thông tin và CEO về quản trị quản lý. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần bộ 3 này. Trong xã hội rất cần những chuyên gia giỏi, tùy mỗi người đánh giá bản thân thích cái gì hơn mà trở thành chuyên gia hay nhà quản lý. Quản lý đôi khi phải giao tiếp rộng, phải uống nhiều. Người thẳng tính thích làm chuyên môn thì không thể làm lãnh đạo. Người thích nghiên cứu sâu cần phải đưa ra các định hướng vì định hướng rất quan trọng. Ngay cả apply MBA cũng vậy, mỗi trường là khác nhau, mỗi trường đều có văn hóa riêng, thế mạnh riêng, do đó cần tìm hiểu trường phù hợp với mình

Khi nộp cho mỗi trường phải viết bài essay và LOR riêng, giấy tờ cần chuẩn bị rất nhiều. Anh quản lý thời gian và công việc này như thế nào? Chia sẻ về việc chuẩn bị hồ sơ của anh.

Chiến dịch của anh bắt đầu từ tháng 7 năm ngoái thế là cũng hơi muộn, anh nghĩ nên chuẩn bị trong tầm ít nhất 6 tháng và nếu chuẩn bị trước 2 năm thì sẽ rất tốt. Vì riêng GMAT anh mất 4 tháng và khi anh thi xong các thứ thì không kịp nộp vào round 1,2. Nộp Round 3 rất rủi ro vì lúc này nguồn kinh phí cho scholarship sẽ ít hơn và gần như là không còn, các trường lớn như Harvard và Standford là 2 trường khác biệt và họ cũng có nhiều fund hơn các trường khác. Việc chuẩn bị nhiều thời gian rất cần thiết vì mình cần nghiên cứu kỹ về trường, gặp gỡ alumni, sinh viên của trường để hỏi han hoặc tham gia các events liên quan để tìm hiểu thông tin rồi networking. Thêm vào đó, quá trình viết essay và nhờ người viết thư giới thiệu cũng rất mất thời gian.

Với khối lượng công việc như thế, mình phải lên kế hoạch cẩn thận. Anh apply vào 3 trường top và không chọn safety schools vì anh xác định năm nay không được thì sang năm apply lại. Anh giảm số trường đi như vậy để có thể đầu tư kỹ hơn vào 3 trường mình chọn. Khi đặt mục tiêu xong, anh viết essay và nhờ người viết LOR. Anh có nhiều kinh nghiệm làm việc nhưng lại không có nhiều hoạt động ngoại khóa, đây là một điểm trừ nhưng anh may là anh có kinh nghiệm làm việc lâu năm cân bằng lại. Nếu các bạn có định hướng du học sớm thì nên tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa từ sớm. Anh thấy cuốn sách “How to get into the top MBA programs”là quyển sách rất hay đặc biệt dành cho những bạn nào có nhu cầu học MBA. Kế hoạch du học phụ thuộc vào từng case của từng người nhưng nếu như bạn có kế hoạch du học càng sớm thì sẽ hiệu quả hơn.

Chia sẻ về vấn đề tài chính và GMAT

Các trường ở Mỹ có học bổng dạng merit-based, nếu các bạn có điểm GPA, GMAT cao thì 90% bạn có thể đạt được học bổng du học Mỹ. Ngoài ra đối với các trường lớn và nhiều fund như Stanford, Harvard thì các bạn không phải lo lắng về học phí vì trường có thể hỗ trợ rất linh hoạt. Đối với MBA, chương trình học của nó rất inclusive, ngoài thời gian học trên lớp bạn còn phải tham gia hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, case study, và cả networking nữa nên thời gian sẽ kín lịch gần như toàn bộ. Vì vậy khó có thể đi làm trong khi đi học, nhưng nếu như bạn không có ràng buộc gì và có mong muốn ở lại Mỹ làm việc thì bạn có thể vay để đi học và trả sau khi đi làm.

Việc xin học bổng đừng nhìn vào khung đánh giá của Mỹ mà sợ, mình phải cân nhắc tùy từng hoàn cảnh, nếu mình tự tin mình giỏi thì kiểu gì mình cũng xin được. Nếu như bạn bỏ đi rủi ro ban đầu để chọn trường lớn thì cơ hội việc làm đầu ra của bạn sẽ rất tốt còn ngược lại về lâu về dài sẽ rất khó cho bạn. Bạn chỉ có cơ hội 1 lần với MBA thôi nên cần cân nhắc kỹ. Một khi anh đã đi theo MBA thì anh đã lên được quản lý rồi, và anh đã lên vị trí quản lý rồi thì anh không thể nghèo được.

Theo anh nên đi làm 2, 3 năm rùi lúc đó mình có vốn tự có tầm 20,000-30,000USD/1năm thì lúc đấy mình yên tâm và tập trung sao cho điểm GMAT cao để được xét hỗ trợ cao. Như người Việt Nam mình thì theo GMAT làm toán rất tốt rồi nếu chịu khó đầu tư thời gian và quyết tâm thì không phải lo. Như anh không phải dân tiếng anh, anh học ở Nga, tiếng anh là tự học, ngữ pháp anh cũng không phải dốt và chính vì anh học GMAT thì tiếng anh của anh mới lên như vậy. Nó không phải là khó, quan trọng là bạn quyết tâm đến đâu. Nếu bạn thực sự có quyết tâm và ham muốn theo đuổi cái đó bạn có thể thức đến 1,2h đêm để cày. Nếu bạn ngồi đến 11h mà thấy buồn ngủ thì bạn chưa thực sự quyết tâm. Ngoài ra, kiến thức và từ vựng khá là quan trọng để mình có thể hiểu về bài, thực ra anh đọc rất nhiều nhưng anh chỉ đọc những thứ mình thích thôi vì mình thực sự có đam mê thì mình mới đọc được. Anh đọc nhiều bản tin về thể thao đặc biệt về bóng đá, anh đọc cả bộ Harry Potter rồi đọc CNN về lĩnh vực tài chính ngân hàng. Đọc các bản tin mình yêu thích nó sẽ ngấm dần, ngấm dần theo thời gian, cách học của anh là như thế chứ anh không nhồi nhét, và mình cứ đọc nhiều theo thời gian kiến thức sẽ tăng lên.

GMAT thì anh học từ tháng 9 đến tháng 11 và đến đầu tháng 12 anh quyết định thi. Khi mà anh thi thử ở nhà thì anh được 600-780 trong 3 lần. Khi tập trung trả lời những câu đầu tiên càng đúng thì điểm càng cao do đó anh tập trung nhiều thời gian làm những câu đầu, nhưng khi làm như vậy thì anh không có thời gian để làm những câu cuối và đây là sai lầm. Khi mình sai 2-3 câu liên tục thì điểm giảm rất mạnh, khi thi anh làm 4-5 câu cuối là đoán hết và anh bị chết là ở chỗ đấy. Đúng sức của anh phải được 660-680, lúc đó anh nghĩ nếu được như thế thì không bao giờ anh phải thi lại nhưng điểm 550 là không thể chấp nhận được. Trong thời gian chuẩn bị thi lại, toán anh phải ôn thêm, anh cũng xem lại chiến lược làm verbal. Phần anh đầu tư thời gian nhiều nhất là phần reading, khi mình đọc nếu như mình không hiểu key bullet thì mình sẽ mất liên tục 3,4 câu như vậy rất nguy hiểm do điểm sẽ giảm rất mạnh. Theo anh, nên dành nhiều thời gian cho 5 câu hỏi đầu nhưng cũng cần cân đối thời gian và không nên cố quá. Mình có thể làm câu này đúng câu kia sai thì điểm vẫn giữ nguyên như thế không bị hạ xuống đáng kể.

Anh nghĩ là với việc luyện thi GMAT nên học song song ở trung tâm để ôn lại và tổng hợp toàn bộ kiến thức và học nhóm với nhau để cùng thảo luận, sức mạnh của tập thể rất hay, tất cả cùng chia sẻ với nhau thì sẽ lên rất nhanh. Nếu bạn nào không có thời gian học nhóm thì nên lên GMATclub. Điểm GMAT thường trên 700 là có thể nộp vào các trường top và 780 điểm thì được full tuition, còn trên 700 có thể được 50% tùy theo khả năng của mỗi người.

Theo anh thì chọn ranking như thế nào cho phù hợp. Có nên nộp nhiều trường không?

Thực ra nộp càng nhiều trường thì độ an toàn cao hơn nhưng đổi lại mình mất thời gian và để làm được hồ sơ của 1 trường anh nghĩ là phải mất vài tuần là tối thiểu. Nhưng anh nghĩ rằng anh nộp 3 trường là hơi ít, nếu anh có thời gian thì nên nộp khoảng 6 trường và nên chia thành nhóm top đầu, top trung tầm top 10 và top an toàn để đảm bảo không bị rớt. Nhiều trường hợp các bạn không nộp trường lớn, bỏ hẳn đi và về sau các bạn rất tiếc khi mà đi học rồi mới nghĩ ước gì hồi đấy mình liều nộp trường đấy vì cũng có mất gì đâu.

Nếu học về kỹ thuật muốn chuyển ngành học sang MBA liệu có khó không?

Thực ra nếu anh học về kỹ thuật mà anh muốn học MBA của trường tốt thì anh cũng phải có chiến lược quản lý rồi, phải có leadership rồi thì người ta mới nhận anh. Có những bạn có nền tảng về kỹ thuật khi học MBA sẽ có lợi thế rất lớn vì chương trình học không khó, thường nó sẽ có lớp học trước cho những ai chưa biết gì về accounting. Khi người ta có chuyên môn về lĩnh vực của họ thì họ sẽ tham gia đóng góp cho lớp và tạo ra view khác cho lớp học rất tốt. Sau này người ta đi làm vẫn trong lĩnh vực đấy nhưng họ sẽ lên vị trí cao hơn như là người tổ chức, nhà lãnh đạo như Bill Gate. Họ không những giỏi về chuyên môn và ý tưởng mà họ còn rất giỏi về việc triển khai ý tưởng, thực hiện ý tưởng và thu hút được nhân tài. Nếu anh cảm thấy anh có tố chất quản lý, anh thích quản lý thì anh chọn MBA còn nếu như muốn phát triển chuyên môn nên học Master chuyên ngành. Cái này có nhiều nơi còn đánh giá cao hơn cả MBA bởi nó thuộc về chuyên sâu và không phải ai cũng làm được.

Chia sẻ về bài luận MBA

Với MBA thì essay rất quan trọng. Trong toàn bộ hồ sơ thì essay là cái mình có thể tác động được, còn như resume và LOR là cái record lại thôi. Viết essay mình phải biết rõ điểm mạnh của mình ở đâu bám vào đó kể ra câu chuyện của mình, điểm yếu của mình cũng cần tô vẽ làm sao nó thành thế mạnh. Nói chung muốn viết gì đó thì mình phải hiểu rõ bản thân mình. Bất kỳ bài essay nào cũng cần kể tình huống và câu chuyện cụ thể, trong đó nêu cách giải quyết và kết quả đạt được, cuối cùng là bản thân em rút ra kinh nghiệm như thế nào và em đã thay đổi như thế nào.

Các trường rất quan tâm đến định hướng của em, em hiểu rõ em muốn đi đâu và khi em đi con đường đó em sẽ rất quyết tâm còn khi bản thân em chưa biết làm gì cả thì trường nó cũng sợ. Trường cũng rất quan tâm đến khả năng em xin được việc hay không. Trong bài essay, tùy từng trường có câu hỏi riêng như của Harvard thì nó hỏi rất rõ ràng rằng: “Bạn hãy kể về chuyện mà bạn nghĩ là bạn đã làm tốt và một câu chuyện mà bạn ước là nó sẽ tốt hơn”. Rõ ràng đó là 2 câu chuyện về lỗi của bạn và thành công của bạn. Còn với Standford thì lại là “đối với bạn cái gì là quan trọng nhất”, đề rất mở và có thể viết về em đã lớn lên như thế nào, cái gì đã làm thay đổi con người em, cái gì đã tạo nên con người em của ngày hôm nay,… Nói chung essay phụ thuộc vào từng trường. Có một số trường hỏi thẳng short term goal và long term goal thì bài luận của mình trả lời thẳng vào câu hỏi hay có những trường sẽ có các loại câu hỏi mà câu trả lời lại cần sự kết nối với nhau. Chính điều này làm cho việc nộp nhiều trường MBA là khó và tốn thời gian.

Anh thấy quá trình làm hồ sơ cũng thay đổi anh rất nhiêu, anh phải tư duy nhiều hơn và nhận thức rõ về bản thân, khi mình xoay sở làm hồ sơ thì mình tiếp xúc với rất nhiều người từ những bạn học cùng GMAT đến những bạn cùng apply. Mình cảm thấy cuộc sống của mình sôi động lên rất nhiều và mở rộng tầm nhìn hơn. Nhiều người nói quá trình làm hồ sơ cho MBA là khó nhưng nếu như mình cảm thấy thích thú thì đó sẽ là một quá trình rất hấp dẫn cũng như khi làm công việc thú vị thì mình sẽ cuốn theo nó và khi đạt được kết quả thì sẽ rất hạnh phúc.

Anh lưu ý thêm trong bài luận không nên bịa câu chuyện vì MBA có yêu cầu riêng và mình cần phải đi sâu vào câu chuyện của chính mình thì mới có sự khác biệt. Rất nhiều người nghĩ rằng mình không có câu chuyện đặc biệt nhưng khi ngồi suy nghĩ sâu và đầu tư thời gian, gạch đầu dòng các điểm mạnh và điểm yếu, các vấp ngã rồi gắn với các câu chuyện mình muốn truyền tải thì sau đó mình sẽ lọc ra những câu chuyện ấn tượng, những câu chuyện đời thường mà thay đổi bản thân mình. Anh nghĩ rằng cái gì thực sự là của mình thì nó mới súc tích, hay và logic. Cách thức viết của anh là ban đầu viết bằng tiếng việt sau đó dịch ra tiếng anh. Thời gian viết bài luận khá lâu, anh sửa đi sửa lại cả chục lần mới ra được bố cục. Sau 1, 2 tuần anh xem lại thì lại muốn sửa và anh cũng nhờ bạn bè, người thân xem hộ để đảm bảo bài luận đúng với mình. Anh nghĩ nên gửi bài cho những người thân với mình vì họ nhiệt tình dù có học MBA hay không, ngoài ra lưu ý ai đọc mà chê mình thì mới tốt còn người nào đọc mà khen ngay thì có thể họ chỉ đọc xã giao thôi. Trường đánh gía bài essay là chủ yếu về ý tưởng chứ không quá nặng về tiếng anh nên việc nhờ người bản ngữ sửa bài cũng không thực sự cần thiết, nhưng cần chú ý không để sai về ngữ pháp và chính tả.

Đa số các trường giới hạn từ cho bài essay, có trường 400 từ, có trường 700 từ thì mình nên viết sát trong khoảng giới hạn đó.

Việc viết về điểm yếu của mình thì bất kỳ ai cũng có một lần vấp ngã, khi anh trải qua sự nghiệp 9 năm thì anh thấy rằng đối với những người thành công sớm thì kinh nghiệm của họ còn non vì khi họ chưa vấp ngã thì có rất nhiều điều họ không thể hiểu được. Trải qua vấp ngã bạn sẽ trưởng thành lên rất nhiều. Với MBA, trường hiểu rất rõ về điều đó. Bạn không nên viết theo kiểu đánh bóng bản thân. Bạn nên viết trên nền tảng nào đó ví dụ như tao quá giỏi, tao được các sếp lớn tin tưởng và tao quên mất bạn bè, đồng nghiệp xung quanh, tao mải mê công việc và sau đó không có sự hỗ trợ từ đồng nghiệp thì tao đã fail rất nhiều, và sau đó tao nhận ra sự quan trọng của bạn bè đồng nghiệp. Ở đây mình đã viết dựa trên nền tảng được các sếp lớn tin tưởng đó là vừa là điểm yếu vừa là điểm mạnh, sau khi suy nghĩ rất nhiều mình hiểu ra vai trò quan trọng của đồng nghiệp, những suy nghĩ như vậy rất thật. Nên có vấp ngã nhưng vấp ngã mà đơn giản quá thì cũng không thuyết phục và trường cũng hiểu là mình chưa có kinh nghiệm từng trải, do đó mình nên chọn những vấp ngã làm thay đổi bản thân.

Nếu giờ có một câu hỏi là định hướng của bạn là làm cho Việt Nam hay làm tại Mỹ thì nên viết trong essay như thế nào?

Anh thấy việc này tùy thuộc vào từng người, như trường hợp của anh đã làm 9 năm và vị trí khá cao, anh lại được hỗ trợ thì chẳng có lý do gì anh lại không quay về Việt Nam làm. Còn có những bạn thích làm việc ở Mỹ và có năng lực thì trường sẽ thuyết phục ở lại, như vậy người đó sẽ có nhiều cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp. Có những người điểm tiếng anh cũng không cao, điểm finance thấp và trường không thuyết phục ở lại thì cũng nên cân nhắc việc ở lại hay không. Như vậy cũng tùy thuộc vào độ thuyết phục của trường mình apply. Có những bạn trẻ làm ở các công ty lớn ở Việt Nam như HSBC cũng ở vị trí khá tốt rồi thì khi bạn ý nói sẽ ở lại Mỹ để làm việc thì sẽ được ưu tiên vì các trường thường kết nối với nhà tuyển dụng.

Khi viết luận theo anh cũng nên tham khảo những bài luận khác. Như anh hồi hè năm ngoái chưa biết gì về hồ sơ thì cũng không biết viết như thế nào. Anh cũng được dạy về cách viết luận của Mỹ là khác văn phong của Việt Nam đặc biệt cách tiếp cận rất thẳng, mở đầu nói luôn ý chính rồi sau đó mới phân tích. Và mình cũng nên tham khảo các bài luận hay để xem cách họ viết như thế nào,cách họ phát triển ý như thế nào. Nên xác định ý tưởng của mình trước rồi mới xem bài mẫu để ý tưởng của mình không bị phân tán khi mình tham khảo các bài mẫu khác.

Khi chuẩn bị LOR cho MBA thì nên viết thế nào?

LOR thì quan trọng ở việc chọn người, khi chọn người viết LOR thì nên chọn người trực tiếp làm việc với mình, hiểu rõ mình, sẵn sàng đầu tư thời gian cho mình để viết hiệu quả nhất. Còn những ông làm to mà viết qua qua thì không giải quyết được vấn đề gì. LOR mỗi trường hỏi riêng về các kỹ năng, và khi nhờ người viết thư giới thiệu mình phải thuyết phục sao cho hợp lý. Anh có nói là “em nộp vào Harvard và Standford và thư giới thiệu của anh đóng vai trò then chốt trong hồ sơ xin học, nó chiếm 50% trong bộ hồ sơ rồi” sẽ khiến thư của mình được đầu tư hơn. Chứ ngay từ đầu mọi người không chú trọng vào nó đâu, chính vì vậy mình cần nhờ những người thân với mình thì họ mới sẵn sàng ngồi nghe và trao đổi với mình để tìm ra ý cho thư giới thiệu.

Thư giới thiệu còn khó hơn essay vì essay do mình tự viết, thư giới thiệu thì do người khác viết. Mình cần chọn đúng người rồi thường xuyên gặp trao đổi và nói dần nói dần cho người ta hiểu. Bạn nào có người thân đi học ở bên Mỹ về mà nhờ được là tốt nhất và người ta quý mình nữa thì họ sẽ đầu tư thời gian để viết vì mỗi trường có câu hỏi khác nhau. Đối với LOR thì lúc nào cũng cần đưa ra dẫn chứng và đưa ra thương hiệu để mỗi người viết thư giới thiệu có lý luận riêng không thể trùng nhau. Trong quy định thì mình không được tự viết thư giới thiệu nhưng mình cũng có thể tự viết trên cơ sở trao đổi giữa 2 bên. Như anh là trợ lý tổng giám đốc nên sếp anh viết cho anh, tầm nhìn và cách viết của anh ý khác nên không thể nào mình viết thay được. Trường đọc sẽ biết ngay nhưng về ý tưởng thì mình có thể lên dàn ý cho sếp xem. Trong quá trình làm LOR, lưu ý cần trao đổi thường xuyên và bám sát quá trình viết.

Về networking thì anh thấy yếu tố nào là quan trọng?

Theo anh nên hiểu rõ về trường, tìm hiểu về những người theo học ở đấy. Khi mà anh nộp các trường top thì anh tìm hiểu và đọc rất nhiều vể alumni của Harvard và Standford, tuy người ta không giúp cho mình về việc viết essay, nhưng trao đổi với người ta giúp cho mình thay đổi quan điểm về trường, về con người ở đấy. Qua bạn bè giới thiệu thì anh thường trao đổi với các bạn Việt Nam ở bên trường đó và họ thường rất nhiệt tình share cho mình, còn alumni thì họ cũng hơi ngại về việc chia sẻ kinh nghiệm. Do đó nên gặp alumni trực tiếp thì sẽ hiệu quả hơn.

Chia sẻ về resume

Anh nghĩ resume độ dài 1 trang là đủ. Anh kinh nghiệm 9 năm nhưng cũng chỉ viết trong 1 trang. Resume của anh gồm 3 phần:

– Phần 1 về quá trình học, để ở đầu;

– Phần 2 là về kinh nghiệm làm việc, anh đưa ra nhiều số liệu và các giải thưởng, thành tích, mình có thể lượng hóa các thành tích để hiệu quả hơn;

– Phần 3 là phần ngoại khóa.

Trong bộ hồ sơ apply MBA thì thường có những giấy tờ gì?

Bộ hồ sơ bao gồm: Essay, LOR, Bảng điểm đại học scan (khi nào mình được nhận vào học thì trường yêu cầu gửi bản gốc) và các giấy chứng nhận trên bản online như GMAT, IELTS và cuối cùng là phỏng vấn. Trường bạn thích nhất không nên nộp đầu tiên mà nên nộp sau 1,2 trường để có kinh nghiệm. Khi phỏng vấn MBA thì mình nên đọc kỹ lại CV, đọc kỹ từng kinh nghiệm, câu chuyện của mình để khi người ta hỏi sâu vào thì mình trả lời được ngay và logic.

Khi phỏng vấn thì nên chú ý điều gì?

Anh nghĩ là giao tiếp con người khá là quan trọng để quảng cáo bản thân vì khi đó mình có nhiệt huyết hơn và không nên quá nặng nề về lý thuyết hoặc nội dung, nếu không thì câu chuyện cũng mất đi sự tự nhiên. Khi mình viết essay, resume thì mình cũng có 1 plan rồi và khi phỏng vấn thì mình cũng theo plan đó thôi, mình đừng quá lo về nội dung đó. Thời gian phỏng vấn cũng khá ít khung giờ và với anh thì vào tầm 12h đêm, vì thế anh phải điều chỉnh lại khung giờ sinh hoạt của mình để có thể tỉnh táo và minh mẫn khi phỏng vấn. Tuy nhiên anh vẫn thích phỏng vấn trực tiếp hơn, gặp trực tiếp sẽ hay và thoải mái hơn. Còn khi không hiểu gì thì mình có thể hỏi người phỏng vấn và ở phần cuối có câu hỏi như là bạn có muốn biết thêm về trường thì mình có thể hỏi còn nếu không hỏi thì cũng không sao.

Kinh nghiệm phỏng vấn visa?

Khi phỏng vấn visa mình chứng minh mình giỏi và sẽ không ở lại là đủ.

Nguồn: Nhóm lửa

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

Minh Bùi tên đầy đủ là Bùi Quang Minh tên thường gọi là Minh Beta, sinh năm 1983 là một người bạn của Thịnh. Minh Bui apply học bổng Fulbright nhưng sau đó lại xin học bổng của trường Harvard chứ không lấy Fulbright nữa. Dưới đây là bài viết tóm tắt quá trình apply MBA và chia sẻ kinh nghiệm của Minh Bui. Minh nghĩ sao viết vậy, hy vọng giúp ích được ít nhiều cho các bạn sẽ apply những năm tới.

 

 

Hành trình MBA và giấc mơ Harvard

 

… Gọi là giấc mơ Harvard vì cái tên này là ước mơ của mình từ khi còn học high school ở Ams. Lúc đó nó chính xác là một giấc mơ, rất rất xa vời. Đến giờ, khi nghĩ đến việc mình sắp được sang Harvard để học MBA, mình vẫn còn lâng lâng :D.

 

Disclaimer: Cái note này ghi chép lại những kinh nghiệm cá nhân của mình trong quá trình apply để đi học MBA. Những đánh giá và nhận định ở đây có thể mang tính chủ quan. Mình viết bài này để dành riêng cho mình, và cũng mong muốn chia sẻ một chút gì đó với các bạn đi sau. I tend to rant, so bear with me. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng nhé 😀

 

Quick facts (cho các bạn chưa biết về MBA):

  1. MBA là gì: MBA = Master of Business Administration, tức là Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh. Khác với các bằng thạc sĩ khác, MBA đa số đều yêu cầu bạn có kinh nghiệm làm việc một vài năm. Bạn không cần phải có background về business/economics để học MBA, hầu như ngành nào cũng có thể theo học MBA.
  2. GMAT là gì: GMAT là một bài test mà hầu hết các trường danh tiếng đều yêu cầu khi bạn apply học MBA
  3. Học MBA làm gì: Để nâng cao kiến thức về lĩnh vực quản trị & kinh doanh (duh), để chuyển từ công việc chuyên môn lên các vị trí quản lý, để được tăng lương (nếu bạn xác định muốn đi làm cho các công ty/tập đoàn sau khi tốt nghiệp) hoặc để nâng cao kỹ năng về business start-up nếu bạn muốn làm riêng.
  4. Bằng MBA khá có giá trị, nhất là các trường top. Ví dụ như các sinh viên của Harvard và Stanford khi tốt nghiệp có rất nhiều cơ hội việc làm, với mức lương khởi điểm trung bình lên tới $140,000 một năm chưa kể bonus cuối năm.  Vì nó có giá trị nên rất nhiều người muốn theo học, như Stanford có đến hơn 7000 hồ sơ xin học cho lớp học hơn 300 sinh viên, mà toàn là các nhân vật hoành tráng apply cả.

 

I.               MY STATS:

 

–       Mình qua Úc học bằng học bổng AusAID của chính phủ Úc, tốt nghiệp Sydney University năm 2007 với bằng 1st class honors, có một vài awards và học bổng của trường.

–       GMAT 750 (Q50, V41) or 98 percentile.

–       TOEFL được waiver nhưng lúc thi để nộp Fulbright là 113/120 TOEFL iBT.

–       Work: 2 năm làm research/trading commodities ở Louis Dreyfus Commodities (công ty MNC về commodities, gốc Pháp, văn phòng ở Singapore), sau đó về VN mở business riêng (DOCO Donuts & Coffee), rồi vừa run biz vừa rejoin LDC, văn phòng ở Việt Nam (senior position).

–       Extra: Vice President của hội sinh viên VN ở NSW, Úc (VDS), tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, một vài giải thi hát, 1 bài hát đã released, tham gia 1 vài dự án phim ảnh linh tinh…

 

II.              KẾT QUẢ APPLY:

 

(Khi viết tên các trường mình sẽ mở ngoặc kèm theo Rank xếp hạng chương trình, theo US News 2013 để các bạn dễ hình dung, ví dụ Harvard (#1) và Stanford (#1) vì 2 trường này đồng hạng cao nhất trên US News)

 

–       Tháng 4/2011, mình apply học bổng Fulbright (học bổng toàn phần của chính phủ Mỹ). Tháng 9 thì nhận được học bổng này. Bước tiếp theo là apply vào các trường.

–       Fulbright đứng ra apply cho mình vào 4 trường: Stanford (#1), UC Berkeley (#7), UCLA (#15), và Emory (#19).

–       Cả 4 trường này mình đều phải làm hồ sơ như 1 applicant bình thường. Ngoài ra mình còn tự apply thêm nhiều trường nữa – tổng cộng là hơn 10 trường, tất cả đều cùng một Round với deadline trong tháng 1/2012. Lý do: Sợ là không vào được trường nào, apply nhiều cho chắc. Lúc đó mình đang có học bổng Fulbright nên sống chết cũng phải vào được 1 trường nào đó.

–       Kết quả: mình được nhận vào tất cả các trường mình applied (Harvard, Stanford, Wharton, Berkeley Hass, Cambridge, Chicago). Đa số các trường đều cho $$$. Có một vài trường mời đi phỏng vấn thì mình từ chối vì lúc đó đã có Admit của các trường mình thích hơn rồi. Đa số các trường đều cho học bổng. 3 trường xếp hạng cao nhất là Stanford (#1), Harvard (#1),  và Wharton của U.Penn (#3) release kết quả vào 3 ngày liên tiếp là 28, 29, 30 tháng 3 (!)… và mình được Admitted vào cả 3 trường. Rất rất hài lòng với kết quả này, vì thật sự thì đây là một điều khá ít khi xảy ra, kể cả với các bạn Mỹ. I’m really proud of this achievement.

 

III.            VÀI KINH NGHIỆM CHUNG

 

1.     Start early:

–       Nếu mình có lời khuyên nào cho các bạn, thì lời khuyên quan trọng nhất là hãy chuẩn bị càng sớm càng tốt. Nếu bạn xác định được là mình muốn theo học MBA thì bạn sẽ chú ý để luyện tiếng Anh nhiều hơn, có thêm thời gian học GMAT, đạt kết quả học tập ở bậc đại học tốt hơn, và chăm chỉ tham gia các hoạt động ngoại khóa hơn…

–       Đến giai đoạn nước rút thì thời gian càng quan trọng. Mình chỉ có 2 tháng để thi lại GMAT và viết essays, and I kick myself often for delaying all this until the last minute.

 

2.     Aim high:

–      Năm 2011, khi đã xin được học bổng Fulbright, mình còn không có ý định apply lại vào Harvard vì tự nhiên lúc đó thấy lười biếng và nghĩ thôi học trường nào cũng được. Đó là lý do mình không ôn lại GMAT sớm hơn và không apply trường nào ở Round 1. Đến khi bắt đầu apply ở Round 2 thì càng ngày càng máu và lúc đó mới quyết tâm apply vào Harvard và Stanford. Lúc này thời gian không còn nhiều nữa, mình vừa phải đi làm, vừa phải ôn GMAT và vừa phải viết essays trong khoảng thời gian rất ngắn.

–       Nếu tâm lý mình không thay đổi kịp, thì mình đã không apply vào Harvard và Stanford, và mình cũng không lo thi lại GMAT hay chắm chúi đầu tư vào essays. Không apply thì đương nhiên không được nhận.

–       Do đó, mình khuyên các bạn chuẩn bị sớm và aim high để đạt kết quả tối ưu.

 

3.     Know your story and be focused:

–       Mình khá là may mắn vì các công việc và ngành học của mình lại rất liên quan đến nhau. Nói là may mắn vì mình không plan trước những việc này, mà toàn là hứng lên thì theo, may thế nào lại vẫn liên quan 😀

–       Nếu các bạn xác định được từ sớm, thì bạn hãy nhìn sự nghiệp của mình như một cái cây đang lớn thẳng. Hãy biết bạn đang ở đâu, bạn đang mọc như thế nào và bạn muốn vươn đến đâu. Các công việc của bạn nên nằm trên đường thẳng đó, hoặc là đừng có chệch quá và đừng nhảy lung tung. Nếu bạn thay đổi liên tục, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi giải thích những quyết định này – Admissions people sẽ nghĩ quyết định học MBA của bạn cũng là 1 cái random choice.

–       Sẽ tuyệt vời hơn nữa nếu bạn kết nối được cái cây đó đi xa hơn nữa, đến những điểm bắt đầu là tuổi thơ, là quá khứ, là cội nguồn, là những mong ước thơ bé của bạn. Nếu đường thẳng đó chạm được đến những cái gốc rễ sâu kín nhất thì nó sẽ vững chắc hơn nhiều, và như một cái cây có gốc, nó sẽ dễ đơm hoa kết trái hơn!

–       Ví dụ như câu chuyện của mình: Mình học đại học với 3 majors, gồm có Economics, Finance và Agribusiness. Công việc của mình ở Louis Dreyfus là về commodities (research và buôn bán đường, coffee, oilseeds… cả futures contracts lẫn physical products). Mình đã start-up DOCO Donuts & Coffee – về lĩnh vực thực phẩm ăn uống. Khi viết essays, mình đã nhắc đến quá khứ nghèo khó của gia đình, khi mà thực phẩm là nỗi ám ảnh và là mong ước hạnh phúc. Mình đã nhắc đến những người họ hàng gần còn nghèo khó, phải chạy bữa hàng ngày. Và mình nói về kế hoạch trong tương lai: làm về food processing, để bring customers food and happiness, để tạo việc làm cho nhiều người và để benefit Vietnam’s agriculture.

 

4.     However, be fun

–       Sự nghiệp của bạn nên là 1 cái cây lớn thẳng, nhưng bạn nhớ tô màu cho nó. Đừng quá tập trung vào việc học tập và công việc mà quên đi các lĩnh vực khác.

–       Hãy là một leader trong mọi lĩnh vực, kể cả trong hobby của bạn. Đối với mình, mình thích âm nhạc và hát hò, nên cái hobby này đã đi suốt với mình từ khi mình còn học đại học. Hãy dùng mọi resouces của bạn để vừa enjoy cái hobby đó, vừa làm được điều gì có ích và phát triển kỹ năng leadership của mình.

–       Trong bài essays và khi phỏng vấn, Ad-com tỏ ra rất quan tâm khi mình viết về dự án âm nhạc của mình (Việt Nam ơi). Thậm chí họ còn mở bài hát trên youtube ra xem :D.

–       Mình nghĩ ad-com đánh giá cao các ứng viên năng động, dám sống hết khả năng với các lĩnh vực mình quan tâm.

 

5.     Be humble, personal and sincrere

–       Khi làm hồ sơ xin học, nhất là cho các trường top, nhiều bạn có tâm lý là phải gồng mình lên để thể hiện. Don’t. Hãy để các con số và các thông tin khác trong Data Sheet tự nói lên các thành quả của bạn, đừng kể lể quá nhiều về chúng.

–       Các trường rất kị các ứng viên arrogant. Họ muốn tìm các ứng viên khiêm tốn và thành thật. Họ muốn thấy bạn đã có những thành công nhất định nhưng lại rất open to learn, và willing to change.

–       Khi viết essays, mình viết nguyên 1 bài essay khá personal, lead bằng cái tên Minh Beta. Mình giải thích tại sao mình chọn cái tên này, và nó liên quan gì đến cách suy nghĩ và nhìn nhận của mình. Đây là 1 đoạn trích trong bài essay cho Harvard:

 

Answer a question you wish we’d asked? (400 words)

 

I wish you’d asked: “Why do you often go by the name Minh Beta?”

 

I have used this pseudonym for years to distinguish myself from others named Minh Bui, a popular Vietnamese name. I appreciate that Beta refers to an “unfinished” product, which resonates with my life’s philosophy; I consider myself a “work in progress” and a change agent, constantly seeking self-improvement and subsequently creating positive societal change.”

 

6.     Apply for as many as you can!

–       Nhiều người sẽ khuyên bạn là nên tập trung vào 1 vài trường thôi. Mình thì nghĩ khác. Chiến lược của mình là tập trung apply vào 3-4 trường chính, nhưng rải hồ sơ khắp nơi. Kinh nghiệm của mình là các trường thường hỏi nhưng câu essays khá giống nhau, nếu không giống thì cũng biến tấu từ essay này sang essay kia được, và không mất quá nhiều thời gian. Tất nhiên là cái này tùy vào goal của từng bạn, và đương nhiên là đừng mất công apply vào trường nào bạn không định đi học nếu được nhận. Apply vào nhiều trường thì khả năng được nhận vào trường tốt của bạn sẽ cao hơn.

–       Mình apply cả chục trường, và dùng bài luận của Berkeley và Harvard làm gốc để phát triển ra essays của các trường khác. Trong tháng 1/2011, trung bình 2 ngày mình apply 1 trường. A lot of copy and paste! Nhưng đương nhiên là mình phải nhào nặn cho khớp câu hỏi của từng trường. This strategy worked for me.

 

IV.            CÁC YẾU TỐ RIÊNG

 

1.     GMAT

 –       Mình không có bí quyết ôn thi gì đặc biệt, nhưng mình khá là thích GMAT vì nó rất “smart”. Vì thích nên mình cảm thấy học cũng dễ vào hơn.

–       Mình recommend các bộ sách: Official, Manhattan và Sentence Correction Bibble. Trang web của Manhattan với các bài tests cũng rất hay và sát với bài thi thật.

–       Kỹ năng quan trọng bậc nhất của GMAT là quản lý thời gian. Cái này tuy đơn giản nhưng bạn phải thật sự kỷ luật. Mình thi GMAT mấy lần mà khi thi lần cuối vẫn không thật sự gò mình theo biểu đồ thời gian hợp lý được, vẫn bị tâm lý la cà và “làm cố” để đúng.

 

2.     Resume

 –       Ngắn gọn hết sức. Resume của mình nộp cho các trường chỉ 1 trang. Năm nay Harvard thay đổi essays ngắn hơn năm ngoái rất nhiều, nên Resume có lẽ phải dài hơn. Nhưng dù gì thì cũng mình nghĩ không nên để Resume quá dài.

–       Dùng “Action verbs”, các từ mạnh, mang tính tích cực. Tham khảo: http://www.ocs.fas.harvard.edu/students/resources/resume_actionwords.htm

–       Cố gắng miêu tả thành quả và kinh nghiệm bằng các con số và chỉ số cụ thể mang tính định lượng. Đừng miêu tả chung chung.

–       Nếu có thể thì hãy viết resume để nêu bật được định hướng và khả năng về leadership của bạn.

 

3.     Essay

 –       Liệt kê tất cả những gì bạn muốn chuyển tải ra và tìm cách “nhét” chúng vào các câu trả lời Essays. Một hướng tốt là liệt kê các câu chuyện theo nhiều chiều, nhiều phương diện. Các câu chuyện của bạn nên phản ánh nhiều chiều về cuộc sống của bạn, về thời gian (cũ vs gần đây), lĩnh vực (công việc v.s sở thích), cá nhân v.s cộng đồng…

–       Hãy nhớ là Data sheet đã chuyển tải được khá nhiều thông tin về bạn, nên đừng phí nhiều word count ở Essay để lặp lại thông tin.

–       Do not brag! Tell things the way they are. People will be impressed if your stories are impressive.

–       Cố gắng viết súc tích và truyển tải càng nhiều thông tin càng tốt. Mình đã bỏ rất nhiều thời gian để dò từng

chữ một, cân nhắc chữ nào cần chữ nào không. Vì bạn chỉ có ngần đó chữ, make them count!

–       Khi viết essay và chuẩn bị hồ sơ, hãy tiên lượng những mối băn khoăn người đọc sẽ hỏi về bạn. Tại sao bạn lại chọn công việc này? Tại sao bạn bỏ việc kia? Tại sao bạn thích hát mà không đi làm ca sĩ chuyên nghiệp… Bạn chỉ có một cơ hội để giải thích những điều này trong hồ sơ. Nếu Adcom (Admissions Committee) có băn khoăn điều gì thì họ cũng sẽ không có cơ hội hỏi bạn – until U get an interview. Mà với các trường top thì họ có quá nhiều good applicants – they simply wont take the risk.

 

4.     Interview

 –       Tùy trường, nhưng theo mình thì Interview chỉ để họ hiểu thêm về bạn. Tất nhiên cũng tùy từng trường hợp, nếu application của bạn thật sự tốt thì Interview chỉ để confirm điều này. Cũng có thể là họ thích hồ sơ của bạn nhưng có một vài thắc mắc… hoặc là họ đã định cho bạn Out nhưng muốn cho bạn thêm một cơ hội cuối cùng. Nhìn chung thì Interview không mang quá nhiều sức nặng – trừ khi bạn perform exeptionally well/badly, đó là cảm nhận của mình.

–       Lời khuyên này bạn sẽ nghe nhiều & thấy nhàm, nhưng vẫn đúng: Just be yourself. Các trường chỉ muốn thấy bạn là người tự tin, có common senses, nhanh nhạy và có thể survive in the business world.

–       Nhưng đồng thời, preparation is the key. Khi chuẩn bị phỏng vấn cho Harvard, mình đã list ra tất cả các điều trên trời dưới bể họ có thể hỏi và ứng phó thử, để nếu không may họ hỏi một vài câu hỏi cắc cớ thì mình không bị động. Cuối cùng thì buổi phỏng vấn diễn ra rất tự nhiên, như là coffee chat vậy (thank god!).

 

Mình cũng chỉ biết đưa ra các lời khuyên chung chung như vậy để các bạn tham khảo. Nếu bạn nào có câu hỏi cụ thể thì có thể tham gia vào buổi Coffee Chat tại Hà Nội vào ngày 26/6 tới.

 

Nguồn: Minh Bui (Minh Beta)

 

Kinh nghiệm apply MBA ở USA – Minh Hà

MBA MỘT CHẶNG ĐƯỜNG DÀI

Tổng hợp tất cả những kinh nghiệm và cảm xúc trong quá trình apply MBA

 

Mùa apply đi qua là lúc tôi lượn phố mua cho mình quần áo mới, mua vải may một bộ ra trải giường theo design riêng, đăng kí khóa học trang điểm, đăng kí leo Fanxipan, í ới tụ tập bạn bè chính thức hưởng thụ cuộc sống một cách đàng hoàng và sung sướng kiểu không cần biết đến time management là gì Nghĩ lại chặng đường apply đã qua thật quá nhiều kỉ niệm. Tôi muốn chia sẻ lại với các bạn những cảm xúc và trải nghiệm thật nhất của chính tôi, với mong muốn là góp phần giúp cho con đường các bạn đi sau bớt gập ghềnh hơn. Khi bước vào con đường apply MBA, tôi bị lạc vào một biển thông tin mênh mông và lung túng không biết bắt đầu từ đâu và đi như thế nào để tiết kiệm thời gian. Với bài viết này, tôi hi vọng có thể giúp các bạn có một bức tranh tổng quát, có các nguồn thông tin, các kinh nghiệm từ sự va vấp và thu hoạch của tôi.

Bản thân tôi đã từng được đọc câu chuyện của những người khác và đã cảm thấy tự tin hơn rất nhiều. Nên tôi nghĩ câu chuyện của tôi sẽ giúp bạn phần nào. Tôi cũng đã từng nhận được những sự giúp đỡ to lớn từ những người khác mà nếu không có họ, tôi sẽ không bao giờ có được kết quả hôm nay. Bài viết này cũng là một cách để tôi tỏ lòng biết ơn đến những người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi, đặc biệt là gia đình Vòng Tay Bè Bạn và hai big brother là anh Tiến và anh Tường. Tôi cũng muốn gửi lời cám ơn thật lòng đến US Guide và forum Vietmba vì mỗi bước tôi đi, tôi đều tìm được những thông tin cần thiết và kinh nghiệm chia sẻ. Triết lý của US Guide chính là cảm hứng mạnh mẽ cho tôi mong muốn được chia sẻ và giúp ích đối với các bạn khác.

Ghi chú tí tẹo: Với tôi, kết quả apply không phải là điểm kết thúc mà nó là điểm khởi đầu cho một chặng đường khác. Tôi không muốn gọi những gì có được tại thời điểm này là thành công, fame lại càng không dám, vì phía trước còn quá nhiều thách thức. Chỉ muốn kể cho bạn một câu chuyện mà thôi. Và đó là câu chuyện có đủ sắc màu vui buồn, có được và mất, có khôn ngoan và ngớ ngẩn, được viết từ góc nhìn của riêng tôi. Bên cạnh đó, những điều viết ra ở đây có thể còn nhiều thiếu sót hoặc chưa đầy đủ. Tôi rất mong các anh chị và các bạn khác góp ý để những kinh nghiệm này có thể hữu ích hơn.

 

i. Giới thiệu về bản thân Gái. K40 khoa Kinh Tế Đối Ngoại, ĐH Ngoại Thương. GPA 8.37. Lớp trưởng. Thành viên và là Phó Chủ tịch phụ trách Hoạt động cộng đồng của tổ chức Tình nguyện trẻ Vòng Tay Bè Bạn. Tính đến thời điểm apply là có 3 năm kinh nghiệm. Quá trình công tác: Brand Service Manager của một công ty của VN về tư vấn thương hiệu, PR&Marketing Manager của một công ty chứng khoán (vị trí tại thời điểm apply). Điểm mạnh là tôi từng ở những vị trí có liên quan đến leadership/management và có đam mê + định hướng nghề nghiệp rõ ràng về marketing/branding. Điểm yếu là tôi chưa bao giờ làm cho công ty nước ngoài, tức là không có một cái corporate brandname đáng kể nào trong hồ sơ. Cũng như tính chất công việc của tôi khó đo đếm đánh giá bằng con số cụ thể. Nếu có con số, chẳng hạn như trị giá một hợp đồng tư vấn thương hiệu thì tôi cũng không dám kể ra vì sợ làm các bác adcom ngất xỉu vì bé quá! Đây là một hạn chế lớn vì resume bao giờ cũng phải result-oriented.

Một đặc điểm về vụ apply của tôi là gần như cái gì cũng phải làm 2 lần. IELTS thi 2 lần (6.5 và 7.5). GMAT thi 2 lần (650+5 và 710+5.5). Apply cũng 2 mùa. Mùa đầu tiên là năm 2007 nộp mỗi Emory, bị ding. Mùa 2008 nộp 4 chú thì có Duke được 50% tuition (đã negotiate) và Minnesota được 100% tuition (chưa negotiate). Riêng TOEFL ôn phọt phẹt có vài tuần nên tôi chắc mẩm cũng thì 2 lần thì cuối cùng lại bị 106 ngay từ lần đầu tiên nên tặc lưỡi không thi lại nữa. (Mùa năm nay còn quả visa chưa biết cơ sự thế nào).

Tôi luôn tin rằng những gì tôi đạt được là có lý do của nó. Tôi không tin vào may mắn trời cho (hơi giống Mai An Tiêm ). Tôi chỉ tin vào những gì tôi sẽ đạt được từ nỗ lực của chính mình. May mắn, nếu có, đó là tôi được sinh là tôi, với tất cả những ưu nhược điểm của bản thân, và được có một gia đình và những người bạn tuyệt vời.

ii. Những trạng thái tâm lý Điều đầu tiên mà tôi muốn chia sẻ với bạn là tâm lý – một trong những yếu tố quan trọng nhất để giúp bạn đi đến đích. Suốt phần vừa qua của chặng đường MBA, tôi đã phải đối mặt với những trạng thái tâm lý đặc biệt và muốn chia sẻ với bạn, để nếu bạn có gặp tình huống như tôi thì cứ yên chí rằng bạn không phải là người duy nhất!

Nước Mỹ quá xa xôi! Trước khi appy MBA ở Mỹ, tôi từng nộp hồ sơ một vài trường ở Anh và Úc với suy nghĩ hiển nhiên là đi Úc/Anh thì dễ hơn Mỹ. Với tôi, nước Mỹ quá xa xôi. Ngoài ra, tôi nghĩ mình muốn học chuyên sâu về marketing, chứ MBA chả để làm gì, trong khi bằng sau đại học ở Mỹ chủ yếu là MBA.

Có lần tôi vào web một số trường ở Mỹ đọc về marketing. Mặc dù là MBA nhưng độ chuyên sâu về marketing của chương trình đó còn hơn đứt mấy trường top top ở Anh/Úc. Tôi đọc mà trong lòng ngẩn ngơ Eo ơi, sao mình không thể có cơ hội đến đây!? Hồi đó tôi vẫn nghĩ rằng tôi không thể có cơ hội đến Mỹ. Xung quanh tôi bạn bè toàn đi Úc/Anh/Châu Âu Có lần mẹ tôi cầm tờ báo đọc cho tôi nghe Hà ơi, bài báo này nói là đi Mỹ không khó này, tôi còn chẳng buồn đọc.

Nhận thức thay đổi hoàn toàn khi tôi đến Đại hội US Guide 07/2007. Có lẽ tôi là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về tác động thay đổi nhận thức mà US Guide mang lại. Cuộc chiến apply bắt đầu từ đây. Cảm nhận đầu tiên của tôi là bị bơi trong biển thông tin vô tận và rối tung khi đặt chân vào các forum của Vietmba. Cảm nhận thứ hai: GMAT là nhiệm vụ bất khả thi. Tôi tự động viên mình người ta làm được mình cũng làm được.

Trong suốt quá trình apply, tôi vẫn thỉnh thoảng nhận được những lời nhận xét kiểu: Đi Mỹ á? Sao không đi Anh hay Úc gì đó cho dễ?. Một anh bạn tôi, người mà tôi rất nể trọng, thì thành thật bảo tôi là Cái bọn US Guide anh lạ gì chúng nó. Em đếm xem bao nhiêu đứa đã đi được? Em apply Mỹ làm cái quái gì. Hix, tôi gân cổ lên cãi nhưng mà trong lòng cũng suy nghĩ lắm. May mà, trước đó tôi đã apply ở Anh và Úc nên đã biết mùi: admission thì rất dễ dàng, nhưng học bổng thì không dễ như tôi tưởng, có thì cũng rất hẻo (nói cho công bằng thì một phần là hồi đó tôi ít kinh nghiệm hơn, hồ sơ cũng kiểu cây nhà lá vườn, chả tham khảo nghiên cứu gì). Quan trọng là khi tìm hiểu về Mỹ rồi thì tôi thực sự thích, nhất là khi tôi học về marketing và muốn phát triển các kỹ năng quản lý (tôi nhận ra management cũng là cái tôi cần, không chỉ marketing).

Vậy là: Quyết tâm đi Mỹ!!

GMAT bất khả thi Tôi nhớ một buổi sáng Chủ nhật tháng 7, ngày đầu tiên làm bài reading GMAT (quyển Princeton) tôi muốn nổ đom đóm mắt vì từ mới điên cuồng, bài đọc làm trong 10 phút thì tôi làm trong một tiếng mà vẫn sai lên sai xuống. Tôi cực kì thắc mắc là làm thế quái nào cái bài này giải quyết trong 10 phút được! Vô lý! Không thể! Kinh khủng!!

Học GMAT là một giai đoạn đáng nhớ. Lần đầu tiên tôi cảm thấy mình cần phải học tập một cách có kế hoạch, có kỷ luật và nghiêm túc thực sự. Đầu tiên là khó khăn khi ngồi vào bàn học mỗi buổi tối. Điều này không dễ với tôi vì suốt một thời gian dài đi làm về là chỉ có ăn uống, làm việc nhà, xem tivi hoặc chơi bời và ngủ. Riêng khoản rửa bát với tôi đã mất quá nhiều thời gian mà chẳng biết làm thế nào khác!! Nghe thì củ chuối nhưng đấy là thực tế. Những ngày đầu ngồi dưới ánh đèn được 15 phút là ngáp ngắn ngáp dài. Học được nửa tiếng là phải đi nạp năng lượng để chống buồn ngủ. Hồi học GMAT cũng là thời kì công việc của công ty tôi bận nhất. Lúc đó chứng khoán lên ầm ầm, công ty tôi tổ chức lễ khai trương, một trong những lễ khai trương nghe dân tình đồn là hoành tráng nhất Hà Nội lúc đó. Lần đầu tiên trong đời đi làm event, gặp ngay quả event lớn, tôi ngày nào phải làm việc muộn, chịu sức ép rất lớn vì việc tổ chức event luôn chứa đựng nhiều rủi ro. Suốt hơn 1 tháng liên tục như vậy, về đến nhà là mệt phờ. Ngồi vào bàn học càng khó hơn. Nhất là khi lại có lý do quá chính đáng để bao biện cho thói lười cố hữu của mình! Thứ hai là sức ép của deadline. Tôi bắt đầu dòm ngó GMAT từ giữa tháng 7 (sau Đại hội US Guide), học tử tế bắt đầu từ tháng 8 (sau một trận du hí đã đời để yên tâm từ giã thời son rỗi). Âm mưu đặt lịch thi là tháng 10. Lên list những sách cần phải giải quyết trước ngày thi. Nhóm học GMAT 3 đứa của tôi tham vọng tới mức định giải quyết một đống sách trong có mấy tuần. Vd: OG trong 1 tuần, ha ha ha đúng là điếc không sợ súng. Càng học thì càng thấy kế hoạch mà chúng tôi đặt ra là bất khả thi. Chúng tôi học nhóm ở quán cà phê được 3 buổi thì tan rã vì mỗi đứa có một tiến độ và việc riêng khác nhau. Trong 3 buổi đó chúng tôi dành đến 40% thời gian ngồi than thở với nhau là GMAT khó quá. Con số 700 sao mà xa vời!

Nhưng cuối cùng, chỉ sau một tháng, tôi đã tạo cho mình một thói quen ngồi vào bàn học mỗi tối mà không còn ngáp ngủ, hầu như tối nào cũng học tập trung được khoảng 2 tiếng. Sau sáu tháng luyện chưởng, đến ngày thi, lúc nhìn con số 710 thậm chí còn thấy thất vọng vì đã nghĩ mình có thể được cao hơn! Thi xong GMAT tôi vẫn giữ thói quen ngồi vào bàn làm việc mỗi buổi tối. Trình độ tiếng Anh thì lên hẳn vài bậc. Đấy thực sự làm những thay đổi lớn.

Thất bại và mất mát Năm 2007 tôi chỉ nộp một trường là Emory. Lúc đó tôi cảm thấy mình chưa sẵn sàng lắm cho chuyện nộp hồ sơ, phần vì GMAT chưa đâu vào đâu, phần vì kinh nghiệm đi làm còn ít, phần vì chân ướt chân ráo bước vào cuộc chiến, chưa có nhiều thông tin Được sự động viên của anh Tiến, tôi quyết tâm nộp. Hồ sơ thì thấy hài lòng, nhưng phần interview thì tôi cảm thấy không ổn. Tháng 3/2007, giữa lúc đang một mình ở Sài Gòn trong một chuyến công tác đầy khó khăn, tôi nhận được email thông báo trượt của Emory. Trượt thẳng cẳng. Không waitlist. Không một tia hi vọng. Lúc đó tôi rất buồn. Cánh cửa MBA dường như khép lại. Con đường phía trước bỗng trở nên xa tít tắp. Khủng hoảng tài chính bắt đầu nhuốm màu lên cuộc sống của tôi. Lang thang một mình trên vỉa hè quận I, một bên là những tòa nhà tráng lệ, những poster hàng hiệu hào nhoáng với những người mẫu môi hồng mắt tím sang trọng, một bên là những người lao động ngồi bệt trên vỉa hè, trong bộ quần áo nhàu nhĩ, tay cầm bữa trưa đựng trong một chiếc hộp nhựa rẻ tiền hoặc một chiếc túi nilon nhăn nhúm.. tôi thấy mình sao mà bé nhỏ giữa thế giới này… Lúc đó là cách thời điểm bây giờ tròn một năm. Một năm đó đi qua, ở Việt Nam, tôi làm được rất nhiều việc và trưởng thành lên rất nhiều. Mùa apply 2008 tôi thấy mình khác xa với cô bé ngây thơ của 2007. Tôi có nhiều thông tin hơn, dày dạn hơn, tự tin hơn và bình thản trước các tình huống. Tôi biết ơn anh Tiến vì đã khuyên tôi apply năm 2007. Nếu không có lần nộp Emory đó, tôi đã không thể có sự vững vàng như tôi đã có trong mùa apply năm nay. Nếu giả sử được đi năm ngoái, tôi đã không thể có một năm tuổi trẻ đầy ắp như thế! Một năm qua tôi có thêm bao nhiêu bạn bè, có thêm những khám phá mới về bản thân, vững vàng và được yêu thương Đúng là tái ông thất mã

***

Ngày nhận kết quả của Duke qua mail, FedEx chuyển cho tôi một cái hộp giấy rất đẹp, trong đó có thư admission, quà tặng (một cái hộp đựng namecard đẹp lung linh), CD, các tài liệu khác Nhận buổi chiều thì buổi tối trên đường về nhà tôi làm mất luôn cái hộp! Hix hix, rơi đâu không biết nhưng tóm lại là đi tìm khắp mà không tìm được. Lần đầu tiên tôi làm mất một món đồ quan trọng. Tối hôm đấy tôi thấy buồn và tự trách mình vô ý. Nếu trường biết tôi làm mất thì họ sẽ khó mà cho một đứa đoảng như tôi (thêm) tiền và thậm chí có thể họ còn nghi ngờ. Mà không thể không nói cho họ biết vì mấy cái form mà tôi phải điền để gửi lại thì không có trên mạng để gửi online. Tôi vẫn hi vọng sẽ có người nhặt được và gọi điện trả, vì trên bìa FedEx có số mobile của tôi. Nhưng không ai gọi cả. Ông bạn người Bỉ của tôi bảo là: Mày ở Việt Nam, và trường sẽ không tin mày làm mất cái hộp đâu! Mày phải đợi đến lúc có thông tin học bổng rồi mới nên nói. Hơi buồn, nhưng đấy là điều mà người bạn Tây này thành thật chia sẻ với tôi.

Ngày hôm sau đến văn phòng, mở email ra thấy ngay một email của Duke tiêu đề là Admit Package Delivery trong đó ghi là: bọn tao xin lỗi đã gửi nhầm hộp cho mày, mày xem giúp tao tên của ai trong cái hộp đó, bọn tao đang gửi cái hộp đúng cho mày, FedEx sẽ đưa đến mày trong vài ngày tới và lúc nhận cái hộp mới thì trả cho tao cái hộp cũ Ặc ặc. Tôi không muốn nói ngay với trường vụ mất cái hộp, vì quyết định học bổng tôi chưa có trong tay. Vụ mất cái hộp có thể làm tôi mất học bổng. Tôi tìm cách hoãn binh vài ngày nhưng hộp mới vẫn không đến và hộp cũ thì bặt vô âm tín. Tôi chẳng biết phải quyết định thế nào. Cuối cùng, quyết định là nói thật, dù không biết học bổng sẽ ra sao. Trường tỏ ra rất thông cảm. Vài ngày sau cái hộp mới đến, trong đó có thư học bổng 25% tuition. Hóa ra cái hộp cũ thiếu thư học bổng, chứ không phải nhầm tên. Mãi về sau tôi mới xin thêm tiền, và thật bất ngờ là Duke cho tôi lên gấp đôi, thành 50% tuition.

Tối hôm bị mất cái hộp, tôi email kể lể với một người bạn. Anh viết lại cho tôi là: All loss is a doorway. All pain is an entrance. All suffering is a gate. Anh đã từng mất những thứ quan trọng như là: chiếc xe đạp duy nhất của gia đình, Nhà nước lấy mất nhà, số tiền để đi chợ trong cả tuần cho cả nhà, bộ sưu tập tem trong nhiều năm, cháy nhà, album gia đình và tuổi thơ, lòng tin của một người bạn thân, niềm kính trọng về một người thầy, người anh sinh đôi, người cha, không được đi học đại học, đất nước mà anh sinh ra và lớn lên Bây giờ, anh đã tìm lại được những sự mất mát đó. Và anh nhận ra một sự thật là không có gì quan trọng trong đời sống này cả. Hãy thả mọi thứ buồn phiền xuống cho nó trôi đi

Chuyện cái hộp đã đi qua. Nó ngày càng nhỏ bé trong kí ức của tôi. Nhưng bài học của nó vẫn luôn ở lại. All lost is a doorway

Eight days a week Đây không phải eight days để yêu thương như một bài hát của the Beatles mà là eight days a week để cày như trâu trong một thời gian dài. Vụ apply năm 2007 vướng thi GMAT và trùng với lịch làm việc dày đặc của công ty trong mùa chứng khoán hưng thịnh nên phải cày đã là một nhẽ. Vụ apply năm nay thị trường chứng khoán đi xuống, ngân sách PR bị cắt giảm, tôi lẽ ra là nhàn tênh, thì lại nhàn cư vi bất thiện, đâm ra còn bận hơn cả thời kì trước. Kết thúc mùa apply 2007, tôi lao vào một dự án cộng đồng lớn là Hội Họa Kết Nối (Circle Painting) với tổng cộng 140 tình nguyện viên và hơn 1000 người tham gia, khối lượng công việc khổng lồ. Đâm lao phải theo lao. Trong suốt tháng 6 và tháng 7, hầu như ngày nào cũng làm việc khoảng 15 tiếng cho Hội Họa Kết Nối. Âm mưu đi trước đón đầu cho mùa apply 2008 tan thành mây khói. Hết Circle Painting tôi lại lon ton nhảy vào một dự án của Boston Consulting Group làm trong gần 3 tuần vì không thể không xem nó thế nào, trong khi vẫn phải hoàn thành công việc ở công ty hiện tại (hai nơi làm việc lệch giờ nhau, một nơi 7h30, một nơi 9h, nên tôi vẫn chạy được cả 2 nơi mỗi ngày!). Hết tháng 8, nghỉ dự án thì quay sang thi TOEFL và lập công ty riêng về online marketing theo lời rủ rê của một người bạn. Tháng 9 thi TOEFL xong thì bắt đầu làm hồ sơ phát đầu tiên là Duke vào tháng 10. Nghĩa là lúc đó tôi vừa lo apply, vừa lo trăm thứ việc với công ty mới thành lập, vừa vẫn làm fulltime với công ty chứng khoán, và thỉnh thoảng vẫn phải ngó nghiêng việc của Vòng Tay Bè Bạn! Ah, đợt đó tôi còn đi dạy lớp IELTS 2 buổi/tuần nữa chứ! Bó chiếu. Lúc này công ty chứng khoán của tôi lại liên tục làm lễ khai trương sàn vàng ở các đại lý (tránh vỏ dưa thì gặp vỏ dừa, chứng khoán xuống thì vàng lại lên!). Tôi nhớ một ngày giữa tháng 10/2008 tôi đi công tác Biên Hòa để tổ chức một cái lễ khai trương. 6h dậy tập thể dục, ăn sáng, trang điểm, mặc áo dài để phi đến sàn lúc 7h. 8h bắt đầu lễ khai trương. 9h phi về khách sạn để check out. 9h30 bắt xe về Sài Gòn phi thẳng đến văn phòng một khách hàng về thiết bị viễn thông ở Huỳnh Văn Bánh. Đây là khách hàng của công ty online marketing riêng của chúng tôi. Do công ty ở HN nên tranh thủ dịp này vào SG thì gặp gỡ một loạt các khách hàng SG luôn. 10h30 thuyết trình đến 11h30. 12h ăn trưa với một khách hàng về dịch vụ chuyển nhà. 14h30 phi đến một khách hàng là trung tâm tiếng Anh. Xong lại đến gặp một khách hàng sản xuất ga gối đệm ở đường Kinh Dương Vương lúc 16h30, tít tuốt đầu bên kia của SG. Xe ôm lao vun vút mất 40 phút mới tới. 18h30 lại gặp một khách hàng nữa ở đường Cù Lao ở một nẻo xa xôi nào đó. 20h về lại quận 1 gặp khách hàng làm về tinh dầu thiên nhiên. Lúc này bụng đói điên cuồng nên hình như tôi phải gọi một cốc cacao nóng để khỏi tụt huyết áp. Khách hàng hỏi Em ăn tối chưa? thì đành phải cười tươi như hoa bảo là Em ăn rồi! 22h về khách sạn mệt rã rời. Được cái 6 khách hàng của tôi đều rất nice, chắc tại thương tôi thân gái dặm trường , nên tôi cũng không cảm thấy áp lực gì (hiện tại chúng tôi có 3 hợp đồng từ 6 cuộc gặp đó!!). Về khách sạn đầu tiên là phải tẩy trang cái mặt son phấn từ sáng xong rồi lôi mì tôm ra ăn. Một trong những điều tôi thích nhất ở cái khách sạn một sao này là nó lúc nào cũng có mì tôm cốc ở trong phòng! Mặc dù ít khi ăn nhưng có những lúc thực sự cần đến. Ăn xong, 22h30 mở máy tính ra ngồi viết essay. Lúc đó là còn khoảng 1 tuần 10 ngày nữa là đến deadline của Duke, vậy mà cái essay 4 vẫn ì ạch. Các essay kia thì đang bị anh Tường chê tơi bời. Tôi định không nộp round 1 nữa. Lúc đó tôi thực sự bối rối. Gọi điện cho Nhung béo, nó động viên tôi nộp round 1 vì round 2 cạnh tranh kinh lắm. Ông bạn người Bỉ của tôi thì kêu là: mày để round 2 hồ sơ mày chả tốt hơn bao nhiêu trong khi lợi thế của mày giảm hẳn. Thế là liều! Và bạn có tin được không, tôi được 50% tuition của Duke! Riêng vụ này phải cám ơn Nhung béo lắm lắm. Nó cũng nộp round 1 như tôi, vậy mà vẫn động viên tôi nộp. Nếu tôi để đến round 2 thì khó lòng mà được như thế.

Có thể bạn đang nghĩ là tôi không biết set priority hoặc quá tham lam. Cũng có thể. Nhưng tôi không hối hận vì những gì mình đã làm. Với tôi, đơn giản là cơ hội đến mà nó quá hấp dẫn và không quay trở lại thì tôi không muốn bỏ qua. Và chừng nào cảm thấy còn cố được thì tôi sẽ cố. Vì tôi tin rằng khi quen với cường độ lao động đó, tôi có thể lên cường độ cao hơn mà không gặp khó khăn! Thực ra tôi không hề có ý nói là tôi đã làm đúng đâu! Nếu được khuyên thì tôi sẽ khuyên bạn không nên tham việc một cách ngông cuồng như tôi. Anh Tường có viết cho tôi một câu mà tôi luôn nhớ trong đầu là Em làm application cẩn thận và có scholarship/FA là em kiếm được nhiều tiền hơn em đi làm trong một năm đấy. Với câu nói này của anh thì tôi đã mạnh tay hơn trong việc set priority và gạt đi không ít vụ hấp dẫn khác.

Nhiều lúc nhìn lại, một năm 2008 thật là khủng khiếp. Chỉ trừ đợt đi chơi Hà Giang ngoạn mục vào dịp 30/4 thì cả năm gần như tôi chẳng có khoảnh khắc vui chơi tự do nào. Có đi chơi tôi cũng không được hưởng trọn vẹn cảm giác thoải mái vì trong đầu đã được lập trình về time management và các deadline. Chưa bao giờ tôi có một năm quần quật như năm 2008. Hội du lịch chán quá bỏ tôi ra khỏi mailing list. Bạn bè thì than phiền rồi không thèm rủ tôi đi chơi nữa. Tóc bị dài và duỗi mà tôi cũng không có thời gian đi làm lại. Nhiều lúc nhìn vào gương ngậm ngùi tự hỏi mình mất đi cái vẻ hồn nhiên từ bao giờ, và để được cái gì cơ chứ?!

Nhưng, bạn biết không, một mặt khác, sự bận rộn đó lại đem đến những màu sắc phong phú cho cuộc sống của tôi cũng như cho chính application của tôi. Càng va chạm, càng thách thức bản thân, tôi càng có nhiều chất liệu trong application. Nếu tôi không lao động cật lực như thế, tôi đã không thể có những câu chuyện đầy màu sắc trong essay và interview. Hơn nữa, tôi càng tự tin khi đối mặt với mọi tình huống, trong cũng như ngoài chuyện apply. Nhưng biết đâu, nếu, vâng, nếu. Nếu tôi không lao đầu điên cuồng như thế, biết đâu tôi lại có thời gian chuẩn bị tốt hơn và được một miếng bánh to/ngon hơn Tóm lại, điều mà tôi muốn nói với bạn là, application chỉ là một phần của cuộc sống, và nếu bạn đã rất bận rộn thì bạn vẫn có thể làm được nhiều hơn. Tuy nhiên, biết set priority là một kỹ năng rất quan trọng để đạt được các đích cuối cùng. Và chỉ có bạn mới tự tìm được điểm cân bằng hợp lý cho chính mình.

Một điều nữa muốn chia sẻ là tôi luôn cố gắng duy trì thói quen tập thể dục buổi sáng và đi nhảy vào cuối tuần, dù là rất bận. Thậm chí càng bận tôi lại càng phải tập. Thể thao giúp tôi thăng bằng tốt hơn và có nhiều năng lượng hơn để chiến đấu. Và rất hạn chế thức khuya (ngoài chuyện buồn ngủ ra thì thức khuya tổn hại nhan sắc và sức khỏe lắm lắm :p)

Khi nào lấy chồng? (mục này chỉ dành cho các bạn gái nhé) Ơ thế không định lấy chồng à? Hix, câu này tôi nghe mòn hết cả vành tai lẫn màng nhĩ mà vẫn không thoát được mỗi khi ai đó biết tôi có ý định đi học tiếp. Khổ cái là không khai không được, vì bạn bè người quen toàn hỏi tôi là Sao dạo này bận gì thế? Sao không đến sinh nhật tớ/con tớ? Sao không đi chơi với lớp mình? Sao 20/11 không qua thăm cô giáo?, VIP quá, hẹn mãi mà không gặp được Hà Đành phải thành thật nói là mình đang ôn thi, hòng mong người ta thông cảm, châm chước cho sự thiếu quan tâm/bận rộn của mình. Mà nói ôn thi thì người ta sẽ hỏi bạn là thi cái gì! Blah blah Và cuối cùng là Thế không định lấy chồng à! ặc ặc

Bực nhất là dịp Tết, cứ đến nhà là người ta hỏi Thế bao giờ cho cô/dì/chú/bác/anh/chị ăn cỗ?. Một người hỏi không sao, hai người hỏi càng vui, 10 người hỏi cũng no vấn đề. Nhưng người thứ 20, 30, người thứ 100 hỏi thì bạn sẽ muốn gào vào mặt người ta là Tôi mệt vì phải vừa cười vừa trả lời lắm rồi! hoặc bạn sẽ thèm được làm tờ FAQ để phát cho người ta đọc cho xong chuyện.

Nhục nữa là về quê. 10 người tôi gặp thì 10 người sẽ hỏi tôi câu hỏi thường gặp này. Mà nào có phải 10 người đó quan tâm gì đến tôi đâu! Tất nhiên là tôi vẫn phải cười tươi và bảo là Ôi, ăn cỗ thì có gì khó đâu ạ. Cháu mời cô/dì/chú/bác/thím/anh/chị lúc nào chả được. Nhưng chưa xong, người ta còn nhiệt tình hơn, tiếp tục bảo tôi là Con gái có thì cháu/em ạ, kén nó vừa thôi. Tuổi tôi ở quê thì được liệt vào dạng báo động . Hu hu hu tôi đâu có cần người ta khuyên cơ chứ. Có phải tôi không nhận thức được vấn đề đâu!

Nhưng mà cú nhất là người ta không những khuyên tôi mà còn quay sang nói với bố mẹ tôi. Bố mẹ tôi được tôi quán triệt tư tưởng từ rất sớm rồi nên lập trường khá vững vàng trước dư luận xã hội. Nhưng than ôi! Nước chảy đá mòn. Thỉnh thoảng bố tôi nói gần nói xa Cái gì cũng có quy luật của nó là tôi biết ngay ám chỉ điều gì. Tôi biết thế nên thường xuyên tung hỏa mù với bố mẹ. Được cái tôi quan hệ rộng, bạn bè đồng nghiệp đối tác người quen nhiều vô biên nên bố mẹ tôi cũng đỡ lo. Hoặc lo nhưng không dám nói cho tôi biết, vì biết tính tôi rồi. Thực sự tôi thấy may mắn vì bố mẹ tôi hiểu và tôn trọng cá tính của tôi. Từ nhỏ, tôi lớn lên độc lập và tự quyết định mọi bước đi trong cuộc đời mình. Tôi luôn ý thức về bản thân và không uốn mình theo những định kiến xã hội (không biết thế là tốt hay xấu, nhưng đấy là tôi!).

Tại sao tôi lại kể với bạn điều này? Vì nếu bạn là con gái, tôi dám cá bạn sẽ đối mặt với tình huống tương tự nếu đi học MBA trước khi lấy chồng. Quả thật không dễ dàng khi nhìn tới tương lai xa tít tắp phía trước, sau 2 năm MBA Nhưng bạn ơi, rốt cục đời là một cuộc phiêu lưu Có ai biết trước điều gì đâu! Với cá tính ưa nổi loạn của mình thì có cố thủ ở Hà Nội cũng chắc gì tôi đã lấy được chồng!  Tôi sống cho hiện tại. Cái gì tôi thích thì tôi làm. Nếu bảo bây giờ tôi từ bỏ ước mơ MBA để ngồi đợi kiếm một anh, làm đám cưới ầm ĩ, rồi lo chợ búa bếp núc chăm chồng nuôi con thì tôi thiếu oxy mà héo hon mất. Tôi là tôi, nên đừng bắt tôi phải sống theo cách của người khác.

Vậy thì, đi thôi!!

1. SELF ASSESSMENT 

Một trong những việc đầu tiên bạn cần làm của quá trình apply MBA là self-assessment. Tôi nhớ trong quyển How to get into top MBA programs (Bạn có thể tìm các sách được nhắc đến trong bài này ở Thư viện US Guide) có một mục về phần này, trong đó có rất nhiều câu hỏi như về Education, Work experience, Extracurriculum Activities, Future plan, Personal questionsNgoài ra, bạn có thể bổ sung những nội dung khác theo trường hợp cụ thể của bạn và tham khảo thêm trên forum vietmba.com.

Mục đích là self-assessment là để bạn có một bức tranh toàn diện, chi tiết và đầy đủ về bản thân. Nội dung của self-assessment đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ các công việc trong quá trình apply của bạn, từ CV, essay cho đến interview. Trong self-assessment, bạn cần phải đưa ra những tiêu chí để thể hiện mình, tương tự như key communication messages để xây dựng hình ảnh thương hiệu. Ví dụ cho trường hợp của tôi:

Self positioning: INNOVATIVE LEADERCommunication Guidelines:1. Leadership 2. Creativity 3. Passion for brand management/marketing 4. Contribution to community 5. Strong interest in [school name]Bạn không nên đưa quá nhiều thông điệp vì trí nhớ con người có hạn (Jack Trout). Các guideline này cũng có thể được thay đổi một chút để phù hợp với văn hóa của từng trường nếu cần. Từ cái xương sống đó, bạn sẽ dựng tiếp các câu chuyện, các sự kiện theo khung câu hỏi sẵn có của self-assessment. Như thế, các câu chuyện sẽ thống nhất với một chủ đề chung, chính là hình ảnh một con người mà bạn muốn admission committee cảm nhận. Và về sau khi bạn viết essay hay trả lời interview, bạn cũng sẽ theo cái mạch đã thống nhất đó. Giả sử bạn nào có định nói dối, ví dụ như bạn không thực sự thích tha thiết một ngành nào nhưng buộc phải chọn một ngành thì self-assessment cũng sẽ giúp bạn nói dối một cách nhất quán!

Bạn có thể tự hỏi làm thế nào để ra được các tiêu chí này? Xin thưa, không dễ. Đó là một quá trình viết rồi sửa, sửa rồi viết Những câu chuyện về bạn hoàn toàn có thể lại dẫn đến một thông điệp khác chứ không phải thông điệp mà bạn dự định ban đầu trong guideline. Không sao cả, mình bỏ tiêu chí đó đi và thay bằng tiêu chí mới phù hợp hơn. Làm self-assessment cũng chính là một quá trình quan sát và khám phá về bản thân. Bản thân tôi cũng như một số bạn bè, khi làm xong self-assessment thì cảm thấy sung sướng vì nhận ra giờ đây mình hiểu mình quá. Mình biết mình là ai, giá trị của mình ở đâu, mình muốn làm gì… Bạn cũng sẽ tự đánh giá được là mình có thực sự muốn đi học MBA hay không, để mà quyết tâm theo đuổi. Vì thế, quá trình viết self-assessment là một quá trình lâu dài, không chỉ chuyện viết và sửa mà nó là chuyện quan sát bản thân và ghi chép lại. Thế nên bạn cần chuẩn bị việc này thật sớm. Như thế bạn cũng có thời gian để ngấm những gì mình viết ra.

Về self-assessment thì tôi phải vô cùng cám ơn anh Tiến. Anh là người đầu tiên nói với tôi về self-assessment, đã xem, sửa, và hướng dẫn tôi từ những bước đi bỡ ngỡ đầu tiên đó. Anh cho tôi niềm tin rằng con đường nghề nghiệp mà tôi đang đi là đúng đắn. Điều đó giúp tôi tự tin lên rất nhiều, không chỉ trong chuyện apply mà trong cả công việc. Mặc dù bận rộn, anh vẫn dành thời gian cho một đứa lính mới tò te như tôi. Nếu anh có nói là anh chỉ sửa giúp em bản final thôi thì tôi cũng không dám than thở. Nhưng anh đã nhiệt tình sửa cho tôi từ cái self-assessment đến mấy cái draft essay dài lê thê còn lấm tấm lỗi chính tả (vì tôi không kịp sửa) mà không một lời phàn nàn. Tôi đã nhận của anh sự giúp đỡ lớn lao không điều kiện. Điều đó khiến tôi tự nhủ mình phải sống tốt hơn, phải giúp đỡ được nhiều người hơn. Pay it forward.

————Phần bổ sung (02/09/2010)1. Tiếp cận self-assessment như thế nào: Self-assessment giống như một bức ghép hình, trong đó mỗi miếng ghép là một phần của con người bạn. Ở đây có mấy điểm cần lưu ý:

– Bức tranh đó là tổng quan hình ảnh của bạn, là cái mà bạn muốn admission cảm nhận về bạn. Bức tranh đó là nền tảng cho sự nhất quán của toàn bộ hồ sơ (essay, interview, resume…). Bức tranh đó “phải” có những phần như: why MBA, why now, why you, short-term/long-term goals (&why), các success stories về leadership, initiative, team player, communications, aspiration và một loạt các nội dung khác như challenge/failure, ethics, personality, weaknesses… Self-positioning đóng vai trò như “chủ đề” của bức tranh, các stories kia là màu sắc, hoa lá tạo nên bức tranh theo chủ đề đó.

– Việc lựa chọn miếng ghép nào để đưa vào tranh là quyết định của bạn và do đó, nó phản ánh “thế giới quan” của bạn. Việc lựa chọn và kể một câu chuyện trong self-assessment không chỉ quan trọng ở cách kể, mà quan trọng hơn, là câu chuyện mà BẠN LỰA CHỌN để kể. Nó thể hiện bạn coi trọng cái gì, bạn quan tâm đến cái gì… (what matters to you), thì cái đó sẽ được thể hiện ra qua miếng ghép mà bạn chọn. Có những người cùng trải qua 1 sự kiện như nhau, nhưng có người lựa chọn để kể câu chuyện đó, có người lại không, vì hai người có thế giới quan khác nhau, coi trọng những thứ khác nhau.

– Nếu bạn coi mỗi strength (or key communication message) của bạn là một màu sắc thì bức tranh này không nên có quá nhiều màu sắc. Vì nhiều màu quá thì nhìn vào sẽ hoa mắt, rốt cuộc không thấy màu nào nổi bật cả. Do đó phải chọn “tông màu chủ đạo”, và chuẩn bị các “miếng ghép” để làm tông màu đó nổi bật lên.

2. Không nên nghĩ là đọc xong Quyển “How to get to top MBA” thì chắc chắn làm được Self-assessment ngon lành. Thế thì dễ quá!. Bản thân tớ dùng quyển này như bước khởi đầu để có bức tranh tổng quát về apply MBA, và để lấy câu hỏi gợi ý cho Self-assessment. Minh Hà luôn nghĩ rằng không có một công thức nào đúng cho tất cả mọi người. Những gì viết ra ở đây chỉ là trải nghiệm của bản thân tớ, kiểu như 1 case study, và bạn cần chọn lọc cái gì phù hợp với bạn để áp dụng.

Hope it helps.—————-

2. CV 

CV là một câu chuyện thú vị khác mà tôi muốn chia sẻ với bạn. Tính ra tôi có thâm niên làm CV không ít, vì đã đi làm từ ngày sinh viên, thế mà khi ngồi với anh Tường, tôi vẫn ồ à mắt tròn mắt dẹt. CV là một phần quan trọng của application vì nó là bức tranh tổng quan nhất về bạn và thường tạo ấn tượng đầu tiên. Interviewer có thể chỉ biết bạn qua nguồn thông tin duy nhất là CV (họ thường không được tiếp cận phần còn lại của hồ sơ của bạn để có thể độc lập đánh giá). CV cũng là sản phẩm ít phải customized nhất khi chuyển bộ hồ sơ từ trường này sang trường kia. Do đó, nó xứng đáng được bạn dành thời gian.

CV cho MBA thường cô đọng trong 01 trang A4. Có một số format cho essay, bạn có thể xem trong quyển How to get into top MBA programs hoặc lên website một số trường để tham khảo. Có trường sẽ post CV mẫu lên để hướng dẫn bạn. Ví dụ như Duke, khi bạn tạo account để apply online thì phần hướng dẫn có một cái CV mẫu có nội dung như thật. Wisconsin còn có cả 1 file PDF rất chi là dài hướng dẫn viết CV. Sau đây là những kinh nghiệm tôi rút ra cho việc làm CV, tổng hợp từ những điều mà tôi học hỏi được:

1) Result oriented: Quyển American Way viết rằng: Americans generally pay more attention to the factual than to the emotional content of messages. They are uncomfortable with displays of more than moderate emotion, and they are taught in school to detectand dismiss emotional appeals in other peoples statements or arguments. They are urged to look for the facts and weigh the evidence when they are in the process of making a judgment or decision. (p53). (Cám ơn bạn Dương, phụ trách Thư viện US Guide, đã gửi quyển sách này cho tôi). Vì thế, một điều tối quan trọng trong CV là bạn phải lượng hóa được các kết quả, các tác động của những công việc bạn làm. Thay vì kể về responsibility, bạn nên chú trọng đến impact, result, và cần lượng hóa càng cụ thể càng tốt. Nếu bạn nhìn cái CV mẫu của Duke trong ví dụ nêu trên, bạn sẽ thấy nó ghi rõ: tao đã làm dự án bao nhiêu triệu đô, làm tăng doanh số được bao nhiêu phần trăm, hoặc lên bao nhiêu tiền, kiếm được bao nhiêu khách hàng Những con số rất là bắt mắt.

Tuy nhiên, trong chúng ta không phải ai cũng có cơ hội được làm cái dự án triệu đô  Điển hình là tôi. Làm tư vấn và thiết kế thương hiệu thì một năm được gần 10 khách hàng đã là nhiều. Năm 2003, Viettel làm quả tư vấn và thiết kế thương hiệu $ 45,000 với JWT mà đã xôn xao dự luận, được nói là chơi trội. Huống chi khách hàng của tôi toàn doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chúng tôi không phải là JWT. Do đó, tôi không ghi con số doanh thu hay số tiền dự án mà lượng hóa bằng cách ghi % doanh thu mình giúp công ty tăng lên, tên các dự án lớn của Nhà nước mà tôi tham gia, một vài dự án mà khách hàng sau đó đã rất thành công (và thành công như thế nào) Về chứng khoán cũng thế. Nếu công ty bạn ra đời sau và thị phần bé thì bạn có thể khai thác con số tăng trưởng về khách hàng và doanh số (công ty bé thì bù lại là thường tăng trưởng nhanh). Ngân sách PR & marketing tôi cũng không dám đưa ra (hix hix). Bạn thử tưởng tượng xem, CV của thiên hạ toàn giơ triệu đô, mình giơ con số vài chục nghìn thì dọa được ai. Adcom đâu biết ở Việt Nam thu nhập bình quân đầu người chỉ có 1000$/năm! Thế là đành phải moi móc lấy cái số vốn hàng triệu đô của công ty đem bỏ trong ngoặc đơn để adcom thấy là tao đang làm manager cho một công ty quy mô lớn.

Về học tập thì có thể kể bạn ở top mấy trong trường/lớp, có nghiên cứu gì, được những học bổng gì, tính chất nó như thế nào Ví dụ như ở trường tôi, dân được học bổng Sumitomo thường được coi trọng, vì đó là học bổng xịn nhất, nhưng ra đường thì ai biết Sumi là gì. Thế nên lại phải chua thêm mấy chữ để adcom biết. Nếu bạn được học bổng của Nhà nước thì cũng cực kì nên kể vì Government scholarship nghe to đùng đùng! Tóm lại là, bạn nên tìm mọi cách để lượng hóa thành tích trong CV của mình.

2) Dùng động từ mạnh: Với những công việc đã qua, bạn nên bắt đầu cái bullet bằng một động từ mạnh ở thì quá khứ. Các động từ mạnh có hiệu ứng rất tốt trong việc thể hiện sức nặng của bạn đấy. Sau đây là các động từ bạn có thể dùng, đặc biệt phù hợp nếu bạn muốn nói 2 thông điệp leadership và creativity:

Awarded (động từ phân từ II)CreatedDesignedDevelopedDirectedEstablishedFacilitated FoundedInitiated LedManagedNominated (động từ phân từ II)ProposedTrained/Coached

Ngoài ra:Analyzed, Conducted, Executed, Gained

3) Chú trọng vào thông điệp, loại bỏ chi tiết không quan trọng Trong CV trước đây, tôi có kể một công việc part-time đã làm với ý đồ giải thích tại sao tôi được bổ nhiệm làm manager khi vừa mới chân ướt chân ráo ra trường. Sau khi trao đổi với anh Tường, tôi đã mạnh dạn bỏ phần đó ra để dành chỗ cho những cái quan trọng hơn. Sau đó, nhìn lại CV của mình thấy chắc hơn hẳn. CV hạn chế, bạn không nhất thiết phải kể hết, quan trọng mà mình nói được cái mình cần nói, và không mâu thuẫn với tính trung thực của hồ sơ.

Trong CV, tôi cũng kể tên 2 công việc tình nguyện tôi đã làm. Anh Tường góp ý rằng 2 việc này cùng nói một thông điệp về em là làm volunteer, vậy thì chỉ nên giữ 1 ý vì 1 ý là nói được thông điệp đó rồi, nên dành chỗ cho những cái khác. Sau khi xét thấy đất đai vẫn dồi dào, tôi giữ cả 2 ý đó trong hồ sơ, nhưng làm rõ sự khác nhau giữa hai công việc: một cái là () interpreted and assisted foreign sports delegations, một cái là () organized summer entertainment and education activities for children, instructed hygienic lifestyle practices and reproductive healthcare for local people. Như vậy, nó nhấn được thêm một chút về các diversity trong experience của tôi.

4) Những câu chuyện sinh động khác về cá tính Nếu bạn biết đánh đàn, vẽ tranh, làm thơ, sáng tác kịch bản hay diễn kịch, được giải thưởng thể thao, thành viên một câu lạc bộ gì hay hay, hoặc có một năng khiếu/sở trường nào đó thì hoàn toàn nên kể ra ở phần Additional Information. Tôi nhớ hồi interview Duke và Carlson, cả hai interviewer của tôi đều hứng thú khi nghe đến mấy trò đánh đàn organ và các vở kịch hồi đi học của tôi, và đoạn nói chuyện đó rất vui vẻ. Bản thân mình cũng thế thôi, nhìn hồ sơ của ai mà thấy có một vài chi tiết sinh động như thế, mình cũng cảm thấy đây chắc hẳn là interesting person, và nếu người đó vào trong tập thể của mình, họ sẽ giúp tập thể vui hơn, diverse hơn.

Nếu phần Social activities không đủ dài thì có thể ghép chung nó vào phần Additional Information cũng ok.————————(Phần bổ sung)Khi vào học Carlson, Minh Hà được training về resume, mới nhận ra là resume cũ của mình hóa ra vẫn còn vấn đề. Có một vài điểm rút ra hi vọng là giúp ích cho những bạn nào đang chuẩn bị apply.

1. The formula for creating a results oriented statement is:

WHAT I DID + WHY I DID IT = RESULTS/OUTCOME

Với mỗi câu trong resume, đặc biệt là phần experience, bạn cần trả lời 3 câu hỏi: What did I do? Why did I do it? What is the result/outcome? Khi nghe coach nói, tớ nhìn lại resume mới thấy là có những bullet mình chỉ để what I did thôi chứ không trả lời 2 câu hỏi sau – vì tớ nghĩ là không lượng hoá được outcome nên không viết. Nhưng thực ra không phải vậy. Có 2 cách lượng hoá outcome: qualitative và quantitative. Nếu bạn không thể dùng quantitative thì có thể dùng qualitative, vẫn rất powerful. Ví dụ:

BEFORE:Supervised development team during integration testing.

AFTER (quantitative):Supervised 5-person development team during integration testing; completed testing ahead of schedule, reducing costs of 15%.

BEFORE:Worked with other departments to improve project management.

AFTER (qualitative):Partnered across departments to introduce Microsoft Solutions Framework methodology, resulting in a more consistent process for managing software projects.

BEFORE:Conducted promotional activities.

AFTER (qualitative):Developed and managed nice successful sales promotions that increased customer base, customer retention rate, and product penetration per household.

2. Trên web của Graduate Business Career Center có hướng dẫn về resume format (nó là dạng file word chạy macro), list of action verbs & high-impact phrases và sample resume cho từng major. https://www.carlsonschool.umn.edu/Page8823.aspxBạn có thể tham khảo để thấy các câu hỏi What-Why-Outcome được giải quyết như thế nào.

Hope it helps. ———————————–

3. GMAT

Tài liệu

Tôi đến với GMAT đầu tiên qua quyển Cracking the GMAT của Princeton. Có lẽ đấy cũng là cái may, vì đọc xong quyển đó thì tôi thấy mình hiểu về bản chất của GMAT và thích nó như thích một trò chơi. Tôi đọc phần lời mở đầu với một sự hứng thú đặc biệt. Tôi nhớ tác giả kể là tao đến trụ sở công ty ETS và thấy một dinh thự cực kì khang trang, chúng nó giàu như thế nào nhờ cung cấp sản phẩm độc quyền là GMAT và TOEFL. Đi sâu vào hệ thống của ETS, bạn sẽ biết rằng những người ngồi nghĩ câu hỏi cho bạn thi hóa ra chẳng phải giáo sư tiến sỹ gì cao siêu mà có khi là mấy cậu lập trình trẻ măng nhí nhảnh Tóm lại, bạn sẽ nhận ra GMAT chẳng là cái gì kì bí, chẳng phải là thước đo chỉ số IQ của bạn, mà chỉ là một thứ bạn cần có để hoàn thành bộ hồ sơ MBA. Tôi rất thích anh chàng Joe Blogg mà tác giả dựng nên. Mỗi lần mình định lao vào điền một câu dễ thế là lại khựng lại, tự hỏi mình có phải là Joe Blogg không . Kỹ thuật POE (Process of Elimination) trong quyển này khá hữu ích.

Sau đây là những sách mà tôi khuyên bạn không nên bỏ qua (những sách mà tôi dùng là cũng do được người khác khuyên, mình dùng thấy đúng nên khuyên lại bạn :p):1) Cracking the GMAT Princeton (lý do như đã nêu ở trên)2) Official Guide (hay gọi là OG) tài liệu hướng dẫn chính thức của ETS. OG là cẩm nang, hiển nhiên phải dùng. Thi thật cũng rất giống kiểu hỏi và nội dung trong OG. Hồi tôi thi thì làm OG 10 và 11. Hai quyển này có phần trùng và khác nhau. Mỗi năm ETS lại ra một bản mới, giống như Bộ Giáo dục nước ra sửa đổi sách giáo khoa hàng năm . Đến lượt bạn thi, phiên bản mới thay đổi thế nào thì bạn phải hỏi người vừa thi trước bạn. OG phần SC tôi phải làm 2 lần để ôn lại ngữ pháp.3) Manhattan phần nào nào tôi cũng thấy cực kì hữu ích. Cám ơn Nhung béo đã giới thiệu quyển này! Sentence Correction (SC): sách củng cố ngữ pháp cho bạn theo các dạnh mà GMAT hay hỏi, cho bạn bài tập thực hành luôn và phân loại OG theo các dạng ngữ pháp đó. Critical Reasoning (CR): chỉ cho bạn các loại lỗi reasoning thường gặp của GMAT, phân loại câu trong OG để bạn luyện luôn. Reading: dạy bạn cách vẽ sơ đồ bài đọc theo dạng skeleton (đầu lâu rồi đến tay chân ). Học GMAT một thời gian tôi biết đến Manhattan. Hồi đầu tôi làm OG sai liểng xiểng. SC thì toàn bị nhầm. Reading thì bơi, đọc mãi mà ** hiểu, làm lâu ơi là lâu. Đến khi dùng Manhattan thì eo ơi: lên tay kinh khủng! Kĩ năng vẽ skeleton giúp tôi tăng tốc reading vượt bậc.4) Peterson: Tôi chỉ luyện writing khoảng 2 tuần trước ngày thi và thi rất suôn sẻ (5 và 5.5). Tài liệu mà tôi dùng là Peterson. Tôi nghĩ riêng quyển này là đủ cho writing Essay 1 (Analysis of an Argument). Sách chỉ cho bạn các loại lỗi trong lập luận và cách xử lý các lỗi đó. Ví dụ như lỗi mẫu nghiên cứu không mang tính đại diện thì sẽ có những mẫu câu gì để giải quyết. Cái Essay 2 (Analysis of an Issue) thì tôi viết theo kiểu essay 2 của IELTS nên tôi không dùng tài liệu GMAT nào cho phần này. 5) Test set: có khoảng 20 test (là file), chỉ nên làm khi đã xong OG. Nên time management y như thật khi làm test set. Nên soạn answer sheet với các cột A|B|C|D|E, cột Corect/Incorrect và cột Note để ghi chú các lỗi sai với từng câu, về sau review cho dễ (cái form này là Nhung béo soạn cho bọn tôi). Dùng kĩ thuật POE khi làm test set.6) GMAT prep: là phần mềm có giao diện y như thi thật, do ETS thiết kế. Chỉ có vài đề luẩn quẩn trong đó nên bạn không thể làm nhiều (làm nhiều hơn 3 lần thì câu sẽ lặp lại, lúc đó không còn đánh giá đúng khả năng của mình nữa), chỉ nên làm trong vòng 1 tuần trước ngày thi để quen với thao tác trên máy tính và vững về tâm lý. Thêm nữa là file GMAT -Time Management của Khắc Cường (Cường chân dài) là tài liệu bạn không thể bỏ qua. Ngoài ra tôi thấy quyển Kaplan Premium có phần lý thuyết và công thức cho bài toán xác suất khá tốt, còn câu hỏi thì không giống thi như OG. Bạn cũng có thể ngó qua 3000 Question Bank để thử phản xạ sau khi xong OG, nếu cảm thấy xong OG mà chưa nắm chắc hoặc bị hết tài liệu ôn thi (he he).

Bạn nên chuẩn bị các mẫu câu sẵn cho essay, lúc thi cứ tự động phang vào, khỏi phải nghĩ cho mất thời gian. Nên chuẩn bị template sớm và lúc luyện chỉ luyện theo template thôi cho quen tay. Sau đây là một số template cho Essay 1 tôi đã nằm lòng bị trước lúc thi:

Opening: 1) The argument that . is not entirely logically convincing, since it ignores certain crucial assumptions.

2) According to this editorial/sbs speech/ In sb argued that (argument). To support this assertion /conclusion, the editorial/speaker/author of this article cites (st)/ points out that However, the argument suffers from several reasoning flaws, which together make the argument unconvincing.

BodyFirst, the argument assumes that. There are a number of reasons why this might not be true. For example, . Or perhaps,Second, the argument never addresses the point thatFinally, the author fails to consider .———-One of such problems is thatAnother potential problem involves the / Another flaw involvesFirst, the argument relies on a poor analogy between X and Y. It is entirely possible that

ConclusionTherefore, the argument is not completely sound. The evidence in support of the conclusion does little to prove the conclusion. Ultimately, the argument could be strengthened by making it plain that.(, that. , and that.).

Essay 2 của GMAT thì giống A/D-Template của IELTS Writing Task 2 nên tôi sẽ trình bày dưới đây.

Kế hoạch học tập

Có tài liệu rồi thì quan trọng nhất là kế hoạch học tập. Cái này là nỗi niềm không của riêng ai. Ai cũng bận trăm công nghìn việc. Kể cả bạn nào nghỉ ở nhà để ôn thi thì vẫn phải có kế hoạch rõ ràng để khỏi trở nên lười biếng (hoặc ít nhất nếu có lười biếng thì cái kế hoạch sẽ là căn cứ rõ ràng để bạn tự sỉ vả bản thân ). Bạn cần liệt kê ra những tài liệu mình cần hoàn thành và khung thời gian thực hiện từng việc đó. Thường thì bạn sẽ làm nhiều việc song song, tức là làm nhiều tài liệu GMAT một lúc, và ngoài GMAT thì còn lo ngắm trường Nên không có plan thì sẽ dễ bơi lắm. Tôi làm cái thời khóa biểu nho nhỏ như ngày đi học phổ thông và đặt trên bàn làm việc để theo dõi tiến độ của mình. Thường thì cũng không hoàn thành 100% quota nhưng sẽ biết mình có chậm ở mức chấp nhận được hay không. Đợt nào thấy mình chăm ngoan thì có thể châm chước cho phép mình đàn đúm tí tẹo. Còn đợt nào thấy bê trễ quá thì tôi có can đảm để say no với những lời rủ rê.

Time management cho bài thi là rất quan trọng. Cực kì quan trọng. Khi bắt đầu làm Test Set là phải làm quen luôn với time management. Time management là kĩ thuật quản lý thời gian lúc thi GMAT, chia các blog thời gian ứng với các câu hỏi. Vd, 15 câu đầu của verbal thì được phép làm trong bao nhiêu phút, bao nhiêu phút tiếp theo thì phải đến được câu bao nhiêu, phân bổ thời gian lúc đầu và lúc cuối bài thi như thế nào…

Nếu bạn có gặp câu hỏi nào khó đọc key mà không hiểu, hỏi bạn không được thì có thể lên forum vietmba.com vào box GMAT để hỏi. Cường chân dài hình như vẫn là mod cho box đó. Còn câu nào củ chuối bạn không hiểu, hỏi không ra thì nên bỏ qua vì thi không gặp đâu!  Cho khỏi mất thời gian (trừ những câu về hiện tượng ngữ pháp thì không nên bỏ qua).

Tâm lý ngày thi

Tâm lý là yếu tố quan trọng nhất để bạn phát huy hết khả năng trong ngày thi. Chuyện tâm lý của tôi thì thôi rồi là buồn cười. Bạn biết không, đến bây giờ mỗi lần thấy Richard Gere là tôi lại nhớ đến kì thi GMAT. Chuyện là thế này, tối hôm thi GMAT hồi tháng 12/2007 thì có một film gì rất hay mà Richard đóng vai chính, đại loại là một chàng lãng tử đi phiêu lưu đến xứ nọ và gặp một nàng công chúa Tóm lại tôi rất thích Richard và thích mô típ của phim này. Vừa xem phim, một tai tôi vừa nghe thấy Mai thi rồi, mình không nên xem phim, xem khuay mình sẽ mất ngủ, và không thể thi được, kì thi này rất quan trọng một tai kia thì nghe thấy Ôi giời, xem tí có sao. Xem nốt tí rồi tắt, còn sớm mà Túm lại đấu tranh tư tưởng mãi thì tắt được tivi ở giữa chừng phim (nếu không vì GMAT thì không ai nhấc tôi ra được khỏi cái tivi khi đang có phim tôi thích). Nhưng tiếc thay, sau đó tôi không tài nào ngủ được. Không ngủ là bắt đầu lo là mai không thi được. Trong khi đây là cơ hội cuối cùng cho mình để thi GMAT, vì deadline đến rồi Càng lo càng không ngủ được. Một vòng luẩn quẩn điên cuồng. Đây là lần thứ hai tôi lâm vào tình trạng mất ngủ (lần đầu thì là ốm trước một kì thi ở trường Ngoại thương), còn bình thường tôi là con sâu ngủ.

Sáng hôm sau thức dậy, bố mẹ nhìn cái mặt tôi thì biết ngay là có chuyện chẳng lành. Tôi bị tụt huyết áp, không ăn được mấy, đầu thì ong hết lên vì cả đêm không ngủ được. Vào phòng thi mặt mày vẹo vọ. Hôm đó là ngày 22/12 nên trung tâm Horizon lại chuẩn bị cho lễ Noel. Người ta bưng cây thông lên cầu thang ầm ầm, còn bàn nhau treo quả thông ở chỗ nào làm tôi điên hết cả người. Hai lần liền tôi phải giơ tay lên bảo chị admin là nói mọi người trật tự cho em thi. Đúng là người tính không bằng trời tính. Tôi đã chọn ngày tránh lớp học cho khỏi ồn thì lại rơi vào ngày trang trí Noel. Kết cục là 650! Chán như con gián. Điều an ủi duy nhất là mặc dù trong lúc IQ bị down trầm trọng nhưng toán tôi vẫn được 50. Có lẽ một điều may mắn cho tôi là tôi thích GMAT, thích làm toán cấp 1, thích học cách tư duy và phản biện của GMAT, nên tâm lý của tôi cũng thoải mái khi thi lại lần 2.

Tôi thi lại lần 2 vào tháng 2/2008, tức là 2 tuần sau Tết. May mà sàn HO và HA cho chứng khoán nghỉ tết nhiều nên tôi có thời gian tập trung cao độ cho GMAT. Mồng 1/2 tôi submit Emory, 18/2 thi lại GMAT và gửi điểm bổ sung cho trường trước khi trường ra admission decision. Kết quả là tôi bị ding Emory. Và thế là thi vội thi vàng GMAT cũng chả để làm gì cả. Giả sử lần thi thứ 2 có lởm khởm thì rõ ràng tôi có khối cơ hội về sau để thi lại!!

Về sau, bạn bè tôi đứa nào thi GMAT mà bảo lo quá thì tôi đều kể về chuyện tôi thi GMAT 2 lần. Lần 1 tưởng sống tưởng chết đây là cơ hội cuối cùng. Lần 2 cũng tưởng chết đây là cơ hội cuối cùng. Nhưng hóa ra cả 2 lần đều chả là gì cả. Cho nên, hai bài học rút ra ở đây là:- Bạn nên thi sớm để nếu không như ý thì còn thời gian thi lại (ít nhất 31 ngày sau mới được thi lại). Như vậy, tâm lý ngày thi sẽ thoải mái hơn. – Take it easy: cái giá của bạn chỉ là $250, đắt nhưng mà không quá đắt. Điểm thấp thì ta thi lại. Sao đâu. Và tâm lý thoải mái thì bạn sẽ do your best trong ngày thi. Nói thêm một chút là đa số các trường ở Mỹ đều chỉ lấy điểm GMAT cao nhất mà bạn kê khai. Cũng có trường xem điểm gần đây nhất, có trường cộng lại chia trung bình nhưng chỉ là thiểu số.

Vào phòng thi

Trước khi thi tôi ghé qua chỗ Horizon nhìn cho biết nơi biết chỗ (tồi tàn hơn mình tưởng). Khi chọn ngày thi thì tôi hỏi người ta về lịch lớp học ở đó, vì bọn trẻ con mà tan lớp thì có thể ồn. Nhưng như đã nói ở trên, người tính không bằng trời tính, nên take it easy bạn ạ. Bạn nên mang nước uống hoặc bánh kẹo/trái cây trong cặp để ra chơi có thể măm măm. Trái cây thì lúc nào cũng là phương thuốc tốt nhất giúp tôi tỉnh ngủ. Chứng minh thư/hộ chiếu thì tất nhiên là không được quên.

Lúc thi thì trước khi tính giờ, sẽ có thời gian chuẩn bị. Tôi xin thêm một tập giấy nháp để kẻ cái bảng time management ra trên một tập, còn tập kia thì kẻ trước các cột A|B|C|D|E và ghi số từ 1 đến 37 (math)/43 (verbal) để sau làm POE cho nhanh. Bạn phải tuân thủ Time management và không được bỏ qua các câu cuối bài kể cả không kịp thời gian. Bỏ trống không làm kịp những câu cuối sẽ bị trừ điểm nặng hơn là làm sai!!

Khi thi xong thì bạn sẽ được phát một tờ giấy báo điểm. Bạn nên giữ tờ này vì trên đó có cái code mà về sau bạn sẽ dùng nó để log in đọc kết quả GMAT online.

Vài lời cuối về GMAT– Học GMAT nên có bạn, có người để trao đổi, để xả xì trét thì bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng vui vẻ hơn.- Ngày đầu làm test set (verbal) thì tôi chỉ đúng được 19 hay 20 câu gì đó trong tổng số hơn 40 câu. Nhưng dần dần mọi việc tốt lên. – Nếu bạn là dân thích toán thì toán GMAT khá dễ, nhưng vẫn nên làm các dạng trong OG cho quen tay, để tránh mắc các lỗi dở hơi.- SC hay có dạng 5 câu ABCDE chia làm 2 nhóm, một nhóm 3 câu có một loại lỗi (hoặc không lỗi) giống nhau và nhóm 2 câu có một loại lỗi (hoặc không lỗi). Nếu bạn biết chắc về loại lỗi đó thì có thể Eliminate được bớt một nhóm.- Bạn nên làm thẻ visa/master debit sớm để còn trả tiền thi GMAT, TOEFL (nếu thi), application fee về sau sẽ tiện hơn là phải nhờ người khác. Phí làm thẻ rất thấp và không phải kí quỹ như credit.- GMAT cho gửi điểm miễn phí đến 5 trường và bạn có cơ hội duy nhất để đăng kí 5 trường đó lúc trước khi bắt đầu làm bài trong phòng thi. Bạn phải tự nhớ hoặc search trên các trường đó để đăng kí. Có nhiều bạn khi thi GMAT thì sợ điểm kém nên không dám gửi điểm cho trường. Hoặc nghĩ rằng mình chưa chắc chọn.

4. IELTS hay TOEFL Chắc không có mấy ai dở hơi thi cả IELTS lẫn TOEFL iBT như tôi!

Mỗi kiểu thi đòi hỏi những kĩ năng khác nhau. TOEFL thì khá giống GMAT, ôn sẽ thích hơn IELTS. IELTS thì có vẻ academic hơn, nhất là phần Writing Task 1. Tôi trót học IELTS từ ngày sinh viên, với cả hồi đầu không định đi Mỹ nên thấy thi IELTS tiện hơn trong mấy trò thủ tục. Thi IELTS thì bạn nhận được sự support tận tình từ British Council và IDP, tài liệu ở thư viện BC cũng nhiều. Gửi điểm IELTS cho trường thì không gửi online được. $5/lần nếu chuyển mail thường (20 ngày) nhưng chuyển nhanh qua DHL thì $54/lần. Thi TOEFL iBT thì gửi điểm online khá tiện, $17/lần, mất trên dưới 10 ngày gì đó thì đến nơi. IELTS và TOEFL thì đều khoảng 2 tuần sau là có kết quả, chưa kể thời gian từ lúc có điểm đến lúc trường nhận được. Khi thi thì bạn nên đăng kí gửi điểm cho các trường bạn nhắm hoặc có thể nhắm, để tránh tốn những khoản tiền không đáng về sau, tương tự như trường hợp GMAT.

Emory, Duke, Carlson đều nhận IELTS. Tuy nhiên 2 trường tôi định apply nữa là Kellogg và Wisconsin thì không nhận IELTS. Tôi viết thư cho IELTS Organization để complain (vì hồi đó trên web của tổ chức này có ghi Kellogg và Wis nhận IELTS), thế là nó xin lỗi và xóa 2 trường đó khỏi web của nó đi! Tôi viết thư cho Admission office ở Kellogg và Wisconsin để thuyết phục mà không được. Hai trường này nhận IELTS cho PhD hay program gì đó nhưng không nhận IELTS cho MBA mới dở hơi chứ! Tôi search 50 trường top thì thấy khoảng 30-35 trường rải đều trong cả Top 10, Top 20, Top 30, Top 50 (mỗi phân khúc khoảng 65% trường) nhận IELTS còn lại thì chỉ nhận TOEFL. Ban đầu tôi nghĩ là sẽ chỉ chọn trường nhận IELTS thôi, nhưng về sau tôi quyết định thi thêm TOEFL vì 3 lý do: 1) Kiểu thi TOEFL khá giống GMAT nên không phải ôn nhiều 2) Có Toefl thì chọn trường vô tư hơn 3) Nhỡ năm nay oạch thì sang năm yên chí dùng TOEFL apply lại, vì đến 04/2009 thì IELTS của tôi hết hạn rồi! Nếu lựa chọn lại thì có lẽ tôi không nên thi thêm TOEFL mà dùng thời gian đó để research thêm về trường, và dùng IELTS để apply.

Tóm lại nếu bạn không quen với IELTS và không chốt trường rồi thì tôi khuyên bạn nên thi TOEFL cho đỡ phải nghĩ là trường mình thích có nhận IELTS hay không. Còn nếu đã lỡ thi IELTS rồi thì hi vọng bạn không rơi vào trường hợp thi thêm TOEFL như tôi.

Kinh nghiệm ôn TOEFL thì tôi không có mấy, tôi học rất phọt phẹt trong 3 tuần. Phần speaking thì hơi bị vấn đề vì tôi không quen nói trong 45 hay 60 giây gãy gọn hết ý. Ai cũng bảo nên dành thời gian cho speaking. Tôi phải record phần nói của mình và lưu file lại để sau đó mở ra nghe và tự rút kinh nghiệm. Bạn cũng có thể dùng phần mềm của quyển Barron để làm quen với phần mềm tích hợp kĩ năng (mặc dù giao diện hơi khác thi thật). Thực ra thì tôi cũng không biết là còn phần mềm gì nữa không, nghe nói có Cambridge, nhưng tôi không có thời gian để đi lấy thêm tài liệu. Nhớ nhất hồi thi TOEFL là tôi phải luyện không ngủ trưa, vì giờ thi rất oái oăm là 11am 3pm. Vì không có lựa chọn khác nên tôi buộc phải dành ra một tuần trước khi thi để luyện không nghỉ trưa. Ban đầu cũng hơi vất vả nhưng chỉ 2 ngày là quen. Lúc thi xong rồi thì cũng không còn nhu cầu nghỉ trưa nữa vì thấy điều đó thật là xa xỉ!

Kinh nghiệm IELTS thì nhiều vì về sau tôi có dạy 2 khóa IELTS, chứ hồi đi thi thì chỉ chân đất mắt toét tự học thôi. Tôi chỉ muốn nói về phần Writing Task 2 vì nó giống Essay 2 của GMAT (Analysis of an Issue). Bạn có thể học/photo vở đồng chí nào học cô Đức, hoặc xin tài liệu writing ở IELTS Academy chỗ Tạ Quang Bửu. Phần writing ở đây dạy theo template, sẽ giúp bạn tiết kiệm được nhiều thời gian khi vào phòng thi (cứ theo template mà phang). Task 2 có 3 dạng là Discussive Essay, Argumentative Essay và Account Essay thì có 2 cái đầu là giống dạng của GMAT Essay 2. Mỗi dạng đều có template riêng. Bạn có thể dùng template của cô Đức hoặc thầy Patrick để xào ra cái template của bạn. Quyển Peterson cũng có những mẫu GMAT Essay 2 khá tốt thì phải.

Dừng mục IELTS/TOEFL ở đây nhé!

5. CHỌN TRƯỜNG

Chọn trường có lẽ là phần tôi làm hơi sơ sài. Về lý thuyết thì tôi biết phải làm gì nhưng thực tế là khi bơi trong biển thông tin và kẹt deadline thì bạn dễ xuề xòa nhắm mắt đưa chân lắm. Vì thế phần chọn trường làm càng sớm càng tốt, để có thời gian ngâm cứu hoặc tìm người quen mà hỏi han, và để ý, quan sát

Bạn nên đưa ra tiêu chí chọn trường cho riêng bạn. Cái này thì chẳng ai giống ai. Tiêu chí của tôi là: 1) Tốt về marketing 2) Cho nhiều tiền 3) Gần thành phố 4) Ranking càng cao càng tốt. Thực tế thì có thể không nhiều trường có đủ các yếu tố bạn cần (ví dụ tiêu biểu là rank càng cao thì thường cho càng ít ). Tiêu chí chỉ giúp bạn định hướng mà thôi. Ngoài ra bạn có thể có các tiêu chí phụ như: Thành phố đó có mức chi phí không quá đắt, Thành phố đó gần những tập đoàn/công ty bạn thích, Trường có hệ thống hỗ trợ sinh viên quốc tế tốt, Văn hóa thân thiện, nhiều CLB/hoạt động hay, Tỉ lệ ra trường có việc cao/việc ở ngành gì

Các nguồn để research thông tin về trường là: – Website và brochure của trường: quan trọng nhất vì nó là nguồn chính thống, nó cho bạn những thông tin mà trường muốn bạn biết về trường. Bạn nên vào web xem faculty về lĩnh vực mình quan tâm gồm những người như thế nào, học ở đâu ra, có công trình nghiên cứu gì để xem lĩnh vực đó có phải là thế mạnh của trường không.- Đăng kí vào hệ thống email (Mục Brochure/Info Request) trường sẽ cho bạn load brochure online hoặc gửi brochure qua bưu điện cho bạn đồng thời đưa email bạn vào mailing list để gửi thông tin thường xuyên cho bạn. Cái này nên làm sớm để 1) không bị miss thông tin quan trọng, vd như adcom đến thành phố của bạn hay các vụ chat online với Admission office/sinh viên 2) để chứng tỏ với trường là tao quan tâm đến mày từ sớm đấy nhá.- Các trang có thông tin chuyên về MBA và có ranking: 1) Business week: Bạn cần mua account để đọc. Hình như $29. Có thể chung nhau mua cho đỡ phí, vì cũng không cần dùng thường xuyên. Nhưng không nên bỏ qua. Nhớ là phải phân lịch ra, nếu 2 người cùng log in một lúc thì nghe nói account sẽ bị hủy. 2) usnews.com vân vân- Viết thư cho sinh viên của trường (vd: MBA association) để hỏi han, hoặc bới ra tên thằng nào thì vào Facebook tìm nó và say hello thử xem (nhớ do homework).- Vào các forum đọc/hỏi (vd: vietmba, business week), các dạng blog như blogspot, facebook- Hỏi cựu sinh viên hoặc người từng apply trường đó (nhớ do homework).- Google

Chọn trường nhiều khi cũng cảm tính lắm. Thấy anh/chị kia đi trường A được nhiều tiền, mình lại ngưỡng mộ anh chị í nên cắm đầu đi theo. Hoặc bạn có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố rất vớ vẩn như Brochure bọn này xấu, Bà admission này chả nice gì cả, Ông X đi học trường Y mà tao lại không ưa ông ý, Trường này năm ngoái cho chị X tiền rồi, năm nay không biết còn cho Việt Nam nữa không Bạn nên gạt hết những yếu tố này ra ngoài để không bị ảnh hưởng thiếu khách quan đến kết quả nghiên cứu trường của bạn. Quan trọng là thực sự mình cần gì. Nên thu thập thông tin nhiều chiều và lựa chọn thông tin có căn cứ. Ngoài ra bạn cũng có thể cân nhắc về essay của các trường, càng giống nhau thì bạn càng đỡ vất vả.

Mùa 2008, tôi chọn Duke và Carlson là ưu tiên hàng đầu. Hai trường này nhận IELTS nên tôi có thể nộp trong round 1. Hai trường deadline cũng cách nhau kha khá (cuối tháng 10 và đầu tháng 12) nên tôi có thời gian xoay xở. Trường ưu tiên tiếp theo của tôi là Wisconsin vì có MBA về Brand Management, cũng có xu hướng cho nhiều tiền và gần thành phố. Trường thứ tư là Kellogg là trường được coi là hàng đầu về marketing, tôi muốn thử sức mình xem thế nào. Nhung bảo tôi không nên nộp Kellogg vì trường có vẻ không ưa sinh viên VN và gần như chắc chắn không cho tiền. Tôi cũng biết rằng nếu không có học bổng to thì tôi cũng không có cơ hội ở đây, nhưng cuối cùng tôi vẫn quyết định nộp để xem Kellogg thế nào, chủ yếu là để thỏa mãn sở thích của bản thân, chứ chẳng theo tiêu chí đề ra. Tôi cũng định nộp thêm một vài trường nữa nhưng không thể sắp xếp được thời gian. Về sau chỉ có Duke và Carlson là tôi có kết quả tích cực, còn Kellogg thì ding, Wisconsin thì không gọi phỏng vấn mà đẩy thẳng vào waitlist. Nếu có thời gian, bạn nên nộp nhiều hơn tôi, khoảng 6 trường, sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn. Nhưng mà lưu ý với bạn là nộp 6 trường thì cần làm việc một cách tập trung chứ cứ rải ra 1 tháng 1 trường như tôi thì về sau ngán lắm. Lúc làm hồ sơ Wisconsin (4 Feb) thì tôi chán vụ apply đến tận cổ. Lúc Tết nhất thiên hạ đi chơi ầm ầm mình phải ngồi viết essay, cám cảnh vô cùng. Và kết cục là tặc lưỡi làm liều, hồ sơ xấu đẹp thế nào cũng nhắm mắt submit cho thoát nợ. Lát nữa tôi sẽ tường thuật về vụ essay rất thảm hại này của mình.

Nhiều người nói là nên apply một trường lower priority trước. Các trường high priority làm sau để rút kinh nghiệm. Tôi thì đã có quả Emory demo rồi nên không làm theo lời khuyên này. Chỉ có một điểm rút ra là càng những trường đầu thì càng có xu hướng nghiêm túc, tử tế, càng về sau càng vớ vẩn, cảm hứng tụt lè tè. Nhưng công nhận là khi làm hồ sơ Carlson thì tôi rút được một số kinh nghiệm từ Duke nên làm Carlson chắc chắn hơn Duke. Nhưng hồ sơ của Duke lại chính là nền tảng cho hồ sơ Carlson.

6. TẠO DỰNG MỐI QUAN HỆ

Phần Tạo dựng mối quan hệ sẽ được chia làm 2 phần: mối quan hệ với trường và mối quan hệ với những người có thể giúp đỡ bạn trong quá trình apply.

Về phía trường, có hai tình huống hoàn toàn đối lập nhau là cách mà tôi và Nhung cùng apply Carlson. Tôi gửi điểm GMAT đến Carlson từ tháng 2/2008. Một anh gì đó trong Admissions Office gửi thư chúc mừng điểm GMAT của tôi và chúng tôi có vài cái email qua lại. Từ đó, tên tôi nằm trong mailing list của trường. Tháng 9/2008, chị Linh Gilles, đại diện của trường về Việt Nam tham dự MBA Fair ở Sài Gòn. Tôi định bay vào SG đợt đó vì trong cái fair đó có Duke và Carlson. Tôi viết thư hỏi Linh là có thể sắp xếp cho tôi interview luôn ở SG được không, và hỏi chị có ra HN không, nếu ra thì tôi có thể tổ chức một cuộc gặp với những bạn quan tâm đến Carlson, vì số bạn như vậy ở HN rất nhiều. Linh trả lời là sẽ ra HN, sẽ interview tôi ở HN và rất vui nếu tôi có thể tổ chức một cuộc gặp như vậy. Chúng tôi gửi ảnh cho nhau để biết mặt. Vào đúng ngày giờ thì tôi đến Metropole để phỏng vấn. Sau đó ra Biz Café để làm presentation về Carlson. Mọi việc diễn ra cực kì thuận lợi, suôn sẻ, rất đông người tham dự. Sau đó chúng tôi giữ liên lạc thường xuyên. Dịp Noel, Linh gửi thiếp cho tôi còn tôi cũng chúc tụng lại tùm lum. Ngoài Linh thì đại diện MBA Association cũng email cho tôi để hỏi thăm và hỏi có cần thông tin/giúp đỡ gì không. Tôi email cho Megan và chúng tôi có những email qua lại rất thân thiện và cực kì nhiều thông tin hữu ích. Tôi tham gia cả vụ chat online của trường. Tóm lại, mối quan hệ rất tốt, cộng với hồ sơ làm cẩn thận nên kết quả 100% tuition không nằm ngoài dự đoán của tôi. Câu chuyện của Nhung béo bạn tôi thì hoàn toàn ngược lại. Từ đầu Nhung không hề nghĩ đến Carlson. Khoảng 10 ngày trước deadline Nhung mới nghĩ đến Carlson và viết thư hỏi Linh nếu nộp điểm TOEFL muộn thì có sao không. Linh đồng ý. Thế là Nhung bắt đầu làm hồ sơ trong 4 ngày cuối cùng trước deadline. Kết quả, Nhung cũng được một cục 100% tuition như tôi! Hai đứa nhận kết quả cùng một giờ! (về các điểm khác trong hồ sơ thì hai đứa cũng ngang ngang nhau vì cùng học một trường, cùng làm chung công ty trong một giai đoạn). Thế nên cũng chẳng nói được là mối quan hệ với admission staff quan trọng hay không. Chỉ kể ra đây để bạn biết thế thôi. Lựa chọn cách nào là tùy bạn.

Tạo dựng mối quan hệ với những cá nhân có thể giúp đỡ bạn là một kĩ năng quan trọng. Bạn khó có thể thành công hoặc sẽ rất vất vả nếu làm mọi thứ một mình. Các nguồn lực xung quanh mình rất nhiều và biết cách khai thác các nguồn lực hiện có cũng là một kĩ năng quan trọng trong cuộc sống. Hơn nữa, mọi người xung quanh bạn thường là sẵn lòng giúp đỡ trong phạm vi có thể. Vì thế đừng bỏ qua cơ hội thử tìm sự giúp đỡ của ai đó. Nếu họ bận, nếu họ không sẵn sàng thì ít nhất bạn đã thử! Và không phải hối tiếc là bạn đã không làm tất cả những gì có thể. Trong quá trình apply, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của mọi người, và cũng qua đó mà mở rộng mối quan hệ của mình. Ví dụ nhé, nếu tôi không PM cho chị Thắng để hỏi về Carlson, tôi đã không biết là chị Thắng nice như thế, đã không biết chị Thắng cũng thích bài Còn ta với nồng nàn như tôi . Đừng ngại tìm kiếm sự giúp đỡ. Nhưng bạn cần phải chú ý: 1) Hãy chân thành 2) Hãy làm việc nghiêm túc và do homework để chứng tỏ bạn coi trọng thời gian của người khác 3) Hãy biết nói lời cám ơn và trân trọng sự giúp đỡ của người khác. Hãy phản hồi/cám ơn ngay cả khi người được hỏi trả lời là họ không thể giúp bạn. Nếu họ đã giúp đỡ bạn, hãy thông tin cho họ về những kết quả mà bạn đạt được về sau, nếu bạn đã sẵn sàng để công bố. Tâm lý thông thường là khi bạn dành công sức để giúp ai đó, bạn có xu hướng muốn biết sự giúp đỡ của mình đem lại lợi ích như thế nào.

Nếu có thể thì bạn nên tìm bạn cùng apply. Sẽ đỡ nhiều lắm đấy. Tôi may mắn có được một người bạn cùng đồng hành trong quá trình apply là Kẩm Nhung (Nhung béo). Chúng tôi đi cùng nhau từ những ngày vật lộn với GMAT cho đến những ngày ngồi ca thán essay Không học cùng lớp với nhau ngày nào nhưng chúng tôi thân nhau từ chuyện học hành, công việc đến những trò như trang điểm, nấu ăn, quần áo. Lúc nào tôi chán ngán với essay thì gọi điện than vãn với nó. Thấy nó cũng bi đát như mình, hai đứa nói chuyện một lúc thấy đỡ bi đát hơn, thế là quay lại chiến đấu tiếp. May mắn kì lạ là hai đứa sẽ đi Carlson cùng nhau mùa 2009 này!!! (àh, giả sử visa của tôi ok). Và cả hai cùng được full tuition!!! Điều đó sẽ làm tôi cảm thấy ấm hơn khi ở mùa đông Minnesota————————–Phần bổ sung:Khi vào học ở Carlson và trở thành mentor, tôi hiểu thêm về tâm lý của mentor khi có người contact nhờ giúp đỡ. Bạn thử hình dung, chương trình MBA cực kì bận, nhiều thứ phải lo cùng một lúc, nên thời gian trở nên quý giá hơn bao giờ hết. Nên nếu mentor quyết định dành thời gian để giúp một ai thì họ cần phải tin rằng người đó có khả năng phảt triển và thành công. Một anh bạn Tây của tôi sống ở VN nói với tôi rằng “Khi có người contact nhờ sửa application, tao sẽ hẹn gặp người đó để nói chuyện, xem có phải là người xứng đáng để tao giúp không. Thời gian của tao có hạn nên tao muốn giúp người nào có tài, có đức và motivated. Tao không muốn lãng phí thời gian vào người không có năng lực hoặc xấu tính (anh ấy dùng từ “mean to people”)”. Mặc dù tôi không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của anh này, nhưng tôi thấy anh có lý và chắc hẳn không ít người có cùng suy nghĩ như vậy. Do đó, lời khuyên của tôi là: nếu có thể thì bạn hãy nhờ người recommend bạn với potential mentor. Người recommend nên là người có mối quan hệ với mentor. Như vậy cơ hội để bạn được giúp đỡ sẽ cao hơn.

7. XIN FEE WAIVER

Quan điểm về fee waiver thì cũng đa dạng, có người nghĩ là nên xin, có người nghĩ nếu xin sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh của mình, có người cho là tùy từng trường… Bạn có thể đọc ở thread này: http://www.vietmba.com/showthread.ph…ght=fee+waiver (phải log in). Tôi thì kết hợp vừa xin vừa không xin, tùy theo trường đó tôi xếp priority đến đâu. Nếu xin thì nên xin sớm, sẽ dễ hơn là xin muộn. Tôi viết thư xin fee waiver của Duke vào tháng 9, trường cho ngay lập tức! Công nhận Duke nice dã man. Xin Kellogg thì bị từ chối thẳng thừng – thế là tốn $250 . Carlson thì tôi không xin vì không muốn rủi ro. Wisconsin thì ghi rõ là không cho nên khỏi hỏi. Kết quả là mặc dù cho fee waiver nhưng Duke vẫn cho tôi scholarship khá xông xênh, nên rõ ràng trong trường hợp này, vụ waiver hay không không ảnh hưởng. Nhưng, lưu ý là đây chỉ là một trường hợp bạn nhé.

Sau đây là mẫu thư xin fee waiver của tôi. Hai thông điệp chính là: Sự đóng góp của mình cho trường + Hoàn cảnh tài chính khó khăn = Xứng đáng.

Dear Allison <p> </p>I am going to apply for the Duke MBA daytime program this fall 2009 and I would like to be considered for an application fee waiver. <p> </p>I graduated with High Distinction from Foreign Trade University, one of the most prestigious universities in Vietnam . As part of the preparation for the MBA, I took the GMAT test early this year and scored 710 (93rd percentile). <p> </p>I have intensive experience in marketing and management. I currently work in the PR & Marketing position for XXX Securities, a local company operating in the financial market. My work experience has provided me strong management skills and marketing knowledge which I believe will allow me to take advantage as well as contribute to your program and add values to the school diversity. <p> </p>As a woman applicant from a developing country, I have to overcome many obstacles, one of which is financial matter. Although an MBA requires far more substantial financial investment, the application fee is a significant amount compared with our monthly average income. Therefore I really hope that you would accept this request. <p> </p>I am looking forward to hearing from you. Best regards Minh Ha <p> </p>8. CHECKLIST, APPLICATION FORM & TRANSCRIPT/DEGREE

Bạn nên kiểm tra phần check list hồ sơ của trường sớm để đảm bảo là không sót giấy tờ hoặc văn bản gì. Có trường yêu cầu bằng đại học, giải thích hệ điểm của Việt nam so với Mỹ, hoặc một cái gì đó thì bạn đều cần thời gian để làm các giấy tờ này. Đừng để sát nút kẻo trở tay không kịp. Nếu cần giải thích điểm của bạn theo hệ thống điểm của Mỹ thì bạn có thể đến IIE để yêu cầu làm, cũng nhanh thôi. IIE không convert điểm mà họ giải thích hệ thống điểm của VN như thế nào và trên 7,0 đã là top bao nhiêu rùi. Các giấy tờ khác phải công chứng ở trường/ cơ quan công chứng.

Thường bạn sẽ phải gửi transcript và degree bằng hardcopy đến trường trước application deadline (Duke thì sướng, scan là xong). Mỗi lần gửi như thế là mất hơn 50$ (FedEx/DHL) rất tốn kém. Trường hợp của tôi thì như sau: Tháng 8, lúc Lệ Hằng đi Mẽo, tôi gửi Hoa hậu 5 cái phong bì có logo củ khoai FTU, đã niêm phong đóng dấu đỏ chót (trường Ngoại thương được cái làm dịch vụ công chứng và niêm phong rất chuyên nghiệp ). Trong mỗi phong bì là transcript và degree có dấu sao y bản chính. Trường tôi cấp transcript song ngữ và có dịch vụ dịch degree sang tiếng Anh siêu tốc (phòng Quan hệ quốc tế có sẵn file trong máy rồi, chỉ thay tên, thay lớp, in ra kí cái rẹt, đóng dấu cái cộp là xong). 5 cái phong bì đó chưa dán địa chỉ nơi nhận, bỏ chung trong một cái phong bì to cùng với một tập label in sẵn tên, địa chỉ những trường cần nộp. Về sau, khi quyết định chọn trường chính thức thì tôi nhờ Lệ Hằng dán label và gửi đến các trường tôi chọn, chỉ khoảng $7/lần.

Khi làm application form online thì bạn nên copy paste ra một file word và lưu lại để dùng cho những trường tiếp theo. Việc này sẽ giúp bạn tiết kiệm được khối thời gian, vì form các trường thường na ná nhau.

Nhớ đừng để sát ngày mới ngó vào application form, vì application form không phải lúc nào cũng chỉ hỏi những thông tin đơn giản đâu. Bạn nên ngó qua trước một lượt từ sớm. Ví dụ củ chuối nhất của tôi là online application form của Wisconsin. Hồi đó là Tết, tôi làm hồ sơ không được tập trung lắm nên application form không sờ tới. Một phần là đã có kết quả của Duke nên cũng chủ quan. Hai ngày trước round 2 deadline, mở form ra điền thì té ngửa ra là phần Financial Aid hay Financial Statement gì đó nó đòi 3 essay nữa!!! Ặc ặc. Chết mất. Trong khi 4 essay kia của tôi thì vẫn chưa hoàn thành, essay 4 thì đang cực lởm khởm bung bét. Bây giờ nảy nòi ra 3 cái essay nữa hỏi về các skill gì gì Tôi đọc câu hỏi mà bần thần mất một lúc, kiểm tra lại thấy không có gì nhầm lẫn. 3 essay kia vẫn lù lù trước mặt! Thực ra một phần do tôi bị bánh chưng làm cho mờ mắt nên research không kĩ, hình như trường có ghi đâu đó là nếu apply FA thì phải viết essay riêng nhưng tôi không để ý. Thế là còn 2 ngày cuối vắt chân lên cổ viết 3 essay phát sinh, hoàn thành 4 essay dang dở từ trước, điền application form rồi nhắm mắt submit vài tiếng trước deadline (application chỉ $50 chứ nếu $500 thì có khi tôi đã không nhắm mắt đưa chân như thế ). Lúc đó tôi chán quá rồi nên tính nếu vỏ chuối Wisconsin thì còn Duke, hoặc năm sau apply trường khác, chứ để vụ Wisconsin dây dưa nữa thì điên mất.

9. ESSAY

Như đã nói ở trên, self-assessment là nền tảng tốt cho bạn viết essay. Mỗi paragraph sẽ truyền đạt một điều gì đó về bạn. Và 4-5 cái essay cộng lại sẽ ra một bức tranh đầy đủ về bạn.

Một điều quan trọng trong essay là nó có personal & unique hay không, tức là có nói được về chính bạn với cá tính, ước mơ, tài năng, hoàn cảnh của bạn mà không thể lẫn với một ai khác hoặc nghe na ná đâu đó hay không. Để truyền đạt được điều đó thì bạn cần có những câu chuyện cụ thể, có những chi tiết như cái tên, địa danh, dự án, số liệu, thách thức, sự kiện cụ thể. Cảm hứng và đam mê (nếu có) cũng sẽ là yếu tố giúp bạn khác biệt. Tôi rất thích những essay mà tôi đã viết cho Duke. Một phần là cách hỏi của Duke cũng cho phép mình có nhiều không gian để múa may. Đây cũng là trường đầu tiên tôi apply nên rất khí thế. Các essay của tôi thường bắt đầu bằng một cái hook. Cái hook đó có thể bắt đầu từ những dấu hỏi to đùng về nghề branding ở Việt nam khi tôi còn là sinh viên. Lúc đó tôi là trợ lý cho một bà chuyên gia thương hiệu người nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi vì thấy doanh nghiệp Việt Nam đổ bao nhiêu tiền của ra mà vẫn làm brand không đúng cách. Tôi đặt câu hỏi vì dân ta hiểu văn hóa của ta mà không tự làm brand được, lại phải đi thuê Tây. Tôi đặt câu hỏi vì có bao nhiêu sản phẩm của Việt Nam mình có chất lượng tốt nhưng đều xuất khẩu dưới global brand, doanh nghiệp được hưởng miếng bánh quá nhỏ trong chuỗi giá trị và người dân thì vẫn cứ nghèo khổ. Rồi câu chuyện đó đi dần đến ước mơ thay đổi của tôi, và dẫn dắt đến câu chuyện MBA. Cái hook đó có thể bắt đầu từ vụ Vedan bí mật đổ nước thải ra sông Thị Vải, giết chết dòng sông và đời sống xung quanh trong 14 năm mà vẫn được chính quyền tặng giải thưởng về thành tích bảo vệ môi trường! Từ câu chuyện đó, tôi đi dần đến những impact tôi sẽ tạo ra khi làm một leader of consequence concept mà Duke luôn tự hào (Cái mục này thì tôi phải cám ơn chị Ngân đã giải thích khái niệm leader of consequence cho tôi, và đặc biệt là anh Tuấn Linh, Fulbrighter và là một trong các Founder của Vòng Tay Bè Bạn, đã truyền cảm hứng và giúp tôi mổ xẻ câu hỏi nhăn răng này của Duke). Mỗi người sẽ có một cách riêng để thể hiện mình. Mỗi chúng ta đều khác biệt. Quan trọng là bạn tự nhìn ra những giá trị của bản thân để chuyển nó thành những thông điệp, những câu chuyện thuyết phục. Và nhớ là result-oriented khi kể về achievement/leadership…

Khi chứng minh em thực sự yêu trường thì bạn cũng phải cực kì chi tiết. Anh Tường khuyên tôi là em nên kể ra công trình nghiên cứu gì, phòng lab nào, giáo viên nào, club gì, hoạt động nào của trường mà em thích Nếu bạn chỉ nói là trường rất tốt về marketing, giáo viên thì tuyệt vời, giỏi và tâm huyết thì nghe hơi bị hàng chợ vì nó đúng với bất kì school nào! Hãy cụ thể, càng cụ thể càng tốt. Cụ thể không có nghĩa là nói nhiều đâu. Bạn không có nhiều đất nhưng vẫn tạo được sự cụ thể bằng một vài cái tên, một số điểm nhấn. Điều này cũng đòi hỏi bạn phải nghiên cứu trường kĩ để biết trường tự hào về cái gì, điểm mạnh là gì, match với bạn như thế nào. Riêng điểm research về trường thì tôi thấy Carlson là tôi làm tốt nhất. Một là tôi dành nhiều thời gian. Hai là cách trình bày thông tin của Carlson trên website/brochure phải nói là rất chi tiết, đầy đủ và hệ thống. Carlson không hào nhoáng nhưng cực kì hiệu quả. Kellogg thì tôi làm không tốt vì thông tin của Kellogg rất nhiều mà lại hơi trùng lặp nhau, mặc dù văn phong khác nhau nhưng thông điệp thì không khác. Ngôn ngữ marketing của Kellogg thì công nhận là đỉnh, cực kì hào nhoáng và đúng là hàng khủng, nhưng khi cần rút ra điểm gì mình cần đưa vào essay thì lại nó lại không cụ thể và hiệu quả như Carlson. Khi viết essay thì tôi thường dùng ngôn ngữ của trường để đưa vào essay. Ví dụ: Duke hay dùng từ energetic để mô tả về student body, Carlson thì thích từ real-world/experential để mô tả về chương trình học, Kellogg thì hay dùng từ ample opportunities để kể về các hoạt động ngoại khóa cho sinh viên, Wisconsin thì nghiện từ top-notch để chỉ faculty Ngoài ra bạn phải customize thông tin của mình theo trường nữa.

Khi viết essay thì bạn nên tham khảo quyển 65 Successful Harvard Business School Application Essays. Trên forum vietmba còn nói đến một quyển gì nữa có vẻ cũng hay nhưng tôi biết đến lúc đã apply xong xuôi rồi nên cũng không đi tìm thêm. Bạn có thể vào một số trang web cung cấp dịch vụ viết essay. Mặc dù không dùng dịch vụ của họ nhưng mình có thể đọc một số bài phân tích essay question của các trường top, cũng hữu ích. Các trang mà tôi biết là: http://blog.accepted.com/acceptedcom…hip-essay.html, http://www.mbamission.com/blog/2008/…ogg-2008-2009/ và forum Business Week.

Cuối cùng, phải soát kĩ để không mắc lỗi chính tả và ngữ pháp!—————Phần bổ sung:Minh Hà đọc essay của các bạn năm nay thấy có một vấn đề nổi cộm chung là viết không thoát ý và bố cục không rõ ràng. Trong thế giới bận rộn, người đọc thường không đủ kiên nhẫn để nghe bạn kể chuyện à ơi mãi không hiểu ý chính là gì – bạn cần phải “to the point” ngay từ câu đầu tiên của mỗi paragraph. Sau đó thì support ý đó bằng lý lẽ và ví dụ.

Minh Hà lấy ví dụ về Structure Thinking ở Carlson Consulting Enterprise để minh họa:

Memo ATina left a message to say that she can’t make the meeting at 4:00. Richard called to say that he can make it later but he would prefer tomorrow but not before 11:00. James’ assistant says that he won’t be back from Boston until tomorrow late. We can’t get a conference room tomorrow, but we can on Wednesday. Wednesday at 2:00pm sounds like a good time. How does that work for you?

Memo BCan we reschedule the meeting to Wednesday at 2:00pm? That would be more convenient for Tina and Richard, and would allow James to be present. It is also the only time we can get a conference room

Chắc bạn đã thấy memo A & memo B được structured khác nhau như thế nào, và cái nào hiệu quả hơn.

——————Value of Structure

• Makes Message Precise: Forces the writer to be clear about what s/he is communicating to the reader, preventing messages that are unclear, unintended, or intellectually empty

• Reveals Gaps in Thinking: Enables the writer to identify gaps by anticipating and responding to the reader’s questions before the communication is delivered

• Provides Clarity to Reader: Prevents the reader from “working” to understand the message, thereby eliminating the possibility that your message is misunderstood or ignored entirely

Structured Thinking không chỉ áp dụng cho Essay, Consulting, mà ngay cả giao tiếp trong kinh doanh và trong cuộc sống nữa.——————

10. LOR

LOR (Letter of Recommendation) là câu chuyện vất vả khác trong quá trình apply. Tôi nhớ mang máng là anh Tiến (?) có viết một tài liệu hướng dẫn, hay ai đó có post bài của anh lên forum vietmba (tôi nhớ láng máng là một bản tiếng Việt không dấu). Bạn nên tìm đọc. Trong đó có thông tin rất đầy đủ. Ah, vừa tìm được cái link này thấy cũng được nè: http://www.mbamap.com/mba-apply/mba-…ion-letter.htm

Mỗi trường sẽ có một form LOR khác nhau nhưng về cơ bản nó là sự trộn đi xào lại của những ý sau về applicant: – circumstances you know the applicant- managerial and leadership abilities- talents or outstanding characteristics- chief liabilities or weaknesses- creativity and independence of thinking – teamwork/interpersonal skill- caree focus/performance- English language ability- additional statementNên recommender chỉ cần chuẩn bị một file rồi sau đó copy paste và customize một tí cho các trường khác.

Kinh nghiệm tổng hợp của tôi như sau:- Người giới thiệu nên là sếp trực tiếp, đó là loại reference mà trường ưa nhất. Vì họ quản lý mình sát sườn và các câu chuyện/đánh giá cũng sâu sắc, phong phú hơn, phù hợp với bối cảnh cho MBA. Nếu trường đòi 3 LOR thì có thể nhờ thêm professor, một khách hàng có vai vế hoặc người lãnh đạo tổ chức tình nguyện bạn tham gia- LOR và essay là hai tài liệu bổ trợ để vẽ bức tranh về bạn. Do đó giữa LOR và essay sẽ có những cái trùng lặp để hỗ trợ nhau và sẽ có những cái khác để bổ sung cho nhau. Do đó, khi làm việc với recommender, bạn cần xác định là LOR người đó viết cho mình cần truyền đạt những điều gì về bạn. Hoặc tốt nhất là bạn liệt kê các sự kiện cũ cho recommender sao cho phù hợp với thông điệp mình muốn nói.- Hãy giúp recommender nhớ lại và viết càng chi tiết càng tốt. Các cái tên, các câu chuyện, các con số Điều này cũng tương tự như essay.- Nếu các recommender viết bằng tiếng Việt và yêu cầu bạn dịch thì nhớ là văn phong phải khác nhau.- Nếu bạn ngồi với recommender để hỗ trợ khi họ submit LOR (nếu họ không submit độc lập) thì bạn nhớ vụ IP (internet protocol) phải khác nhau giữa các LOR.

11. INTERVIEW

Bình thường tôi vẫn tự cho mình là người sắc sảo nhưng cứ vào interview là IQ hay bị tụt đột xuất. Để tôi kể cho bạn nghe vụ interview Emory tôi sờ tiu pịt cỡ nào, sau đó mình sẽ tính đến giải pháp nhé.

Cô bé Hà chuẩn bị interview cho Emory với tâm trạng rất là phấp phỏm, hồi hộp. Đây là lần đầu tiên cô interview một cái gì nghiêm túc, và lại là qua điện thoại. Interview xin việc thì chưa bao giờ vì một là cô làm từ sinh viên part-time rồi đi lên, hoặc là do người quen mời qua làm nên cũng không phải interview. Tiếng Anh thì phát âm tốt nhưng vào những tình huống này thì không đủ để diễn đạt. 7h45 tối, cô ngồi trước máy tính xem lại các câu hỏi đã chuẩn bị, cảm thấy mình chưa được thuộc bài lắm. Cô đặt cái điện thoại ngay cạnh máy tính hòng quay bài cho dễ. Trước đó cô đã mock interview với vài người nhưng vẫn cảm thấy chưa yên tâm. Bố mẹ thì im thin thít không dám sờ đến điện thoại vì biết con gái sắp in tơ viu. 8h08 phút tối, một bà trong admission committee gọi điện tới (Hà đã phải gửi CV qua email cho bà í từ trước). Bà í xin lỗi vì gọi điện muộn. Sau phần chào hỏi how are you này nọ thì bắt đầu vào câu hỏi phỏng vấn theo đúng kiểu khuôn mẫu, tức là Walk through your CV, why MBA, why Emory Hà trả lời tằng tằng theo nội dung đã chuẩn bị. Mặc dù đã giả vờ ngắt ngứ tí tẹo và đóng kịch thật tự nhiên nhưng hình như vẫn lộ ra là câu trả lời theo kiểu học thuộc. Có nhiều câu cô còn lướt chuột tìm trên màn hình để đảm bảo trả lời không sót ý. Đến câu hỏi example of your creativity thì rơi vào câu em Hà không chuẩn bị. Thế là em kể về một sáng kiến về trò chơi em tổ chức cho Vòng Tay Bè Bạn trong một buổi party Tiếp đến là một vài câu vớ vẩn gì nữa rồi tới phần Do you have any question for me? Em cũng tằng tằng phang lại theo sự chuẩn bị từ trước, hỏi một cách rời rạc kiểu 1,2,3,4 chứ không liên kết được giữa các câu hỏi với nhau như một cuộc nói chuyện tự nhiên. Sau interview thì em quên béng mất không gửi thank you letter cho interviewer. Sáng hôm sau em nhớ ra, mở mail ra gửi thì đã thấy Thank you letter do interviewer gửi cho mình! Nhục ơi là nhục. Kết quả là em bị ding không oan uổng.

Ôi chuyện buồn quá! Theo bạn thì em Hà mắc lỗi ở đâu? Nên sửa đổi gì? Bạn thử trả lời xem nào. 5 phút nhé…

Ok. Các vấn đề của em Hà và những kinh nghiệm rút ra như sau:- Chuẩn bị không kĩ. o Có rất nhiều câu cơ bản mà em không biết để chuẩn bị. Thông điệp em muốn nhấn là Creativity nhưng em lại không chuẩn bị những câu chuyện cụ thể, hấp dẫn, result-oriented để minh họa. Nên khi bị động, em đã không thể nhớ ra một chuyện gì thuyết phục mà em lôi một cái ví dụ rất trẻ con ra để kể. Có thể em sáng tạo thật nhưng ví dụ đó không đủ tầm để nói về khả năng của một người sắp đi học MBA. o Nghiên cứu về trường không sâu nên em không dám hỏi những câu hỏi sắc vì sợ nhỡ câu trả lời có trên website rồi. Thành ra câu hỏi dành cho interview cũng hơi yếu.- Thiếu tự tin. o Từ thiếu tự tin nên mới ngồi trước máy tính lướt chuột để quay. Điều này làm cho câu trả lời của em thiếu tự nhiên và không sáng tạo, không ngẫu hứng và thu hút.o Thiếu tự tin nên em làm cho bố mẹ cũng hồi hộp theo, đâm ra không khí cả nhà trước buổi interview là rất hồi hộp! – Quên không gửi thank you message sớm.o Cái này thì bó tay.

Lần apply 2008 tôi khá hài lòng với các cuộc interview của mình, mặc dù không làm thêm một cái mock interview nào nữa. Một năm đi qua, rút kinh nghiệm lần trước, cộng với va chạm nhiều với khách hàng và đối tác, tôi đối diện với các cuộc interview với vị thế khác. Phát đầu tiên là với Carlson tháng 9/2008. Đây không phải trường top 10, lại là interview trực tiếp và Linh thì rất nice nên tôi cảm thấy rất thoải mái. Tháng 12 interview với Duke qua phone với alumni, một cuộc nói chuyện rất tự nhiên và vui vẻ. Anh alumni của Duke sắc sảo và dễ thương. Tháng 1 interview với anh Nguyễn Bảo Hoàng, alumni Kellogg thì tôi cực kì hứng thú. Đây là một cuộc trò chuyện và chia sẻ thực sự chứ không phải là interview. Anh Hoàng nice tới mức bảo là (bằng tiếng Anh): Tao sẽ viết toàn điều tốt cho hồ sơ của mày. Nhưng năm nay là năm apply rất khó khăn nên tao cũng không biết kết quả sẽ như thế nào. Mày hãy thông tin cho tao khi có kết quả. Tôi cười và bảo sẽ thông báo cho anh dù là tin xấu hay tin tốt.

Sau những gì đã đi qua, tôi có thể chia sẻ với bạn những điều sau về interview.1) Chuẩn bị thật kĩ cho các câu hỏi interview. Ngoài các nội dung trong self assessment thì bạn nên bám vào Self image để viết các câu chuyện khác. Cũng giống như self assessment, chuẩn bị interview cũng là một quá trình quan sát bản thân. Bạn nên đọc thêm ở đây:http://www.vietmba.com/showthread.ph…ight=interview Sau đây là những câu tôi đã chuẩn bị/không chuẩn bị mà gặp phải trong mùa interview vừa rồi (hơi lộn xộn, thông cảm nha!). Tổng hợp từ các gợi ý của anh Tuấn Linh, Fulbrighter & Founder của Vong Tay Be Ban, anh Tường và một số forum:

How are you a good manager? (Duke)How do you deal with confict? (Carlson)What activities in Duke would you participate in? (Duke)What are the obstacles for Vietnamese companies to build strong brands? (Kellogg)———-Walk your resume focusing on leadership/ Introduce yourselfWhat is your post-MBA plan?Why MBA? Why [school name]?What do you see yourself doing 5 years in the future? Why? Tell me about a time when you saw the solution before someone else?Tell me about a time you overcame a problem/took initiative. Tell me about a time when you had to interact with people in a difficult situation.Tell me about a time you observed good or bad leadership, either in you or someone else. Did you ever have a bad manager that wasn’t doing well. What did you do?What are your strengths?What are things you need to improve on?Tell me about something you have done because you were curiousWhats unique about you that you can contribute to the [school] community? Some drill-down questions.Have you failed before? give me an example when you failed?What motivates you? What is your most significant accomplishment?Key skills/qualities that enabled you to accomplish these things?Is there anything you wished I would have asked you that I didn’t? Know what types of leadership style(s) you exhibit and be prepared to provide examples of situations where you exhibited those styles Tell me about a time you had to make a decision, how did you make it Tell me about a course in your undergrad that you considered influentialTell me about a good leader you have observed/worked for? What made him good? Some follow up questions on what makes a good leader.What’s the last book/movie you read What was your biggest obstacle? What characteristic a leader need?What film you like to watch?What is your passion?What is another special things abour yourself?Would you describe the situation in which you were criticized?Các phẩm chất của 1 MBA applicant mà bạn cho là quan trọngDescribe an ethical dilemma faced at work?What are the pros/cons of your style?In what way do you stand out from your peer group? Describe a situation where you have worked as part of a successful team. What role did you play?How you can contribute to the program and class? Why you think we should choose you? Why u chose marketing? Your career path? STAR (situation, task, action, result)Describe some of your projects?Tell about country branding program/business situation in VN? How do you like/ dislike your job?What would be your ideal job? What was the most difficult decision you ever had to make?In what way do you stand out from your peer group? Describe yourself as a leader in a specific situation? What were your biggest challenges? Your leadership style? Which events or activities represent turning points in your life ( i.e., when you changed direction)?What was your greatest failure and what did you learn from it? Singapore govt scholarship: unaware of social and political issues.What fear have you overcome? (How and why?) so young and had never run a business myself. Overcame: knowledge & confidence & respect.What do your friends most like (and dislike) about you? Helpfulness, sense of humor. Dislike: dont think dislike. We may be different we respect the differences.What are the four or five key words that would describe you? What on your list demonstrates this? Helpful, Creative, Ambitious, Charismatic.What do you want to do in free time? Your hobbies?What do you consider your biggest fault?What are the most valuable lessons you’ve learned from past work experiences?Which of the skills you’ve picked up at the positions listed on your resume here, do you feel will best translate into this position and why?Describe a problem you encountered at one of your jobs and how you handled it?What do you do to relieve stress?EXTRA-CURRICULAR ACTIVITIES Why you took part in such activities? Most memorable experience?Do you have any questions? What would your colleagues miss least about you?When was your belief challengedWhat are your strongest abilities?What skills would you be bringing to the classroom?What are your greatest strengths/weaknesses?What does “success” mean to you?What does “failure” mean to you?What are your three major accomplishments?What kinds of people do you enjoy working with?What kinds of people frustrate you?In the past year, what have you been dissatisfied about in your performance?What can you tell me about your past bosses? Dont talk bad anybody. If there is nothing good to say, just dont say it.Which is more important to you: money or the type of job?What have you learned from your activities in college?What qualities should a successful manager possess?What two attributes are most important in your job?What major problem have you encountered and how did you deal with it?

Bạn cần sắp xếp các câu trên theo mục lớn, vd: A) Your background B) Your field of study, C) Your career path D) Why [school] name E) Leadership F) Character G) Beyond Graduation H) Extra-curricular activities .

2) Đây là những điều anh Tường khuyên tôi. Advised: – Be specific- Exchange name card- Listen carefully to the questions, and then answer them in a succinct, honest, and sincere way. – The purpose of the interview is not for you to sell yourself. Rather it is for you to share with us the lessons learned in professional and personal situations, whether in the role of a team member, a team leader, or as an observer.

3) Những điều khác:- Hãy tự tin. Chẳng có gì đáng để không tự tin cả. Cùng lắm là ding chứ gì đâu! – Tự tin sẽ giúp bạn phát huy bản thân tốt nhất, ví dụ như tính hài hước.- Nhớ tắt di động. Vụ Duke tôi quên không tắt, đang interview thì có điện thoại, tôi bình tĩnh bảo Sorry, I have a call. Just a moment pls rồi ra tắt máy. Vào xin lỗi nó bảo tao quên ** tắt, alumni bảo không sao và chúng tôi vui vẻ nói chuyện tiếp.- Nghe tiếng Anh và tập nói thật nhiều trước thời gian interview tầm 1 tháng. Đợt đó tối nào tôi cũng bật CNN.- Chú ý vào timeanddate.com để kiểm tra giờ chính xác của cuộc interview. Trường chỉ gửi cho bạn giờ phỏng vấn tính theo múi giờ tại khu vực của trường, bạn phải tự xem nó ứng với mấy giờ chỗ bạn. – Nhớ gửi thank you email sau khi PV xong. Trong đó ngoài chuyện cám ơn thì có thể nhắc đến một chi tiết thú vị từ interview hoặc nêu một ý nào đó bạn muốn bổ sung cho một câu trả lời nào đó trong cuộc PV.- Trong trường hợp không phỏng vấn face to face và bạn không muốn phỏng vấn qua phone thì có thể đi sang nước khác để PV (thường là với alumni). Hơi tốn kém nên bạn cần tính xem có đáng đầu tư không. Hồi Duke tôi đăng kí đi Thái nhưng sau đó trường không có alumni PV ở Thái nên chuyển PV qua phone. Phỏng vấn face to face thường là vui và dễ diễn đạt hơn qua phone.- Trang phục: business attire. Với nữ thì thường là áo vét đi kèm với váy hoặc quần cùng bộ. Áo trong là sơ mi hoặc cổ tròn/quây/hai dây đều không sao. Giày có mũi che ngón chân. Dùng tất giấy nếu mặc váy. Mục này là Phương Hoa nem tư vấn cho tôi.- Anh Quang Haas, một trong những người đầu tiên giúp đỡ tôi hồi 2007, khi làm mock-interview cho tôi thì có khuyên là: Mỗi câu hỏi em chỉ có dưới 1 phút để trả lời. Nên phải to the point, gọn gàng. Bọn Mỹ không có kiên nhẫn để nghe một câu trả lời dài dòng. Điều này tôi luôn ghi nhớ về sau. Trên thực tế, sẽ có những câu bạn trả lời dài quá 1 phút, có những câu ngắn, thậm chí chỉ vài từ nhưng quan trọng là cách trả lời phải gọn gàng và sáng ý, và to the point.

12. NEGOTIATION

Bạn đọc thread này trong forum vietmba nhé: http://www.vietmba.com/showthread.ph…ight=negotiate Trong mọi trường hợp, lời khuyên thì nhiều nhưng quyết định thì của bạn. Cả bài viết của tôi cũng thế thôi, chỉ là một case study cho bạn tham khảo.

Khi tôi nhận kết quả của Duke thì chưa có gì trong tay để đàm phán vì round 1 tôi chỉ apply Duke và Carlson, Duke có kết quả từ tháng 12 trong khi Carlson phải giữa tháng 2 mới biết. Mà Carlson cũng không phải là đối trọng của Duke. Negotiate thì không thể để lâu. Suy đi tính lại tôi quyết định negotiate luôn với Duke trên cơ sở chính là: Việt Nam nghèo và tao là nữ nhưng đất nước tao đang thay đổi rất nhanh, trở thành cơ hội hấp dẫn cho thế giới và tao sẽ make impact cho Việt Nam cũng như đóng góp xyz cho Duke. Cũng nói thêm một cách vắn tắt là tao thích Duke vì sao.

Đến thời điểm này thì tôi negotiate được với Duke về scholarship từ 25% tuition lên 50%. Khi đàm phán Carlson thì tôi đưa tên Duke vào, bảo là Duke cho tao generous scholarship package. Kết quả Carlson chưa biết thế nào. Thông tin này trường yêu cầu là confidential. Hi vọng nếu một ngày đẹp trời Duke biết được thì cũng lượng thứ cho tôi, vì tôi post ra đây cũng do thiện chí muốn giúp đỡ các bạn khác, và biết đâu quảng cáo được tí cho Duke :p (công nhận Duke thật là dễ thương).

13. TIMELINE

Phù, vụ apply nhiều thứ phải nghĩ quá bạn nhỉ! Đừng lo, một timeline tốt sẽ giúp bạn phân bổ thời gian, nguồn lực và thực hiện một cách hiệu quả, để không phải va vấp và làm mọi thứ hai lần như tôi. Nhưng nếu có phải làm hai lần thì cũng chả sao, tái ông thất mã mà bạn. Nhưng dù sao đã làm thì phải quyết tâm!!

Mình tính ngược từ lúc bạn apply nhé. Ta xác định sẽ chiến round 1 cho nó nhiều cơ hội. Ok, chốt là tháng 10 phải xong toàn bộ 5 trường đi. Vậy timeline sẽ như sau:

Tháng 10&11- Hoàn thiện và Submit hồ sơ (nhớ kiểm tra checklist từ sớm)- Tham gia các MBA fair để phỏng vấn trực tiếp nếu có thểTháng 9- Xin fee waiver (nếu muốn)- Chốt trường sẽ apply- Tìm hiểu sâu về trường để lấy dữ liệu viết essay- Essay: viết sửa viết sửa viết sửa. Tháng 8- Nghiên cứu về trường, tìm người quen (việc này nên làm sớm hơn nữa thì càng tốt)- Đọc câu hỏi essay năm bạn apply (tầm này một số trường đã có) và nghĩ hướng- Ra shortlist 10 trường- Ké các bạn đi Mỹ học để gửi transcript sang Mỹ- Chuẩn bị LOR, CV- Đăng kí Chương trình Personal Coaching (xin mentor) trên forum vietmba (** biết forum us-guide có không, forum bên này cũng hay lắm). Có khi tháng 9, tháng 10 bạn mới có mentor nên đừng phụ thuộc vào chương trình này. Hãy chủ động tìm mentor ngoài chương trình Personal Coaching, tạo lập mối quan hệ càng sớm càng tốt.Tháng 7:- Làm self-assessment (việc này nên làm sớm hơn nữa thì càng tốt)- Đọc các essay năm trước và brainstorm (các essay năm sau thường chỉ khác 1 tí hoặc thậm chí giống y chang luôn).Tháng 6:- Thi xong GMAT, TOEFL/IELTS- Tìm hiểu thông tin về hệ thống giáo dục Mỹ, các nội dung liên quan đến apply- Tìm thông tin về trường, đăng kí vào mailing list và yêu cầu trường gửi brochure- Chuẩn bị các giấy tờ cần công chứng/ xác nhận (nếu trường nghỉ hè thì phải làm sớm hơn)Tháng 5: – Đăng kí thành viên forum vietmba và us-guide càng sớm càng tốt, chịu khó post bài để đóng góp + làm quen + đọc được các thread có nội dung sâu về MBA bị đặt chế độ private + tìm cơ hội có được mentor. Nên nhìn trước ngó sau trước khi post bài, nhỡ có bị ban nick hoặc bị mắng thì cứ bình tĩnh, từ từ rồi khoai sẽ nhừ – Làm trước càng sớm càng tốt những việc nêu trên nếu có thể – Làm các việc khác mà tôi quên không kể ra ở đây!

Cái timeline này là tôi kể ra những việc chính bạn cần làm và áng chừng thời gian. Nếu bạn làm những việc này sớm hơn thì tốt, nhưng nếu muộn hơn thì chắc cũng không chết đâu. Nhưng rõ ràng cơ hội sẽ giảm đi. Hồi apply tôi dán 1 câu lên trên vách bàn làm việc của mình. Câu đó như sau:Do chậm trễ, một việc dễ biến thành việc khó.Do chậm trễ, một việc khó biến thành việc không làm nổi.

Mặc dù đã hô khẩu hiệu to như thế nhưng bệnh nước đến chân mới nhảy ngấm hơi bị sâu trong máu tôi (hix, tôi tự bao biện là mình bận thế cơ mà!). Cái giá của nó là bị ding 50% số trường. Một điều hết sức củ chuối suốt quá trình apply của tôi là làm cái gì cũng sát deadline và gấp gáp. Mặc dù đã thử một phát từ 2007 nhưng đến 2008 mọi thứ vẫn như mới, ngoài điểm GMAT có trong tay. Bốn trường tôi nộp trong năm 2008 chỉ có Minnesota là tử tế nhất còn 3 trường kia thì đến gần deadline còn phải suy nghĩ xem mình có nên chờ round sau không. Với Duke (round 1, giữa tháng 10), tôi gửi anh Tường xem essay trước 1 tuần 10 ngày gì đó và viết em xin lỗi vì gửi anh hơi sát ngày. Với Minnesota (round 1, đầu tháng 12), tôi cách deadline 3 ngày và viết là em xin hứa đây là lần cuối cùng em làm gấp gáp thế này (đúng giọng lưỡi viết bản kiểm điểm). Nhưng đến Kellogg (round 2, tháng 1) thì tệ đến mức đến chiều ngày deadline vẫn còn cặm cụi với essay nên thành ra không dám gửi anh xem nữa (các bạn nhớ nhé, đừng bao giờ hứa với ai đây là lần cuối cùng). Đến Wisconsin (round 2, tháng 2) thì mất dạy vô cùng là 2 ngày trước deadline tôi phát hiện ra mình bị sót 3 essay hỏi về các skill gì gì đó, trong khi 4 essay lớn thì vẫn chưa cái nào hoàn thiện!!! Cuống cuồng đến tận 12h đêm ngày deadline thì nhắm mắt submit .

Tôi nghe giang hồ đồn là một số mentor sẽ yêu cầu bạn gửi essay trước 1 tháng để họ sắp xếp thời gian comment. Như thế mà sau 1 tháng họ bảo bạn phải viết lại thì bạn dễ hy sinh lắm. Có mentor thì chỉ comment trên hồ sơ final của bạn thôi. Điều này hoàn toàn thông cảm được vì ai cũng bận rộn với chuyện học hành, công việc, cuộc sống Không phải ai cũng may mắn được anh Tiến và anh Tường làm mentor như tôi để mà lấn lướt :p Nên bạn phải trao đổi với mentor trước và thống nhất về cách phối hợp và thời gian. Bạn phải nỗ lực để chứng tỏ rằng mình là người xứng đáng được nhận sự giúp đỡ.

Lời kết: Con đường MBA cũng giống như một cuộc phiêu lưu. Bên cạnh những thách thức và khó khăn, bạn sẽ có những người bạn đường mới, những khám phá mới, những cảm xúc mới. Cuộc sống phong phú hơn, rộng lớn hơn

Đây chỉ là chặng khởi đầu. Bản thân tôi sẽ có rất nhiều điều phải làm phía trước. Những thách thức tôi chưa bao giờ biết đến. Nhưng tôi vững tin vì luôn có những người sẽ giang tay giúp đỡ khi tôi cần. Bài viết này tôi không có điều kiện nhắc hết được tên những anh chị, bạn bè đã chia sẻ, động viên và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình apply. Tôi luôn nhớ đến họ và luôn cầu chúc cuộc sống sẽ luôn mỉm cười với họ. Họ đã truyền cảm hứng cho tôi để thắp lên mong ước tạo dựng một cộng đồng người Việt đoàn kết, trí tuệ và khao khát vươn tới.

 

Tác giả: Minh Hà MBA

Đời du học (Mỹ) không như là mơ

Như đã hứa cách đây không lâu là mình sẽ viết một bài chia sẻ về cuộc sống du học sinh để các bạn ở nhà có một cái nhìn chân thực về đời du học, tránh những mơ mộng hay ảo tưởng để rồi sang đó bị “vỡ mộng” và phải đối mặt với vô vàn khó khăn mà các bạn không lường trước. Bài viết này sẽ tập trung nói về các khó khăn mà du học sinh Việt Nam thường gặp phải khi đi du học. Tuy là có rất khó khăn như vậy, nhưng không phải là không thể làm được, bởi lẽ có bao nhiêu thế hệ đi du học trước đây còn khó khăn, thiếu thốn hơn bây giờ nhiều mà họ vẫn vượt qua được, thì tại sao chúng tại lại không thể phải không nào? Mình mong tất cả các bạn, sau khi đọc bài này, không cảm thấy e ngại, chùn bước mà sẽ tiếp tục tinh thần muốn đi du học, bởi với mình để thành công khi du học, bạn cần có một sự nỗ lực lớn hơn nhiều lần nỗ lực thông thường. Và khi đó, mọi chông gai đều có thể vượt qua hết.

 

Vỡ mộng

Có lẽ chúng ta ở Việt Nam biết đến Mỹ qua phim ảnh là chủ yếu, ở đó nước Mỹ thật đẹp, thật hào nhoáng, hiện đại. Nào là San Francisco với cây cầu Golden Gate nổi tiếng thế giới. Nào là Washington DC với những tòa nhà quyền uy. Hay là Los Angeles với những minh tinh màn bạc. Vâng, cái đó đúng nhưng chỉ là một phần nhỏ của nước Mỹ. Phần còn lại của nước Mỹ, rất tiếc lại không hào nhoáng, lộng lẫy và choáng ngợp như thế. Rất nhiều trường đại học của Mỹ được đặt tại các khu vực khá hẻo lánh, xa trung tâm, nên xung quanh khá là vắng vẻ, buồn tẻ và chán ngắt. Tôi thì học ở tiểu bang Missouri, quả đúng như cách phát âm tên bang, nó khá giống từ “misery” tức là “tội nghiệp”. Sau này, khi có dịp đi qua nhiều bang nông thôn của Mỹ, tôi mới nhận thấy là bên cạnh những thành phố lớn sôi động, náo nhiệt thì nông thôn nước Mỹ rộng lớn còn khá buồn tẻ. Nếu bạn đang sống ở Hà Nội hay Sài Gòn mà bạn phải sang những thành phố nông thôn này, thì chắc chắn bạn sẽ “vỡ mộng” về một Hoa Kỳ lộng lẫy. Ở những thành phố nông thôn của Mỹ, phương tiện công cộng rất hạn chế, không tiện lợi như bus ở HN hay SG. Ăn uống, chợ búa thì xa xôi nên phải có xe hơi, chứ không phải chạy ra đầu ngõ là có ngay phở, bún, miến như ở nhà. Điều này bạn sẽ cảm nhận được sự bất tiện vào mùa đông.

 

 

Tuyết – giấc mơ tan tành

Mình đoán là với các bạn ở Việt Nam, chắc hẳn ai cũng có một ao ước là được nhìn, chạm và chơi với tuyết. Với các bạn gái lãng mạn hơi xíu thì chắc ước mình được sang Mỹ để ném tuyết như anh Bae Yong Jun của Bản tình ca mùa đông, hay tung tăng đi học khi tuyết rơi bay bay như trong phim Truyện tình Harvard. Lúc mới sang, ngày đầu tiên nhìn thấy tuyết, mình cũng vô cùng háo hức, chạy ngay ra ngoài để tuyết rơi vào tay. Sau này đó, thì giấc mơ tuyết tan biến và nhanh chóng trở thành sự căm ghét. Tuyết mới rơi xuống, trắng, bông, sạch. Nhưng sau đó, nó tan chảy ra và trộn vào bùn đất ở đường thì thôi rồi bẩn khủng khiếp. Mà khi có tuyết thì lạnh tê tái, ngày đầu do háo hức còn ra ngoài, đợt sau có tuyết thì thôi nằm trong nhà đắp chăn, đọc sách, nghe nhạc ngắm tuyết rơi ngoài cửa sổ là đủ rồi. Người yêu có rủ đi ném tuyết hay nặn người tuyết, mình cũng xin hoãn. Tuyết cũng khá nguy hiểm nữa, vì nó làm đường rất trơn và thậm chí mặt đường đóng băng nên lái xe rất dễ gây tai nạn. Chính bản thân mình đã có lần được em “tuyết” ép phải trổ tài drift trên mặt đường, may mà không va phải thằng nào chứ không thì mệt.

Du và học

Giờ thì đến chuyện học, nhiều bạn thuộc diện COCC, do bố mẹ thường đi study tour mà study thì ít mà tour thì nhiều, nên nhiễm cái gen, cậy có tiền nên đi du học để giải quyết khâu “oách” là chính nên coi nhẹ việc học hành, đi du học thì có vẻ không quan tâm lắm tới chuyện học mà quan tâm tới du nhiều. Nếu bạn đi du học mà xác định việc học là nhẹ nhàng, rất có thể bạn đã mơ tưởng. Các trường đại học chuẩn (ở đây ý mình là được kiểm định chất lượng, chứ không phải trường rởm bán bằng) có những đòi hỏi khá khắt khe với sinh viên. Trường càng rank cao, nổi tiếng thì đòi hỏi càng khắt khe hơn. Đây cũng là một điểm lưu ý của mình với các bạn khi chọn trường là nên chọn trường phù hợp với năng lực và khả năng của mình. Giống như lượng sức gánh được 50kg thì có thể cố thêm tí gánh bao 60kg, nhưng mà gánh bao 100kg thì coi chừng gãy lưng. Thực tế mình thấy là ở Việt Nam, nói đến du học Mỹ, các bạn chỉ quan tâm tới Harvard, Yale, Princeton hay Stanford, còn mấy trường ít tên tuổi thì lại không quan tâm lắm. Nhưng các bạn thấy là nếu đi học cao học, thì ranking của graduate school trong từng trường đại học đó mới quan trọng, và có rất nhiều đại học tên không nổi lắm, nhưng ngành học cụ thể lại có thể rank cao hơn cả Harvard. Do vậy, khi chọn trường, mình thấy quan trọng nhất là phải chọn trường “phù hợp” với khả năng học tập của bạn chứ không phải giải quyết khâu “oách”. Một sự thật, là sức ép ở các trường đại học nổi tiếng là rất lớn. Các trường hợp sinh viên tự tử do sức ép học tập là chuyện không còn xa lạ. MIT hàng năm vẫn có sinh viên tự tử. Như hồi lên New York University thăm cô bạn, cô bạn tôi dẫn đi thăm thư viện trường, một tòa nhà cao và rất hiện đại. Đang say sưa ngẩng cổ lên ngắm, cô bạn bảo mới rồi có 1 cậu học hành chán, mới nhảy từ trên xuống chết ngay tại chỗ, hic. Còn bản thân mình khi đi du học bên Mỹ thì cũng đã thực sự chứng kiến 2 trường hợp du học sinh Việt Nam phải về nước giữa chừng vì không theo được mà 2 bạn đó ở Việt Nam đều học giỏi và được học bổng sang Mỹ học cả. Lấy dẫn chứng cụ thể thế để các bạn thấy là mình không phải là kể chuyện không có dẫn chứng để hù dọa các bạn. Học đại học và cao học ở Mỹ rất vất vả, cái khổ nhất là phải đọc rất nhiều mà toàn là sách tiếng anh dầy cộp. Nếu không có kỹ năng đọc lướt, bạn sẽ không bao giờ hoàn thành bài đọc mà giáo sư giao mỗi tuần vài trăm trang sách. Do tiếng anh không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta, nên khả năng đọc và tiếp thu của chúng ta chậm hơn tụi Mỹ nhiều, cho dù điểm tiếng anh của chúng ta cao chót vót, do vậy phải có kỹ năng đọc lướt để lấy ý chính, chứ ngồi chăm chú đọc, cả đời du học sinh sẽ chả bao giờ đọc hết được lượng sách yêu cầu. Thế nên, mình thấy mấy em du học sinh sang Mỹ, chả biết trường của mấy em ấy thế nào, hoặc các em ấy học kiểu “thần đồng” gì mà vẫn sản xuất “Vlog” sòn sòn như gà đẻ trứng để chém gió trên mạng ấy mà vẫn học “khá và giỏi” được thì cũng “sợ”  phết đấy. Chả biết học xong về nước làm gì, hay lại tự phong mình cái chức “giáo sư” như cậu cử nhân Đại học nông nghiệp làm ở FPT rồi lên VTV3 “chém gió” thành thần, phán nhăng phán cuội, phản khoa học, phản giáo dục.

 

 

Sick

Lần đầu tiên tôi ra nước ngoài năm 2006, lúc đó tôi mới 22 tuổi và đang học năm 2 đại học, khi đó tôi bị ngộ độc thực phẩm do ăn hải sản và phải vào bệnh viện cấp cứu gấp. Lúc xe cứu thương đến đưa tôi đi, thứ duy nhất tôi mang theo là cuốn từ điển. Bởi lúc đó, trong lúc đau ốm như vậy, đầu óc tôi không còn tâm trí nào để nói tiếng Anh nữa. Lúc đó, tôi chỉ mong được ở Việt Nam được nói chuyện bằng tiếng Việt với bác sỹ và người thân để cảm thấy an tâm. Trong lúc đau, nhiều lúc tôi rất sợ cái cảm giác mình phải chết ở nơi đất khách. Có vẻ hơi dramatic, nhưng chính sự kiện đó khiến tôi sau này khi đi du học rất sợ bị ốm. Do vậy, khi đi du học, tôi mang 1 hộp rất nhiều thuốc mà nhiều loại không dễ mua ở Mỹ vì ở Mỹ nhiều loại thuốc phải có đơn của bác sỹ mới mua được. Đây cũng là lời khuyên của mình với các bạn sắp đi du học là nên mang theo mấy loại thuốc thiết yếu nhất để phòng thân. Hôm nào rảnh, tôi sẽ viết 1 bài chi tiết về những thứ bạn nên mang đi và không nên mang đi khi du học. Việc giữ cho mình một sức khỏe tốt cả về thể chất lẫn tinh thần là một điều tối quan trọng khi đi du học. Tôi nhấn mạnh ở đây là cả sức khỏe tinh thần nữa, bởi có thể thể chất của bạn khỏe mạnh, nhưng sức khỏe tinh thần của bạn không tốt, nó sẽ kéo sức khỏe thể chất xuống nhanh khủng khiếp. Nhiều bạn sẽ thắc mắc sức khỏe tinh thần ở đây là gì? Đó là giấc ngủ, trạng thái hạnh phúc, nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà, sự hưng phấn. Nhiều bạn du học sinh khi mới sang do lệch múi giờ nên hay bị mất ngủ, nhiều người nhanh chóng điều chỉnh cơ thể để thích nghi, nhiều bạn không thể ngủ được. Đây là vấn đề hệ trọng, bên nên đi khám bác sỹ. Bởi nếu mất ngủ dài ngày, thể chất của bạn xuống nhanh khủng khiếp và gây ra hàng loạt hệ quả khác. Rồi nhớ nhà, cô đơn, những cảm giác này thường hay xảy ra với du học sinh khi mới bỡ ngỡ nơi đất khách quê người. Những trạng thái cảm xúc tiêu cực này là bình thường nếu chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng nếu nó kéo dài thì sức khỏe tinh thần của bạn đang có vấn đề cần lưu tâm. Bởi tối nào bạn cũng khóc, cũng buồn thì còn đâu tâm trí mà học. Rồi một điều nữa là cảm giác hưng phấn, cái  này mà không kiểm soát tốt cũng gây ra nhiều hệ quả. Bạn cứ như trên mây, chưa học xong Master đã lo tìm trường PhD. Được nhận vào Harvard là cứ bay bay trên mây do các bạn ở Việt Nam tung hô lên mây xanh mà quên mất Harvard chuẩn bị “vặt lông” trụi con vịt béo tốt ở Việt Nam sang thành con vịt gầy tong teo sau vài năm nhập học…vv Do vậy, cố gắng đừng để dính vào bất cứ một cái “sick” gì như “car-sick”, “home sick” hay real sick (đau ốm vô viện) . Hôm nào rảnh sẽ viết về love sick để giải đáp thắc mắc của một số bạn có gửi message hỏi là có nên yêu hay không? Người yêu ở nhà thì xử lý ra sao? Vv…

 

 

Shock văn hóa

Hồi Việt Nam, xem phim hành động Mỹ thấy bắn nhau chí chóe thích ơi là thích, vì cái thằng diễn viên rõ đẹp trai, cơ bắp, bắn chết xừ nó rồi mà vài tháng sau vẫn ra phim mới, bắn nhau kinh hơn. Vậy mà khi sang Mỹ, thấy súng ống là sợ phát khiếp, vì tụi Mỹ này nó xài súng thiệt, đạn thiệt, bắn 1 cái là mình lên tin tức trên CNN hay NBC được một lần là hot và mãi không có lần 2 đâu các bạn ạ. Ngày đầu tiên sang Mỹ, khó ngủ, bật ti vi lên xem bị shock khi xem chương trình thực tế mô tả các buổi mà cảnh sát Mỹ rượt đuổi những kẻ trộm cắp xe hơi, hay cướp có vũ trang. Thấy cảnh đấu súng thật khủng khiếp, bắn chết  ngay tại hiện trường chứ không bắn đẹp như phim mình thực sự được cảm nhận cái culture shock đầu tiên khi sang Mỹ. Rồi thực tế là khi đi du học, bạn sẽ thấy rất nhiều những cú shock văn hóa khác.

Rồi còn nhiều chuyện shock lắm, như chuyện cướp, trấn lột, rồi “hấp diêm” các bạn nữ sinh đi học về khuya mà trường mình thường hay xảy ra như cơm bữa. Rồi chuyện sex tự do của tụi Mỹ ủng hộ “rân chủ”. Rồi chuyện ở Mỹ, bố mẹ, ông bà mà già nó tống ra nhà dưỡng lão hoặc sống một mình xa con cái. Rồi chuyện người nghèo ở Mỹ học hành đàng hoàng đứng ăn xin ở ngã tư, hè phố, phải sống bằng tem phiếu trợ cấp của chính phủ. Nhiều chuyện sẽ làm bạn khá ngạc nhiên và shock đó.

Kỳ thị chủng tộc

Kỳ thị chủng tộc là vấn đề có tính lịch sử của nước Mỹ. Ngay ông tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ – Obama còn bị không ít kẻ đe dọa giết thì những người phó thường dân còn bị kỳ thị thế nào. Ở ngay trường mình, hồi đó là năm 2010 khi mình vẫn đang học, có 2 cậu sinh viên Mỹ trắng, mang rải những gói bông trắng trước cửa trung tâm văn hóa của người da đen trong trường để biểu thị sự kỳ thị những người da đen trước đây đều là nô lệ tại các đồn điền trồng bông. Sau đó, vụ này bị làm ầm ĩ lên do người da đen ở Mỹ khá đông và khá đoàn kết nên 2 cậu sinh viên bị cảnh sát  bắt và trường buộc phải cho  nghỉ học. Nói rõ thế để các bạn thấy ngay bây giờ sự kỳ thị chủng tộc là khá rõ và đậm ở Mỹ, không chỉ giữa người da trắng với người da đen, mà còn cả da trắng với da vàng như người châu Á chúng ta nữa.

Tôi không biết các bạn khác cảm nhận thế nào, chứ tôi thấy người da đen (trừ tụi đầu trộm, đuôi cướp) khá thân thiện và hòa đồng với dân da vàng Việt Nam, hơn là tụi da trắng. Tụi da trắng thường look down người châu Á. Một điều đáng buồn nữa là chính dân Việt cũng kỳ thị dân Việt. Cụ thể là một số người dân Việt người gốc miền nam dạt sang Mỹ sau biến cố năm 1975 vẫn còn ôm lòng thù hận nên họ rất ghét người việt gốc Bắc, họ thường gọi là dân Bắc Kỳ để thể hiện sự kỳ thị và căm thù. Khi tôi sang bang California chơi, tới khu Little Saigon lại nhớ lời cô bé học ở Mỹ dặn là anh cứ nói tiếng Anh đừng nói tiếng Việt để tránh bị họ ghét hoặc không ưa mình. Khi tôi đến khu Phước Lộc Thọ nổi tiếng, tôi chả dám hé răng nói nửa câu tiếng Việt. Đang chụp ảnh ở ngoài khu Phước Lộc Thọ, có 1 em việt kiều, rõ là xinh xắn, đáng yêu chạy ra hỏi chuyện rồi còn tạo dáng để mình chụp nữa, xong rồi em hỏi mình bằng tiếng Anh, mà mình thì đang ú ớ chưa nghĩ ra gì thì trả lời. Kể mà không có sự kỳ thị Nam – Bắc thì chắc là mình đã quen được em xinh tươi Việt kiều. Sau đó ra ngồi uống café ở quán Việt, kêu ly cà phê cũng phải nói bằng tiếng Anh, cảm thấy rất buồn khi ngồi uống cà phê như là ở sài gòn, ngắm những ông cụ cỡ 50-60 ngồi đánh cờ tướng giết thời gian mà thấy thương cho một thế hệ, giờ sống nơi đất khách, đợi ngày gần đất xa trời .

Tụi dân Mỹ thì thể hiện sự kỳ thị với dân da vàng thì rõ rồi. Nhiều khi đi đường, nó thấy mình nó nói mấy câu gì đó mà mình biết là nó chửi hoặc nói đểu mình, nhưng mà tốt nhất là giả vờ như không nghe thấy. Đừng nghĩ mình 120 điểm TOEFL mà quay lại văng các loại hình ra với nó để thể hiện trình độ tiếng Anh là mình ngon hay khả năng nghe nói tốt. Dẫu sao mình không có sức để mà văng “fuck” với tụi Mỹ được, nó khỏe lắm. Với cả, làm nó nổi điên lên mà rút súng ra thì không khéo lên trang nhất báo địa phương mục “cáo phó” cũng nên =)). Thôi thì quân tử “tránh voi chả xấu mặt nào” hehe.

Reverse Culture Shock – hay là Shock văn hóa ngược

Ôi zời, chưa hết shock vì những gì xảy ra bên Mỹ, thì vèo 1 cái đã học xong, phải về nước phải hứng chịu cái gọi là “shock văn hóa ngược”. Đó chính là cái biểu hiện khi bạn shock khi chứng kiến những gì khi trở lại Việt Nam. Điều đầu tiên là “thất nghiệp ngắn hạn” đó là khi về bạn không có việc làm ngay. Đó có thể là vì bạn tự nguyện “thất nghiệp” do không chọn được việc ưng ý, hoặc là “thất nghiệp khi đang có việc” là khi bạn chấp nhận làm tạm ở một chỗ khá tệ so với kỳ vọng của bạn với tấm bằng bạn có được. Ví dụ, có bằng Harvard mà làm nhà nước lương 2,5 triệu/ tháng có thể coi là “thấp nghiệp khi đang làm việc”. Nhiều bạn trước khi đi du học về cứ nghĩ là khi mình về, chắc mình ghê lắm đây, chắc phải có công ty trải thảm đỏ từ sảnh đến quốc tế sân bay Nội Bài đón, nhưng thực tế là không phải vậy. Nhiều bạn về, thời gian đầu khá vật vã tìm việc. Bởi việc bạn có một cái bằng sau 2 năm học ở Mỹ đồng nghĩa với việc bạn sẽ hụt mất 2 năm kinh nghiệm gần nhất tại Việt Nam. Mà bây giờ, ở Việt Nam người ta tuyển dụng bắt đầu coi trọng kinh nghiệm rồi. Sẽ có lúc bạn sẽ nghe thấy họ nói bóng gió rằng “sợ học Mỹ về, toàn kiểu Mỹ không, không phù hợp với văn hóa Việt Nam” cho mà xem. Hơn nữa, nếu thằng sếp học hành lẹt đẹt, chắc chả bao giờ muốn tuyển 1 thằng học Mẽo về để cãi mình và dạy mình phải làm gì. Khổ thể, làm sếp là phải sĩ , làm quân thì phải dốt và ngoan. Sau chuyện việc làm được giải quyết là đến chuyện “hôn nhân” khi mà chưa có ai thì việc phải nghe “ca cải lương” của các cụ nhà là một cú shock khá lớn với du học sinh về nước. Khổ nỗi, là cũng hăng hái, nhiệt tình đi tìm “một nữa” lắm, nhưng khổ cái học xong về nước già xừ nó rồi, lại thêm cái bằng Mỹ nữa, làm các “một nửa” đang còn available đếch dám tiếp cận vì trong bụng nghĩ “anh/em ấy có bằng Mẽo, chắc gì đã ưa 1 đứa đại học trong nước” như mình. Và đã giỏi lại còn thêm đẹp nữa, đúng là cái tội. Mà cái tuổi nó đuổi xuân đi, nên sau khi học xong về nước không có người yêu là một cú shock văn hóa ngược khá mạnh mà phải trải qua mới thấy sức ép từ nhiều phía nó lớn thế nào. Nào là bố mẹ thì không nói, còn thêm bạn bè đứa nào cũng up ảnh con cái xinh xắn lên facebook, nhiều khi lúc đó mình nghĩ các bạn đi du học sẽ thấy sự đánh đổi khá nhiều khi quyết định đi du học, nhưng sự hy sinh nào chả có mất mát, được cái này mất cái kia. Mình thì tin vào duyên, chả việc gì phải lo nghĩ nhiều, cứ ăn chơi cho đời phớ lớ, đến Chí Phèo còn có Thị Nở huống chi ta ở bển mới về, hehe. Rồi còn nhiều chuyện shock ngược lắm, như văn hóa đường phố, văn minh đi đường, rồi chuyện tình cảm, chuyện đối xử giữa người với người nơi công cộng, nơi làm việc. Shock lên shock xuống luôn, shock mãi thành quen, hết shock luôn ấy mà. Không có gì phải lo lắng quá.

Chuyện tiền bạc

Ngày trước, tôi có một cô bạn, cô này thì thích đi du học “crazy” luôn, kiểu như là sống chết cũng phải sang Mỹ du học. Tôi thì khuyên rằng khi nào đảm bảo tài chính (hoặc là có tiền, hoặc là có học bổng full) hẵng sang, nhưng không nghe. Sau này sang Mỹ, tôi có tình cờ đọc blog của cô ấy thì thấy cũng rất khổ, phải đi quét cứt gà ở trang trại của người Mỹ, phải đi nhặt táo, hái dâu để làm thêm có thêm thu nhập. Quả thực rất vất vả. Tôi thì may mắn được học bổng toàn phần Fulbright nên không phải làm thêm để kiếm sống, nhưng xung quanh tôi, những bạn được trường miễn học phí, sang đó phải làm Trợ lý giảng dạy (TA) hay trợ lý nghiên cứu (RA) cho giáo sư để được trả lương hàng tháng để dùng vào trang trải sinh hoạt phí như thuê nhà, ăn uống, đi lại thì khá vất vả. Mà cũng khá là mệt mỏi và mất thời gian đó, chứ không êm đẹp như bạn nghĩ đâu. Bạn cứ hình dung, bạn đi học cả ngày, rồi về phải chấm bài cho giáo sư, chuẩn bị đề thi, soạn giáo trình…vv thì còn sức đâu mà học mà chơi nếu không cố gắng gấp 2 lần người khác. Dẫu sao thì TA, RA vẫn còn là nhẹ nhàng và trí tuệ hơn rất nhiều những việc tay chân khác mà sinh viên Việt Nam làm khi đi du học rồi. Tụi Mỹ khi tôi sang đó, nó nói là có những loại việc nó xếp vào dạng 3D (dirty, cái gì nữa tự nhiên quên rồi, đại loại là kiểu bẩn thỉu, rẻ mạt, tay chân) mà tụi Mỹ trắng không làm thì dành cho tụi nhập cư làm, kiểu như lao động tay chân. Sinh viên việt Nam sang du học thì làm đủ thứ nghề để sống, chủ yếu là bưng bê, lau dọn, tay chân là nhiều vì mình không phải dân bản xứ, cho dù TOEFL 120 nó vẫn không đánh giá tiếng anh của mình bằng một thằng nói lắp người Mỹ. Do vậy, bạn nên đảm bảo làm sao để tài chính không phải là một sức ép quá lớn khi đi du học. Vấn đề tiền bạc sẽ làm bạn hết sức đau đầu và mệt mỏi ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý học hành của du học sinh. Nhiều bạn, do gia đình cũng khó khăn, sang đấy mới thấy chi phí tốn kém và đắt đỏ như thế nào, nhưng cũng không dám email về xin bố mẹ vì thương bố mẹ quá, sợ bố mẹ phải đi vay nợ cho mình đi học nên thành ra hoàn cảnh rất khó xử. Do vậy, lời khuyên của mình là hãy tìm cho mình một nguồn tài chính đảm bảo để không phải suy nghĩ quá nhiều về chuyện tiền bạc khi đi du học. Khi đó, đầu óc của bạn sẽ có nhiều thời gian để tập trung vào suy nghĩ học hành hơn.

Kết luận:

Đi du học là một quyết định táo bạo và quan trọng và bạn nên cân nhắc kỹ khi đưa ra quyết định này, bởi có thể bạn sẽ phải mất nhiều thứ đáng giá khác. Ví dụ, bạn đang làm một vị trí rất tốt, cơ hội thăng tiến cao, lương cao mà bỏ đi du học thì sau khi đi du học về rất có thể bạn cho dù có bằng cao hơn nhưng khó có lại vị trí mà nhiều người mơ ước như trước nữa. Hoặc là đang yêu, đi du học đành chia tay, sau này về lại tiếc nuối vì người yêu đã lập gia đình và sống hạnh phúc, còn mình thì có tấm bằng từ quê hương Obama nhưng tối đến chả ma nào đến rủ đi hẹn hò. Hoặc là đang có chồng, có con, đùng đùng đi du học  một mình, chồng ở nhà buồn quá sang tâm sự với con bé đồng nghiệp thế là chả hiểu tâm sự thế nào, bụng con bé kia càng ngày càng to. Và hàng tỉ các mất mát khác. Nhưng mà có sự hy sinh nào mà không có mất mát ít nhiều. Do vậy, lời khuyên của mình là các bạn nên cân nhắc kỹ khi đi du học để chọn được phương án có lợi nhất trong các phương án có thể. Mình khuyên các bạn nên đi du học khi còn trẻ, và khi chưa vướng bận tình yêu và gia đình. Như đã nói ở trên, bài viết này viết ra không phải để “hù dọa” các bạn mà để giúp các bạn có đầy đủ thông tin để đưa ra một cái “informed decision” tốt nhất cho mình. Dẫu có muôn vàn khó khăn, thử thách, thậm chí là “mất mát”, nhưng mình vẫn luôn động viên các bạn nào có ước mơ du học, hãy đi du học, bởi nó sẽ thay đổi cuộc đời bạn khá nhiều, và giúp bạn không còn là “con ếch ngồi ở đáy giếng Việt Nam” nữa. Và điều quan trọng nhất vẫn là “chỉ cần có một ước mơ”, rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đó.

Chúc các bạn may mắn!

 

Trần Ngọc Thịnh

Từ kẻ ngỗ ngược thành học giả Fulbright

“Câu chuyện của tôi bắt đầu từ khi là cậu học sinh lười biếng, ngỗ ngược. Tôi đã nuôi dưỡng giấc mơ du học đến khi cánh cửa đại học Mỹ mở ra với mình”, Nguyễn Bá Trường Giang viết.

Tôi sinh ra ở làng quê ngoại thành Hà Nội. Hồi nhỏ, tôi lười học, đến lớp không bao giờ nghe giảng, chỉ mang vở ra vẽ. Có lần, tôi trèo lên nóc nhà giám hiệu, phi máy bay giấy bay lượn. Tôi cứ thầm ước sau này cũng bay cao, bay xa, dù khi ấy học dốt.

Tuổi thơ ngỗ ngược

“Thôi con ạ, con học dốt thế này, suốt ngày lêu lổng, học võ, đánh nhau, tụ tập thì chẳng hy vọng gì đâu”, mẹ đã nói như vậy cách đây đúng 24 năm, khi tôi học lớp 9.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 1
Nguyễn Bá Trường Giang tại lễ tốt nghiệp đại học.

May mắn đỗ vào cấp 3, tôi vẫn tiếp tục… đánh nhau, đốt pháo, nhiều lần bị đuổi học. Năm lớp 11, người bạn thân rủ tôi đi học tiếng Anh để bố cậu ta xin cho vào làm khách sạn. Cuộc đời cậu bé ngỗ ngược bắt đầu thay đổi từ đó.

Tôi và bạn đạp xe đến trung tâm tiếng Anh học giáo trình Streamline A. Hôm đầu vào lớp, nghe thầy nói tiếng Anh, tôi choáng lắm.

Bố mẹ rất vui vì 16 năm qua mới thấy con tôi học. Bố ra trường Sư phạm Ngoại ngữ mua cho băng cát-xét giáo trình Streamline A, B, C. Tôi nghe 1 tháng hết cả ba giáo trình. Chị tôi học trong Nam ra, mang cho cuốn từ điển bé xíu, tôi tra nát cả từ điển, đánh dấu nguệch ngoạc.

Học hết cấp 3, tôi thi đỗ hai trường đại học với điểm khá cao khiến người thân và bè bạn đều ngỡ ngàng. Ai cũng biết đến năm lớp 11, tiếng Anh của tôi chỉ 3,9, đến lớp 12 đã là 8,9.

Nuôi ước mơ du học

Tôi kể câu chuyện về hành trình vươn lên từ một cậu bé lười nhác, ngỗ ngược để nhắn nhủ các bạn trẻ hãy nuôi dưỡng ước mơ, để bước tới cánh cửa du học. Các bạn trẻ hãy quyết tâm, thành công rồi sẽ đến.

Tốt nghiệp đại học, tôi làm giảng viên tiếng Anh và đi dịch kiếm tiền. Đây chính là thời gian tôi rèn luyện, tu dưỡng bản lĩnh để chuẩn bị cho chuyến xuất ngoại đầu tiên của mình.

Tôi học say mê, nghỉ hè cũng lao vào học. Khi tốt nghiệp, tôi đã có hơn 10 cuốn sổ đầy ắp từ mới. Chiếc cát-xét bố mua tặng đã bị gãy nút “tua” vì nghe quá nhiều.

Từ bé, tôi đã mơ thấy cánh cửa đại học Mỹ mở ra. Đến một ngày, có người chị gái thân thiết làm ở Đại sứ quán Mỹ, khuyên tôi xin học bổng Fulbright. Tôi cũng chẳng nghĩ mình đạt được, vì học bổng này rất giá trị. Tôi vẫn đăng ký và được gọi đi thi tiếng Anh. Với sở trường ngoại ngữ, tôi vượt qua các vòng thi tuyển thuận lợi.

Tu ke ngo nguoc thanh hoc gia Fulbright hinh anh 2
Nguyễn Bá Trường Giang và nhóm Fulbrighter 2007 tại nhà Đại Sứ Michael W.Marine.

Bài luận của tôi nói về Việt Nam, về những khó khăn của thế hệ chúng tôi, tình hình chung của đất nước. Tôi thể hiện một niềm tin chắc chắn về tương lai của Việt Nam và kế hoạch tương lai của mình. Tôi hứa đi học về sẽ đóng góp hết lòng để phát triển đất nước. Quy định của Fulbright chỉ cho 800 chữ, nhưng tôi viết gần 2.000 chữ rồi kẹp vào hồ sơ.

Sau này, nhiều người nhờ tôi sửa giúp bài luận khi du học. Trong số đó, có người vào Đại học Harvard, Đại Học Luật Fordham, Michigan (Mỹ). Một em đỗ Đại học Oxford (Anh).

Trở thành học giả Fulbright

Đến vòng phỏng vấn xin học bổng, hai người phỏng vấn tôi, một người Mỹ và một người Việt, mặt mũi nghiêm trọng lắm. Có nhiều ứng viên gặp họ đã run, không biết bắt đầu thế nào. Tôi vào phòng, nhìn hai vị, cười tươi và chào họ. Không đợi họ hỏi, tôi bắt đầu câu chuyện ngay bằng câu hỏi xã giao: “Ông sang Việt Nam lâu chưa? Thời tiết oi bức quá, ông có quen không?”.

Chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Vị giáo sư đó hỏi: “Trong bài, tôi thấy em viết câu này, em có quan điểm thế nào mà viết thế?”. Tôi trả lời: “Tôi xin đính chính là không viết như thế…”. Người đó mỉm cười.

Sau này tôi mới biết đó là thủ thuật để xem người đối diện có phải tác giả thực sự của bài viết không. Chúng tôi ngồi nói chuyện về kinh tế Việt Nam, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực…

Tôi giành học bổng Fulbright trong sự vui mừng của gia đình và bạn bè. Sau một năm chuẩn bị, tôi được nhận vào trường Cornell, một trong 8 đại học thuộc nhóm Ivy-League (Havard, Yale, Princeton, Cornell, Dartmouth, Brown, Colombia, Pennsylvania). Các trường này có chất lượng giáo dục rất tốt.

Nguyễn Bá Trường Giang là học giả Fulbright, tốt nghiệp khoa Kinh tế, Đại Học Cornell, New York và khoa Luật, Đại học Luật Boston, Mỹ.

Trường Giang từng giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ – Văn hóa Anh – Mỹ, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; làm cố vấn pháp luật cao cấp tại Hãng luật Baker & McKenzie; giám đốc pháp luật tại Tập đoàn Thiên Minh và hiện là chuyên gia cao cấp tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).

Nguồn: https://news.zing.vn/tu-ke-ngo-nguoc-thanh-hoc-gia-fulbright-post616540.html

Kinh nghiệm xin học bổng Fulbright – ngành Báo Chí

 “Tôi chuẩn bị hồ sơ xin học bổng Fulbright trước một năm và cho rằng đây là một phần bí quyết thành công”, nhà báo Vĩnh Khang, người giành học bổng Fulbright năm 2015-2016, viết.

Khi xin học bổng Fulbright 2015-2016, tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ từ các Fulbrighters đi trước. Nhân dịp Fulbright 2017 khởi động, tôi xin chia sẻ một vài kinh nghiệm với những bạn trẻ quan tâm.

Kinh nghiem xin hoc bong Fulbright hinh anh 1
Nhà báo Vĩnh Khang (hàng đầu bên phải) cùng các bạn bè trong chương trình thạc sĩ báo chí.

1. Bạn chưa biết bắt đầu từ đâu?

Các bạn nên bắt đầu bằng việc tìm hiểu tiêu chí của Fulbright, xem mình có và chưa có gì. “Biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”, hãy google những bài chia sẻ kinh nghiệm của những người đi trước để tham khảo.

Tiếp đến là thi tiếng Anh, bạn viết tất cả những ý tưởng cho bài luận ra giấy hay điện thoại, chờ đến ngày đặt bút viết.

Nếu có thời gian, bạn có thể liên lạc với một số Fulbrighters đi trước, mời họ cà phê, trò chuyện. Hỏi về kinh nghiệm chỉ là một phần, bạn nên quan sát con người họ, như tính cách, cách nói chuyện, quan điểm trong các vấn đề… Điều này giúp ích rất nhiều ở vòng phỏng vấn.

Theo quan sát của tôi khi tìm hiểu về các Fulbrighters, khi học xong, quay về Việt Nam, họ có thể thành công hoặc không, hay chưa làm được những việc như kỳ vọng, nhưng họ có một điểm chung: Không “nhạt”.

Lời khuyên nữa cho các bạn là chuẩn bị sớm. Tôi chuẩn bị hồ sơ trước cả một năm và cho rằng đây là một phần bí quyết thành công.

2. Tại sao chọn Fulbright, không phải học bổng khác?

Khi lên kế hoạch du học, tôi cũng tham khảo một số học bổng khác. Tôi nộp hồ sơ và có lần cũng vào được đến vòng phỏng vấn, nhưng có thể không hợp tiêu chí và bản thân tự cảm thấy không thực sự tha thiết nên chưa thành công.

Mỗi học bổng đều có những tiêu chí riêng, bạn nên đầu tư vào học bổng phù hợp với mình, đừng rải hồ sơ, mất thời gian. Tôi thấy phù hợp các tiêu chí của Fulbright, từ ngành nghề, kế hoạch cho tương lai và cả yếu tố con người nữa.

Kinh nghiem xin hoc bong Fulbright hinh anh 2
Nhà báo Vĩnh Khang tại nơi theo học.

3. Báo chí văn hoá vẫn xin được học bổng Fulbright?

Một bạn từng hỏi tôi như vậy cách đây khá lâu. Thực tế, Fulbright không phân biệt nghề nghiệp hay lĩnh vực nào cả, vấn đề bạn phải thuyết phục được những người chấm hồ sơ và trình bày ấn tượng trong vòng phỏng vấn.

Nếu trong đầu bạn chưa có ý niệm cụ thể về công việc mình làm, nó đóng vai trò gì trong xã hội, thì dù làm lĩnh vực gì cũng vậy thôi, không nên xin học bổng. Không riêng gì Fulbright, các học bổng khác cũng là “con đường” dài và rất nhiều người nản chí dọc đường. Đừng phí thời gian.

Cá nhân tôi đã xây dựng một kế hoạch (short term và long term vision) dựa trên chuyên môn của mình, gắn liền đơn vị công tác và cả những hoạt động cá nhân. Một kế hoạch chặt chẽ, khả thi, ảnh hưởng xã hội sẽ thuyết phục được hội đồng.

4. Điểm tiếng Anh có quan trọng không?

Học bổng Fulbright cấp cho các ngành khoa học xã hội. Điều dễ dàng nhận thấy là khi học, câu nói “tiếng Anh chỉ là công cụ” chỉ đúng với người học kỹ thuật hoặc khoa học tự nhiên. Với ngành xã hội, tiếng Anh rất quan trọng.

Riêng Fulbright, các bạn cần nộp điểm tối thiểu TOEFL iBT = 79; IELTS = 6,5 là đủ điều kiện. Nếu bạn nào chưa thi tiếng Anh, lời khuyên là nên thi luôn TOEFL iBT, vì dù có nộp IELTS thì khi được chọn, bạn vẫn phải thi TOEFL iBT. Bài thi TOEFL iBT khó hơn IELTS. Ôn thi TOEFL IBT mệt hơn, căng thẳng hơn, nhưng đề lại hay hơn.

5. Người viết thư giới thiệu chức càng to càng tốt?

Người viết thư giới thiệu nên liên quan lĩnh vực của bạn, cũng như hiểu rõ bạn sẽ làm được gì. Ứng viên phải có 3 thư giới thiệu, đồng nghĩa có 3 cơ hội “tiếp thị” hình ảnh tới hội đồng.

Bạn có thể chọn 3 người hiểu về mình ở 3 khía cạnh khác nhau, cũng như nhìn nhận công việc và kế hoạch của bạn ở 3 góc nhìn, quan điểm khác nhau. Như vậy, sẽ hiệu quả hơn nhiều so với 3 bức thư gần giống nhau.

Ví dụ, lĩnh vực của tôi là báo chí, tập trung mảng văn hóa nghệ thuật. Tôi chọn một tổng biên tập viết thư, một nghệ sĩ (ca sĩ Trần Thu Hà), một người trong lĩnh vực báo chí có tầm nhìn bao quát xu hướng báo chí Việt Nam và quốc tế (Nguyễn Danh Quý – Editor in Chief của ELLE Vietnam).

Bác Tổng biên tập sẽ đánh giá mình ở khía cạnh chuyên môn báo chí; ca sĩ Hà Trần đánh giá hiểu biết (có thể cả hạn chế) về nghệ thuật, anh Quý đánh giá về khả năng hiểu biết, hoà nhập xã hội, cũng như học tập của mình ở môi trường quốc tế.

6. Bài luận nên viết gì và cấu trúc thế nào?

Đây là mấu chốt của sự thành công. Mỗi người có con đường riêng đến với sự thành công, nhưng tựu trung, bài luận ý tứ phải rõ ràng, câu cú đơn giản, dễ hiểu, tránh trình bày chung chung, mọi thứ cần phải cụ thể. Các bạn có thể nhờ người sửa lại, nhưng “có bột mới gột nên hồ”. Nếu không có ý gì trong bài luận, ai sửa cũng vậy thôi.

Tôi chọn cách viết thư dạng “xuyên không”, từ tương lai, đã nhận Fulbright, học xong và thực hiện những kế hoạch, rồi quay về quá khứ – nhìn mình từ lúc mới ra trường, gặp khó khăn gì trong công việc và cuộc sống; quyết định xin học bổng Fulbright để nâng cao kiến thức như thế nào.

Bằng cách này, tôi vừa giới thiệu được kiến thức nền mà không khô cứng, cũng như khoe được kế hoạch, mục đích, khiến hội đồng tò mò đọc tiếp bài luận tiếp theo (cụ thể hơn về kế hoạch tương lai). Nó cũng khiến họ muốn biết con người thực ngoài đời của người viết.

Riêng bài Objective Statement, tôi chọn cách viết tiểu luận, gồm Introduction, Body và Conclusion. Phần Body, tôi trình bày theo lối diễn giải và theo thứ tự Firstly, Secondly…, rồi đến topic sentence và supporting sentence.

Bài luận này sẽ hỏng nếu bạn trình bày chung chung. Hội đồng muốn xem ứng viên hiểu thế nào về kế hoạch đề ra, nên hãy cụ thể mọi thứ. Một bài viết dạng creative và 1 bài essay là cách tôi cân bằng.

7. Trả lời như thế nào ở vòng phỏng vấn?

Đây cũng là vòng rất quan trọng. Mỗi ứng viên có cách trả lời phỏng vấn khác nhau. Sau khi tham khảo vài người nhằm chuẩn bị tâm lý, tôi chọn cho mình cách trả lời riêng. Nhìn lại, tôi cho rằng, mình thành công nhờ chuẩn bị tốt, phong độ tốt và hài hước.

Chuẩn bị tốt là tự “mổ xẻ” hồ sơ của mình, xem hội đồng sẽ hỏi những gì. Khi đọc một dòng, bạn sẽ tự phản biện những gì trong đó. Ví dụ, tôi từng viết rằng “sẽ tiếp tục làm báo in”, thì phải nghĩ ngay đến câu hỏi: “Thời đại công nghệ, tại sao cậu vẫn đi làm báo in?”…

Riêng về phong độ tốt thì khó nói lắm. Với cá nhân tôi, ăn đều, ngủ khoẻ, tập gym không sót ngày nào, là có phong độ tốt ngay.

Hài hước? Khi vào phỏng vấn, nếu không phải chính mình, bạn sẽ thiếu thoải mái và mất tập trung. Thế nên, bạn hãy hài hước nếu là người hài hước.

Tôi từng bảo với hội đồng hãy đọc báo in vì nó chứa đựng những lời vàng ngọc của những người sắp chết. Nói chung, có nhiều câu “bá đạo” nữa và tôi thấy hội đồng mấy lần cười nghiêng ngả.

Thái độ trong phòng phỏng vấn cũng rất quan trọng, bạn nên tập trung, vui vẻ, chân thành và cầu thị.

Nhà báo Vĩnh Khang từng nhận học bổng Fulbright 2015 – 2016, nghiên cứu thạc sĩ ngành Báo chí. Hiện, anh công tác tại báo Nông Nghiệp Việt Nam.

Vĩnh Khang học tại Newhouse School and Public Communication (Syracuse University, New York, Mỹ). Đây là trường được xếp hạng tư trong danh sách các trường đào tạo Báo chí tốt nhất nước Mỹ năm 2015.

Anh cũng tham gia cộng tác với nhiều tờ báo như ELLE, Người Đẹp, 2!, Tiền Phong, VietNamNet.. và có một số bài đăng trên báo Mỹ.

Nguồn:  https://news.zing.vn/kinh-nghiem-xin-hoc-bong-fulbright-post612964.html

Con đường đến với nước Mỹ – Xin tiền tư bản đi học!

Tháng 7 này, người lữ hành là tôi sẽ khăn gói quả mướp đến xứ sở của những cây xương rồng cao hơn đầu người, xứ sở của giống mèo Bob cat hoang dại có năng lực siêu nhiên trèo được lên ngọn cây xương rồng đầy gai để tránh kẻ thù, xứ sở của sa mạc, của cát, của Grand Canyon. Tôi sẽ đến Arizona làm nghiên cứu sinh ngành Government and Public Policy, tại trường University of Arizona. Vì gần đây có nhiều bạn hỏi tôi về cách thức xin học bổng tiến sỹ, tôi mạo muội viết bài này để kể về quá trình gian nan của mình. Tôi hi vọng sẽ phần nào giúp ích được cho những bạn đang khao khát nuôi giấc mơ Mỹ 🙂

Để xin được một suất học bổng tiến sỹ ở Mỹ, đặc biệt là các ngành xã hội, bạn phải chiến đấu với nhiều ứng viên nặng ký ở khắp nơi trên thế giới. Đây thực sự là một quá trình rất cạnh tranh. Theo như tôi tìm hiểu, thường 1 trường không bao giờ nhận quá 10% số ứng viên nộp hồ sơ. Đối với 1 số ngành như kinh tế, sự cạnh tranh còn cao hơn nữa. Nhiều bạn hỏi mình có bí kíp thần kỳ nào để vượt qua được bao nhiêu hồ sơ như vậy. Bí quyết của tôi là SỰ CHÂN THÀNH + SỰ QUYẾT TÂM + MỘT KẾ HOẠCH CỤ THỂTôi xin chia sẻ kế hoạch và từng bước apply. Lưu ý bài viết này phù hợp nhất cho những bạn đang nung nấu ý định xin tiến sỹ ngành xã hội mà đặc biệt là political science hoặc/và public policy. Tôi không rõ về quy trình apply ngành kỹ thuật nên tôi không chắc bài viết có thể phù hợp.

Thời gian chuẩn bị:   8– 12 tháng. Deadline các trường thường là tháng 12- tháng 1. Mình bắt đầu rục rịch chuẩn bị từ tháng 4, tháng 5.

Số trường cần nộp: Để chắc chắn bạn nên nộp khoảng 5-8 trường. Tôi nộp 7 trường và hiện đã được nhận 4 trường, còn 1 trường chưa có kết quả.

Tài chính: 1500-2000 USD. Mỗi tháng tôi trích 1 ít tiền lương để vào 1 tài khoản riêng để khi nộp đơn khỏi sốt ruột hehe. Chi phí bao gồm lệ phí của các trường, thi các thể loại GRE, Tiếng Anh, nộp bảng điểm, nộp điểm GRE, điểm tiếng Anh.

Hồ sơ tiến sỹ gồm những gì và chuẩn bị ra sao:

Các thể loại statements (bài luận):

Đây có thể được coi là phần quan trọng nhất trong hồ sơ của bạn. Đây là cơ hội duy nhất dể bạn thể hiện bản thân bạn trước hội đồng tuyển sinh. Tuỳ từng trường, bạn có thể sẽ phải viết academic statement of purpose, personal statement và diversity statement. Nếu trường nào yêu cầu bạn chỉ viết một bài luận là personal statement, thì mặc định đó là statement of purpose. Vậy sự khác nhau giữa các bài viết này là gì?

Statement of purpose:  Đây là nơi bạn phải trả lời được cách câu hỏi sau: Lĩnh vực nghiên cứu bạn quan tâm là gì (Viết phần này có lẽ là khó nhất vì bạn phải thể hiện là mình có một kiến thức nhất định về lĩnh vực mình muốn theo đuổi, làm sao viết một cách cụ thể, nhưng không cụ thể đến mức khiến người ta nghĩ bạn không cởi mở cho những ý tưởng mới). Định hướng nghề nghiệp trong tương lai của bạn là gì? Vì sao việc học tiến sỹ lại giúp bạn đi theo con đường này? Bạn đã chuẩn bị cho con đường này như thế nào (các nghiên cứu bạn đã từng tham gia trước đây, bài viết đc đăng, vì sao bạn phải chọn trường này mà không phải trường khác, etc?). Khác với statement of purpose khi bạn nộp hồ sơ học master, đây gần như là letter bạn viết để apply cho 1 vị trí nghiên cứu chuyên nghiệp.

Personal statement/diversity statement:  Đây là cơ hội để bạn chia sẻ những kinh nghiệm, trải nghiệm của bản thân, background ( văn hoá, gia đình, giáo dục, etc.) đã hình thành nên con người bạn hiện nay như thế nào? Con người bạn sẽ đóng góp thế nào vào sự đa dạng của trường? Những trải nghiệm trong cuộc sống của bạn (học thuật, hoặc không liên quan đến học thuật) ảnh hưởng thế nào đến quyết định bạn đi học tiến sỹ.

Độ dài tuỳ của mỗi bài luận tuỳ thuộc từng trường nhưng giao động khoáng 2-5 trang.

Khi tôi bắt tay vào viết các bài luận này, tôi đã lên mạng tìm nhiều các bài mẫu để tham khảo. Tôi đã đọc rất nhiều profile đẹp, tôi còn nghĩ ” trời, profile họ đẹp thế này, làm sao để mình cạnh tranh được đây”. Tôi hoang mang lắm khi nghĩ đến tỷ lệ nhận của trường thấp và đọc các bài viết hay. Đọc hết forum này đến forum khác, đọc tips này đến tips khác, đầu óc tôi trở nên mụ mị và mất tự tin. Nhưng rồi đến một ngày, tôi tĩnh tâm lại và nhớ tới lời động viên của thầy supervisor ở Anh, thầy đã nói với tôi “Thầy tin em có khả năng, và em sẽ đỗ những trường em muốn”, thầy còn nói “write something that makes you unique”. Nhớ đến lời thầy, tôi không đọc nữa. Và tôi đã tìm thấy một thứ gia vị cho bài viết của mình, đó là SỰ CHÂN THÀNH. Một người chị mà tôi vô cùng ngưỡng mộ cũng thường hay bảo tôi rằng không có gì đáng giá hơn sự chân thành. Và thế là câu chữ cứ tuôn ra. Trong bài personal statement, tôi viết về passion của mình đối với việc làm research, việc được đi, quan sát và viết. Tôi kể về những cảm xúc của mình khi lần đầu được tiếp xúc với những thông tin khác với những gì tôi được biết, được dạy. Tôi đã rất buồn, mất niềm tin, thậm chí đã khóc, nhưng nỗi buồn dần bị thay thế bởi sự phấn khởi được học cái mới, được nhìn thế giới bằng một góc khác đi- sinh động hơn, đa chiều hơn và khách quan hơn. Tôi tâm sự trong bài rằng những trải nghiệm ấy khiến tôi không còn là một con người bướng bỉnh chỉ tin rằng trắng-đen, tốt-xấu là rõ ràng. Nó cũng khiến tôi bớt phán xét hơn, và bao dung hơn với mọi người. Cuốn tiểu thuyết 1984 của George Orwell có tác động rất mạnh đến suy nghĩ của tôi, và tôi đã chia sẻ điều ấy trong bài. George Orwell viết một câu thực sự rất ám ảnh, đó là “Who controls the past, controls the future. Who controls the present controls the past”. Tôi chia sẻ rằng “I feel this sentence whenever I think about….”. Một bạn đã khuyên tôi nên dùng động từ khác vì “feel” nghe mạnh quá, nhưng tôi vẫn quyết định giữ vì tôi biết đó mới thật sự là tôi. Tôi viết về niềm vui, cảm xúc khi được đến thăm The Little Sai Gon và quan sát cuộc sống của người Việt Nam ở đó.

Nhiều bạn đang muốn apply đi học hỏi tôi nên viết statments thế nào, tôi chỉ có một lời khuyên như thầy tôi đã khuyên tôi: Viết về những gì khiến bạn là bạn của ngày hôm nay với tất cả sự chân thành. Có bạn bảo tôi nhưng bạn không có câu chuyện gì đặc biệt cả. Tôi không tin! Đằng sau mỗi con người là một câu chuyện, một trải nghiệm không ai giống ai, hãy KỂ CÂU CHUYỆN CỦA BẠN.

Letter of recommendation (thư giới thiệu): Thư giới thiệu là một phần CỰC KỲ quan trọng của hồ sơ. Thông thường, các trường yêu cầu 3 thư giới thiệu đối với hồ sơ tiến sỹ. Hãy chọn 3 người hiểu bạn, đánh giá cao bạn và nhờ họ viết thư. Khoảng 3 tháng trước deadline, tôi viết email cho những người tôi muốn nhờ họ viết thư, tôi hỏi họ nếu họ có thể viết cho tôi một STRONG recommendation letter. Tôi không muốn một lá thư bình thường, tôi muốn một lá thư có sức nặng. Bạn đừng ngại khi phải hỏi như thế, nếu họ không thể viết strong cho bạn, họ sẽ nói rõ ràng như vậy. Khoảng 1,5 tháng trước khi deadline, tôi gửi cho họ statements của mình, CV, và một số ý tôi muốn có trong thư. Đừng ngại khi phải gửi cho họ một số ý, các giáo sư rất bận nên sẽ đánh giá cao điều này. Dựa vào những ý đấy họ sẽ viết dựa trên trải nghiệm làm việc với bạn hoặc dạy bạn. Dù bạn trúng tuyển hay không, cũng nên viết một note cảm ơn (mình khuyến khích là viết tay) để thể hiện sự biết ơn vì họ đã bỏ thời gian, công sức viết cho bạn :).

Writing sample (bài viết mẫu): Đây cũng là một phần CỰC KỲ quan trọng vì ban tuyển sinh muốn đánh giá khả năng viết của bạn- một kỹ năng không thể thiếu nếu muốn học PHD. Khi tôi hỏi một thầy về vai trò của writing sample, thầy đã trả lời tôi thế này “We are primarily using the writing sample to judge the strength of your writing style. We will ask ourselves: How well prepared do we believe you are to be writing on the PhD program?”. Vậy chọn bài writing sample thế nào? Trước hết, bạn cần chú ý đến yêu cầu của từng trường: độ dài của bài là bao nhiêu (ngành của mình thường là 20-25 trang), có cần phải là original research hay không, có cần phải viết đúng chủ đề ngành học mà bạn đang apply hay không? Từ đó lựa chọn bài tốt nhất và phù hợp nhất. Tôi chọn một bài term paper được các thầy đánh giá cao, chỉnh sửa lại theo comments của thầy. Bài term paper đó của tôi chỉ có 10 trang nhưng yêu cầu của các trường là 20-25 trang vậy là tôi phải đọc thêm literature để viết thêm, tìm thêm các ý mới, vv. Nếu có thời gian hãy gửi bài cho một giáo sư hoặc một người nào đó trong lĩnh vực của bạn đọc lại.

GRE, TOEFL: Tôi sẽ chia sẻ về phần này trong một bài khác, hiện tôi đã buồn ngủ quá rồi 🙂

Có nên liên hệ với giáo sư trước khi apply: Học tiến sỹ ở Mỹ, bạn phải học coursework trước khi bạn được tự làm một nghiên cứu độc lập (hay còn gọi là luận văn tiến sỹ). Coursework sẽ chuẩn bị cho bạn kiến thức sâu về ngành mà bạn học và phương pháp nghiên cứu khoa học. Qua quá trình học coursework, ý tưởng nghiên cứu của bạn sẽ thay đổi ít nhiều. Như vậy trường thường không bắt buộc bạn phải liên hệ với các thầy trước khi apply. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi, việc liên hệ trước với trường và các thầy có rất nhiều ưu điểm. Thứ nhất, các thầy sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bạn không thể tìm thấy trên website, từ đó bạn sẽ phần nào biết được trường đó có phù hợp với bạn không. Thứ hai, bạn sẽ cho trường thấy bạn là một thí sinh nghiêm túc, có định hướng rõ ràng, và dám take initiative. Có bạn hỏi tôi làm thế nào để viết thư mà các thầy sẽ trả lời? Tôi viết cho nhiều thầy ở các trường khác nhau mà tôi apply, và gần như tôi nhận được tất cả hồi âm và cuối cùng đều có Skype với họ. Bí quyết của tôi không gì khác ngoài SỰ CHÂN THÀNH. Bạn rất khó nhận được hồi âm nếu các thầy cảm nhận được là bạn có một mẫu thư và gửi cho một loạt giáo sư khác nhau. Trước khi liên hệ với một giáo sư, tôi thường đọc một số bài báo mới nhất của thầy, note ý và viết ra một vài câu hỏi. Trong thư đầu tiên, tôi nói ngắn gọn về mình đặc biệt là research interest của mình, rồi nhắc đến một số bài báo của thầy, và thể hiện mong muốn được nói chuyện với thầy để xem chương trình học đó có phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của mình không. Khi nói chuyện, tôi cũng hỏi những câu hỏi liên quan đến những sinh viên thầy đang hướng dẫn, cách thầy làm việc với sinh viên (thầy hướng dẫn bao nhiêu người, tần suất thầy gặp sinh viên, thầy mong muốn gì ở sinh viên, etc). Những thông tin này ít nhiều giúp tôi hình dung phong cách thầy làm việc với sinh viên, và xem có phù hợp với phong cách và nguyện vọng của tôi không. Bạn có thể liên hệ với cả PHD director của chương trình. Thầy sẽ cung cấp cho bạn thông tin chi tiết về quá trình tuyển sinh, học bổng, chương trình học, những tố chất mà chương trình cần có ở thí sinh, etc. Thầy cũng có thể recommend cho bạn giáo sư phù hợp để bạn liên hệ. Khi chuẩn bị nói chuyện với thầy ở Arizona nơi tôi sẽ học, tôi có đôi chút hồi hộp. Nhưng từ ngay giây phút đầu tiên khi thầy cất tiếng chào, tôi nhận ra thầy là một người Anh (vốn khá có cảm tình với người Anh, nên tôi tự nhiên thấy rất thoải mái). Câu chuyện cứ thế tuôn trào, tôi chia sẻ những mơ ước, nguyện vọng của mình. Thầy nói là “kế hoạch của em rất tốt và rõ ràng, thầy khuyên em nên apply, thầy đã nói chuyện với rất nhiều bạn nhưng có nhiều bạn thầy khuyên chưa nên apply hoặc không nên apply vì không phù hợp, thầy không muốn họ tốn 80 USD mà”. Tôi cũng nói chuyện với thầy PHD Director ở Colorado, thầy thì có phong cách Mỹ chính hiệu :)). Khi thầy chia sẻ là mỗi năm chỉ nhận 1-2 sinh viên quốc tế vì sinh viên quốc tế khá tốn kém haha. Lúc thầy nói vậy, tôi nghĩ làm sao đến lượt mình. Thật sự rất bất ngờ, trường lại nhận tôi. Lúc tôi nói rằng tôi sẽ không đến Colorado mà đến Arizona, thầy đã trả lời rằng Arizona cũng rất tốt, và rằng “tôi và em sẽ có lúc gặp nhau” :D. Tôi tin rằng những buổi Skype như thế này cũng giúp tôi khá nhiều trong quá trình apply.

Quá trình nộp hồ sơ thật sự dài và mệt mỏi. Nhiều lúc mệt mỏi, mắt díp lại mà vẫn phải ngồi làm việc, tôi lại nghĩ tại sao thân phải làm tội đời như vậy?. Nhưng rồi tưởng tượng đến ngày được đặt chân đến nước Mỹ, được theo đuổi đam mê của mình, tôi lại quên hết cả mệt mỏi và những cơn buồn ngủ để 6 tháng ròng rã học GRE, viết bài luận, liên hệ với trường :). Ngày nhận được kết quả tim tôi như vỡ oà sung sướng, cuối cùng tôi đã làm được. Có một em gái hỏi tôi “chị làm thế nào mà đi làm về vẫn chuẩn bị hồ sơ được,? Tối về em buồn ngủ lắm nên không thể làm gì được”. Nhắn nhủ đến em: Hãy tưởng tượng giờ này một năm sau em đang ở đất nước ấy, em đang đi giữa những con người, cảnh vật xa lạ đang chờ em khám phá, tưởng tưởng đến cảm giác khi em chạm tay vào giấc mơ ấp ủ bấy lâu, rồi EM SẼ TÌM CÁCH ĐỂ LÀM ĐƯỢC!

Tôi biết mấy năm tới con đường sẽ nhiều chông gai, nhưng cứ đi rồi sẽ đến!

Chả hiểu sao khi viết bài này tôi lại nghĩ đến phim La La Land có lẽ vì tôi thấy đồng cảm. Đời ngắn lắm, hãy cứ ước mơ, hãy cứ theo đuổi cái gì con tim mình muốn mặc cho người ta cho rằng bạn không có năng lực, người ta khuyên bạn nên làm những thứ mà họ cho là đúng, người ta tìm cách hạ thấp bạn và ngay cả khi xã hội quay lưng với bạn. Dù sao hãy cứ ước mơ!

PhD ở Mỹ, liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ, TẠI SAO KHÔNG NHỈ?

Bạn muốn theo con đường nghiên cứu/học thuật và bạn quyết định chọn nước Mỹ là nơi gửi gắm vài năm tuổi xuân của mình để theo đuổi tấm bằng PhD- chiếc vé đưa bạn đến với nghiên cứu/học thuật. Bạn đã có trong tay một bộ hồ sơ tốt nhất trong khả năng của mình: một bài luận thể hiện được con người bạn, điểm GRE và GPA đạt theo yêu cầu của trường, thư giới thiệu ổn, một bài viết mẫu tốt nhất mà bạn có thể viết… Còn  thiếu gì không nhỉ? Về mặt lý thuyết thì bạn đã có đầy đủ tài liệu cần thiết rồi đấy, chỉ cần ấn nút submit hồ sơ là bạn có thể thảnh thơi thư giãn, chờ đợi đến ngày hồ sơ của mình được một trường nào đó chấp nhận.

Nhưng hãy chờ chút, còn một việc mà tôi tin rằng nếu thực hiện, cơ hội được nhận của bạn sẽ cao hơn rất nhiều: LIÊN HỆ VỚI GIÁO SƯ CỦA TRƯỜNG TRƯỚC KHI NỘP HỒ SƠ. 

Để nộp hồ sơ xin PhD các ngành xã hội ở Mỹ, việc liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ là không bắt buộc vì trước khi chính thức bước vào giai đoạn viết luận văn, bạn sẽ phải học course work khoảng hai năm. Quá trình học course work sẽ định hình ý tưởng nghiên cứu của bạn, và ý tưởng này có thể thay đổi ít nhiều so với những gì bạn chia sẻ trong bài luận. Ngoài ra việc liên hệ trước với giáo sư không đảm bảo 100% là hồ sơ của bạn sẽ thành công.

Nhưng vì sao ta vẫn nên chủ động liên hệ với trường, với giáo sư trước khi nộp hồ sơ?

Thứ nhất, chủ động liên hệ với giáo sư chứng tỏ bạn là một THÍ SINH NGHIÊM TÚC và CÓ KẾ HOẠCH RÕ RÀNG. Việc đi học không phải là ý tưởng bất chợt đến trong lúc vui vui, mà bạn đã thật sự suy nghĩ về nó bởi bạn đã dành thời gian tìm hiểu và bỏ công sức liên hệ với trường để tự “chào bán bản thân”. Có thể bạn đang nghĩ “ý định của tôi hoàn toàn nghiêm túc mặc dù tôi không liên hệ với bất kỳ ai”. Tuy nhiên, tôi cho rằng liên hệ với trường, với giáo sư trước khi nộp hồ sơ đem lại cho bạn cơ hội thể hiện sự nghiêm túc đó ra, và biết đâu có thể dập tắt một số hoài nghi về bạn mà họ có thể có nếu chỉ đánh giá bạn dựa trên giấy tờ. Một người bạn của tôi có điểm speaking TOEFL chưa đạt yêu cầu của trường, bạn thật sự lo lắng vì không muốn mất thời gian thi lại. Bạn chủ động liên hệ với trường, và sau khi kết thúc cuộc nói chuyện qua Skype với giám đốc Chương trình PhD (PhD Program Director), thầy đã nói với bạn ấy là “Tiếng Anh của em rất tốt, tôi không thấy có vấn đề gì về kỹ năng nói của em. Thật may là em đã liên hệ với chúng tôi, nếu không chúng tôi sẽ có chút hoài nghi về khả năng tiếng Anh của em nếu chỉ nhìn vào điểm”.

Thứ hai, tôi tin là nếu bạn đi bước này, bạn sẽ khiến bản thân mình ĐẶC BIỆT hơn những thí sinh khác, bạn sẽ khiến người ta chú ý đến bạn hơn. Hãy thử tưởng tượng hồ sơ của bạn chỉ là một trong một trăm, hai trăm, hay thậm chí hàng trăm hồ sơ mà trường nhận được hàng năm. Rõ ràng việc bạn liên hệ trước sẽ đem lại lợi thế cho bạn. Nếu bạn không liên hệ, phải đợi mãi đến khi hội đồng tuyển sinh ngồi lại với nhau và đọc từng hồ sơ, người ta mới biết đến tên bạn, và người ta chỉ có thể tìm hiểu con người bạn thông qua những gì bạn viết. Nhưng hãy nghĩ nếu bạn để lại ấn tượng tốt sau một cuộc nói chuyện qua Skype hoặc gặp trực tiếp với một giáo sư, hội đồng tuyển sinh chắc chắn sẽ lưu ý hơn đến hồ sơ của bạn “À, tôi đã nói chuyện với em này rồi, có vẻ rất nhiệt tình, tràn đầy năng lượng và thật sự thích nghiên cứu. Để xem hồ sơ thế nào nào?” Nếu giáo sư mà bạn có cùng research interest có cảm tình và muốn làm việc với bạn, thì khả năng cao họ sẽ “đấu tranh”cho bạn nếu họ tham gia vào hội đồng tuyển sinh đấy.

Tôi có một cô bạn người Mỹ vừa hoàn thành PhD, cô ấy đã khuyên tôi thế này “Mai cố gắng liên hệ với trường và giáo sư nhé, nếu Mai có thể sang Mỹ gặp trực tiếp họ thì càng tốt. Việc này không đảm bảo chắc chắn Mai sẽ được nhận nhưng sẽ làm tăng cơ hội của cậu lên rất nhiều đấy.” Khi tôi hỏi một vị giáo sư làm sao để apply thành công. Thầy đã trả lời tôi rằng “em đã chủ động liên hệ với chúng tôi, bước đầu em đã làm được một việc rất tốt rồi. TÌM HIỂU MỘT NGƯỜI KHI GẶP HOẶC NÓI CHUYỆN TRỰC TIẾP SẼ RẤT KHÁC VỚI VIỆC TÌM HIỂU MỘT NGƯỜI QUA GIẤY TỜ”.

Thứ ba, chủ động liên hệ trước còn giúp bạn trả lời câu hỏi liệu chương trình PhD của trường đó có phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng, kinh nghiệm và kỹ năng của bạn không. Biết đâu khi Skype hoặc trò chuyện trực tiếp giáo sư, bạn nhận ra họ đang tìm kiếm những tố chất khác với những gì bạn có, giáo sư mà bạn muốn làm việc cùng sắp chuyển trường/ nghỉ hưu, research interest của bạn không còn là ưu tiên của trường nữa, vân vân và vân vân. Và thế là bạn tiết kiệm được gần trăm đô tiền nộp hồ sơ rồi đấy 😀

Khi tôi lên kế hoạch liên hệ với giáo sư, tôi không thật sự tự tin vào bản thân mình, tôi lo sợ nhiều thứ: kiến thức của mình có ít quá không, mình có cơ hội được không, mình có làm phiền họ không, vân vân và vân vân. Nhưng cô bạn người Mỹ và thầy hướng dẫn bên Anh của tôi động viên tôi là “HÃY LUÔN NGHĨ RẰNG TRƯỜNG SẼ TỰ HÀO KHI CÓ MỘT SINH VIÊN NHƯ EM. KIẾN THỨC, SỰ HAM HỌC HỎI, VÀ QUAN ĐIỂM/GÓC NHÌN KHÁC BIỆT- DO SỰ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HOÁ, GIÁO DỤC, TÍNH CÁCH SẼ ĐÓNG GÓP VÀO SỰ ĐA DẠNG CỦA TRƯỜNG”. Bạn tôi luôn nói với tôi một câu rất truyền cảm hứng. Tôi xin chia sẻ lại với bạn bởi tôi tin là nó sẽ rất hữu ích mỗi khi bạn đang hoài nghi về chính mình:

 BE CONFIDENT. NEVER SELL YOURSELF SHORT

       HÃY TỰ TIN. ĐỪNG BAO GIỜ ĐÁNH GIÁ THẤP BẢN THÂN

Nếu bạn đang muốn tưới thêm gia vị mang tên tự tin vào hồ sơ của bạn, tôi cũng xin khuyên bạn như những gì thầy và bạn tôi đã nói với tôi. Tôi tin rằng NẾU BẠN LUÔN CỐ GẮNG THÌ HÃY TIN RẰNG BẠN XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC NHẬN VÀ ĐÓ LÀ MAY MẮN CỦA TRƯỜNG KHI CÓ MỘT SINH VIÊN NHƯ BẠN!! 

Tiếp theo tôi xin chia sẻ kinh nghiệm quá trình tôi liên hệ với trường và các giáo sư. Kinh nghiệm của tôi chỉ giới hạn trong các ngành xã hội, mà cụ thể là Political Science và Public Policy ở Mỹ. Kinh nghiệm này có thể không phù hợp với các bạn đang apply ngành kỹ thuật hoặc ngành xã hội ở các nước khác.

Theo tôi ta nên chuẩn bị liên hệ từ khoảng 3-4 tháng trước khi deadline

          1.Ta nên liên hệ với ai?

Tôi thường liên hệ với Giám đốc Chương trình PhD (Phd Program Director) của trường và một hoặc hai giáo sư có hướng nghiên cứu phù hợp nhất với sở thích và nguyện vọng của tôi. Vì sao lại là hai đối tượng này?

Với PhD programme director, bạn có thể khai thác các thông tin liên quan đến quá trình tuyển sinh mà bạn không thể tìm thấy trên website. Ví dụ thông tin về số lượng hồ sơ trung bình trường nhận hàng năm, tỷ lệ được nhận, họ có ưu tiên sinh viên quốc tế không, điểm GRE “cut-off” là bao nhiêu, người ta có ưu tiên funding cho hướng nghiên cứu mà bạn quan tâm hay không? Nếu thấy bạn phù hợp, thầy có thể giới thiệu bạn đến một hoặc hai giáo sư đang tìm sinh viên có hướng nghiên cứu như bạn. Ngoài ra, PhD programme director chắc chắn nằm trong ban tuyển sinh, nên nếu bạn để lại ấn tượng tốt, họ sẽ xem xét hồ sơ của bạn kỹ hơn.

Đối với các giáo sư mà bạn quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu của họ (tôi sẽ gọi tắt là faculty member), bạn có thể hỏi họ đang tìm kiếm sinh viên có tố chất thế nào (kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu, các khoá học đã học, vv), các nghiên cứu họ đang làm và hướng đi trong tương lai, họ thường nhận bao nhiêu sinh viên hàng năm, và cách họ làm việc với sinh viên.

  1. Nên liên hệ thế nào để đảm bảo nhận được hồi âm?

Tôi đã nghe kể rằng có nhiều bạn gửi email cho rất nhiều giáo sư, nhưng hầu như không nhận được hồi đáp. Giáo sư là những người rất bận rộn, họ đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau ở trường: làm nghiên cứu, giảng dạy, và làm các dịch vụ khác phục vụ trường. Tôi chỉ có một lời khuyên dành cho bạn: HÃY LUÔN THỂ HIỆN SỰ CHÂN THÀNH trong mỗi email bạn gửi đi. Hãy tìm hiểu thật kỹ các thông tin về trường , về khoá học, đọc các nghiên cứu của giáo sư bạn quan tâm, đọc kỹ một vài nghiên cứu mà bạn thấy hứng thú nhất và ghi lại những câu hỏi bạn băn khoăn để nếu có cơ hội Skype, hãy trao đổi với họ.

Email đầu tiên nên ngắn gọn, giới thiệu được background của bạn, thể hiện sự quan tâm và mong muốn apply vào trường, nhắc đến một hoặc hai bài báo của giáo sư mà bạn quan tâm nhất và giải thích vì sao bạn quan tâm (nếu bạn viết cho một faculty member), hoặc nêu lên mong muốn được nói chuyện qua Skype/ nói chuyện trực tiếp (nếu bạn ở Mỹ) để hỏi một số câu hỏi liên quan đến quá trình tuyển sinh (nếu bạn viết cho PhD programme director).

Ta tuyệt đối không nên viết một lá thư chung chung cho một loạt giáo sư. Đây thường là lý do hàng đầu thư của ta sẽ bị cho vào thùng rác. 

Đây là email mà chắc chắc các giáo sư sẽ lắc đầu quầy quậy khi đọc, và email sẽ đi thẳng từ hòm thư của bạn đến  thùng rác của thầy.

Dear Professor ABC,

My name is X, I am a student at Y College/I am working for Z company/institute and I plan to apply for graduate school on T and I’m getting in touch to ask if you can give me any advice or direction about that.

Sincerely,

Your name

Còn đây là một email mà xác suất bạn nhận được hồi âm sẽ cao hơn rất nhiều. Nếu bạn nộp ngành Public Policy, với chuyên ngành hẹp hơn là Non-profit management, và research interest tập trung vào NGO, bạn  có thể viết một email như sau:

Dear Professor ABC

My name is “TÊN BẠN”, from Viet Nam. I plan to apply for the PhD program of Public Policy at “TÊN TRƯỜNG BẠN APPLY” this year. From my own research, I have found out that my research interests closely align with yours.

Having a Master’s degree/ Bachelor’s degree in “CHUYÊN NGÀNH CỦA BẠN” at “TÊN TRƯỜNG ĐH HOẶC THẠC SỸ” and  “SỐ NĂM” years of experience in non-profit sector, I have developed a strong interest in internal politics within an NGO and coordination among NGOs working on the same area of interests. I am also particularly interested in power dynamics between NGOs and their donors, and power relations of transnational actors in promoting sustainable development programs in developing countries. I was so excited to find out that part of your research centers on nonprofit management, and inter-organizational relations. These are the topics I really want to build my expertise in. I have read two publications which you authored (“xxx”, and “yyy”) and I really enjoyed them both. They gave me ideas for my future research. Your papers have made me realize that “NHỮNG BÀI HỌC BẠN RÚT RA TỪ BÀI BÁO”

I hope you don’t mind my getting in touch. I would like to ask if you are accepting graduate students in 2018 and if my research interests fit with your priorities in the coming time. If you are, I would like to talk to you a little more by Skype. Please let me know if you would you like to see my CV and know more about my research qualifications.

I am very interested in the “TÊN TRƯỜNG BẠN APPLY” and your work! I hope to have an opportunity to discuss my research interests with you.

I know you are very busy so I greatly appreciate any time you can give me!

I look forward to hearing from you!

Your name,

Với email này, cơ hội bạn nhận được hồi đáp cao hơn rất nhiều phải không? Vì sao?

Vì email này thể hiện bạn là một người nghiêm túc, bạn đã thực sự tìm hiểu về trường, và tận dụng tất cả những thông tin có trên website. Email này cũng thể hiện bạn thực sự muốn làm nghiên cứu và đã suy nghĩ đến hướng nghiên cứu bạn sẽ theo đuổi trong tương lai. Việc nhắc đến các bài báo của giáo sư chứng tỏ bạn đã tìm hiểu kỹ profile nghiên cứu của họ, điều này cho thấy bạn tôn trọng thời gian của các giáo sư- những người lúc nào cũng bận rộn.

Nếu là email cho PhD programme Director, bạn cũng có thể áp dụng email trên nhưng không cần nhắc đến các bài báo và hãy thể hiện là bạn đã tìm hiểu rất kỹ về quy trình nộp hồ sơ trên website nhưng vẫn còn một số câu hỏi liên quan đến quá trình này mà bạn muốn thảo luận sâu hơn.

Tiêu đề của email cũng cần thể hiện được ngay nội dung của email. Bạn có thể dùng tiêu đều sau cho email:

Email cho PhD Programme Director:  Fall 2018 Prospective PhD Student: Admission Info needed;

Email cho faculty member: Fall 2018 Prospective PhD Student: Research Interest Info needed

Nếu sau một hoặc hai tuần mà không nhận được phản hồi, bạn có thể gửi một email follow-up. Tôi gửi email có cấu trúc như trên cho một vị giáo sư nhưng sau hai tuần tôi không nhận được bất cứ hồi âm nào. Tôi quyết định viết một email follow-up nhưng cũng bặt vô âm tín. Khoảng gần hai tháng sau, khi tôi gần như không quan tâm đến email ấy nữa thì giáo sư hồi âm và rất xin lỗi vì thầy đi nghỉ nên không kiểm tra email thường xuyên. Sau đó thầy hẹn Skype với tôi, trong lúc nói chuyện thầy có chia sẻ rằng, năm nay trường sẽ chỉ lấy 1 hoặc 2 sinh viên quốc tế. Thật bất ngờ sau đó tôi lại được chọn. Tôi tin rằng một phần do tôi đã chủ động liên hệ trước. Vậy, các bạn đừng ngại ngần mà hãy chủ động nhé!

  1. Ta nên nói chuyện thế nào để gây ấn tượng và thu được nhiều thông tin

Nếu bạn đã nhận được lời đồng ý nói chuyện qua Skype với các thầy cô rồi, CHÚC MỪNG BẠN! Để đạt được kết quả tốt nhất từ cuộc nói chuyện này, ta hãy chuẩn bị thật kỹ. Hãy nói với tất cả sự NHIỆT HUYẾT và CHÂN THÀNH của bạn. Tôi thường viết ra các câu hỏi theo chủ đề, để một khoảng trống sau mỗi câu hỏi để ghi lại những câu trả lời của giáo sư nếu cần thiết. Cuộc nói chuyện đầu tiên bao giờ cũng khiến ta hồi hộp hơn cả, nhưng sau một vài lần như thế, bạn sẽ thấy sự tự tin của mình tăng lên đáng kể. Trước buổi nói chuyện đầu tiên, tôi chuẩn bị rất kỹ, tôi nghĩ đến các tình huống có thể xảy ra và tập nói thử một mình hoặc nói với một người bạn nhiều lần.

Và sau đây là một số câu hỏi mà tôi nghĩ bạn có thể tham khảo:

– What do you think is the biggest strength of the program?

-What do you  look for in a prospective student?

– Among all criteria: GPA, GRE scores, letter of recommendation, statement of purpose, and writing sample, how do you weigh these criteria, which is weighed the most heavily?

– Do you set a minimum score for GRE or GPA, but on average, what is considered to be competitive score of GRE and grade of GPA? Can experiences in research help compensate for normal GRE scores?

– Do I need to submit a sample on the topic I am interested in pursuing for the PHD?

– What prerequisite courses are required before a prospective student applies?

– Do you give priority to students who have experiences in qualitiative or quantitative experiences?

– How many applications do you receive each year on average? And how many are admitted? What is the attrition rate? And do you know why they left?

– What are the process of admissions? Does interview involve? When will I know the result? Which month the course start?

– Are students considered for assistantship automatically if admitted?

– How do you support students for publications?

– How does the department prepare the students to become a teaching assistant/research assistant?

– What is the student to professor ratio?

– How available are faculty to the students?

-Do students have the opportunities to present at conferences? And do you fund them?

-Are students assigned advisors or do they choose one?

-Where do students find work after graduation, in academia or outside acamedia? How long after graduation, are they able to find job?

-What is your advice for successful applications?

– Is the alumni network active? What are the main actvities of the network?

-It seems that you invest a lot in a PhD student, what are your expectations of students? How do you expect them to return?

-Other questions specifically relate to professors’ papers, their research interests and your interests.

Còn một số câu hỏi nữa mang tính cá nhân nên cho phép mình không chia sẻ lên đây. Bạn có thể chia các câu hỏi trên theo các chủ đề như 1) admission process 2) research interest 3) student-professor mentorship 4) ABC để tiện theo dõi khi trò chuyện. Nếu bạn có thêm câu hỏi nào nữa, thì hãy bổ sung vào danh sách trên nhé!

Mặc dù liên hệ với giáo sư trước khi nộp hồ sơ không đồng nghĩa với việc bạn chắc chắn sẽ được nhận, tôi tin rằng đây là một việc nên làm và sẽ đem đến nhiều lợi thế cho hồ sơ của bạn. Chúc các bạn may mắn!

My American Diary

Phần 1: Khởi hành sân bay Nội Bài, Hà Nội

 

Mình thì cứ đinh ninh là mình bay ngày 8/8/2009, nên vẫn cứ thông báo cho tất cả mọi người là ngày đó mới bay. Về nhà, vẫn cứ ung dung, chả chịu pack đồ gì cả. Hôm về quê, Giang gọi điện nói là bay lúc 00:00 ngày 8/8/2009 tức là tối ngày 7/8 đã phải có mặt ở sân bay rồi. Các chuyến bay quốc tế đều tầm giờ này, vì vậy bạn nào bay giờ như trên thì phải lưu ý nhé, không lên sân bay mà máy bay bay gần đến Mỹ rồi cũng nên. Do nhầm thời gian, nên vội vội vàng vàng đóng gói đồ đạc để lên đường. Hành lý thì gọn nhẹ, ngoài quần áo, giầy, sách vở, quà tặng ra, thì mình không mang gì thêm. Đồ ăn ư à, biết là bên Mỹ cái gì cũng có mà rẻ nên mình chỉ mang 5 gói mì tôm phòng khi đói, và 5 gói bột canh Hải Châu vì em Mây nói là bên đó chỉ thiếu bột canh Hải Châu. Ruốc thì có 1kg nhưng không dám mang đi vì nó mà kiểm tra thấy mang ruốc đi là phạt 2000USD đấy, với số tiền này có lẽ bạn mua được vài tạ thức ăn ở bên Mỹ, khá risky nên đừng có mà thử. Vậy là mình rời Việt Nam vào một ngày cực kỳ dễ nhớ vì nó khá đặc biệt, thứ 6, ngày 7, tháng 8, năm 2009 (6789 – theo cháu Trang nói là chỉ sự tiến bộ – nghe tuyệt, sang Mỹ, study hard, play hard, sao mà không tiến bộ cho được). Tối ra sân bay, chưa bao giờ mình thấy Nội Bài đông như thế, kinh khủng. Mọi người thì cứ đeo khẩu trang vì sợ H1N1, còn mình thì nóng không chịu được nên không đeo. Hôm đó gặp Giang và gia đình Giang, Thảo và mẹ Thảo, anh Trường, và chị Thanh. Thật là tình cờ gặp rất nhiều người quen.

 

Phần 2: Sân bay Narita – Tokyo – Nhật Bản

 

Sau khoảng 6 tiếng bay, cuối cùng cũng tới sân bay Narita. Khi còn ở Việt Nam, do biết là thời gian transit là 10 tiếng nên mình và Giang định sẽ vào Tokyo chơi, nhưng mà khi nhận vé thời gian chỉ còn là 8 tiếng. Mọi người khuyên là không nên vào Tokyo chơi vì nó khá xa (đi tầu điện mất 1h30 phút). Quả thật, sau những gì đã trải qua, mình không khuyên các bạn transit ở Narita vào Tokyo vì mấy lý do sau: thứ nhất ko dễ để tìm được nhân viên của United Airlines để xin cái chứng nhận hành trình, rồi mới xin được shore pass vào Tokyo, thứ hai, rất mất thời gian, nếu đến sân bay muộn mà lỡ chuyến bay đi Mỹ là die luôn, lúc đó chỉ có ngủ ở Narita, rồi đứng hát theo phong cách Chaien, rồi để cái mũ ở dưới chân hy vọng hành khách donate cho cái vé về Việt nam, lý do thứ 3, người Nhật nói tiếng Anh thì bằng miệng thì ít mà bằng tay thì nhiều, nên nếu nhờ họ gì, họ cũng khó lòng mà giúp. Mà cho dù họ hiểu tiếng anh và có thể nói, nhưng nói thật mình nghe họ nói tiếng Anh như kiểu họ đang nói tiếng Nhật thi thoảng chêm vào vài từ Tiếng Anh cho nó sang vậy.

 

Nào kể chuyện tiếp. Máy bay của tụi mình vào terminal 2, thế là 2 đứa gặp 1 chị hướng dẫn bảo là phải sang terminal 1 để bay tiếp. Thế là 2 đứa nghe lời phăm phăm phi sang terminal 1. Đến terminal 1, vừa mệt, vừa buồn ngủ, nhưng bạn Giang muốn go shopping thế là mình đi cùng. Nhưng kết quả của buổi shopping, cái “mua” được nhiều nhất là ảnh do 2 đứa chụp đơn giản là vì đồ ở sân bay, dù là đã tax-free nhưng vẫn đắt cắt cổ. Nói chung trong tất cả các sân bay mình đã đến, Narita là sân bay đầu tiên, mình không rút thẻ VISA ra để mua bất cứ 1 cái gì làm kỷ niệm. Lưu niệm ở Narita đắt hơn cả ở sân bay Hongkong và Frankfurt. Sau một hồi lượn lờ chụp ảnh, chân mỏi, bụng đói, mình và Giang kiếm một chỗ ngồi để ăn. Sau đó tìm cách để vào internet. Ở sân bay có máy tính vào internet, nhưng mà giá thì cắt cổ 1 USD/10 phút. Giang có laptop cũng chịu vì wireless cũng phải trả tiền thậm chí đắt hơn. Thật cay cú vì không được vào net để thông báo về nhà là qua tới Nhật an toàn. Mình bàn với Giang là còn lâu mới bay, chúng ta nên quay lại terminal 2 vì ở đó có Yahoo Café là một cái quán internet miễn phí duy nhất ở sân bay Narita này. Cuốc bộ mỏi chân tới gate để đi bus về terminal 2, sau một thời gian đợi mỏi cổ vì xe bus khoảng 30 phút mới có 1 chuyến, 2 đứa tiu ngủi vì ông lái xe nói là không được come back. Chán phèo, 2 đứa quay lại đi đúng 1 vòng tour lúc đầu, lại chụp ảnh, và chỉ chụp ảnh mà thôi. Lúc này đã thấm mệt, hai đứa quyết định đi tìm chỗ nào vắng vẻ, yên tĩnh để ngủ. Cuối cùng là tìm được một chỗ rất đẹp để ngủ. Giang đầu tiên bảo Thịnh ngủ trước đi, Giang đọc sách và trông đồ, nhưng rồi Giang cũng mệt quá lăn ra ngủ mà quên luôn việc trông coi hành lý. Ngủ dậy thấy hành lý còn nguyên, sướng quá ôm hành lý chụp ảnh, haha. Công nhận là được nằm ngủ thích thật, đỡ mệt hẳn, và chuẩn bị sức khỏe cho chuyến bay dài sang Mỹ. Khi thức giấc, mình nói đùa với Giang là sẽ viết hồi ký chuyến đi, Giang đặt tên cho hồi ký là “Hồi Ký Ngủ Ngày” quả thật là quá ấn tượng. Vậy là kế hoạch vào Tokyo cũng đã vẫn được thực hiện, nhưng mà trong giấc mơ trưa  . Sau khi ngủ dậy, mình vẫn còn cay cú vụ internet nên quyết tâm bảo Giang quay lại cái gate để về terminal 2, Giang thì lo là gặp ông gác gate và ông lái xe cũ mà họ nhận ra mình thì ngại chết. Mình bảo chắc là mấy ông ấy chỉ làm ca sáng thôi. Thế  là 2 đứa quyết tâm quay lại. Ngồi đợi xe bus rất là lâu, nên khi xe đến Giang bảo thời gian không còn nhiều, và thuyết phục mình không nên quay về nữa, thế là khi xe vừa đến cửa, qua cửa kính mình nhìn thấy ông lái xe cũ, thế là 2 đứa đứng vội dậy, vội vàng bước đi trước sự ngơ ngác của 2 ông gác cổng vì không hiểu 2 đứa này bị làm sao mà đợi bus lâu thế mà khi xe đến thì chạy như bị mà đuổi, haha. Sau đó về gate ngồi để copy ảnh vào USB của mình, vừa mới copy được 1 tẹo thì laptop của Giang bị hết pin, sân bay Narita thì có nhiều ổ cắm, nhưng toàn chân dẹt, thế mới biết cái chuyển đổi đầu cắm quan trọng thế nào. Bạn nào chưa đi nhớ mua 1 cái nhé.

 

Phần 3: Trên máy bay của United Airlines.

 

Lần đầu tiên đi máy bay của Mỹ, điều làm mình thấy nó thua xa Vietnamairlines nhà mình chính là tiếp viên. Tiếp viên hàng không, vừa già, vừa xấu, và có thể vừa béo nữa. Không giống các em VietnamAirlines, xinh xắn, trắng trẻo, vừa bay vừa ngằm vù vù một cái là tới nơi rồi. Nói thật, đi máy bay mình thích ngắm tiếp viên đẹp vì nó xóa tan cái cảm giác lạnh lùng và buồn tẻ khi bay. Đồng thời ngắm phụ nữ đẹp sẽ không thấy mệt khi bay. Điều thứ 2 không tốt là nó phục vụ kém, mình bảo là cho tao 1 coke diet, bà kia nó là sẽ quay lại ngay, vậy mà bà ấy quên luôn.

 

Tuy nhiên, có điều làm mình thấy dễ chịu nhất là cho dù trước đây đã bay chuyến bay dài rất nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên mình thực sự ngủ khi đang ngồi trên ghế (ngủ được hiểu là ngủ mà không biết gì chứ không phải ngủ kiểu nhắm mắt mà vẫn biết mọi việc diễn ra xung quanh)

 

Phần 4: Đặt chân đến Mỹ

 

Sau một chu kỳ lặp đi lặp lại của mỗi hai việc ăn và ngủ (nghe chừng hơi giống heo) trên máy bay, chúng tôi đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế San Francisco (SFO). Cảm giác đầu tiên của tôi là rất háo hức, đó là lần đầu tiên tôi đến Mỹ nên tôi chỉ mong nhanh nhanh vào Mỹ để khám phá miền đất hứa, nơi mà tôi đã từng rất lâu mơ ước được đến thăm. Chúng tôi xếp hàng để nhập cảnh. Cán bộ cửa khẩu làm thủ tục cho tôi là một chị người gốc Á, tôi đoán là Trung Quốc, tôi thấy là chị này làm thủ tục cho tôi lâu hơn người khác nhiều. Giang làm xong trước và có vẻ sốt ruột vì sợ shuttle bus đợi, nên ra lấy hành lý trước. Tôi ra sau, lúc đầu chỉ thấy 1 cái vali nhỏ của mình, còn cái vali to đứng mãi không thấy. Lúc đầu hơi lo, sợ bị thất lạc, nhưng cuối cùng mới thấy nó nằm dưới đất. Có thể ai đó tưởng vali của mình, nên kéo nó khỏi băng chuyền, nhưng rồi lại không đặt nó lại, nên mình cứ đợi mãi không thấy nó trên băng chuyền.

 

Tôi nhờ Giang cầm hộ giấy tờ trong lúc tôi lấy hành lý. Nhưng do mãi không tìm thấy cái vali to, nên Giang ra làm thủ tục hải quan trước nên khi tôi tìm thấy hành lý tôi cảm thấy lo lắng vì Giang giữ hết giấy tờ, mà nhỡ Giang đã ra khỏi sân bay thì tôi sẽ không có cách nào để rời sân bay được. Đang đứng giải thích với nhân viên, anh ấy bảo là cậu vào kia trình bày với nhân viên hải quan. Đang đi tới định trình bày hoàn cảnh thì Giang chạy lại đưa cho giấy tờ. Phù phù, may quá. Vừa lúc đó, nhân viên hải quan đi tới chỗ mình, ông ấy chạy lại hỏi anh nhân viên kia là có chuyện gì, anh đó nói lại. Rồi ông kia quay lại chỗ mình đòi xem passport, hỏi mấy câu, mình nói mình là Fulbrighter thế là ông ấy cho qua luôn, không phải kiểm tra hành lý. Lúc mình ra rồi, vẫn thấy Giang đang ở trong vì bị hải quan bắt mở vali kiểm tra hành lý. Lúc ra ngoài, Giang có vẻ bức xúc vì nhân viên Hải quan Mỹ tỏ thái độ ác cảm với người Việt Nam. Khi họ hỏi “where are you from?”, Giang nói là Việt Nam thế là nó bắt kiểm tra hành lý luôn. Và khi nó thấy Giang có mỳ tôm, nó bảo là sao Việt Nam toàn mang mỳ tôm thế. Thôi bỏ qua cái vụ hải quan này, chúng tôi ra ngoài. Giang muốn tìm 1 cái máy điện thoại để gọi, còn tôi muốn hỏi thông tin. Chúng tôi đến quầy thông tin, nhưng chẳng có 1 ai để hỏi, chỉ có mấy tờ giấy và vài số điện thoại. Tôi gọi điện để hỏi cách từ sân bay về trường. Sau một hồi hỏi han, cuối cùng đi tàu điện về trường. Tôi tiễn Giang và đưa vali của Giang ra xe ôtô, trong lúc shuttle bus của Giang chờ những người khác tới, Giang tiễn tôi ra tàu điện.

 

Tàu điện của Mỹ rất hiện đại, bán vé tự động bằng máy, mình thì chả biết dùng nó thế nào. Hỏi nhân viên ở đó, bà da đen này trả lời như cho hết nghĩa vụ, và có cái nhìn không thiện cảm với người á châu cho lắm. Sau một lúc bần thần trước cái máy bán vé tự động giống như ATM nhà mình, tôi cũng nhét được 10$ vào máy và mua được vé đi tàu điện. 2 vali kéo to đùng, 1 vali nhỏ, 1 balo khiến tôi khá vất vả với việc chuyển tàu và vận chuyển hành lý lên xuống. Tàu điện của Mỹ chạy rất nhanh, và êm hơn tàu hỏa ở Việt Nam. Trường của tôi, cách khá xa sân bay SF, nên với 9,55$ để về trường tôi nghĩ không đắt, vì nếu đi taxi, thì mất khoảng 80$ tức là hơn 1 triệu đồng. Lần đầu đi tàu điện tôi được biết văn hóa tàu điện của Mỹ, được nhìn thấy người Mỹ béo như thế nào, được nhìn thấy mấy anh da đen, tóc xoăn, bện nhìn như xã hội đen. Mình thì thấy mọi thứ mới lạ, định hỏi han nhưng nghe chừng người Mỹ trên tàu điện rất lạnh lùng. Mình không dám nhìn lâu mấy anh da đen trông như khủng bố, vì sợ nhỡ anh ấy túm cổ oánh mình vì bảo mình “nhìn đểu”, hehe. Cái này là ở Việt Nam là dễ bị oánh lắm. Mình hỏi 1 chị về việc dùng tàu điện, sau 1 lúc mới biết chị ấy ko phải người Mỹ, chị ấy là người Anh đến Mỹ để dự hội thảo, mà cái chị này học ngành “trên trời”, không phải “trên trời, dưới biển” mà thực sự là trên trời vì chị ấy chuyên nghiên cứu các vì sao, hành tinh, PhD về thiên văn học, rất nhiệt tình còn lôi tài liệu ra chỉ chỏ mấy chỗ lồi lõm trên mặt trăng cho tôi xem.

 

Phần 5: Những cảm nhận đầu tiên về nước Mỹ

 

Khoảng cách từ sân bay về trường khá xa, khoảng gần 70km, trên tàu điện tôi ngồi ngắm nghía nước Mỹ. Tôi cảm thấy hơi buồn và nhớ nhà vì cảnh vật bên ngoài tuy mới lạ nhưng không sôi động. Thiết kế nhà cửa của Mỹ khá là “lạnh”, và đường phố thì toàn xe hơi chạy vù vù, những cảnh vật đó làm tôi thấy trống trải, lạnh lẽo, cô đơn. Cuối cùng tôi tới trạm tàu điện ở Hayward gần trường. Tôi cầm địa chỉ để hỏi lái xe bus về trường, không biết là địa chỉ sai hay lái xe bus không biết, người này bảo đi tuyến này, người kia bảo đi tuyến khác. Tôi đứng chờ xe bus rất lâu vì hôm đó là thứ 7, cuối tuần xe bus khoảng 30 phút hoặc 1 tiếng mới có 1 xe. Tôi thấy sốt ruột và mệt mỏi, chỉ muốn nhanh tới trường để có thể ngủ một giấc. Tôi gặp 1 chú lái xe bus da đen, nhớ chú gọi hộ về trường bảo ra bến tầu điện đón, nhưng cậu sinh viên trực máy bảo là không có xe ôtô. Tôi lại không có tiền lẻ, chỉ toàn 100$, thế là chú lái xe bus ấy đưa cho tôi 1 cái ticket bảo dùng cái này mà về trường. Chú này thật là tốt, còn hướng dẫn cho tôi rất nhiệt tình. Cuối cùng thì xe bus cũng đến, tôi về đến trường. Trường CSU East Bay thật là rộng. Giờ mới biết trường đại học của Mỹ rộng như thế nào. Nếu ở Hà Nội, trường Bách Khoa,  trường đã rất rộng, có đường chạy qua trường, thì ở trường này nó rộng gấp 10 lần Bách Khoa. Đường xá đẹp, cảnh vật thanh bình, khí hậu mát mẻ. Xe bus thả tôi ngay trước cửa ký túc xá. Người đón tôi là 1 cậu sinh viên người Hàn Quốc tên là Jimmy. Jimmy giúp tôi dọn đồ vào phòng. Sau khi ổn định phòng, Jimmy nói văn phòng sinh viên quốc tế có internet 24/24h, thế là có cái để nghịch. Tôi online, việc đầu tiên là báo về gia đình là đã đến nơi an toàn, check mail và xem facebook. Lúc này đã là 4h chiều.

 

Sau khi online, về phòng tắm táp rồi làm 1 gói mì tôm, sau đó 5h chiều đi dạo một vòng quanh trường. Trường này rộng dã man, trường nằm trên đồi, nên địa hình khá là hilly, dốc lên, dốc xuống liên tục. Hôm đó là thứ 7, nên sinh viên không học, không gian rất yên bình, thậm chí yên bình một cách không cần thiết tạo cảm giác hơi buồn. Tuy nhiên, thi thoảng sự yên bình đó bị phá vỡ bởi tiếng động cơ ôtô, xe máy. Chả hiểu mấy cái thằng Mỹ này dùng xe gì mà ống pô nổ to kinh khủng, nghe như tiếng đại bác, giật mình mấy lần. Trường thì rất xanh, nhiều bãi cỏ, chim chóc nhảy nhót, hát ca.

 

Sau một vòng đi dạo, mình quay về, lúc này là 7h tối rồi mà trời bên này vẫn sáng như ban ngày. Có lẽ nước Mỹ rộng quá nên ông mặt trời đi mãi mỏi chân, nên ngồi nghỉ ở Mỹ mãi mới chịu đi chăng? Cái dining room của trường thì chỉ mở cửa từ 5pm tới 7pm sau đó thì đóng cửa nên sẽ không có gì để ăn. Lúc giờ đó thì mình không thấy đói. Nhưng đến 9h tối, thì cái dạ dày “made in Vietnam” của mình bắt đầu hoạt động theo đúng lịch trình. Vì lúc đó là 11h30 trưa giờ Việt Nam nên mình cảm thấy cồn cào. Lúc chiều đã chén 1 mì tôm, nhưng bây giờ thì không thể mì tôm nữa, rất cồn ruột. Thế là vào phòng sinh viên quốc tế. Cái văn phòng này cuối tuần do chính sinh viên quản lý, mấy bạn ở đây chủ yếu là China và Japan, rất là nice. May là tụi sinh viên ở nhà này toàn châu Á nên còn cơm nguội. Cho vào lò vi sóng, nóng hổi ăn với nấm xào với cái gì như đồ chay, tự nhiên thấy thèm thịt.

 

Phần 6: Anh bạn Fulbrighter người Chilê.

 

Đang ăn thì thấy một anh bạn nước ngoài vào phòng ngồi xem tivi nói chuyện với mấy bạn sinh viên ở office này. Mình hỏi anh có phải là Fulbrighter không? Và tuyệt quá anh này nói là Fulbrighter đến từ Chilê. Thấy tôi đang ăn, anh ấy hỏi có muốn uống bia không? Tôi nói ok. Anh ấy chạy đi lấy bia, vừa ra khỏi cửa, anh ấy vội quay lại hỏi tôi “Are you more than 21”, haha. Ở Mỹ phải trên 21 tuổi mới được phép uống bia. Anh ấy bảo không muốn có problem gì vì họ đang giữ Visa của anh ấy. Tôi vừa ăn vừa uống bia nói chuyện với anh bạn. Đó là lần đầu tiên tôi uống bia Corrona – anh bạn bảo là bia nổi tiếng nhất của Mexico ở Mỹ. Nói thật bia này thua xa bia Hà Nội hay Heniken ở Việt Nam. Vừa ăn, vừa nói chuyện, chúng tôi cảm thấy rất hợp cạ, nói đủ thứ chuyện. Anh bạn này tên là Vladimir, người Chilê, nhưng gốc Croatia nên cái tên rất là “nga”. Anh này học IR ở Columbia, mới lấy vợ được 1 tháng, cô này cũng Fulbrighter nhưng học tiến sỹ về sociology cũng ở Columbia luôn. Nghe anh ấy kể chuyện mà thấy Fulbright Program ở Chilê thật tuyệt. Nó cho sinh viên tự apply ngoài 4 trường Fulbright cho, và cho sinh viên được chọn trường mà mình muốn học. Anh bạn Chilê này đến trước mình 1 hôm, mà đã đi chơi hết San Francisco bằng tour bus. Nhưng anh ấy bảo là muốn đi lại bằng xe đạp, thế là anh rủ mình đi. Mình đồng ý luôn. Nói thật là ở đây xa thành phố, hơi buồn tẻ, chả có gì làm ngoài việc online. Nói thật là nếu không có anh bạn này rủ rê, một mình mình chắc chắn sẽ không bao giờ đi cả.

 

Phần 7: Bike tour to Golden Gate Bridge.

 

Buổi sáng ngày thứ hai tôi ở đây, chúng tôi khởi hành lúc 10h sáng. Đi xe bus 2$ từ trường ra bến tầu điện. Rồi bắt tàu điện vào downtown San Francisco. Từ dưới bến tàu điện ngầm bước lên trên phố, tôi đã reo lên vui sướng khi chứng kiến vẻ đẹp tráng lệ của cao ốc ở San Francisco. Trường của tôi thì mát mẻ nhưng buồn như Đà Lạt, còn ở chỗ này, nhà cao tầng, office cao chọc trời, đường phố sạch sẽ, rất đông vui, tấp nập. Có cả chợ trời bán đồ lưu niệm nữa. Anh bạn Chile dẫn tôi đi bộ dọc bờ biển vịnh SF để chụp ảnh. Anh bạn này đã đọc Lonely Planet để tìm hiểu chỗ thuê xe đạp từ trước. Riêng về khoản này, mình phải chào thua khả năng tự đi du lịch của tụi Tây. Nói thật, mình cần phải học tụi nó cách tìm hiểu, sắp xếp và bố trí tour như thế này, thì mới hy vọng cuối tuần có thể đi tour được. Sau một hồi đi bộ dọc bờ biển, chúng tôi đến điểm thuê xe đạp ở Pier 41, ngay cạnh Fishermen Wharf. Sau một hồi ngồi đợi, vì chưa có xe đạp. Cuối cùng chúng tôi khởi hành. Cảm giác đạp xe quanh vịnh thật chậm để ngắm nghía rất tuyệt. Hôm nay trời nắng đẹp, ở đây khí hậu rất dễ chịu, gió biển thổi mát dịu, nên đạp xe rất mệt mà không hề có mồ hôi. Đã lâu lắm rồi mới đi xe đạp nên đạp một hồi thấy mỏi chân dã man, lúc đó quay sang cậu bạn Chilê bảo chúng ta giống Tour de France, cố lên, cố lên. Anh bạn Chilê to béo này có vẻ mệt, đạp xe ì ạch đằng sau mình. Ở đây địa hình đồi núi, lúc lên dốc thì đạp nhe cả răng ra, thở bằng mũi, bằng mồm, bằng tất cả cái gì thở được mà muốn đứt hơi. Nhiều dốc cao quá, thôi đành xuống dắt bộ cho lành, haha. Sau một hồi lượn lờ dưới chân cầu, chụp ảnh. Chúng tôi cuối cùng cũng đi xe đạp trên cầu Golden Gate. Cái cầu này đẹp thật. Gió trên cầu rất mạnh. Chúng tôi còn dừng lại trên cầu để chụp hình nữa. Mình chân thành recommend bạn nào muốn thăm Golden Gate Bridge và thực sự muốn experience gió, biển SF thì nên đi tour xe đạp vì giá thuê 32$/ngày không hề đắt vì nếu bạn đi bus tour giá là 25$/ tour, bạn sẽ chỉ cưỡi xe bus phi vèo vèo qua cầu vì không thể đi chậm hoặc dừng lại chụp hình, đồng thời qua cầu là quay lại, chấm hết. Nếu bạn đi xe đạp, bạn có thể đi chậm để ngắm, có thể dừng lại chụp hình trên cầu, và có thể qua cầu rồi đi tiếp ngắm cảnh. Qua bên kia cầu, chúng tôi tới thăm Sausalito, một thành phố nhỏ ở bên vịnh SF. Nhà cửa xây theo kiểu ruộng bậc thang trên núi, nhấp nhô rất đẹp. Chúng tôi đi dạo một vòng, mua humberger để ăn. Lần đầu tiên ăn hamburger ở Mỹ mới thấy tại sao tụi Mỹ béo phì, vì cái hamburger của nó rất to, ăn một cái no căng. Sau khi ăn no, bụng to, mắt híp, chân mỏi, chúng tôi lựa chọn option là đi tàu biển để quay lại điện SF chứ không đạp xe quay về. Đi tàu biển trên vịnh SF thật tuyệt, bạn có thể cảm thấy gió thổi mạnh thế nào, tôi đứng trên boong tàu chụp hình mà gió thổi nghiêng ngả. Ngắm SF từ tàu biển rất là tráng lệ, nhìn cầu Golden Gate nữa, cũng rất đẹp. Chỉ mất 9$ nhưng nói thật tiếc tiền chả để làm gì vì có những trải nghiệm cần phải thử. Thật sự tất cả chuyến đi mất khoảng 50$ nhưng thật sự rất đáng đồng tiền bát gạo, và cảm thấy thỏa mãn. Thế là ok. Một phần nữa là mình dùng thẻ visa để thanh toán, nên tiền trừ thẳng vào tài khoản nên cảm thấy ví tiền mặt không vơi, cái cảm giác này cũng khá nguy hiểm, rất dễ nghiện tiêu xài, thật may là visa debit, chứ visa credit mà tiêu tiền thế này thì dễ bị phạt tiền lắm. Sau khi trả xe xong đã là 6h kém 10, anh bạn Chilê bảo nhanh lên không lỡ chuyến tàu về trường là 2 đứa chỉ có đường đi bộ. Thế là thay vì đi bộ, chúng tôi chạy như bị cảnh sát rượt trên đường phố San Francisco. Về việc đi xe đạp, lúc nào tôi cũng dẫn đầu, còn anh bạn Chilê to béo thì ì ạch theo sau, nhưng khi chạy bộ thì anh bạn Chilê khỏe dã man, chạy phăm phăm, còn tôi chạy, rồi vừa đi bộ vừa thở, phù phù. Cuối cùng cũng đến được bến tàu điện ngầm, mua vé về Hayward. Khi tới Hayward chúng tôi đã biết là hết xe bus về trường, nên tụi tôi hỏi taxi, nó tính 10$, tôi hỏi lại 10$/người hay 10$/chuyến. Ông lái xe taxi rất vui tính, cười đùa là 10$/người, rồi tụi tôi bảo chúng tôi đi siêu thị một tẹo rồi quay lại. Đó là lần đầu tiên tôi đi siêu thị Mỹ, siêu thị tên là Lucky. Ấn tượng ban đầu, rất nhiều đồ, trưng bày đẹp và có cảm giác rất sạch sẽ không hổ lốn như Big C. Nghe mọi người nói đồ ăn ở Mỹ rất rẻ, không nên mang đồ từ Việt Nam sang, nhưng bây giờ mới được thực mục sở thị. Đồ ăn, thức uống cực kỳ rẻ. Ví dụ như sữa, tôi mua 1 can sữa. Tụi Mỹ không đo bằng lít mà đo bằng gallon giống như xăng. Tôi mua can 1 gallon khoảng 3,78 lít giá chỉ 2$, uống cả tuần không hết. Tôi còn mua mấy gói đồ ăn sẵn có tên rất kêu là Hunger Man, 3$/hộp, có thịt bò nghiền như hamburger, khoai tây nghiền, bánh socola. Tất cả trong hộp, chỉ cần bỏ vào microwave 3 phút ăn luôn, tiện lợi, rẻ. Mì tôm thì cũng rẻ, nhưng loại của Mỹ thì chán, nhạt nhẽo, hương vị. Tôi thấy cả cháo Vifon ở đây nữa. Nói chung là nếu bạn chuẩn bị đi Mỹ, tôi khuyên bạn chỉ nên mang một ít đồ ăn để ăn mấy ngày đầu, sau đó đi ngay siêu thị mà mua đồ, tất cả đều có và rất rẻ, đừng mất công mang nhiều đồ ăn từ Việt Nam đi, vừa nhẹ vali, vừa đỡ bị kiểm tra, rất dễ bị tịch thu, hoặc có thể bị phạt tiền. Sau khi shopping xong, anh bạn Chilê nhờ nhân viên siêu thị gọi 1 cái xe ôtô. Tụi siêu thị thì gọi 1 cái xe khác, còn cái xe taxi chúng tôi hỏi lúc đầu thì đã ngồi đợi ở ngoài từ trước. Thế là 2 ông taxi cãi nhau tranh khách. Anh bạn Chilê thì cứ giải thích. Sau một hồi cãi vã, ông taxi bị thua bảo anh bạn Chilê là “you are loser”. Ông taxi thắng thì động viên “OK, you are not loser”, haha. Trên đường đi taxi về, tôi cũng hỏi anh taxi về giá tiền xe ôtô cũ, và mới biết cách để mua được 1 cái xe ôtô giá rẻ ở Mỹ. Kiểu này, phải quyết tâm mua xe ôtô mới được.

error: Content is protected !!